Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
– Ngọ- Ngũ -ngựa (phần 13)
Nguyễn Cung Thông
Ngọ hay Ngũ 午 là chi thứ 7 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Biểu
tượng của Ngọ là con ngựa dùng chỉ thời gian như giờ Ngọ từ 11 giờ sáng
đến 1 giờ chiều (chính ngọ là đúng trưa, giữa trưa hay 12 giờ trưa),
tháng 5 … và xác định không gian như hướng Nam. Phần này không bàn về
khái niệm thời không gian hay Ngũ Hành/kinh Dịch của Ngọ mà chỉ chú
trọng vào các liên hệ ngữ âm của Ngọ và ngựa so với mã 馬 (tiếng Hán
Việt/HV cũng chỉ con ngựa). Phần sau sẽ cho thấy mã là tiếng Hán có gốc
Hán Tạng, khác hẳn với ngựa tiếng Việt – và liên hệ trực tiếp của Ngọ và
ngựa cho thấy tên chi này có nguồn gốc Việt (Nam) chứ không phải Trung Quốc/TQ cũng như tên gọi của 11 con giáp còn lại …
Ngựa tiếng Thái là maH ม้า, năm Ngọ là maH-mia มะเมีย hay bpee
mah-mia ปีมะเมีย. Điều này cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của TQ (mã là
ngựa) cũng như dạng Ngọ HV của tiếng Việt. Tiếng Lào1 cũng có
dạng maH chỉ con ngựa cho thấy vay mượn từ TQ, sa-nga (ngựa) là một
dạng khác trong tiếng Lào có thể là tàn tích của một nhóm ngôn ngữ liên
hệ đến tiếng Ahom (shi-nga), tiếng Lanna (sa-nga)… Các dữ kiện như tiếng
Thái, Lào, Hán Việt … sẽ không có trích dẫn nguồn (vì rất dễ kiểm tra
lại) so với những bài viết hay tài liệu ngôn ngữ đặc biệt hơn.
Giọng Bắc Kinh/BK bây giờ được ghi bằng pinyin (bính âm) rất phổ
thông, so với các số sau vần chỉ thanh điệu như ma3 (mǎ BK) hay mẫu tự
như H (High, chỉ thanh điệu cao như tiếng Thái maH) – không nên lầm với
các số cho phần ghi chú thêm.
1. Giới thiệu tổng quát
Hình ảnh loài ngựa rất thường gặp trong văn hóa Á Đông, khắp nơi trên
thế giới vì các khả năng chuyên chở, săn bắn và chiến lược cũng như
loài ngựa khá dễ thuần hóa.
1.1 Ngựa trong văn hóa TQ
Lão kí phục lịch : chỉ người có chí lớn
Lão mã thức đồ : chỉ người thông minh lịch lãm
Long mã tinh thần : hàm ý có tinh thần phấn đấu vượt hiểm nguy
Thiên mã hành không : hàm ý ung dung tự tại phóng ngựa phi nhanh …
Mã đáo thành công, Mã đáo công thành : việc làm thành
công sớm – thời xưa khi quân đội xuất chinh thì thường chúc nhau là
đánh một lần thì thành công. Thành ngữ này xuất phát từ Nguyên khúc
tuyển, Sở Chiêu Công, chiết 1 … Thành ngữ này rất thông dụng ngay cả bây
giờ trong tiếng Việt
Thiên quân vạn mã : chỉ thanh thế mạnh mẽ (hùng mạnh)
Tái ông thất mã (ông già cửa ải mất ngựa) : hàm ý phúc họa không ai biết trước được hay trong điều xấu có thể có điều tốt …
Hồ mã Việt điểu : ngựa Hồ phương Bắc và chim Việt phương Nam khi ở Trung Quốc vẫn nhớ đến quê cũ
Mã cách quả thi : da ngựa bọc thây (trích từ Hậu Hán Thư, câu
nói của danh tướng Mã Viện trả lời Hán Quang Vũ về ý chí làm trai thà
chết nơi chiến trường).
Mã thượng khán hoa : cưỡi ngựa xem hoa, hàm ý chỉ xem qua loa mà thôi
Mã giác ô bạch (sừng ngựa quạ trắng), mã giác ô đầu
(sừng ngựa đầu quạ) … đều hàm ý chuyện không thể xẩy ra, không thể thực
hiện được (ngựa không có sừng, quạ không thể có màu trắng …)
Mã bất bội chủ : ngựa không phản lại chủ, hàm ý trung thành
Phi lư phi mã : chẳng phải lừa và chẳng phải ngựa, không giống con giáp nào cả …
Mã nhĩ đông phong (gió đông qua tai ngựa) : vào tai này ra tai kia, không chú ý hay tập trung, nước đổ đầu vịt …
Mã công Mai tốc (công phu như Mã và nhanh nhẹn như Mai) : mọi người đều có khả năng riêng
Mã mã hổ hổ : lè phè, làm việc không cẩn thận …
Mã ngưu khâm cư : trâu và ngựa mặt quần áo người, thiếu tư
cách … Cách trang điểm phải thích hợp – so với câu ‘cái răng cái tóc là
gốc con người’ trong văn hóa Việt Nam
Mã thượng bất tri mã hạ khổ : người đi ngựa không biết nỗi khổ của người đi bộ (hoàn cảnh khác nhau khó thông cảm)
Hại quần chi mã : con ngựa làm hại cả đàn, hàm ý một cá nhân làm hại cả tập thể …
Mã đằng vu tào, nhân huyên vu thất : ngựa chạy trong chuồng và người nói trong phòng – hàm ý một nơi (cơ sở) to lớn
Mã kháo an trang, nhân kháo y thường : cái yên làm nên con ngựa và quần áo làm nên con người – hay ‘người đẹp nhờ lụa, ngựa nhờ yên’2
Mã bất đình đề : ngựa chạy không nghỉ, hành trình không nghỉ …
Thiên lý mã : ngựa giỏi, nổi bật. Ngựa xích thổ của Quan Công
thời Tam Quốc có thể đi rất xa (nên còn gọi là thiên lý câu) nhịn ăn mà
chết theo chủ cho thấy tính trung thành của loài ngựa …
Án đồ sách kí : xem tranh để chọn ngựa
Hãn mã công lao : giải quyết thành công việc nước
Phong mã ngưu bất tương cập : ngựa và trâu có đuổi nhau cũng không gặp, hàm ý hai vật gì không có liên quan với nhau
Mã thủ thị chiêm : đầu làm gì đuôi theo nấy, khi đánh trận
phải xem hướng đầu ngựa của chủ Tướng chỉ huy (tới, lui hay ngừng …) hàm
ý vui vẻ hòa thuận và tuân lời chỉ huy
Đao thương nhập khố, mã phóng Nam Sơn : đao thương cất vào kho
và cho ngựa ăn cỏ ở núi Nam Sơn, thái độ tiêu cực không phòng bị dễ
thất bại (dễ bị kẻ địch phản công).
Mã đề đao biều lý thiết thái – trích thủy bất lậu : bần tiện như thái rau cải bằng móng ngựa – xài nhỏ giọt, keo kiệt …
Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã : người cùng bản tính thường tìm đến nhau …
Mã còn là một họ TQ, như Mã Viện (danh tướng đời Hán). Tổ tiên Mã Viện giỏi thuần ngựa nên có danh hiệu là Mã Phục Quân (người giỏi thuần ngựa).
…v.v…
Đúng ra ta cần cả một cuốn sách dầy2 viết về hình ảnh của
loài ngựa trong văn hóa TQ và VN, tuy nhiên phần này chỉ tóm tắt những
câu thường gặp cho thấy ảnh hưởng sâu xa của loài vật này qua thành ngữ
tục ngữ TQ.