Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

TÁI BẢN LẦN THỨ 2 "LỊCH SỬ VÀ NGHỆ THUẬT CA TRÙ"

Hội Văn Nghệ Dân gian Việt Nam vừa cho tái bản cuốn sách "Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù" của Nguyễn Xuân Diện, trong khuôn khổ Dự án công bố, phổ biến tài sản văn hóa văn nghệ dân gian Việt Nam. Đây là lần tái bản thứ hai, in tại Nxb. Văn hóa dân tộc với số lượng 2.000 bản. Trước đó, vào năm 2010, cuốn sách được tái bản lần đầu tại Nxb Thế giớí với số lượng 1.000 bản. 

"Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù" vốn là Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Xuân Diện được bảo vệ thành công vào ngày 30 tháng 3 năm 2007 và được in thành sách vào tháng 10 cùng năm với số lượng 500 bản.

Cuốn sách sau đó đã được Hội Xuất bản trao Giải Vàng Sách Đẹp của ngành xuất bản toàn quốc năm 2008. 

Nhân dịp cuốn sách được tái bản lần thứ hai, xin trân trọng giới thiệu Thay lời tựa của Giáo sư Trần Văn Khê: 
.
Thay lời tựa
NHẬN XÉT CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ 
VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NGUYỄN XUÂN DIỆN

Năm vừa qua, trước khi gặp tác gỉa tại quê nhà, tôi đã đọc được quyển sách "Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù" của Nguyễn Xuân Diện. Tôi vô cùng thích thú và ngạc nhiên.

Thích thú vì trước kia khi bắt đầu tìm hiểu Ca trù, tôi chỉ đọc được hai bài viết trên báo Nam Phong của Nguyễn Đôn Phục và Phạm Quỳnh. Sau này, có thêm quyển Việt Nam Ca trù biên khảo của hai tác gỉa Đỗ Trọng Huề và Đỗ Bằng Đoàn. Hôm nay, quyển sách của Nguyễn Xuân Diện đã cho tôi biết thêm rất nhiều sách báo về hát Ca trù mà tôi chưa hề đọc được. Trước kia tôi chỉ biết một quyển Ca trù thể cách mà trong thư mục tác gỉa đã cho tôi biết thêm sáu, bảy quyển Ca trù thể cách khác, lại còn kê khai trên bảy chục văn bia viết bằng chữ Nôm đang được tàng trữ tại Viện Hán Nôm.

Ngạc nhiên vì tác gỉa là một thanh niên lại chịu học Hán Nôm, sưu tầm, nghiên cứu rất nhiều tư liệu về Ca trù và giữ chức vụ Phó Giám đốc Thư viện, ngạc nhiên vì quyển sách là một bước tiến rất mới và rất xa trong việc nghiên cứu Ca trù, vừa mang tính phát hiện, vừa mang tính bao quát, phương pháp áp dụng rất phù hợp với cách nghiên cứu trong các nước tiên tiến, đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế nên có độ tin cậy rất cao. Tôi rất mong khi về nước sẽ gặp được tác gỉa để tỏ lời khen tặng.

Nhờ biết trước khả năng của tác gỉa nên khi tôi làm cố vấn cho việc lập hồ sơ để trình bày những nét đặc thù của ca trù cho Unesco, tôi đã nghĩ ngay đến em và mời em tham gia viết hồ sơ, cụ thể là phần lịch sử và phát triển ca trù Việt Nam.

Hôm nay, sau khi đọc bản Luận án của em thì tình cảm mến được tăng lên rất nhiều. Nội dung vô cùng phong phú. Công việc sưu tầm, nghiên cứu phân tích và phê phán các văn bia rất phù hợp với những phương pháp khoa học đã được áp dụng trên các nước Âu Mỹ theo phương cách đặt câu hỏi cái gì, ai, ở đâu, lúc nào, như thế nào (what, who, where, when, how) và không quên đối chiếu với những tư liệu khác.

Nhờ đó, có nhiều phát hiện mới mà từ trước đến nay chúng ta chưa được biết. Có những nghi vấn về Ông Tổ của Ca trù, về lúc nào danh từ “Ca trù” được dùng lần đầu tiên thì Luận án này đã đưa ra những bằng chứng đáng tin cậy.

Nhờ Luận án này, chúng ta thấy rõ không gian biểu diễn Ca trù như hát thờ, hát chơi và hát chúc hổ (hát chúc thọ nhà Vua hay tiếp Sứ ngoại quốc), cách tổ chức giáo phường, lề lối và hoàn cảnh sinh hoạt của các nghệ nhân, nghệ sĩ; nắm rõ được các thể cách, thể điệu (chín mươi chín thể cách trong đó có sáu mươi sáu về hát và ngâm và ba mươi ba hát và múa), xuất xứ và miêu tả nhạc khí căn bản của Ca trù như phách, đàn đáy, trống chầu; kỹ thuật hát (hát khuôn, hát hàng hoa, các khổ đàn, khổ phách như phách khoan, phách mau, phách theo, phách rốc, phách ba, phách hơi, phách vào ba ra bảy…).

Luận án đưa ra bảy kết luận nhưng trong Luận án, chúng ta thấy nhiều điều có thể mở ra những vấn đề nghiên cứu khác nữa.

Văn phong giản dị, ngôn ngữ và chánh tả chính xác. Nội dung và hình thức của Luận án cho phép chúng tôi đánh gía đây là một công trình khoa học tối ưu. Nguyễn Xuân Diện đã đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu về lịch sử Ca trù đồng thời cũng cung cấp được nhiều cứ liệu quan trọng trong việc phục hồi không gian văn hóa Ca trù và phát triển nghệ thuật Ca trù.

Mặc dầu đề tài Luận án đặt trọng tâm vào nguồn tư liệu Hán Nôm về việc nghiên cứu Ca trù, chúng tôi đề nghị thêm một phụ lục vào những bài viết đáng kể về Ca trù của các tác gỉa ngoại quốc như Baron trong quyển Histoires curieuses des royaumes du Tonkin et de Laos.

Nên có một bảng ngữ vựng về những thuật ngữ chuyên môn trong Ca trù.
Nên có một danh sách những dĩa hát xưa nay về Ca trù (Beka, Columbia…), những băng ghi âm ghi hình.

.
Ngày 26 tháng 3 dương lịch, năm 2007.
GS. TS Trần Văn Khê
Nguyên Giáo sư Đại học Sorbonne Paris
Nguyên Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche) Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp. Thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Unesco). Viện sĩ thông tấn Hàn Lâm viện châu Âu Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật.
(Đã ký tên và đóng dấu)

Tái bản lần 1:
LỊCH SỬ VÀ NGHỆ THUẬT CA TRÙ
Khảo sát nguồn tư liệu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm


Lời giới thiệu
(cho lần tái bản thứ nhất) 


Nhân dịp tròn 1 năm, Ca trù của Việt Nam được Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại (1-10-2009 – 1-10-2010) và chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, Công ty Cổ phần Từ Văn (Từ Văn Books) đã tổ chức tái bản cuốn sách này nhằm góp phần quảng bá rộng rãi hơn về một bộ môn nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam và thế giới. Tấm lòng đối với di sản cha ông của Công ty Từ Văn Books khiến chúng tôi thực sự vui mừng và xúc động!

Nhân dịp cuốn sách được tái bản, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Công ty Cổ phần Từ Văn và Nhà xuất bản Thế giới, cũng như đông đảo bạn đọc đã từng quan tâm đến cuốn sách này, đặc biệt đối những độc giả đã tìm kiếm nhưng chưa có được cuốn sách này trong lần xuất bản đầu tiên.
Hà Nội, Trung thu Canh Dần (2010).
Nguyễn Xuân Diện.


Sách gồm 274 trang, khổ 15 cm x 23 cm, được chia làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan nguồn tư liệu
Chương 2: Lịch sử và sinh hoạt ca trù
Chương 3: Nghệ thuật ca trù
Trong sách còn các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và nhiều ảnh minh họa.
Cuốn sách đã được trao Giải VÀNG - SÁCH ĐẸP của ngành xuất bản năm 2008

"Cuốn sách trình bày nhiều vấn đề về lịch sử phát triển ca trù và nghệ thuật ca trù dựa trên nguồn tư liệu Hán Nôm có giá trị, được hoàn thành trên cơ sở Luận án Tiến sĩ mà tác giả đã bảo vệ thành công tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước.

Trong cuốn chuyên khảo này, các thông tin được tác giả đưa ra đều mới mẻ, có chứng tích rõ ràng, đáng tin cậy. Có nhiều tư liệu chưa từng được các nhà nghiên cứu trước đây đề cập tới, hoặc có khi đã viết, nhưng không cung cấp chứng cứ thì nay được Nguyễn Xuân Diện giới thiệu.

Đây là một chuyên khảo có giá trị về ca trù, giúp cho chúng ta hiểu biết có căn cứ về một bộ môn nghệ thuật độc đáo trong văn hóa Việt Nam. Chính vì lẽ đó tôi xin trân trọng giới thiệu với tất cả những ai quan tâm đến ca trù và bạn đọc xa gần cuốn sách đặc sắc này"

TS. Trần Đoàn Lâm Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Thế giới.

___________________ 

*Ghi bên lề: Tác giả vẫn dành 01 bản bìa cứng xut bản lần 2 (2010) cùng một số CD Ca trù đặc sắc
để dành tặng bác Ha Le - một tri kỷ. Đề nghị bác Ha Le gửi email cho biết địa chđể tác giả gửi sách biếu.

CA TRÙ TRƯỚC NGÃ BA ĐƯỜNG: PHỤC SINH HAY MAI MỘT?

Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một

Tranh vẽ một cuộc hát ca trù. Ảnh : báo Việt Nam
Hát ca trù - tranh sơn dầu Phạm Công Thành (2005)
Ảnh: N.X.D
Trọng Thành
 
Ca trù - môn nghệ thuật cổ truyền độc đáo của Việt Nam - ngày càng được công chúng trong nước và quốc tế biết đến. Năm 2009, ca trù được Unesco công nhận là một “di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp”. Điều bất ngờ là, trong thời gian gần đây, càng lúc càng có những tiếng nói trong nước báo động về nguy cơ mai một của ca trù. 

Tại Việt Nam, về mặt số lượng, các nhóm ca trù địa phương dưới hình thức câu lạc bộ đang nở rộ. Nếu như trước năm 2005, cả nước chỉ có khoảng 20 câu lạc bộ, thì nay đã tăng lên gấp ba lần. Các câu lạc bộ ca trù có mặt tại khoảng 15 tỉnh và thành phố Việt Nam. Một số khóa truyền nghề của các nghệ nhân “đầu ngành” cho thế hệ trẻ đã được thực hiện, một số liên hoan ca trù toàn quốc đã được tổ chức, một số sinh hoạt ca trù gắn với các lề thói xưa đang bắt đầu được phục hồi, các phương tiện truyền thông chú ý nhiều hơn đến ca trù…

Mời quý vị nghe toàn bộ các phỏng vấn: . 

Tuy nhiên, điều bất ngờ là, trong thời gian gần đây, càng lúc càng có những tiếng nói trong nước cất lên báo động về nguy cơ mai một của ca trù. Thậm chí, một số ý kiến nhắc đến khả năng Unesco rút danh hiệu “di sản văn hóa nhân loại” mà môn nghệ thuật quý báu này vừa được trao tặng.

ĐÃ CÓ THỂ KHÉP LẠI CÂU CHUYỆN "CANH GÀ THỌ XƯƠNG"

Sự thật về chữ “canh” trong “canh gà Thọ Xương” 

Thứ tư 17/10/2012   23:41

ANTĐ - Theo PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, để nói về tiếng gà báo canh người ta viết chữ 更, bát canh cũng có thể viết là 更. Tuy nhiên, xét về văn cảnh trong cả 4 câu, thì chữ "canh" ở đây được hiểu là tiếng gà báo canh.
Sau sự việc của cô giáo Thủy - trường THCS Lomonoxop, trên một số diễn đàn mạng, có một số ý kiến cho rằng, "canh gà Thọ Xương" là nói về ẩm thực, ý kiến này nhận được vô số lời bàn luận bởi từ trước tới nay, "canh gà Thọ Xương" luôn được giảng dạy và được hiểu là tiếng gà gáy báo canh. 

Thậm chí có người đọc còn lấy dẫn chứng rằng: “trong sách Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư Tiên Sinh cũng chép bài thơ này. Xin lưu ý, Dương Khuê viết thơ bằng chữ Nôm, nỏ phải chữ Quốc ngữ. Nguyên văn viết chữ Canh là (bát canh, món canh), không phải (canh khuya, canh chầy)”. 

Để làm rõ hơn thực hư của chữ “canh” trong “canh gà Thọ Xương” đang gây xôn xao dư luận, PV ANTĐ đã có cuộc trò chuyện với PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Theo PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh, hiện có 2 luồng ý kiến, một cho rằng, đây là bài ca dao của người Việt đã được văn bản hóa, có ý kiến cho rằng đây là bài thơ của nhà thơ Dương Khuê - hiệu là Vân Trì.

PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh đã tìm trong sách
Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư tiên sinh ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và chưa tìm thấy bài thơ như trên, mà bài thơ này nằm trong cuốn Vân Trì thi thảo (mang ký hiệu VHv. 2482, đang lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm). 

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

CHỦ TỊCH NƯỚC: ĐIỀU DÂN VÀ ĐẢNG ĐANG ĐÒI HỎI CHÍNH LÀ HÀNH ĐỘNG

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 

“Điều dân và Đảng đang đòi hỏi chính là hành động”


Phát biểu trong cuộc tiếp xúc cử tri tại quận 1, TP.HCM trong sáng nay (17/10), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nêu rõ, công cuộc xây dựng đảng không phải chỉ phê và tự phê bình là chấm dứt, bản thân nghị quyết TW 4 với 4 mảng vấn đề lớn, mà vấn đề đầu tiên mà Đảng tiến hành là công tác phê bình – tự phê bình, đây là khâu quan trọng, nhưng không phải khâu duy nhất, đây cũng chỉ là kết quả bước đầu. Đối với toàn Đảng, các ban ngành TW và bản thân Bộ chính trị vẫn còn rất nhiều việc phải làm..

Bức xúc trước tình trạng tham nhũng lan tràn hiện nay, nhiều người dân tại đây đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm đến Chủ tịch nước và các vị đại biểu Quốc hội. Cử tri Huỳnh Thanh Long chất vấn: “Tại sao Việt Nam càng ngày tham nhũng càng nhiều mà không trị được”.

Trong khi đó bà Trần Thị Lệ Phương (Liên đoàn Lao động Quận 1) cũng cho rằng: “Chúng ta đã xác định chống tham nhũng là quốc sách, nhưng chúng ta càng chống thì tham nhũng càng tràn lan và trở nên nặng nề, xảy ra mọi lúc mọi nơi, đây là căn bệnh rất trầm kha”.

Chủ tịch nước: “Những điều xấu xa, che đến mấy người dân cũng biết”
Khung cảnh buổi tiếp xúc cử tri

Vị cử tri này mong muốn trong thời gian tới “Quốc hội phải đưa ra cách giải quyết để thật sự giải quyết được dần tham nhũng”. Bà Phương cũng đề nghị đoàn Đại biểu Quốc hội TP.HCM trong thời gian tới nên đặt đó là trọng tâm công tác trong suốt nhiệm kỳ. Đến cuối nhiệm kỳ “nếu chống tham nhũng không có chuyển biến, thì đó là lỗi rất lớn đối với nhân dân”. Thêm đó vị cử tri này nhấn mạnh: “Vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm cũng nên cần làm sớm, và làm tốt”

CHỦ TỊCH NƯỚC KÊU GỌI TOÀN DÂN VƯỢT QUA SỢ HÃI ĐỂ CHỐNG THAM NHŨNG

Cử tri bày tỏ trăn trở về nạn tham nhũng với Chủ tịch nước 
Thứ Tư, 17/10/2012 – 14:08

(Dân trí) – Sáng 17/10, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng các đại biểu thuộc Tổ Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Đơn vị 1 – TPHCM đã có buổi tiếp xúc với cử tri quận 1 để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của bà con trước Kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XIII.

Tại buổi tiếp xúc, cử tri quận 1 bày tỏ niềm phấn khởi trước sự đổi mới mạnh mẽ của đất trước trong 25 năm qua. Cử tri Nguyễn Thị Nguyệt (phường Cô Giang) hồ hởi: “Mỗi khi thấy Chủ tịch nước bắt tay với các nguyên thủ quốc gia khác là chúng tôi rất tự hào. Tự hào lắm chứ, vì chúng tôi thấy được sự phát triển của đất nước mình, thấy được vị thế dân tộc ngày càng cao hơn trên chính trường thế giới”.

Bên cạnh đó, các cử tri quận 1 cũng thẳng thắn đóng góp nhiều ý kiến về các tồn tại trong chính sách, cách thực thi quản lý nhà nước… Trong đó, vấn đề cử tri quan tâm nhất là vấn nạn tham nhũng đang ngày càng hoành hành, làm lung lay căn cơ của đất nước.

Cử tri Trần Minh Quang (phường Bến Thành) cho rằng: “Nhà nước cũng đã thừa nhận là có bộ phận không nhỏ cán bộ tham nhũng, nhưng theo ý tôi và theo những gì mà người xung quanh tôi trao đổi thì thấy tham nhũng hiện nay cứ như là 1 “tập đoàn”, rất nguy hiểm. Đất nước ta đã chịu bao nhiêu lần ngoại xâm rồi mà vẫn đánh thắng, nhưng tham nhũng còn đáng sợ hơn ngoại xâm, không giải quyết là mất nước”.

ĐÃ TÌM THẤY CÂU THƠ "CANH GÀ THỌ XƯƠNG" TRONG "DƯƠNG GIA PHẢ KÝ"


Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa cành sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ

Mấy câu thơ lục bát trên đã thêm một lần gây xôn xao mặt sóng thế giới phẳng. Khắp trên các mặt báo, các trang mạng xã hội đã diễn ra các cuộc tranh luận từ hàng tuần nay, và đến giờ này cơ hồ còn chưa tạm lắng. Tựu trung, thì người ta tranh luận, đại để các vấn đề sau:

1- Câu thơ này có đúng là của Dương Khuê (1839 - 1902)  không? Có tư liệu Hán Nôm nào chép mấy câu thơ này không? Chữ "canh" chép chữ canh là canh  羹 (món canh, bát canh/súp) hay canh 更 là canh khuya, canh giờ, canh chầy?
2- Canh gà Thọ Xương là "món canh gà" hay là canh giờ, canh khuya?
3- Thọ Xương ở trong mấy câu thơ trên là địa danh ở đâu?
.

HỘI NGHỊ TW 6: TƯ DUY NGƯỢC VỀ ĐẤT ĐAI?

Hội nghị Trung ương 6: Tư duy ngược về đất đai?

 Võ Văn Tạo
17-10-2012

Thông báo về Hội nghị BCHTW lần thứ 6 – Khóa XI (từ 1 đến 15-10-2012) không có câu: “không để các nhà đầu tư trực tiếp thỏa thuận với người sử dụng đất về giá đền bù, chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, nhưng ở mục 3 trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc, lại thể hiện như trên.

Chắc chắn nội dung này không thể do cá nhân Tổng Bí thư tùy tiện “thêm nếm”, mà ông chỉ tóm lược nội dung BCHTW đã thảo luận và cơ bản thống nhất. Theo thông lệ, nếu không có gì thay đổi, chắc chắn tư duy này sẽ được thể hiện cụ thể trong dự thảo Luật đất đai (sửa đổi), trình Quốc hội thông qua trong thời gian tới.

Phát biểu của Tổng Bí thư xác định: “quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt”. Thông báo của BCHTW cũng nhấn mạnh: “đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt; là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân”.

Cả hai văn bản đều xác định, QSDĐ (hoặc đất đai) là tài sản. Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, quyền tài sản thuộc lĩnh vực dân sự, tuân thủ nguyên tắc bất di bất dịch: “việc dân sự cốt ở hai bên”. Ví dụ, A nợ tiền B, chậm trả như giao ước. B kiện A, đòi nợ. Tại tòa, B thay đổi ý định, tuyên bố xóa nợ cho A. Tòa buộc phải tuyên án theo B, không thể khăng khăng buộc A  trả nợ.

Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, do sai lầm của hệ thống luật pháp về đất đai, rộ lên trên cả nước làn sóng tiêu cực, tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, vô cảm với người dân thấp cổ bé họng, gây bất bình, xáo trộn lớn trong xã hội. Ai cũng biết, nguyên nhân chủ yếu do chính sách quản lý, quy hoạch, thu hồi, đền bù đất đai không minh bạch, không công bằng, không hợp lòng dân. Trong hầu hết trường hợp, các chủ dự án đều lợi dụng việc Chính quyền có toàn quyền phê chuẩn dự án, độc quyền áp giá đền bù, hỗ trợ. Bản chất của kinh doanh là kiếm lời. Vì vậy, chủ dự án luôn làm mọi cách để Chính quyền ra quyết định có lợi cho mình. Diện tích càng lớn, vị trí càng đắc địa, khung giá đền bù, hỗ trợ càng “bèo bọt” càng tốt. Chính quyền, mà thực chất là vài cá nhân đứng đầu trong bộ máy Đảng và UBND, tất nhiên sẽ khó mà không xiêu lòng trước những món “lại quả” đi đêm đậm đà bằng tiền mặt, ngân khoản, căn hộ, lô đất… Thông thường, một dự án diện tích lên tới mấy chục, mấy trăm, mấy nghìn ha, giá đền bù hỗ trợ chỉ vỏn vẹn vài nghìn, vài chục nghìn, vài trăm nghìn đồng/m2; giá phân lô bán nền lên tới mấy triệu, mấy chục triệu, mấy trăm triệu đồng/m2. Nhờ khoản siêu chênh lệch đó, có trở ngại, thậm chí hiểm nguy nào mà chủ dự án và giới chức tham nhũng không thể vượt qua?

Thực tế nhiều năm qua cũng cho thấy, một số chuyên gia và lãnh đạo có tư duy công bằng và tâm huyết hoàn toàn ủng hộ phương án chủ các dự án bất động sản mang bản chất kinh doanh sinh lời phải thỏa thuận sang nhượng QSDĐ với người dân. Thực thi nguyên tắc đó là góp phần thực hiện bình đẳng, theo tinh thần và bản chất dân sự của quyền tài sản. Nhờ đó, tại các dự án được triển khai theo phương cách này, không xuất hiện khiếu kiện tranh chấp, an ninh trật tự địa phương ổn định, dư luận xã hội hoan nghênh, mong muốn trở thành chính sách thống nhất trên cả nước.

Với các dự án an ninh, quốc phòng, phục vụ công ích, Nhà nước buộc phải đứng ra thu hồi đất, nhưng phải trên nguyên tắc lợi ích sẽ mang lại cho quốc gia, cho cộng đồng phải thật sự lớn hơn rất nhiều so với lợi ích hiện hữu của người bị thu hồi đất. Trên cơ sở đó, ngân sách nhà nước mới có cơ sở và đủ khả năng đền bù, hỗ trợ thỏa đáng cho người bị thu hồi đất. Khi xác định khung giá đền bù, hỗ trợ, cần tính đến thiệt hại về tinh thần, tình cảm của người bị thu hồi đất, khi buộc phải rời bỏ mảnh đất nhiều đời đã gắn bó…

Rất tiếc, tuy xác định việc sửa đổi hệ thống pháp luật về đất đai là nội dung quan trọng của Hội nghị lần thứ 6 (nhằm mục tiêu phát triển bền vững, chống tham nhũng, tiêu cực, ổn định trật tự, an ninh xã hội), nhưng Hội nghị 6 lại chủ trương đi ngược với nguyên tắc “việc dân sự cốt ở hai bên” trong chính sách đất đai sắp tới. Không xem xét lại để thức rõ vấn đề này, không thể giảm thiểu khiếu kiện đất đai, làm sao phát triển bền vững, ổn định xã hội?

V.V.T.
Ảnh: Cưỡng chế cho dự án Khu đô thị mới Phước Long (Nha Trang) của Cty cổ phần HUD – Nha Trang
Nguồn: Ba Sàm

MỘT LỜI ĐÀN HẶC, TỂ TƯỚNG MẤT CHỨC

Một lời đàn hặc, Tể tướng mất chức
Bùi Xuân Đính
Thượng thư Bộ Lại đang làm việc
Tháng Tám năm Nhâm Tuất niên hiệu Chính Hòa đời Vua Lê Hy Tông (tháng 9 năm 1682), trong triều Lê - Trịnh xôn xao vì một có một tờ Sớ được gửi lên chúa Trịnh Tạc khi đó đang nắm thực quyền. Sự kiện gây xôn xao không chỉ vì xảy ra lần đầu trong triều, mà còn vì người bị đàn hặc là Nguyễn Mậu Tài, đương kim Tham tụng (Tể tướng đầu triều, tương đương như Thủ tướng ngày nay) kiêm Thượng thư bộ Lại - bộ có quyền hành cao nhất của triều đình, lo việc thăng, giáng, thuyên bổ quan lai; còn người đứng ra đàn hặc là Nguyễn Viết Đương chỉ là Tham chính sứ Thanh Hoa (chức quan hành chính ở trấn Thanh Hoa, tức tỉnh Thanh Hóa ngày nay). 

NẾU KHÔNG TỰ LƯỢNG PHẬN MÌNH...


Nếu không tự lượng phận mình …

Bùi Xuân Đính 

Nguyễn Quý Đức (1648 - 1720), người làng Đại Mỗ, huyện Từ Liêm (thành phố Hà Nội), đỗ Đình nguyên - Thám hoa khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Trị, đời Vua Lê Hy Tông (năm 1676), đảm nhận nhiều chức trách quan trọng dưới hai đời vua Lê : Hy Tông (1676 - 1705) và Dụ Tông (1705 - ?), cao nhất là Tham tụng (Tể tướng), được cử đi sứ sang nhà Thanh. Ông là nhà chính trị tài ba, nhà văn hóa, nhà thơ, nhà sử học. Sử cũ ghi lại, ông “là người rộng rãi, trung hậu và trầm tĩnh, từ cách cư xử đến cách thù tiếp đều tỏ ra vui vẻ và dễ dàng, nhưng khi bàn luận chính sự, hễ thấy việc gì còn chưa thoả đáng thì kiên trì ý kiến đến vài bốn lần, vững chắc không thể lay chuyển được. Ông làm quan Tham tụng, đứng đầu bách quan hàng hơn mười năm, làm chính sự cốt ở khoan hòa và trung hậu, được nhiều người suy tôn và noi theo. Dư luận phần nhiều khen ngợi ông. Sau khi mất, ông được truy tặng chức Thái tể, sai quan đến trông nom việc tang, lại phong làm Phúc thần. Con ông là Nguyễn Quý Ân, cháu nội là Nguyễn Quý Kính đều là những bậc đại thần của triều Lê - Trịnh, đều được phong Phúc thần, nhiều làng xã thuộc huyện Từ Liêm thờ làm thành hoàng, gọi là “Tam vị đại vương”.

TS. LÊ ĐĂNG DOANH TRẢ LỜI ĐÀI RFI, BBC VỀ HỘI NGHỊ TW 6

Việt Nam: Trung ương Đảng không theo Bộ Chính trị, 
điều chưa từng xẩy ra  

Trọng Thành (RFI)

Ngày 15/10/2012, Hội nghị của Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam kết thúc sau 2 tuần lễ họp kín. Một trong những điều đặc biệt gây bất ngờ được công luận chú ý từ hội nghị này là, Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã không chấp nhận đề nghị của Bộ Chính trị xin nhận một hình thức kỷ luật cho tập thể các lãnh đạo cao nhất và cho riêng cá nhân « một lãnh đạo », mà hầu như ai cũng biết là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. 

Hội nghị Trung ương 6 của đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang khủng hoảng về nhiều mặt, trong đó, công luận đặt rất nhiều câu hỏi về vai trò của đảng Cộng sản, vai trò của Bộ Chính trị và Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đây là phần nhận định của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, từ Hà Nội.
 
RFI : Kính chào Tiến sĩ Lê Đăng Doanh. Như ông biết, ngày hôm qua, Hội nghị 6 của đảng Cộng sản Việt Nam vừa kết thúc, rất mong ông cho biết các nhận định của ông về quá trình diễn ra hội nghị này, về kết quả cũng như triển vọng của những diễn tiến tiếp theo. 

Lê Đăng Doanh : Hội nghị 6 của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam chắn chắn là một hội nghị hết sức quan trọng. Đây không phải một hội nghị có tính thủ tục bình thường. Hội nghị này có lẽ sẽ đi vào lịch sử như là một trong những nỗ lực hết sức cao của ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là chấn chỉnh lại tổ chức, chấn chỉnh lại kỷ luật của Đảng, và chuẩn bị cho những bước phát triển tới đây của Đảng.

Mọi người đã hết sức nóng lòng theo dõi, và trên mạng cũng có rất nhiều tin đồn đoán. Đến buổi tối ngày hôm qua, đài truyền hình Việt Nam đã đưa toàn văn bài của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và thông cáo báo chí của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương.

Dĩ nhiên mọi người đều tập trung sự chú ý vào sự « phê bình và tự phê bình ». Điều đáng chú ý là, Bộ Chính trị đã 100% đồng ý là xin nhận khuyết điểm, và xin Ban Chấp hành Trung ương kỷ luật tập thể Bộ Chính trị và một thành viên, một Ủy viên của Bộ Chính trị. Điều đáng ngạc nhiên là sau đó, Ban Chấp hành Trung ương đã không đồng ý, cả kỷ luật Bộ Chính trị, cũng như kỷ luật « đồng chí » đó.

Điều này hơi ngạc nhiên, vì Ban Chấp hành lại chỉnh sửa quyết định của Bộ Chính trị. Và đấy là một điều từ trước đến nay hầu như chưa xảy ra. Và đây là một điều làm cho các nhà quan sát đang hết sức quan tâm, theo dõi, thảo luận, và mọi người đang chuẩn bị để xem xem rằng, sau Hội nghị Trung ương 6 thì diễn biến trong thực tế sẽ như thế nào.

RFI : Xin ông giải thích về cái thực tế gần như chưa có tiền lệ này trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam.