Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2025

Nguyễn Xuân Diện: NHƯ THANH NHẬT KÝ (TRỌN BỘ 7 KỲ)


Như Thanh nhật ký (2009)

Lâm Khang chủ nhân

Thưa chư vị, hồi giữa năm 2008 Tây lịch, tôi và ông Thiền Phong, ông Chuyết Chuyết được cử đi Xứ Thanh để khảo cổ tích. Tôi có viết một cái Như Thanh nhật ký (7 kỳ), có đăng trên trang nhà. Như Thanh nhật ký được anh em thích lắm, từ giới giang hồ đến dân bút mực đều tán thưởng. 
 
Hôm trước, ở cái bài này, tôi có nói đến cái nhật ký ấy, thì nhiều anh em viết thơ cho tôi, nói rằng họ muốn đọc quá, nhưng vì chưa đăng ký với bên Multiply là nơi đăng tải Như Thanh nhật ký, nên không vào đọc được. Anh em đề nghị tôi tái bản bên này. Chiều ý anh em, tôi xin đăng lại Như Thanh nhật ký ở đây để cùng đọc cho vui.

CÔNG TÁC NHÂN SỰ ĐẠI HỘI XIV: NHÌN TỪ HÀ NỘI VÀ BÀI HỌC QUỐC TẾ

 
CÔNG TÁC NHÂN SỰ CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI ĐẢNG KHÓA XIV:
NHÌN TỪ HÀ NỘI VÀ BÀI HỌC QUỐC TẾ
 
TS. Tô Văn Trường
 
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đang tới gần, đặt ra yêu cầu cấp thiết về công tác nhân sự cấp cao. Đây không chỉ là vấn đề chọn người mà còn là bài toán về hiệu quả lãnh đạo, ổn định chính quyền và chiến lược phát triển đất nước. Hà Nội – trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế của cả nước là trung tâm đầu tàu, nơi mọi quyết định nhân sự cấp cao đều tác động trực tiếp tới đời sống người dân và bộ mặt thủ đô, phản ánh bộ mặt của quốc gia.

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2025

ĐÚT LÓT MỘT THANH KIẾM VÀNG ĐỂ LẤY MỘT CHỮ KÝ PHẾ TRUẤT

ĐÚT LÓT MỘT THANH KIẾM VÀNG ĐỂ LẤY MỘT CHỮ KÝ PHẾ TRUẤT

Nguyễn Bá Lân (1700 – 1785) là Tiến sĩ, Thượng thư trải 6 bộ, và là một quan chức cao cấp thời Lê Trịnh. Ông là một danh sĩ, một nhà thơ, nổi tiếng với bài phú Nôm “Ngã Ba Hạc phú”, và những giai thoại được truyền tụng khắp trong triều ngoài nội. 

Năm 1782 khi Trịnh Sâm chết, thì Nguyễn Bá Lân vẫn đang còn làm quan ở phủ chúa, và đã được chứng kiến cuộc tranh cướp ngôi giữa một bên là Trịnh Cán con của Đặng Thị Huệ và một bên là Trịnh Tông, cuộc tranh cướp này là nguyên nhân làm bùng ra cuộc nổi loạn của kiêu binh, làm cho cơ đồ của họ Trịnh bị sụp đổ. 

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

NGHI THỨC "THAY THẦN TẠ ƠN VUA BAN SẮC"

NGHI THỨC “THAY THẦN TẠ ƠN VUA” 

Sắc phong mà ngày nay chúng ta thấy gồm các loại: phong cấp, khen ngợi, tặng thưởng cho những người có công (giống một giấy khen, một giấy bổ nhiệm chức vụ) và loại sắc phong phẩm trật cho thần linh (nhân một dịp lễ lạt nào đó). Loại thứ nhất là tài sản chung của dòng họ được cất giữ trong các nhà thờ họ của các gia tộc có các vị tiên liệt có công với vua, với nước. Loại thứ hai là tài sản của cộng đồng làng xã, được cất giữ tại đình làng hoặc đền, miếu.

Mạc Văn Trang: ẤT TỴ NGÂM KHÚC

Ất Tỵ ngâm khúc
Mạc Văn Trang 
 
Thuở trời đất nổi cơn thịnh nộ
Muôn dân lành gánh khổ triền miên
“Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này”?(1)

VUA MINH MẠNG TRỊ TỘI BỌN CƯỜNG HÀO ÁC BÁ TỈNH, HUYỆN, XÃ

VUA MINH MẠNG TRỊ TỘI BỌN CƯỜNG HÀO TỈNH, HUYỆN, XÃ
Bùi Xuân Đính

Thời phong kiến, hệ thống thanh tra của nhà nước gồm các cơ quan: Đô Ngự sử (từ thời Nguyễn đổi thành Viện Đô sát) ở cấp trung ương, Giám sát Ngự sử ở cấp liên trấn (thời Nguyễn là cấp liên tỉnh) và Hiến ty ở cấp trấn (thời Nguyễn là tỉnh). Mỗi cơ quan, mỗi cấp thanh tra này có chức năng, nhiệm vụ riêng, song đều có nhiệm vụ chung là kiểm tra, giám sát quan lại, phát hiện các vụ việc tiêu cực của họ. 

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

LÀNG VIỆT & TÊN LÀNG

Làng Việt & Tên làng
Nguyễn Xuân Diện

Làng Việt đã là nơi cất giữ gần như toàn bộ gia sản văn hóa của tổ tiên chúng ta. Kiến trúc đình, chùa, miếu và các nhà ở dân gian là kết tinh sự hiểu biết của người xưa về môi trường, về kiến trúc và quan niệm về sự ở của tổ tiên chúng ta. Lũy tre xanh và cách bố trí dân cư theo hình xương cá hoặc bố trí dọc theo nguồn nước là cách tự vệ và sự tuân thuận theo tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, lợi dụng thiên nhiên - một triết lý của người Việt. 

LÀNG CỔ ĐÔ - LÀNG HỌA SĨ, LÀNG THƠ


Làng Cổ Đô xưa và nay
Nguyễn Xuân Diện - viết năm 1993
 
Làng Cổ Đô là một làng quê nhỏ bé nằm nép mình bên dòng sông Đà cuộn sóng. Xuôi xuôi một chút là Ngã Ba Hạc nơi gặp gỡ của ba con sông, ba màu nước lại là nơi chất chứa bao huyền thoại từ thuở hồng hoang khi “vũ trụ mơ màng, càn khôn xếch xác”. Đất Cổ Đô là đất cổ, trước đó có tên là An Đô, sau lại đổi là An Bang, thuộc huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây (nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây).

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2025

Trần Văn Khê: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA THỨC ĂN VIỆT VÀ TÀU


SỰ KHÁC BIỆT GIỮA THỨC ĂN VIỆT VÀ TÀU
Giáo sư Trần Văn Khê

Thật ra, tôi rất ngại khi cầm viết ghi lại những câu hỏi đã trả lời cho những bạn bè người nước ngoài khi họ hỏi tôi: Người Việt Nam ăn uống thế nào? Hay là cách nấu ăn của người Việt có khác người Trung Quốc hay chăng? Vì đó chỉ là những phần nhận xét đã được nhanh chóng đúc kết để đưa ra những câu giải đáp kịp thời chớ không phải do một sự sưu tầm có tính cách khoa học. 

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2025

CHUYỆN HAI BÀ HOÀNG CÙNG TÊN, CÙNG LÀ VỢ VUA LÊ THẦN TÔNG

Tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc. (Bảo tàng Mỹ thuật VN).
 
Chuyện đời...
Nhà văn Trần Thanh Cảnh
BĐS Việt Nam
Là chuyện đời của hai người đàn bà cùng họ tên, cùng chồng. Một người quê vùng Kinh Bắc. Một người sinh sống ở kinh thành, về ở, rồi chết cũng chôn nơi đây. Họ đều có tên là Trịnh Thị Ngọc Trúc. Trong Đại Việt Sử Ký toàn thư còn ghi đầy đủ. Chồng họ là ông vua Lê Thần Tông đời Lê Trung Hưng. Ông vua này trị vì nước ta từ những năm 1619 - 1662. Giữa họ chỉ có điều khác nhau là một bà được phong hoàng hậu, còn một bà thì không.

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2025

GIẢI MÃ BỨC CHẠM ĐÁ Ở CHÙA BÚT THÁP - ĐỌC Ý NGƯỜI XƯA


Nguyễn Xuân Diện

Lời dẫn: Ngày cuối tuần vừa rồi, đi cùng nhóm Chùa Việt (hơn 4.000 thành viên) đi thăm Chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, được thêm một lần nữa chiêm ngưỡng kiến trúc, điêu khắc (gỗ, đá), tượng Phật Bà Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn, lòng càng thêm xúc động vô bờ bến.

Xin cùng quý vị ngắm nghía mấy bức chạm đá ở lan can tòa Thượng điện Chùa Bút Tháp, để cùng thưởng thức những điều ý vị của cha ông ta:

HOÀNG GIÁP NGUYỄN ĐĂNG HUÂN- NGƯỜI 2 LẦN VINH QUY BÁI TỔ

Thăm làng Ngái, viếng mộ Hoàng giáp Nguyễn Đăng Huân
Nguyễn Xuân Diện

Làng Hương Ngải, tên Nôm là Kẻ Ngái, huyện Thạch Thất, HN. Hương Ngải là một danh hương ở Xứ Đoài. Xưa, vua Tự Đức tặng làng danh hiệu “Mỹ tục khả phong” (phong tục tốt đẹp đáng làm gương), nay hãy còn treo ở đình. Đây là quê hương của Cụ Nguyễn Tử Siêu, một nhà văn chuyên viết về tiểu thuyết lịch sử. Con trai cụ là Lương y Nguyễn Thiện Quyến, Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, tôi cũng từng có vinh hạnh được hầu chuyện.

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2025

NHÂN NGÀY DI SẢN VĂN HOÁ VN 23.11

Lâu nay báo chí, truyền thông, quan chức ngành văn hóa đã tuyên truyền sai lệch, khoác lác về các danh hiệu mà UNESCO ghi nhận đối với các di sản của Việt Nam:
1. UNESCO Không vinh danh Quan họ, mà chỉ ghi danh "Không gian Văn hóa Quan họ".
2. UNESCO Không vinh danh Cồng chiêng, mà chỉ ghi danh "Không gian văn hóa Cồng chiêng".
3. UNESCO Không vinh danh Ca trù mà chỉ ghi danh "Hát Ca trù của Người Việt".
4. UNESCO Không phải vinh danh Đạo Mẫu hay Lên Đồng, mà chỉ ghi danh “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu TAM PHỦ của người Việt”. 
 TỨ PHỦ hẳn hoi mà sao VN lại chỉ đưa TAM PHỦ? Một phủ nữa đâu?! 

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2025

20.11: THƯƠNG NHỚ THẦY KHÊ

 
Nhân ngày 20/11/2025, Tưởng nhớ tới những người Thầy đã quá cố, trong lòng buồn lắm! Xin thắp nén tâm hương dâng lên các Thầy, cùng lời cầu nguyện anh linh các Thầy đời đời mát mẻ và linh thiêng.
 
Nhân dịp này, tôi xin chia sẻ bài viết về Thầy Trần Văn Khê viết trong đêm cuối cùng Thầy nằm ngủ ở trần gian (28-6-2015). Sáng hôm sau Thầy hóa thân thành tro bụi tại Đài hỏa táng; và thành phố HCM đã nhanh chóng lấy lại nhà 32 Huỳnh Đình Hai, nhanh đến nỗi di cốt của Thầy không quay về nhà được nữa! 

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2025

HỌC TRÒ GÓP TIỀN BẦU HẬU ĐỂ THẦY ĐƯỢC THỜ BÊN CẠNH PHẬT, ĐƯỢC CHÙA CÚNG GIỖ

Nhân ngày Hiến chương Các Nhà giáo:
THẦY MẤT MÀ KHÔNG CÓ CON NỐI DÕI, HỌC TRÒ GÓP TIỀN BẦU HẬU ĐỂ THẦY ĐƯỢC THỜ BÊN PHẬT, ĐƯỢC CHÙA CÚNG GIỖ
Phạm Thùy Vinh

Ở làng Phú Thị huyện Gia Lâm phủ Thuận An xứ Kinh Bắc (nay là xã Phú Thị huyện Gia Lâm – Hà Nội) có một tấm bia hậu tạo năm Cảnh Hưng 7 (1746) triều Lê.

Người được bầu hậu (ở đây là hậu Phật) trong bia này tên là Ngô Bảo quê tại làng Phú Thị. Ông được làng bầu hậu không phải do ông đã cúng cho làng một khoản kinh phí nào đó. Quyền lợi của là sau khi mất đi được cả làng thờ cúng mãi mãi ở đình hoặc ở chùa, hoặc ở văn chỉ…