Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn trịnh nguyễn. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn trịnh nguyễn. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

TRỊNH NGUYỄN - VẾT THƯƠNG BAO GIỜ CẦM MÁU?


Trịnh Nguyễn, vết thương bao giờ cầm máu?


Nguyễn Thúy Hạnh
25-4-2018

Nói đến Trịnh Nguyễn chắc hẳn ai cũng nhớ những cuộc biểu tình liên tục bắt đầu nổ ra từ ngày 12/6/2013 chống lại việc cưỡng chế thu hồi đất và phản đối việc xây dựng nhà máy xử lý nước thải ngay sát khu dân cư gây ô nhiễm, của người dân phố Trịnh Nguyễn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh. Bà con cũng yêu cầu chính quyền đối thoại với dân về những việc làm khuất tất của các cán bộ, đồng thời yêu cầu lùi nhà máy ra cách vị trí dự định khoảng 400 mét.

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

TÌNH HÌNH GIỮ ĐẤT TẠI TRỊNH NGUYỄN NGÀY HÔM NAY 19.6.2013

Một bác nông dân bị đánh, bà con trong làng đang cõng bác ra xe đi bệnh viện. Ảnh và chú thích: L.T.N 

Hình ảnh Trịnh Nguyễn chiều muộn ngày hôm nay 19.6.2013:


 Người cầm loa là Phó chủ tịch Phường Châu Khê


08h25 ngày 19.6: Chiêng trống lại bắt đầu nổi lên vang vọng khắp cả khu làng và khu đồng Lỗ Vó. Hiện có khoảng 1000 bà con Trịnh Nguyễn và lân cận đang có mặt tại hiện trường.

Video cưỡng chế ngày 18.6.2013


Trong những ngày qua tinh thần đấu tranh của bà con và nhân dân khu phố Trịnh Nguyễn- Phường Châu Khê- Thị Xã Từ Sơn- Tỉnh Bắc Ninh càng quyết tâm. Sự việc ngày càng quyết liệt. 

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

VỤ VIỆC TẠI TRỊNH NGUYỄN - VTV1 CÓ BIẾT MÌNH ĐANG NÓI GÌ?


Vụ việc tại Trịnh Nguyễn: 
VTV1 có biết mình đang nói gì?
Thanh Tran
Bài viết của tác giả sau khi xem phóng sự của VTV1 với tiêu đề: "Dự án nhà máy xử lý nước thải Từ Sơn: gần 2 năm vẫn "dậm chân tại chỗ":


Các anh chị của VTV1 chải chuốt quá nhưng phát biểu lẫn lộn mà chẳng biết mình đang nói gì.

Tại sao lại đưa văn bản số 1161/TTg-KTN chấp thuận chủ trương đầu tư và chỉ định nhà đầu tư thực hiện dự án vào đây? Anh chị định phản ánh các vấn đề xã hội hay muốn bàn luận về luật pháp?

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

BÀI 3: GIA PHẢ - NGUỒN TÀI LIỆU LỊCH SỬ QUÝ GIÁ


GIA PHẢ - THẦN PHẢ - NGỌC PHẢ
một nguồn tài liệu lịch sử cần sưu tầm và khai thác

 

Văn Tân

Các gia phả, thần phả không những còn nhiều mà còn chứa đựng nhiều tài liệu sử học, văn hoá dân gian có giá trị nữa. Đây là một kết luận mà tôi rút ra sau khi đi nghiên cứu thực địa, điền dã nhiều năm ở tỉnh Hoà Bình cũ, ở Thạch Thất, Ba Vì,…

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

DÂN TRỊNH NGUYỄN (BẮC NINH) BỊ CẢ XÃ HỘI ĐEN VÀ CHÍNH QUYỀN ĐE DỌA

Khu phố Trịnh Nguyễn, Bắc Ninh, 
bị xã hội đen và chính quyền đe dọa 

Trọng Thành

Bà Đỗ Thị Thiêm tại bệnh viện Xanh Pôn (HN)
Ngày 04/07/2013, bà Đỗ Thị Thiêm, cư dân khu phố Trịnh Nguyễn - thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh - bất ngờ bị tạt axit bị thương nặng. Bản thân nạn nhân và nhiều người nghi ngờ đứng đằng sau hành động này là một thế lực trong chính quyền địa phương, trong bối cảnh hàng chục hộ dân cư khu phố Trịnh Nguyễn đang kháng cự quyết liệt chống lại chủ trương của chính quyền thị xã, xây dựng một nhà máy nước thải trên một khu đất nông nghiệp.

Theo một số nguồn tin tại chỗ, người dân ở khu phố Trịnh Nguyễn – Từ Sơn hiện đang sống trong không khí nơm nớp lo sợ, vì những đe dọa hành hung, trả thù từ các nhóm xã hội đen và áp lực của chính quyền. 

Hôm qua, 06/07, các đại diện của cộng đồng dân cư khu phố Trịnh Nguyễn gửi một bức "Thư ngỏ kính gửi các vị nhân sĩ, trí thức" trình bày sự việc và báo động về thực tế này. Trước đó, người dân Trịnh Nguyễn đã có khiếu nại lên một số cơ quan thuộc chính quyền trung ương, nhưng đến nay vẫn chưa có phản hồi cụ thể.

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

ĐÃ CÓ 3264 CHỮ KÝ KÊU GỌI THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM

   

DANH SÁCH KÝ TÊN HƯỞNG ỨNG

LỜI KÊU GỌI THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI 

THEO HIẾN PHÁP TẠI VIỆT NAM

Chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây kêu gọi chính quyền và toàn thể nhân dân thực thi những quyền con người đã được Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và những Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ghi nhận và bảo đảm. Trong những quyền đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo Điều 69 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) và theo Điều 19, Điều 21, Điều 22 về những quyền dân sự và chính trị trong Công ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập năm 1982.
Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh những quyền con người phổ quát được ghi trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, khẳng định “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Trên tinh thần đó, chúng tôi yêu cầu Quốc hội Việt Nam hủy bỏ Điều 88 Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam về “tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”và Nghị định 38/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/3/2005 “quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”.
Điều 88 BLHS quy định một cách mù mờ về tội danh tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam, thực chất là bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận đã được Hiến pháp Việt Nam và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị ghi nhận và bảo đảm. Việc người dân phản biện, phê phán Nhà nước, kiến nghị về luật pháp về chính sách, về bộ máy nhà nước… là những việc làm cần thiết và thường xuyên trong một nhà nước dân chủ, để xã hội tiến bộ. Nhưng với Điều 88 BLHS, công dân có bất cứ hành vi nào như vậy cũng có thể bị trừng trị. Nhiều công dân Việt Nam đã và đang bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị án tù về tội danh này, khiến cho lòng dân bất bình, thế giới chê trách việc thực hiện nhân quyền ở Việt Nam.
Nghị định 38/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/3/2005 thực chất là một nghị định cấm biểu tình được ban hành trái thẩm quyền và có nội dung vi hiến. Theo các điều 50, 51 Hiến pháp 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001), quyền con người, quyền của công dân là do Hiến pháp và luật quy định, tức do Quốc hội quy định. Chính phủ không có quyền quy định những quyền đó, càng không có quyền hạn chế, ngăn cản, thậm chí cấm những quyền đó. Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 31 ngày 13/9/1945, trong đó đã khẳng định biểu tình là quyền cơ bản trong một chế độ dân chủ, công dân chỉ cần thông báo cho chính quyền địa phương trước khi tiến hành biểu tình. Đến nay sắc lệnh này chưa có luật nào hủy bỏ, mặc nhiên vẫn còn giá trị pháp lý. Nghị định 38 nêu trên vừa trái sắc lệnh này, vừa trái các quy định của Hiến pháp hiện hành và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị, nên phải được hủy bỏ ngay lập tức.
Chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào yêu cầu chính quyền các cấp phải bảo đảm thực hiện đúng các quyền con người của công dân đã được ghi trong Hiến pháp Việt Nam và các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Chúng tôi đề nghị các luật sư, luật gia, giảng viên luật hãy giải thích sâu rộng quyền con người của công dân cho đồng bào, cho chính quyền, cho những lực lượng như công an, quân đội, dân phòng, cho các tổ chức thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… để mọi công dân Việt Nam được hưởng những quyền con người như những dân tộc khác trên thế giới, để những giới chức Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền con người cho đồng bào mình.
Chúng tôi kêu gọi cán bộ, công chức, sĩ quan, chiến sĩ trong các cơ quan chức năng của Việt Nam tôn trọng và bảo đảm các quyền con người theo Hiến pháp Việt nam và Công ước quốc tế, không mù quáng tuân theo mệnh lệnh vi phạm quyền con người.
Thực thi và đảm bảo quyền con người tại Việt Nam là điều kiện không thể thiếu để xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, có vị thế xứng đáng trên thế giới. Đó cũng là cách hiệu quả nhất để thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, như ý nguyện của toàn thể đồng bào.
Để thực thi những quyền này, trước hết Quốc hội hãy hủy bỏ Điều 88 BLHS và Nghị định 38/NĐ-CP/2005, yêu cầu Chính quyền trả tự do cho tất cả những tù nhân công khai bày tỏ chính kiến của mình một cách ôn hòa mà đã bị quy vào tội danh theo Điều 88 BLHS.
Một lần nữa chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào quyết thực thi những quyền cơ bản của con người và buộc Chính quyền phải tôn trọng và bảo đảm những quyền đó. Để thể hiện sự hưởng ứng, chúng tôi mong đồng bào trong và ngoài nước tích cực tham gia và vận động ký tên vào Lời kêu gọi này.
Chúng tôi tin tưởng rằng cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành quyền con người ngày càng được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ.
Ngày 25 tháng 12 năm 2012

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

DANH SÁCH 4.359 NGƯỜI KÝ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992


Để ký tên vào KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992, xin đồng bào trong và ngoài nước gửi e-mail về địa chỉ kiennghisuadoihienphap2013@gmail.com  ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có) và địa chỉ. 

Danh sách dưới đây đã được rà soát để loại bỏ trùng tên.
Bauxite Việt Nam

Danh sách từ 1 đến 1398 xem tại đây. và từ 1399 đến 2537 xem tại đây.

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Ngô Thị Hồng Lâm: GHI CHÉP TỪ TRỊNH NGUYỄN - TỪ SƠN - BẮC NINH


Ghi chép từ Trịnh Nguyễn
Ngô Thị Hồng Lâm

Theo các chuyên gia môi trường  đánh giá “Từ Sơn có nhiều làng nghề, từ đó gây ô nhiễm môi trường  nghiêm trọng. Bởi tất cả các hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước mưa đều cùng chung một hệ thống  tiêu thoát gây ô nhiễm cho lưu vực sông Thái Bình và sông Cầu”. Đảng và chính quyền thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh đã cho cưỡng chế GPMB lấy đất thực hiện dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải. 

Nhưng chủ trương này đã không được lòng dân chấp thuận và xẩy ra tranh chấp. Bởi lẽ theo bà con dân làng Trịnh Nguyễn trình bầy :

- Thứ nhất : Khu ruộng này là bờ xôi ruộng mật đã được đảng cấp cho những gia đình thuộc diện chính sách có công với đất nước trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

- Thứ hai : vị trí xây dựng nhà máy nằm ở  trên nguồn nước tưới tiêu cho toàn bộ cánh đồng ở phía sau nhà máy. Nếu nhà máy đi vào hoạt động thì toàn bộ cánh đồng ở phía sau nhà máy XLNT này sẽ không có nước tưới, dẫn đến toàn bộ diện tích này không thể canh tác được. Nhân dân không chống lại chủ trương xây dựng nhà máy xử lý nước thải, nhưng vì cần có ruộng để làm ra hạt gạo nuôi sống con người ,đề nghị chủ đầu tư cho dời nhà máy này xuống khu đồng phía dưới. Yêu cầu này đã không được đáp ứng.

- Thứ ba : quy trình khoa học thực hiện thu gom nước thải sinh hoạt, nước thải từ các làng nghề được thực hiện ra sao ? Có gom vào bể chứa hay không ? Chất thải sau xử lý sẽ đổ đi đâu ? Có tiếp tục một lần nữa làm xấu thêm môi trường hay không? Dự án được thực hiện trong bao lâu ? Nếu “Dự  án” này vẫn không đảm bảo được việc làm sạch môi trường thì ai? Cơ quan nào? là người chịu trách nhiệm trước đảng, trước chính quyền, trước nhân dân. Hay lại “hòa cả làng”.

Thứ tư : mức đền bù cho dân chỉ có 200 triệu/1sào (360m) là quá thấp, không đủ cho người dân tái tạo cuộc sống mới. Trong khi chủ trương của đảng “phải đảm bảo cuộc sống cho dân ổn định sau khi lấy đất !”. Giá cả đền bù không dược minh bạch công khai với dân.

Thế nhưng yêu cầu chính đáng của người dân làng Trịnh Nguyễn đã không được phía chính quyền và chủ đầu tư đầu tư đáp ứng và đã xẩy ra tranh chấp giữa nhân dân làng Trịnh Nguyễn và chủ đầu tư với sự ủng hộ tuyệt đối của chính quyền đã thực hiện một cuộc cưỡng bức dân quy mô bằng bạo lực để lấy đất, trấn áp người dân hết sức dã man. Người thì bị đánh ngất xỉu, các cháu bé bị thương do giầy đinh các cảnh sát cơ động dẫm lên.

Thứ Tư, 6 tháng 2, 2013

DANH SÁCH NGƯỜI KÝ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992


Để ký tên vào KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992, xin đồng bào trong và ngoài nước gửi e-mail về địa chỉ kiennghisuadoihienphap2013@gmail.com  ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có) và địa chỉ. 

Danh sách dưới đây đã được rà soát để loại bỏ trùng tên.

Bauxite Việt Nam
Danh sách từ 1 đến 1398 xem tại đây.

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

GẦN 1 VẠN NGƯỜI KÝ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 (KIẾN NGHỊ 72)


Để ký tên vào KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992, xin đồng bào trong và ngoài nước gửi e-mail về địa chỉ kiennghisuadoihienphap2013@gmail.com  ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có) và địa chỉ. Danh sách dưới đây đã được rà soát để loại bỏ trùng tên. 

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

DANH SÁCH 1.644 NGƯỜI ĐÃ KÝ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992


Để ký tên vào KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992, xin đồng bào trong và ngoài nước gửi e-mail về địa chỉ kiennghisuadoihienphap2013@gmail.com  ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có) và địa chỉ. 
Danh sách dưới đây đã được rà soát để loại bỏ trùng tên.
Bauxite Việt Nam


Đợt 1:
1. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
2. Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu, Hà Nội
3. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức yêu nước TP Hồ Chí Minh, TP HCM
4. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM
5. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
6. Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động, TP HCM
7. Phạm Vĩnh Cư, nhà nghiên cứu, Hà Nội
8. Nguyễn Xuân Diện, TS, Hà Nội
9. Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
10. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
11. Nguyễn Văn Dũng, nhà văn, võ sư, Huế
12. Hồ Ngọc Đại, GS TS, nhà giáo, Hà Nội
13. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh khóa 4, 5, TP HCM
14. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
15. Lê Hiền Đức, Giải thưởng Liêm chính 2007, Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Hà Nội
16. Phan Hồng Giang, TSKH, Hà Nội
17. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist), TP HCM
18. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
19. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội
20. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
21. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội
22. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
23. Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, Thành uỷ TP Hồ Chí Minh, TP HCM
24. Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thừa Thiên - Huế, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế
25. Nguyễn Văn Hồng (tức Cung Văn), nguyên Tổng Thư ký Ban chấp hành Sinh viên đoàn Đại học Văn khoa Sài Gòn 1964-1965, Đà Nẵng
26. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
27. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, Đà Nẵng
28. Trần Ngọc Kha, nhà báo, Hà Nội
29. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM
30. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
31. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới, TP HCM
32. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
33. Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội
34. Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội
35. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
36. Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
37. Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội
38. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
39. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An
40. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
41. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
42. Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn, Hà Nội
43. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp Đại học, Hà Nội
44. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin sáng, TP HCM
45. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu, Huế
46. Hoàng Xuân Phú, GS Viện Toán học, Hà Nội
47. Trần Việt Phương, nguyên trợ lý Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
48. Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại tá Công an, Hà Nội
49. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
50. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM
51. Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội
52. Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn, Hà Nội
53. Lê Văn Tâm, TS, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Nhật Bản, Nhật Bản
54. Trần Công Thạch, hưu trí, TP HCM
55. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
56. Trần Thị Băng Thanh, PGS TS, Hà Nội
57. Lê Quốc Thăng, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
58. Đào Tiến Thi, thạc sĩ, Hà Nội
59. Nguyễn Minh Thuyết, GS TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Hà Nội
60. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
61. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM
62. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
63. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
64. Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, nguyên Chủ tịch Viện IDS, Hà Nội
65. Lưu Trọng Văn, nhà báo, TP HCM
66. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội
67. Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM
68. Nguyễn Hữu Vinh, nhà báo, Hà Nội
69. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
70. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, Huế
71. Nguyễn Đông Yên, GS TS, Viện Toán học, Hà Nội
72. Nguyễn Phú Yên, nhạc sĩ, TP HCM

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

Kết quả phiên tòa ghép tội 12 dân lành ở Trịnh Nguyễn, Từ Sơn, Bắc Ninh

Cụ bà Ngô Thị Đức gần 80 tuổi, vợ Liệt sĩ, 49 năm tuổi đảng và đã bị đảng khai trừ vừa ra giữa chợ chặt đứt lìa một ngón tay để phản đối công an ép tội.

THÔNG BÁO:
Ngày 4/9, Toà án huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đưa 12 dân oan Trịnh Nguyên ra xử và ghép tội gây rối trật tự công cộng.
Phiên toà kết thúc, tuyên án: Ông Hào, bà Thiêm (người bị côn đồ tạt axit), anh Quý mỗi người bị 28 tháng tù giam; bác Toàn, bác Mỳ, bác Như mỗi người 26 tháng tù giam; Bà Ngô Thị Đức và ông Đặng Văn Nhu mỗi người 36 tháng tù treo, những ngừoi còn lại đều tù treo.

Phiên tòa không có luật sư.

 Lời dẫn của Tễu: Bà con Trịnh Nguyễn, Từ Sơn, Bắc Ninh cho biết, ngày 4.9.2014 tới đây, tòa án Từ Sơn đưa 12 dân oan Trịnh Nguyễn ra xét xử về tội gây rối và chống đối.

Hôm qua, 30.9.2014 công an Từ Sơn đến ép buộc Cụ bà Ngô Thị Đức (gần 80 tuổi, vợ Liệt sĩ, 49 năm tuổi đảng và đã bị đảng khai trừ) ký vào văn bản gì đó, cụ đã phản ứng gay gắt và không ký tên. Chúng cứ ép buộc, cụ phẫn uất ra giữa chợ chặt đứt lìa một ngón tay.

Con cháu đưa cụ ra Hà Nội để nối lại ngón tay nhưng cụ kiên quyết từ chối và yêu cầu con cháu đưa về quê vào chiều tối.

Được biết, toàn bộ khu đồng màu mỡ, gần đường đi và hệ thống thủy lợi rành riêng cho 62 gia đình liệt sĩ đã bị chính quyền lấy xong cho dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải mặc cho sự phản đối của hàng ngàn hộ dân trong xã.


____________

Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

TRÒN 01 NĂM BẢN TUYÊN BỐ VỀ TỘI ÁC ĐẦU ĐỘC BIỂN MIỀN TRUNG


TUYÊN BỐ VỀ TỘI ÁC ĐẦU ĐỘC BIỂN 
MIỀN TRUNG VIỆT NAM

Vụ nước biển miền Trung bị nhiễm độc nặng nề, mà chứng cứ là hàng chục tấn cá biển lớn nhỏ chết giạt vào bờ từ đầu tháng 4/2016 vẫn tiếp tục đến hôm nay, lan từ Hà Tĩnh, vào Quảng Bình, Quảng Trị, đến Thừa Thiên - Huế,… đã gây ra sự phẫn nộ chưa từng có trong toàn thể nhân dân Việt Nam.

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2018

HÀ NỘI CHÍNH THỨC CÓ PHỐ MANG TÊN TRỊNH VĂN BÔ


Hà Nội chính thức có phố mới mang tên nhà tư sản Trịnh Văn Bô

Lao động
05/12/2018 | 09:19

HĐND TP Hà Nội đã thông qua việc đặt tên phố mới mang tên nhà tư sản Trịnh Văn Bô – người hiến tặng Nhà nước hơn 5.000 lượng vàng năm 1945.

Sáng nay 5.12, tại kỳ họp thứ 7, HĐND Hà Nội khoá XV, HĐND TP đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc đặt tên và điều chỉnh độ dài một số tuyến đường tên địa bàn Thủ đô năm 2018.

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

BÀI 2: TÌM DẤU TÍCH DANH NHÂN TRONG NHỮNG TRANG GIA PHẢ


GIA PHẢ, NGUỒN TƯ LIỆU QUÝ TRONG CÔNG CUỘC TÌM HIỂU DANH NHÂN VĂN HÓA

Nguyễn Khắc Xương

Gia phả và phả hệ là những tư liệu văn bản ghi chép lại về các thế hệ và những biến cố liên quan của một nhân vật, một gia đình và một dòng họ. Các gia đình nho học và các danh nhân văn hóa có thể nói không nhà nào, không ai là không có gia phả và phả hệ. Các bản gia phả này vừa chép về một thế hệ với các vai vế họ hàng của thế họ đó, lại chép các thế hệ với các vai vế họ hàng của thế hệ đó, lại chép các thế hệ nối tiếp nhau từ các cụ tổ xa đời, từ cội nguồn của dòng họ cho tới thế hệ người soạn chep gia phả và cứ thế nổi tiếp mãi, tựa như dòng chảy bất tận của tông tộc. Nhìn vào phả hệ, một hình thức biểu đồ gia phả, ta được thấy cả hàng ngang về quan hệ họ hàng của thế hệ đương đại với hàng dọc là các thế hệ nối tiếp nhau từ khởi thủy, từ ngày tiên tổ lập nghiệp mở đường cho dòng họ định hình, tồn tại và phát triển lâu dài, thế hệ tiếp nối thế hệ các hàng ngang cứ xếp tiếp với nhau trở thành chồng lên, tựa lên nhau theo chiếu chứng biểu hiện sự trường tồn của một dòng họ.

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011

DANH SÁCH 199 TẠO SĨ (TIẾN SĨ NGẠCH VÕ) TRIỀU LÊ


Lời dẫn của macbupda:
Thời phong kiến, sĩ tử Nho gia đều có chí hướng thi cử chiếm công danh rồi cống hiến cho nước nhà. Ấy là bên văn. 

Còn bên võ, nhà nước cũng tổ chức một số khoa thi, chọn lấy những người có tài, và ban cho phẩm vị. 

Tạo sĩ khoa thi võ cũng tương đường tiến sĩ (tức ông Nghè) bên văn.
Em có kiếm được quyển "Võ cử và các võ tiến sĩ ở nước ta" (tác giả Nguyễn Thúy Nga, Nxb. Thế Giới), trong đó có danh sách các vị đỗ võ khoa cao cấp của Việt Nam thời Lê và thời Nguyễn. 

Xin giới thiệu để mọi người cùng tham khảo.

Các Tạo sĩ đời Lê
1. Phạm Công Tự
Người xã Cự Khánh, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Làm quan trải các chức: Cai cơ, Thiêm Sai, Trấn thủ.

2. Phạm Hữu Tuấn

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Em Phạm Hữu Nhậm, anh em đỗ cùng khoa; anh Phạm Hữu Tá, ông nội Phạm Hữu Vĩ.

3. Phạm Hữu Nhậm

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Anh Phạm Hữu Tá, Phạm Hữu Tuấn, anh em đỗ cùng khoa; ông bác Phạm Hữu Vĩ.

4. Mai Châu Điểm

Người xã Liên Cừ, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

5. Văn Đình Dận (1703-1754)

Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
22 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan đến chức Trấn thủ Tuyên Quang năm Vĩnh Hựu 6 (1740), tước Điều Trung hầu; năm Vĩnh Hựu 5 (1739) thăng Điều quận công. Thọ 51 tuổi. Sau khi mất được truy phong làm phúc thần.
Cha Văn Đình Ức, ông nội Văn Đình Cung.

6. Nguyễn Đức Luận

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

7. Nguyễn Thì Lỵ (1702-1787)

Người xã Đình Vĩ, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. 23 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.  Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan chức Cai cơ. Được về trí sĩ, thọ 85 tuổi, trải việc 4 triều.

8. Đặng Đình Truyền

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

9. Hoàng Nghĩa Bá (1696-1743)

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, Hưng yên.
29 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan chức Thống lĩnh, tước Bích Quận công. Thọ 47 tuổi. Sau khi mất được truy phong làm phúc thần.

10. Bùi Thế Tước

Người xã Thạch Thán, huyện Yên Sơn, nay thuộc xã Thạch Thán, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

11. Trịnh Điền

Họ Tôn thất. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

12. Đặng Đình Đạt

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

13. Phạm Hữu Tá

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông. Em Phạm Hữu Nhậm, Phạm Hữu Tuấn, ông chú Phạm Hữu Vĩ.

14. Nguyễn Duy Diệu

Người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

15. Nguyễn Phúc Nhuận

Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông. Làm quan chức kiêm Trấn thủ, tước quận công. Cha Nguyễn Phúc Hán.

16. Vũ Khúc Lâm.

Người xã Vượng Xã, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

17. Võ Tá Đức (1711-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biên sinh hợp thức, 21 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức Đốc trấn, Quyền phủ. Sau khi mất được tặng tước quận công. Cháu họ Võ Tá Tông, chú cháu cùng khoa; chú Võ Tá Thạc.

18. Võ Tá Tông

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. 21 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức Cai cơ. Mất tại trận, sau khi mất được tặng tước quận công. Chú Võ Tá Đức, chú cháu cùng khoa; ông họ Võ Tá Thạc.

19. Nguyễn Đức Uông

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, nay là huyện Quế Ổ, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quân trải các chức Cai cơ, Thống lĩnh. Mất tại trận. Sau khi mất được tặng tước quận công, bao phong phúc thần.

20. Lê  Công Phụ

Người xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, nay là xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.

21. Tống Đức Hải

Người xã Bùi Xá, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.

22. Hoàng Công Tuấn

Người xã Trung Vũ, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.
23. Hoàng Nghĩa Thông
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Chú Hoàng Nghĩa Đương, chú cháu cùng khoa.

24. Nguyễn Đống

Người xã Hạ Bồng, huyện la Sơn, nay thuộc xã Đức Lĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Tước quận công

25. Hoàng Nghĩa Đương.

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Cháu Hoàng Nghĩa Thông, chú cháu cùng khoa.

26. Hoàng Công Phái

Người xã Đang Dương Hạ, huyện Bạch Hạc. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức cai cơ.

27. Võ Tá Trung

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo ssĩ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Thiêm sai, Cai cơ. Mất tại trận. Sau khi mất được tặng tước quận công. Anh Võ Tá Thụy, cha Võ Tá Lệ, bác Võ Tá Dao.

28. Phạm Công Thiếp

Người xã Lãng Điền, huyện Thượng Nuyên, nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

29. Lê Cảnh.

Người hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, nay thủo thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

30. Hoàng Đỉnh Thản

Người xã Lê Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Anh Hoàng Đình Huyên, anh em đỗ cùng khoa.

31. Nguyễn Địch Côn

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Cai cơ, Đốc trấn trấn Kinh Bắc, kèm dạy ở nhà Võ học. Em Nguyễn Địch Tăng, anh em đỗ cùng khoa, ông nội của Nguyễn Địch Chủng, Nguyễn Địch Quỳnh, Nguyễn Địch Trọng.

32. Nguyễn Đình Thạch

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Quyền phủ, tước Tào quận công, quốc sư kiêm quốc lão, Phụng thị ngũ lão. Sau lại được mời ra làm quan. Thọ 78 tuổi. Sau khi mất được bao phong phúc thần. Anh Nguyễn Đình Chử, Nguyễn Đình Quyền.

33. Đặng Đình Trụ.

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

34. Hoàng Đình Huyên

Người xã Lê Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đứ 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Em Hoàng Đình Thản. Anh em đỗ cùng khoa.

35. Hoàng Nghĩa Nhương.

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hững Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan Cai cơ. Cha của Hoàng Nghĩa Yến, ông nội của Hoàng Nghĩa Trụ.

36. Phạm Phượng Nhac

Người xã Cự Khánh, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

37. Nguyễn Địch Tăng

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. 21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Anh của Nguyễn Địch Côn, ông bác của Nguyễn Địch Chủng, Nguyễn Địch Quỳnh, Nguyễn Địch Trọng.

38. Võ Tá Tín

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông.

39. Nguyễn Đình Danh

Người xã Đặng Xá, huyện Lương Tài, nay thuộc xã Trùng Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan Cai cơ. Em Nguyễn Đình Khội, chú Nguyễn Đình Can.

40. Hoàng Đình Tá

Người xã Quế Trạo, huyện Hiệp Hòa, nay thuộc xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đỗ Đồng tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông.

41. Võ Tá Thụy

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Hựu 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan chức Cai cơ, Tham lĩnh xứ Nghệ An. Cha Võ Tá Dao, em Võ Tá Trung, chú Võ Tá Lệ.

42. Võ Tá Cơ (1725-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan chức Cai cơ, Đô đốc, tước Vượng Cơ Hầu. Anh Võ Tá Kiên, Võ Tá Bật, Võ Tá Thì; cha Võ Tá Dự. (sinh năm 1725 thì năm 1739 mới 15 tuổi, vậy có lẽ ông sinh năm 1915 mới đúng)

43. Nguyễn Đình Chử (1715-?)

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cảm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Em Nguyễn Đình Thạch, Nguyễn Đình Quyền.

44. Phạm Đình Lân

Người xã Hạ Liệt, huyện Đông Sơn, nay thuộc Thanh Hóa. Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông.

45. Nguyễn Phúc Hán

Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Làm quan Cai cơ quản hải đạo. Con Nguyễn Phúc Nhuận.
46. Đặng Đình Viện
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Trước đỗ Toát thủ, sau đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vùa Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan đến Thiêm sai.
47. Ngô Phúc Hoành.
Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc, (thị trấn Nghèn), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan đến Quyền phủ, Trấn thủcác xứ Sơn Tây, Hải Dương; Kinh lược sứ đạo Thanh Hoa. Tước Hoành Phúc hầu, sau thăng tước quận công. Thọ 97 tuổi. Cha của Ngô Phúc Chủng.
48. Nguyễn Đình Khôi.
Người xã Đặng Xá, huyện Lang Tài, nay thuộc xã Trừng Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ An Quảng. Anh của Nguyễn Đình Danh; cha của Nguyễn Đình Can.
49. Nguyễn Đình Quyền
Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cảm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Quảng cơ Hậu Tiệp, tước Bàn Trung hầu. Em Nguyễn Đình Thạch, anh Nguyễn Đình Chử.
50. Lê Đình Giảng
Người xã An Quảng, huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Cai cơ.
51. Trịnh Hoành
Họ Tôn thất. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.
52. Vũ Quốc Cán
Người xã Đôn Thư, huyện Thanh Oai, nay thuộc xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.
53. Lê Thế Quýnh
Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phương Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm sai quản đường biển. Cha Lê Thế Định.
54. Mai Doãn Nhã
Người xã Đông Bình, huyện Gia Định, nay thuộc xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm sai quản đường biển.
55. Đỗ Thế Dụng
Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, nay là xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội. Chính quán xã Lai Cách, nay là thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.

56. Hoàng Đình Thể

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Đại tư mã, Trấn thủ các xứ Nghệ An, Hưng Hóa, kiêm dạy ở nhà võ học đạo Quảng Nam - Thuận Hóa, phó tướng quân. Tước quận công. Chết vì việc nước, được phong làm phúc thần. Cha của Hoàng Đình Đức, Hoàng Đình Duệ và Hoàng Đình Khuê. (Hoàng Đình Thể và hai con là Hoàng Định Duệ, Hoàng Đình Khuê tử trận trong cuộc tiến công ra Phú Xuân của quân Tây Sơn năm Bính Ngọ 1786).

57. Phạm Ngô Trác (1724-?)

Người xã Da Cầu, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
29 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm Sai, Trấn Thủ, Đốc chiến, Đốc lĩnh. Chú họ của Phạm Ngô Thạch.

58. Võ Tá Kiên

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Hiệp mưu đạo Quảng Nam - Thuận Hóa, Cai cơ Tả Thắng. Tước Kiện Kim hầu. Chết vì việc nước.
Em Võ Tá Cơ, anh Võ Tá Bật, Võ Tá Thì. Chú Võ Tá Dự.
(ông cùng tử trận với Hoàng Đình Thể trong trận Phú Xuân năm Bính Ngọ 1786)

59. Vũ Đăng Khoa

Người xã Kim Lan, huyện Cẩm Giang, nay thuộc xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. 28 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.

60. Trịnh Tự Đĩnh.

Tự Quý Quyền 貴 權
Người xã Phù Lỗ Đông, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Cai đội, Thái Bảo, Trấn thủ Hải Dương. Cha của Trịnh Tự Hiển, Trịnh Tự Thuần và Trịnh Tự Thức.

61. Đàm Đắc Chẩm

Người xã Tương Trúc, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Đề lĩnh.

62. Nguyễn Đình Triêm

Người xã Thiết Thượng, huyện Yên Dũng, nay thuộc tỉnh Bắc Giang. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Thủ hiệu.

63. Trịnh Châu

Họ Tôn thất. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông.

64. Biện Vũ Duệ.

Người xã Diên Lữ, huyện Nam Đường, nay thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

65. Võ Tá Thạc.

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Cháu Võ Tá Tổng.

66. Lê Bùi Chiểu

Người xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đặng Xá, huyện Giam Lâm, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
66. Lê Bùi Chiểu
Người xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đặng Xá, huyện Giam Lâm, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

67. Phạm Như Toại

Người xã Phúc Dương, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ Tuyên Quang.

68. Nguyễn Địch Bàn

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ các xứ Hải Dương, An Quảng và Sơn Tây, chỉ huy đồng tri. Tước Điện Lĩnh hầu. Cha của Nguyễn Địch Bàn, anh họ Nguyễn Địch Liên, Nguyễn Địch Vượng; ông họ nguyễn Địch Khuê.

69. Trương Tuân

Người xã Như Kinh, huyện Gia Lâm, nay thuộc thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. 22 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ Tuyên Quang. Cháu Trương Thuyên. Chú cháu đỗ cùng khoa.

70. Nguyễn Hữu Diễn

Người phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, any thuộc quân Hoàn Kiếm, TP Hà Nội.
Quê trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

71. Lê Đỗ Tích

Người xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, 50 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

72. Nguyễn Đình Khanh

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.

73. Trịnh Tông

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lên Hiển Tông.

74. Hoàng Sĩ Bá

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lên Hiển Tông.

75. Đinh Kỳ Trân

Người xã Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Phương Dục, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

76. Lê Trọng Hải

Người xã Hoằng Liệt, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quản đường biển.

77. Trương Thuyên

Người xã Như Kinh, huyện Gia Lâm, nay thuộc thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Chú Trương Tuân. Chú cháu đỗ cùng khoa.
(Hai chú cháu họ Trương này thấy có hai cách ghi họ Trương khác nhau, nhưng có lẽ ghi theo họ Trương của Trương Thuyên (77) là đúng, nghi là sách có sai sót).

78. Nguyễn Hữu Nhậm

Người xã Hạ Bồng, huyện La Sơn, nay thuộc xã Đức Lĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

79. Trần Danh Nhạc

Người xã Thiêm Lộc, huyện Ý Yên, nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

80. Văn Đình Lượng

Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Canh Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Con Văn Đình Dận, chú Văn Đình Cung.

81. Hoàng Nghĩa Yến

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Con của Hoàng Nghĩa Nhượng, cha của Hoàng Nghĩa Trụ.

82. Lương Như Cán

Người xã Cốc Lương, huyện Tiên Phúc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.

83. Bùi Duy Thì

Người xã ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Cha Bùi Danh Lân.

84. Trịnh Liêm

Họ Tôn thất, hàng thứ 2 thân với chúa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

85. Trịnh Chung

Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Thủ hiệu.
Em của Trịnh Thuyên, anh của Trịnh Tư, Trịnh Tiêm.

86. Trịnh Chân Trí

Người xã Thận Vị, huyện Thượng Nguyên, nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.

87. Lê Tự

Người hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

88. Văn Đình Cung

Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ ưu trúng hạng kho Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Lấy quận chúa em gái chúa Trịnh Sâm. Sau bị khép vào tội ngầm thông mưu phản nghịch, bị giam vào ngục, chúa Trịnh miễn cho khỏi tội chết.
Cháu nội Văn Đình Dận, con Quản quận công Văn Đình Ức, cháu họ Văn Đình Lượng.

89. Trịnh Thự
Họ Tôn thất.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.

90. Phạm Đình Phan

Người làng Kim Đôi, huyện Võ Giàng, nay thuộc xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.

91. Võ Tá Bật

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan thủ hiệu thiêm sai phủ liêu, Trấn thủ trấn Sơn Nam Hạ.
Em Võ Tá Cơ, Võ Tá Kiên; anh Võ Tá Thì; chú Võ Tá Dự.

92. Lê Thế Trâm (1743-?)

Người làng Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Thiêm sai, Cai cơ.

93. Đỗ Thế Dận

Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Năm Cảnh Hưng 35 (1774) làm quan Trấn thủ các trấn Thanh Hoa, Sơn Nam; năm Cảnh Hưng 38 (1777) lĩnh Trấn thủ sơn Tây, Kinh Bắc. Tước Trương Trung hầu. Sau bị cách chức vì không đương nổi việc.

94. Nguyễn Danh Đát

Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã phú Phương, huyện Ba Vị, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.

95. Vũ Tất Nhậm (1735-?)

Người xã Mỹ Thự, huyện Đường An, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
29 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

96. Nguyễn Địch Vượng

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quản hải đạo.
Cha của Nguyễn Địch Khuê; em họ Nguyễn Địch Liên, Nguyễn Địch Bàn; chú họ Nguyễn Địch Bân.

97. Trịnh Thuyên (1724-?)

Họ Tốn thất
37 tuổi đoõ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ. Chết vì việc nước.
Anh của Trịnh Chung, Trịnh Tư và Trịnh Tiêm.

98. Nguyễn Trọng Mại (1736-?)

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
28 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.

99. Hoàng Đình Bảo (1743-1782)

Trước tên là Hoàng Đăng Bảo. Sau đổi tên là Tố Lý.
Người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Trước đã đỗ Hương tiến khoa Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng 26 (1765), 24 tuổi lại đỗ Tạo sĩ ưu phân hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Có tài cả văn lẫn võ, được Ân Vương Trịnh Doanh gả con gái, làm Phò mã.
Làm quan quảnh binh, Trấn thủ các xứ: Thuận Hóa, Sơn Nam; sau làm Tham tụng. Tước Điển Thọ hầu, sau thăng Huy quận công. Bị loạn quân giết năm Canh Hưng 43 (1782).
Cháu họ Hoàng Ngũ Phúc, được Hoàng Ngũ Phúc nuôi làm con.

100. Phạm Hữu Vĩ (1739-?)

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 28 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua lê Hiển Tông.
Làm quan Cai Cơ.
Cháu nội Phạm Hữu tuấn; cháu họ Phạm Hữu Nhậm, Phạm Hữu Tá.

101. Võ Tá Thì (1745-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 22 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu thiêm sai phủ liêu.
Em Võ Tá Cơ, Võ Tá Kiên và Võ Tá Bật; chú Võ Tá Dự.

102. Lê Thì Hoan (1746-?)

Người xã Phú Hào, huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

103. Trần Danh Siêu (1743-?)

Người làng Vạn Phần, huyện Đông Thành, nay là xã Điền Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Biền sinh hợp thức, 24 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Trần Danh Thự.

104. Nguyễn Địch Liên

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quân Thủ hiệu. Năm Bính Ngọ chết vì việc nước.
Em họ Nguyễn Địch Bàn, anh họ Nguyễn Địch Vượng, chú họ Nguyễn Địch Bân, bác họ Nguyên Địch Khuê.

105. Trịnh Chử (1743-?)

Họ Tôn thất.
24 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Anh Trịnh Bích, Trình Thì.

106. Nguyễn Tông Hải

Người xã Yên Khê, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Yên Trường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Trước thi hương đỗ Hương cống, sau chuyển sang ngạch võ. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

107. Nguyễn Đình Khoan

Người xã Thượng Trì, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Trước thi hương đỗ Hương cống, sau chuyển sang ngạch võ. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan đến chức Cai cơ.

108. Nguyễn Đức Trung

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đức Hiệp, chú Nguyễn Trọng Mại.

109. Nguyễn Đình Tuân

Người xã yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Em Nguyễn Đình Xuyến, anh Nguyễn Đình Bát.

110. Nguyễn Mậu Phác

Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ, chết vì việc nước.
111. Dương Đình Hài
Người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
 

112. Nguyễn Đình Hòe
Người xã Câu Tử, huyện Duy Tiên, any thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

113. Phạm Huy Dật

Người xã Cao Mỗ, huyện Thần Khê, nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ sưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu

114. Nguyễn Hữu Diệm

Người xã Mỹ Dụ, huyện Hưng Nguyên, nay thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

115. Nguyễn Danh Thái

Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã Phú Phương, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

116. Nguyễn Gia Bàn (1745-?)

Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
25 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

117. Hoàng Nghĩa Nhị

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Trấn thủ đạo An Quảng.
Cháu Hoàng Nghĩa Bá.

118. Võ Tá Lệ

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Võ Tá Trung, cháu gọi Võ Tá Thụy là chú, anh họ Võ Tá Dao.

119. Võ Tá Dao (1746-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
27 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Trấn thủ Nghệ An.
Con Võ Tá Thụy, cháu gọi Võ Tá Trung là bác, em họ Võ Tá Lệ.

120. Võ Tá Dự (1748-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Cai cơ, Thủ hiệu, Thiêm sai phủ liêu.
Sau đổi sang họ Dương (Dương Vũ Dự).
Con Võ Tá Cơ, cháu họ Võ Tá Kiên, Võ Tá Bật, Võ Tá Thì.

131. Trịnh Tiêm

Họ Tôn thất.
Biền sinh hơp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Em Trịnh Thuyên, Trịnh Chung, Trịnh Tư, anh em đỗ cùng khoa.

123. Nguyễn Hữu Lý

Người xã Mậu Lâm, huyện Nga Sơn, nay thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

124. Trịnh Nhuận (1748-?)

Họ Tôn thất.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
(Các tài liệu chữ Hán đều ghi là chữ nhuận 潤 có bộ thủy, nhưng tác giả Nguyễn Thúy Nga cho rằng người họ chúa Trịnh đều có bộ mộc nên đã đổi lại thành chữ nhuận có bộ mộc, xem hình kèm theo).

125. Ngô Hữu Khoát (1748-?)

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

126. Trần Danh Chấn

Không rõ quê quán.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

127. Trịnh Liêm

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

128. Trần Danh Thự.

Người xã Vạn Phần, huyện Đông Thành, nay là xã Điền Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trần Danh Siêu.

129. Phan Đình Cung

Người xã Nam Ngạn, huyện La Sơn, nay thuộc Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

130. Hoàng Đình Đức (1750-?)

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, 23 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Con của Hoàng Đình Thể; anh Hoàng Đình Duệ, Hoàng Đình Khuê.
Làm quan đến Trấn thủ xứ Hưng Hóa.

131. Nguyễn Đình Trụ

Người xã Linh Đường, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

132. Trịnh Quyền

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
133. Trịnh Thì
Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trịnh Chử, Trịnh Bích.

134. Nguyễn Ngô Khanh

Người xã Văn Trinh, huyện Ngọc Sơn, nay thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

135. Nguyễn Đức Hiệp

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuọc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Nguyễn Đức Trung, chú Nguyễn Đức Mai.

136. Trịnh Bích

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trịnh Chử, anh Trịnh Thì.

137. Trịnh Bàn

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

138. Lê Trọng Phan (1748-?)

Người xã Bùi Xá, huyện La Sơn, nay thuộc xã Bùi Xã, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

139. Nguyễn Đình Xuyến (1743-?)

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 30 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu, Tham đốc.
Anh Nguyễn Đình Trân, Nguyễn Đình Bát.

140. Nguyễn Gia Quan

Người xã Phương Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quyền phủ Hiển lĩnh kiêm Trấn thủ Thái Nguyên.

141. Bùi Thế Toại.

Người xã Tiên Lý, huyện Đông Thành, nay thuộc tỉnh Nghệ An.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Hiến lĩnh Trấn thủ Nghệ An.
142. Lê Thế Siêu
Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thiêm sai.

143. Lê Thế Định

Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
25 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thiêm sai.
Con Lê Thế Quýnh.

144. Nguyễn Huy Chiểu

Người xã Nhân Môn, , huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

145. Vũ Đình Khanh

Người xã Tiên Cầu, huyện Kim Động, nay thuộc xã Hiệp Cường, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
(Sách Đại Việt sử ký tục biên ghi: “Tạo sĩ mới đỗ khoa Ất Mùi Vũ Đình Khanh trong ngày phúc duyệt có mang sách vào trường, bị bắt, phải xóa tên).

146. Ngô Trọng Định

Người xã Phương Quế, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Liên Phương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

147. Nguyễn Thế Dao

Người xã Nghi Khê, huyện Tứ Kỳ, nay thuộc xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

148. Nguyễn Đăng Nhương

Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

149. Đoàn Bá Sướng

Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuọc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Đoàn Bá Trọng

150. Nguyễn Quốc Quý

Người xã Lộng Đình, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

151. Nguyễn Địch Chủng (1746-?)

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, 29 thuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Cháu nội Nguyễn Địch Côn; cháu gọi Nguyễn Địch Tăng là ông bác; em Nguyễn Địch Trọng, Nguyễn Địch Quỳnh.

152. Nguyễn Danh Triêm
Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã Phù Phương, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan thủ hiệu. Chết vì việc nước, được phong Tráng liệt đại vương.
(Có lẽ ông chính là Chiêm Vũ Hầu chết vì loạn kiêu binh năm 1784. Xin tham khảo nguồn sau: http://dulichvietnam.asia/vn/?product.item.2856)

153. Lê Đình Cẩn (1726-?)

Người xã Nhân Mục Cựu, huyên Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 51 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

154. Trịnh Đĩnh

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước năm Bính Ngọ.
155. Nguyễn Địch Bân
Ngời xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Hiển lĩnh, thiêm sai, Trấn thủ Hải Dương. Chết vì việc nước.
Con Nguyễn Địch Bân; cháu họ Nguyễn Địch Liêm, Nguyễn Địch Vượng; anh họ Nguyễn Địch Khuê.

156. Đỗ Đình Diệm

Người xã Tiểu Lan, huyện Đông Yên, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Anh Đỗ Đình Liễn.

157. Nguyễn Danh Lan

Người xã Ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay tuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.

158. Trần Vũ Định

Người xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, nay thuộc xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

159. Tạ Đăng Liêm

Người xã Đại Phùng, huyện Đan Phượng, nay thuộc thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Cố nội là Tạ Đăng Vọng, ông nội là Tạ Đăng Huân, cha là Tạ Đăng Đạo đều đỗ Tiến sĩ ngạch văn.

160. Trịnh Tự Hiển

Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ quản thủ hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Trịnh Tự Đĩnh, anh Trịnh Tự Thuần, Trịnh Tự Thức.

161. Hoàng Nghĩa Trụ.

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, thi một lần đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ Hiệu.
Con Hoàng Nghĩa Yến, cháu nội Hoàng Nghĩa Nhượng.

162. Trịnh Thiều

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.

163. Vũ Tá Ngạnh

Người xã Hoa Đường, huyện Đường An, nay thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

164. Nguyễn Đình Cẩn

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.

165. Võ Tá Siêu.

Ngưỡi xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Làmquan Thủ hiệu.

166. Võ Tá Diệm

Ngưỡi xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.

167. Hoàng Đình Duệ

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
 Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, anh Hoàng Đình Khuê, anh em đỗ cùng khoa.

168. Hoàng Đình Khuê

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
 Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, em Hoàng Đình Duệ, anh em đỗ cùng khoa.

169. Khúc Đăng Liêm

Người xã Lãng Khuê huyện Ngự Thiên, nay thuộc huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

170. Nguyễn Gia Huyên

Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.

171. Đoàn Bá Trọng

Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Đoàn Bá Sưởng.

172. Ngô Phúc Chúng

Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc (thị trấn Nghèn), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Con Ngô Phúc Hoành.

173. Hoàng Phùng Gia

Người xã Vân Cốc, huyện Bạch Hạc.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Đô đốc triều Tây Sơn.
Tục gọi là Tạo Ba Bầu. Con thứ 3 Dục quận công.

174. Nguyễn Đăng Nhượng.

Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đăng Nhưỡng, chú Nguyễn Đăng Đệ.

175. Bùi Đăng Huân

Người xã Đoàn Đào, huyện Phù Dung, nay thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

176. Trịnh Giai

Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
177. Nguyễn Đăng Đệ
Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu họ Nguyễn Đăng Nhưỡng, Nguyễn Đăng Nhượng.

178. Dương Vị

Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em họ Dương Dận, Dương Thiều.

179. Nguyễn Đình Bát

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hn.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đình Xuyến, Nguyễn Đình Tuân.

180. Ngô Trọng Thọ

Người xã Mỹ Thự, huyện Đường An, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

181. Phạm Ngô Thạch (1765-?)

Người xã Da Cầu, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu họ Phạm Ngô Trác.

182. Lê Xuân Trác

Người xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

183. Nguyễn Trọng Nhẫn

Người xã Mỹ Điền, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

184. Đỗ Đình Liễn

Người xã Tiển Lan, huyện Đông Yên, nay thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Đỗ Đình Diệm.

185. Nguyễn Địch Khuê

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hơp thức, đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễ Địch Vương, cháu họ Nguyễn Địch Bàn, Nguyễn Địch Liên em học Nguyễn Địch Bân.

186. Nguyễn Đình Can

Người xã Đặng Xá, huyện Lang Tài, nay thuộc xã Trung Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễn Đình Khôi, cháu họ Nguyễn Đình Danh.

187. Dương Dận

Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Dương Thiều, anh em cùng khoa; anh họ Dương Vị.

188. Dương Thiều

Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Dương Dận, anh em cùng khoa; anh họ Dương Vị.

189. Lê Hữu Đạm

Người xã An Tĩnh, huyện Quảng Xương, nay thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

190. Ngô Phúc Thưởng

Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc (thị trấn Nghèn), huyên Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

191. Nguyễn Thọ Doãn

Người xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

192. Phạm Trọng Trạc

Người xã An Luật, huyện Gia Lộc, nay thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

193. Hoàng Đình Thực (1765-?)

Người xã Linh Đường, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Tả tiệp.

194. Trịnh Tự Thuần (1765-?)

Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễn (?) Tự Đĩnh, em Nguyễn Tự Hiển, anh Nguyễn Tự Thức, anh em đỗ cùng khoa.

195. Trịnh Tự Thức (1769-?)

Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
17 tuổi thi một lần đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Trịnh Tự Đĩnh; em Trịnh Tự Hiển, Trịnh Tự Thuần.

196. Nguyễn Hữu Ích

Người xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

197. Nguyễn Đức Bồi

Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơ, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

198. Nguyễn Địch Quỳnh (1765-?)

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu nội Nguyễn Địch Côn; cháu gọi Nguyễn Địch Tăng là ông bác; em của Nguyễn Địch Chủng, anh của Nguyễn Địch Trọng.

199. Trương Đình Vệ

Người xã Vương Xá, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.