Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

GIỚI THIỆU SỐ TẾT CỦA NGUYỄN XUÂN DIỆN- BLOG

Thưa chư vị,
Số TẾT của Nguyễn Xuân Diện - Blog đã đăng tải các bài sau, chư vị thích đọc bài nào, xin bấm vào bài đó để đọc: 

- Tảo mộ - tạp văn của Nguyễn Xuân Diện
- Mưa Xuântạp văn của Nguyễn Xuân Diện
- Cây nêu ngày Tết, bài của Cao Ngọc Hóa
 .
- Chợ Tết xưa - Thơ Đoàn Văn Cừ và bưu ảnh cổ
- Chân dung chợ Việt xưa khảo cứu của Trịnh Quang Dũng
.
- Thú chơi tranh Tết của người Việt - Trang Thanh Hiền
- Chữ trong tranh Đông Hồ - Phùng Hồng Kổn
- Tranh làng Sình, nét đẹp của văn hóa dân gian xứ Huế - Trang Thanh Hiền

- Ý nghĩa mâm ngũ quả ngày Tết - bài sưu tầm
- Triết lý Bánh Chưng Tết Việt - bài của Nguyễn Nhã 

- Các bài văn cúng trong dịp Tết Nhâm Thìn và hướng xuất hành - NXD sưu tầm 
- Tâm lý ngày Tết - Thượng Chi Phạm Quỳnh

- Vô minh và vô cảm - Chu Hảo
- Tâm và tài - Nguyễn Thị Từ Huy

- Đêm giao thừa nhớ Mẹ - tùy bút của Trần Mạnh Hảo


Còn tiếp.,..
_____________________________________________________
Lời mở cho số Giai phẩm Tết Nhâm Thìn: 

Tết Nhâm Thìn đang đến rất gần! Tết năm nay là Tết buồn nhất trong gia đình chúng tôi vì sự ra đi của Cha tôi, đến nay chưa được bách nhật. Năm nay, gia đình tôi sẽ đóng cửa không tiếp khách trong ba ngày Tết. Mấy mẹ con bà cháu sẽ ngồi trong nhà hoặc vùi trong chăn để ngủ. Chúng tôi cũng không dám đến chúc Tết nhà ai trong họ mạc, láng giềng trong 3 ngày Tết. Mọi việc thăm hỏi, lễ Tết sẽ được làm trước tối Ba mươi Tết. 

Lòng chúng tôi không biết đến chữ vui Tết, ăn Tết mà chỉ còn biết tưởng nhớ đến tổ tiên ông bà, đến cha chúng tôi và cầu mong được sự phù hộ chở che của tổ tiên ông bà...

Lòng tôi còn hướng đến người bạn, người chị Bùi Thị Minh Hằng đang chịu nhiều khổ đau đọa đày cả thể xác lẫn tinh thần trong trại cải tạo Thanh Hà ở miền sơn cước Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Đến hai người nữa mà chúng tôi còn chưa được gặp mặt, cũng đang mắc vào vòng lao lý là Anh Hoàng Khương và Anh Đoàn Văn Vươn, cùng một số anh chị khác nữa.....

Năm nay, tôi bảo các em tôi gói bánh chưng và làm chè kho (một món ngon quê tôi mà tôi chưa thấy ai không khen, nhiều cô bác còn đặt riêng để đem đi Sài Gòn biếu Tết) giúp cho các bạn bè thân hữu ở Hà Nội không có điều kiện gói bánh rồi nhờ anh em chuyển xuống Hà Nội cho mọi người. Có lẽ đấy là niềm vui  rộn ràng duy nhất của Tết năm nay chăng?

Nguyễn Xuân Diện – Blog cũng dự định không có số Tết như mọi năm. Nhưng lại nghe Anh Ba tôi khuyên là hàng ngày có biết bao nhiêu khách ghé thăm hiên trà này, dằn lòng gác lại việc riêng bài vở cho đều để hiên trà không quạnh vắng, làm buồn lòng mọi người. Thôi thì lại khăn áo chỉnh tề bưng trà đãi khách bốn phương.

Vậy nên, Nguyễn Xuân Diện-blog sẽ gửi đến chư vị SỐ TẾT được khởi đăng từ 20 tháng Chạp năm Tân Mão đến 15 tháng Giêng năm Nhâm Thìn.

Lần lượt các bài sẽ đăng tải, dự kiến như sau:

- Chiều 20 đến chiều 22 tháng Chạp: Chợ Tết. Tảo Mộ. Cung cấp các bài văn khấn trong lễ tiễn Ông Táo chầu trời, danh sách lễ vật, và cách thức làm lễ.
- Sáng 23 tháng Chạp: Số đặc biệt TẾT ÔNG TÁO. Các bài tạp văn của Nguyễn Xuân Diện và bằng hữu...
- Chiều 23 đến chiều 30 Tết: Ý nghía triết lý của mâm ngũ quả ở Miền Bắc và Miền Nam.

Chuyên đề về Tết xưa: Ý nghĩa triết lý của chiếc Bánh chưng (truyền thuyết và triết lý), thú chơi Tết, ăn Tết, phong tục Tết của người Việt

Tài liệu: Cung cấp Văn khấn Giao thừa, cúng từ ngày Mùng Một đến hết Tết. Hướng xuất hành. Ngày giờ tốt để: Khai bút, Khai trương cửa hàng, xuất hành...

Giao Thừa: THIẾP CHÚC TẾT của Nguyễn Xuân Diện-Blog.

-  Bài thơ Khai bút của Giáo sư Chu Hảo
-  Hồng phúc Việt Nam. Xã luận NXD-Blog, của tác giả Bùi Công Tự gửi từ Sài Gòn.
-  Bài thơ Chào đón Nhâm Thìn của Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh. 
- Tâm lý ngày Tết - bài của Thượng Chi Phạm Quỳnh
-  Các bài về chủ đề Rồng: Rồng ta và Rồng Tàu, Tay rồng - Chân rồng....

và nhiều bài vở, ảnh, tư liệu khác...

Nguyễn Xuân Diện- Blog kính trình!

ANH VƯƠN CHỐNG ĐỐI LÀ DO BIẾT TRƯỚC ĐẤT QUY HOẠCH?

.

Anh Vươn chống đối là do biết trước đất quy hoạch?


Nguyễn Hoàng Huy 

Khi trả lời phóng vấn báo vnexpress ngày 8/1/2011, Giám đốc Công an Tp. Hải Phòng cho rằng: “Nhiều khả năng [anh Vươn] biết trước khu vực rộng 500 ha này sẽ là tâm điểm xây sân bay trong thời gian tới nên Vươn cố gắng giữ lại để mong được đền bù cao.” Có lẽ đó là lý do chính đã dẫn đến sự việc không mong muốn ngày 5/1/2011 khi gia đình anh Vươn chống lại lệnh cưỡng chế của chính quyền Tiên Lãng, Hải Phòng dẫn đến việc 6 người bị trọng thương.

Không hiểu ông Giám đốc này có đào tạo về nghiệp vụ điều tra hay tâm lý không mà không thể nhận ra rằng hành động của những người trong gia đình anh Vươn là hành động của những con người đã bị dồn vào bước đường cùng. Và hành động của họ, lúc đó, chắc chắn không phải là hành động của những con người tính táo đầy tính toán sao cho có thể giữ lại được mảnh đất nhằm kiếm tiền đền bù cao.

Nếu tỉnh táo họ chắc chắn sẽ không làm như vậy, bởi vì sau đó họ thừa biết điều gì sẽ xảy đến cho bản thân và gia đình mình. Thêm vào đó, anh Vươn chỉ là một người dân bình thường, liệu có khả năng biết được thông tin thuộc dạng “tuyệt mật” kia không? Tôi chắc là không. Nếu anh đủ sức biết được thông tin đó thì anh phải có một mối quan hệ cực rộng lớn với các quan tai to mặt “béo”, mà nếu anh làm được như vậy, anh đã không bị huyện rồi Tòa án lừa, và cuộc cưỡng chế hôm đó có lẽ đã không xảy ra.

Ở một mặt khác, thông tin từ vị lãnh đạo trên có lẽ đã giải thích rất rõ tại sao huyện Tiên Lãng lại sốt sắng cưỡng chế đến thế dù biết rằng việc đó là sai. Rất có thể những vị quan chức cấp thành phố, cấp huyện đã biết đến việc quy hoạch trên. Do đó, việc cần làm ngay là tập trung đất về tay ta, trước là sẽ cho dân thuê lại kiếm lời, sau đó là hốt trọn một mẻ khi quy hoạch được công bố?

Nếu thông tin trên và giả thuyết trên là đúng thì, hỡi ôi, không biết ai mới là kẻ chủ mưu gây ra vụ việc ngày hôm đó đây? Hy vọng, các cơ quan thực thi pháp luật của Tp. Hải Phòng công tâm, đưa ra ánh sang toàn bộ vụ việc để xem ai đúng ai sai.
N. H. H.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

CÂU HỎI SAU VỤ CHỐNG CƯỠNG CHẾ Ở HẢI PHÒNG

Câu hỏi sau vụ chống cưỡng chế ở Hải Phòng 

Viết Lê Quân 

 

Vì sao những người dân Tiên Lãng, Hải Phòng, thường đã không làm mất lòng hàng xóm, nhưng đột nhiên lại xảy ra một sự biến đổi đến không ngờ trong hành động, sẵn lòng làm mất lòng chính quyền địa phương?

  

Câu chuyện gia đình chủ đầm Đoàn Văn Vươn nổ súng vào lực lượng cưỡng chế thu hồi đất đầm ở Tiên Lãng, Hải Phòng làm 6 công an và quân nhân bị trọng thương ngày 5/1 đang gây sự chú ý đặc biệt của dư luận. 

 

Nguyên nhân để xảy ra vụ án đặc biệt nghiêm trọng này bắt nguồn từ việc nhiều hộ dân có đầm nuôi trồng thủy sản tại khu vực xã Vinh Quang, trong đó có Đoàn Văn Vươn, không đồng tình với quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng vì trong các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nuôi trồng thủy sản chỉ có thời hạn giao đất 4-15 năm nhưng hợp đồng của nhiều hộ, thời điểm ký là năm 1997 đã ghi lùi thời hạn áp dụng từ 1993. Các quyết định thu hồi đất cũng không đề cập đến việc đền bù vật kiến trúc, công tôn tạo của người dân trong việc biến cả trăm ha đầm bãi sú vẹt hoang hóa thành các vuông đất nuôi trồng thủy sản. 

 

Những hành động phản ứng khi bị cưỡng chế, thu hồi đất đai lâu nay không còn là chuyện hiếm. Nhưng vụ việc ở Hải Phòng trở thành tâm điểm dư luận bởi lần đầu tiên, những người dân bị cưỡng chế đã sử dụng vũ khí – súng và mìn – thay cho tay không hoặc một số công cụ hỗ trợ như trước đây. Dư luận cũng băn khoăn, vì sao Đoàn Văn Vươn, vốn có nhân thân tốt, từng được một tờ báo phong tặng là "kỳ tài đất Tiên Lãng" bỗng chốc trở thành bị can trong một vụ án nghiêm trọng. 

 

Giới hạn của sự nguy hiểm 

 

Vô tình hay hữu ý, chính sách thu hồi đất đai lại vận động hoặc đi cùng với những con sóng tăng giá bất động sản từ những năm 1994-1995 cho đến nay. 

 

Nếu trước thời điểm năm 2000, có thể xem vài đợt tăng giá nhà đất chỉ là sự khởi đầu của trào lưu đầu cơ bất động sản, thì trong hơn mười năm qua, trào lưu này đã biến đất đai thành một mỏ vàng vô tận để từ đó làm giàu cho vô số người, bao gồm cả tư nhân lẫn quan chức. 

 

Cũng từ năm 2000 đến nay, dư luận xã hội đã phải quá nhiều lần phát đi câu hỏi thống thiết về mối quan hệ hữu cơ ngày càng gắn bó giữa các nhóm lợi ích – một chuỗi mắt xích được tương hỗ lẫn nhau về thủ tục hành chính và cả về những quyết định vi luật lẫn vi hiến, mà do đó đã góp phần làm sinh ra một giai tầng mới trong xã hội: "tư sản đỏ". 

 

Những số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy từ năm 2005–2006, hình thức khiếu kiện đông người đã tăng vọt. Vào thời điểm ấy, 70% nguyên nhân khiếu kiện liên quan đến lĩnh vực đất đai. 

 

Nhưng từ năm 2007 đến năm 2010, cùng với con sóng đầu cơ đất đai ghê gớm ở Hà Nội, TP.HCM và một số tỉnh lân cận, nhiều chuyên gia đã đánh giá tỷ lệ khiếu tố về đất đai đã tăng đến 90% trong tổng số đơn thư khiếu kiện. 

 

Vì sao người dân lại bức xúc rồng rắn khiếu kiện như thế? 

 

Có nhiều nguyên nhân và nhiều lời giải thích. Suốt hàng chục năm qua, rất nhiều cuộc hội thảo ở cấp trung ương và địa phương đã được tổ chức về vấn đề trên. Thậm chí còn có cả những dự án được nước ngoài tài trợ nhằm làm rõ nguồn cơn và giải pháp.

 

clip_image001
Các chiến sĩ CA áp sát các đối tượng nổ súng tại Hải Phòng. Ảnh: VOV

Nhưng trong khi mọi chuyện vẫn còn đang trong quá trình "nghiên cứu" và vẫn chưa có một lời giải thích thỏa đáng nào, cái hiện thực mà dư luận thấy rõ nhất và đáng được thừa nhận nhất là sức chịu đựng của người dân bị mất đất đã tiến đến một giới hạn của sự nguy hiểm.

Sau toàn bộ chuỗi kiện tụng về đất đai, tính cao trào của bi kịch thường được kích nổ bởi việc cưỡng chế, trong đó có cả những hành vi cưỡng chế trái pháp luật.

Tính kích nổ đầy nguy hiểm đó có thể dẫn đến những hành động phản ứng tự phát, manh động; và phần nào đó mang tính vô thức nếu phân tích theo khía cạnh tâm lý học.

Còn thực tế hơn, những người dân bị mất đất chỉ đơn giản lo sợ về việc họ sẽ sinh sống ra sao, con cái họ sẽ học hành thế nào một khi gia đình họ không còn đất canh tác, khi đất canh tác của họ đã chỉ được nhận giá bồi thường rẻ mạt để sau đó biến thành dự án sân golf, dự án du lịch, hay một thứ dự án nào đó mà về danh nghĩa là công ích nhưng thực chất lại là phân lô bán nền... 

Dự cảm sắp đến và sẽ đến 

Với tình hình giá bồi thường năm 2011 đã tăng lên đáng kể so với những năm trước, vì sao người dân bị thu hồi đất lại phản ứng rộng hơn và mạnh hơn? Những người dân này đã phản ứng quá đà hay còn do nguyên nhân nào khác?

Hay mặt bằng dân trí và nhận thức của người dân đã thay đổi? Và nếu thay đổi thì theo hướng nào?

Còn nhớ trước năm 1997, khi con sóng đầu cơ bất động sản đầu tiên hình thành ở Việt Nam, tại một số địa phương cũng đã manh nha làn sóng khiếu kiện đất đai. Nhưng đến năm 1997, điểm cực đại trong phản ứng tâm lý của người dân đã được kết tủa bởi sự kiện Thái Bình.

Trung Quốc, một quốc gia có bối cảnh vận động kinh tế và xã hội không khác mấy Việt Nam, cũng đã từ lâu rơi vào bối cảnh các mâu thuẫn kinh tế giai cấp đang tràn đầy nguy cơ biến thành xung đột xã hội. Vào năm 2011, khi chính thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo lần đầu tiên phải lên tiếng thừa nhận về "sự oán giận của người dân" đối với nhiều chính sách giải tỏa bồi thường đất đai, thì cũng là lúc hàng loạt vụ việc phản ứng quyết liệt của người bị mất đất diễn ra ở Quảng Đông, Quảng Châu, Phúc Kiến, Giang Tô...

Gần đây nhất, vụ việc làng Ô Khảm là một minh họa tiêu biểu cho tình thế "đóng cổng làng", buộc ngay cả Bộ trưởng Công an Trung Quốc Chu Vĩnh Khang cũng phải đưa ra lời đề nghị về chính quyền địa phương cần thực hiện "hòa giải với nhân dân".

Nếu trường hợp phản ứng của 13.000 dân làng Ô Khảm ở Trung Quốc là một điểm nhấn trong tâm lý phản kháng đối với chính sách thu hồi đất đai và bất công xã hội, thì có lẽ một số vụ việc phản ứng gần đây của người dân đối với chính sách thu hồi đất đai tại địa phương ở Việt Nam lại ẩn chứa những nét tương đồng lạ lùng, xứng đáng để các nhà xã hội học xây dựng hẳn một đề tài chuyên biệt nhằm phục vụ cho giới chức quản lý và cả giới chức tuyên truyền.

Và trọng tâm, hoặc một minh họa mang tính khởi đầu cho đề tài nghiên cứu – triển khai trên có thể chính là vụ việc mang tính tiền lệ về chống người thi hành công vụ – đã xảy ra ở khu đầm nuôi thủy sản xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào đầu năm 2012.

Để đề tài trên cũng nhằm dự cảm và dự báo về những phản ứng xã hội về đất đai, sắp đến và sẽ đến... 
V. L. Q.


BÙI HOÀNG TÁM - BỘ TRƯỞNG "LỘ HÀNG"?!

BỘ TRƯỞNG "LỘ HÀNG"?!
Bùi Hoàng Tám
.
Minh họa của Trần Nhươn
Mang sẵn trong mình dòng máu của một doanh nhân, bỗng trở thành Bộ trưởng, ông Thăng đã “bê” cái bài toán kinh doanh sang “ốp” vào lĩnh vực quản lý nhà nước. Do đó, phút “lộ hàng” tất yếu phải xảy ra. Nhưng do ông quá “mót” nên đã gặp sự phản ứng dữ dội từ dư luận… Có lẽ điều cần nhất đối với Bộ trưởng Thăng hiện nay là nên loại bớt “dòng máu doanh nhân” để thay vào đó một tư duy chính khách?

Trước hết, phải khẳng định ngay từ ngày đầu mới nhậm chức, Bộ trưởng Thăng đã có hàng loạt các hành động gây ấn tượng. Trả lời báo chí, Bộ trưởng Thăng xác định ghế Bộ trưởng GTVT luôn là chiếc “ghế nóng”. Rồi ông đã làm nó nóng lên bởi hàng loạt các vụ việc và dù ít dù nhiều, đã có những kết quả. Công bằng, tôi vẫn nghĩ ông là con người hành động. Vì vậy, khi Đại biểu Quốc hội Nguyễn Bá Thuyền “lăng nhục” ông bằng câu vỗ mặt: Làm Bộ trưởng như thế thì ai cũng làm được, tôi đã có phản ứng với cách sử dụng ngôn từ của vị Đại biểu Thuyền.

Thế nhưng gần đây, khi ông đề xuất thu phí lưu thông ô tô, xe máy thì tôi, dù không đồng tình với cách nói của vị Đại biểu Quốc hội Nguyễn Bá Thuyền nhưng cũng phải khâm phục ông Thuyền là người có tầm nhìn xa, trông rộng, hiểu rõ bản chất con người. Cái đề nghị thu phí (mà nhiều người gọi là móc túi dân) của Bộ trưởng Thăng sẽ không gây ngạc nhiên bởi đơn giản, nó có lẽ là “bản chất” của Bộ trưởng Thăng – Vị Chủ tịch HĐQT của một doanh nghiệp lớn. Mang sẵn trong mình dòng máu của một doanh nhân, bỗng trở thành Bộ trưởng, ông Thăng đã “bê” cái bài toán kinh doanh sang “ốp” vào lĩnh vực quản lý nhà nước. Đó là phút “lộ hàng” tất yếu phải xảy ra. Chỉ có điều, do ông quá “mót” nên đang gặp sự phản ứng dữ dội từ dư luận. Và có thể đoán chắc, Quốc hội sẽ không đồng ý với đề xuất này bởi dù sao thì Quốc hội cũng là cơ quan gần dân nhất hiện nay. Các Đại biểu không thể quay lưng lại với cử tri, những người đã trực tiếp bầu lên mình.

Để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, có lẽ điều cần nhất đối với Bộ trưởng Thăng hiện nay là nên loại bớt “dòng máu doanh nhân” để thay vào đó một tư duy chính khách. Vfa cũng phải biết “giấu” mình đi. “Lộ hàng” quá sớm, Bộ trưởng Thăng ơi!
B.H.T
Nguồn: TranNhuong.com.

LÊ HOÀNG - "DỤNG NHÂN NHƯ DỤNG MỘC"

Dụng nhân như dụng mộc
Lê Hoàng 
(bài viết riêng cho NXD-Blog)                     

Trong hàng loạt sự kiện nóng dồn dập cuối năm Tân Mão 2011 như việc xảy ra hàng loạt vụ cháy xe chưa rõ nguyên nhân, vụ chìm tàu Vinalines, vụ tranh chấp bản quyền truyền hình bóng đá, vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng….v.v cộng với hàng loạt chính sách bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/1/2012. Có lẽ đề xuất thu phí giao thông đối với xe mô tô, ô tô của Bộ trưởng Đinh La Thăng sau cú sốc tăng lệ phí cấp biển và phí trước bạ nhận được rất nhiều quan tâm của đông đảo dân chúng. Cũng dễ hiểu vì nếu đề xuất này được thường vụ Quốc hội thông qua nó sẽ đánh trực tiếp vào túi tiền vốn đã eo hẹp của mấy chục triệu dân Việt Nam.     

Dân chúng lâu nay vốn chịu nhiều hệ lụy từ những “bài ca không quên” tiếp diễn hết năm này sang năm khác về tình trạng ách tắc giao thông lẫn đào đường “đến tết lại đào” nên dành nhiều tình cảm và hy vọng cho ông Tân Bộ trưởng giao thông Đinh La Thăng khi mới lên nhậm chức. Một số hành động tiếp theo của ông mà báo chí gọi là “trảm tướng” cũng được vỗ tay khen ngợi. 

Tiếc thay niềm vui và hy vọng ấy chưa được trọn vẹn khi sau đợt rầm rộ vận động cán bộ Bộ giao thông lẫn dân chúng đi xe buýt mà bản thân ông hứa sẽ thường xuyên đi để làm gương thì mới đây, chính ông thừa nhận rằng ông cũng không thể nào đi nổi xe buýt nói gì đến người dân!

Chưa hết, công trình nhà ga hành khách Đà Nẵng hôm trước báo chí rầm rộ đưa tin nhờ có ông quyết liệt “trảm tướng” nên hoàn thành sớm tiến độ 2 tháng. Hôm sau chính báo chí lại ngậm ngùi đưa tin nhà ga mới khánh thành đã bị dột!

Người viết bài này tin rằng mình cũng như đa số dân chúng đều ủng hộ ông Thăng, tuy ban đầu có sự nghi ngại vì biết động vào vấn đề giao thông luôn là bài toán hóc búa mà chưa có lời giải hữu hiệu. Ủng hộ vì ít ra ông dám nói (hơn các vị tiền nhiệm) và ban đầu có một số hành động cụ thể để thực hiện lời nói của mình. Nói không quá lời, người dân hàng ngày dắt xe ra đường đi làm phập phồng đối diện với bao khó khăn nguy hiểm như tắc đường, tai nạn và gần đây là hàng loạt xe bỗng dưng bốc cháy mà chưa rõ nguyên nhân.
         
Cũng không phải là không có dư luận ì xèo qua những hành động của ông Thăng. Nào là gán cho ông sự bốc đồng của một anh cán bộ đoàn thời ông còn ở Tổng Sông Đà, nào là ngành GTVT rất phức tạp không phải là tập đoàn dầu khí nơi ông là chúa tể, nào là ông làm thế vì muốn nhắm đến những mục tiêu chính trị cao hơn…vv.
         
Có lẽ còn quá sớm để đưa ra những nhận xét xác đáng về các hành động của ông Thăng. Công bằng mà nói cho đến thời điểm này thì ít nhất ông cũng làm được một việc là thổi một luồng sinh khí rất “máu lửa” vào không gian giao thông đô thị vốn đầy u ám bới nạn kẹt xe, đào đường vô tội vạ.

Tuy nhiên với đề xuất mới nhất của ông là thu phí giao thông mô tô và ô tô với các mức lần lượt là mô tô: 500 nghìn-1triệu đồng/ năm; ô tô từ 20-50 triệu đồng/ năm thì có vẻ người dân đã không còn ủng hộ ông như trước. Thống kê thăm dò ý kiến bạn đọc trên báo điện tử dân trí cho thấy ( cho đến thời điểm viết bài này,ngày 10/1/2012) thì có tới 89% phản đối đề xuất của ông, chỉ có 9% ủng hộ và 7% là ý kiến khác.

Đồng ý là số đông không hẳn đã đúng (nhất là trong nghiên cứu khoa học) nhưng một vấn đề xã hội dân sinh liên quan trực tiếp đến đông đảo người dân thì kết quả trên hẳn có giá trị rất lớn khi cần đưa ra quyết sách.

Với một năm 2011 vừa trải qua đầy biến động, mức sống người dân đi xuống bởi lạm phát thuộc điện cao nhất thế giới lên đến 18,5% thì sức chịu đựng của người dân quả là có hạn. Dù ông Thăng đã “ khôn ngoan “ khi đưa vấn đề này ra vào lúc người dân mải chạy lo kiếm cái tết cho mình, dĩ nhiên sẽ phần nào xao nhãng những chuyện quốc gia đại sự khác.

Chính ông cũng thừa nhận và không dám hứa thu phí sẽ giải quyết được vấn nạn tắc đường và ông cho rằng mức phí thu như vậy là “ hợp lý “. Lý do chính đưa ra ở đây là đã tham gia giao thông thì phải thu phí, rằng kinh phí tu sửa đường chỉ đáp ứng được 75% còn thiếu đến 25%. Rằng các nước tiên tiến trên thế giới đều có thu phí đường bộ.

Ông nói đúng, nhưng chưa đủ. Có lẽ ông quên rằng giá xe máy, ô tô ở Việt Nam cao nhất thế giới và đang phải chịu tới 8 loại thuế phí (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Vat, phí lưu thông….vv) chưa kể việc mới tăng lệ phí cấp biển và trước bạ lên kịch trần. Thật là nghịch lý khi Việt Nam nghèo hơn Anh, Mỹ, Singapor… rất nhiều chục lần mà giá thành xe ô tô lại cao hơn họ từ 2,5 đến 3 lần!

Cũng chưa có ai lý giải được việc thu thuế xe máy ô tô cao như vậy thì số tiền thu được ấy ở đâu và dùng vào việc gì?
Nói cách khác người dân bất kỳ mua xe máy, ô tô với giá cao như vậy là họ đã “đóng một cục “ phí lưu hành trên đường rồi. Hoàn toàn không có chuyện họ chưa đóng tiền mà đã đi như ông giải trình.

Còn một vấn đề gốc rễ mà ông Thăng cũng như các quân sư ở Bộ GTVT đều hiểu rõ, việc tắc đường trầm trọng như hiện nay có nguyên nhân sâu xa từ quy hoạch hạ tầng, quản lý quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch.

Không có một giáo trình quy hoạch nào trên thế giới cũng như ở VN mà diện tích đường giao thông chỉ chiếm có 5%-7% (thực tế tại Hà Nội). Diện tích hợp lý phải là 18-20% và thậm chí có thể lên đến 25%.

Ông cũng cho rằng việc thu phí giao thông là để tạo công bằng cho xã hội. Nhưng ngay trong đề xuất của ông cũng đã bộc lộ rõ sự bất hợp lý khi thu phí giao thông theo dung tích xy lanh. Một chiếc ô tô 5 chỗ có dung tích 2.0 trở xuống thì chiều dài và rộng xe không khác gì một chiếc xe có dung tích 3.0…vv. Như vậy có thể nói diện tích chiếm đường của hai xe là như nhau, cớ gì mức thu lại khác? Còn nếu ông giải thích lượng khí thải khác nhau thì nên chăng thu phí môi trường mới là hợp lý? Và phí môi trường chả liên quan gì đến phí giao thông của ông.

Chưa hết, phương án của ông còn cào bằng giữa việc xe di chuyển hàng ngày với việc người có xe ô tô một năm về quê vài ba lần. Như vậy thu phí khác nào khuyến khích họ phải lôi xe ra sử dụng cho bõ tiền đóng phí?

Quan niệm về “ người giàu “ mới có xe ô tô là quan niệm hết sức phiến diện. Xe ô tô loại hàng chục tỷ cũng có mà loại hơn trăm triệu cũng không thiếu. Tôi chắt chiu để dành, tôi mua một chiếc xe matiz cũ để chở con đi học cho đỡ mưa nắng chẳng hạn, hoàn toàn không thể coi là người giàu. Ngược lại tôi phải cắt bớt những khoản chi tiêu khác để “ nuôi “ xe. Tôi vẫn nghèo, thậm chí nghèo hơn những người đi xe máy có giá trị còn cao hơn nhiều chiếc xe của tôi.

Và hơn hết, việc lỗi quy hoạch, lỗi chính sai sai lầm không phải do người dân mà do chính quyền. Vậy công bằng được thực thi ở đâu khi ông trút cái sai lầm ấy của cơ quan quản lý lên đầu người dân? Bài học về việc chi hàng chục tỷ đồng trong việc thực hiện phân làn ở Hà Nội đang diễn ra mà không mang lại một kết quả gì hãy còn đó. Vậy người dân hoàn toàn có quyền nghi ngờ số tiền khổng lồ từ thu phí giao thông có được sử dụng có hiệu quả?

Còn nhớ câu truyện ngụ ngôn dân gian khi một ông lão khuyên một người dân hỏi đường “Đi chậm thì đến kịp, đi nhanh thì không kịp” xem ra rất cần thiết với ông Đinh La Thăng lúc này. Giao thông là vấn đề luôn nóng bỏng nhưng không có nghĩa dùng những biện pháp duy ý chí, không có căn cứ khoa học và thực tiễn một cách nóng vội để sớm đạt kết quả. Biện pháp ấy lại đánh trực tiếp vào tuí tiền vốn đã eo hẹp đủ đường của toàn thể người dân thì thật quá sức chịu đựng. Và những ý kiến về phong cách lãnh đạo của một anh “cán bộ Đoàn” cũng không hẳn không có lý cho đến lúc này.

Để kết thúc bài viết tôi mượn câu nói của cổ nhân “Dụng nhân như dụng mộc”. Người nào cũng có ích nếu ta biết cách sử dụng tài năng của họ. Ông Đinh La Thăng có tài, nhưng vấn đề đất nước đã sử dụng đúng tài năng của ông chưa thì lại là chuyện khác.

L.H

HUY ĐỨC - QUẢ BOM ĐOÀN VĂN VƯƠN

Quả Bom Đoàn Văn Vươn

Huy Đức
 
Khi lực lượng cưỡng chế huyện Tiên Lãng đến khu đầm, anh Vươn cho nổ trái mìn tự tạo cài dưới một bình gas. Bình gas không nổ. Nhưng, trái mìn tự tạo vẫn gây tiếng vang như một quả bom, “quả bom Đoàn Văn Vươn”. Vụ nổ không chỉ gây rúng động nhân tâm mà còn giúp nhìn thấy căn nguyên các xung đột về đất đai. Quyền sở hữu nói là của “toàn dân”, trên thực tế, rất dễ rơi vào tay đám “cường hào mới”.
. 
Sự Tùy Tiện Của Nhà Nước Huyện
.
Quyết định giao bổ sung 19,5 ha đất nuôi trồng thủy sản cho ông Đoàn Văn Vươn, ký ngày 9-4-1997, ghi thời hạn sử dụng là 14 năm tính từ ngày 14-10-1993. Theo báo Thanh Niên, ở thời điểm ấy, chính quyền huyện Tiên Lãng đã quy định thời hạn giao đất cho nhiều cá nhân, hộ gia đình rất tùy tiện: có người được giao 4 năm; có người 10 năm... Tuy thời điểm này chưa có các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành, nhưng Luật Đất đai năm 1993 đã nói rõ thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình và cá nhân là 20 năm.
.
Theo Nghị định ngày 28-08-1999, nếu chính quyền Tiên Lãng không tùy tiện thì gia đình ông Vươn có quyền sử dụng phần đất này cho đến ngày 9-4-2017, tính từ ngày ông được huyện ký giao; tối thiểu cũng phải đến ngày 15-10-2013, nếu huyện “ăn gian” tính theo ngày Luật Đất đai có hiệu lực. Vấn đề là, cho dù đất được giao của gia đình ông Vươn hết hạn thì có phải là đương nhiên bị thu hồi để giao cho người khác như cách mà Tiên Lãng đã làm. Luật Đất đai 2003 quy định hạn điền cho loại đất nuôi trồng thủy sản là 3 hecta và với phần đất vượt hạn mức của ông Vươn có thể áp dụng Điều 35 để cho ông tiếp tục thuê như quy định đối với đất đai nông nghiệp.
. 
Sở Hữu Toàn Dân
.
Tuy dịch từ Hiến pháp 1936 của Liên xô, Hiến pháp 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai”. Cho dù, từ thập niên 1960s ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970s ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức bị coi là thuộc “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980.
.
Theo Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: “Trong bản dự thảo Hiến pháp 1980 do Chủ tịch Trường Chinh trình Bộ Chính trị vẫn đề nghị duy trì đa hình thức sở hữu, trên cơ sở khuyến khích 5 thành phần kinh tế. Theo tôi biết thì Bộ Nông nghiệp và Ban Nông nghiệp Trung ương cũng không đồng ý quốc hữu hóa”. Nhưng, ngày 10-9-1980, trong một bài nói chuyện trước Ban chấp hành Trung ương có tựa đề, “Hiến pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Nhân đây, tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như vậy hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Đình Lộc, thành viên Ban thư ký của Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp 1980, thừa nhận: “Khi đó, uy tín Lê Duẩn bao trùm. Mặt khác, nhiều người cũng không hình dung được bản chất của sở hữu toàn dân là quốc hữu hóa”.
.
Tuy chấp nhận quốc hữu hóa đất đai nhưng theo ông Tôn Gia Huyên, lúc bấy giờ là Vụ phó vụ Quản lý Đất đai, ông Trường Chinh chủ trương giữ nguyên hiện trạng chứ không tịch thu ruộng đất như điều mà Lenin đã làm với kulax ở Nga sau năm 1917. Ông Trường Chinh yêu cầu ghi vào Điều 20 của Hiến pháp 1980: “Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật”.
.
Khi Hiến pháp 1992 bắt đầu được soạn thảo, theo ông Phan Văn Khải: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tôi muốn sửa Hiến pháp theo hướng, trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân nhưng không thành công, chúng tôi đành phải tìm ra khái niệm, trao 5 quyền cho người sử dụng đất”. Trong Đại hội Đảng lần thứ VII, vòng I, nhiều nhà lãnh đạo địa phương đã lên tiếng ủng hộ “đa sở hữu hóa đất đai”. Nhưng, ở cấp cao, theo Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, ông Nguyễn Đình Lộc: “Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội. Khi chuẩn bị bài phát biểu về Hiến pháp cho Tổng Bí thư Đỗ Mười, tôi có trình bày, nhưng ông Đỗ Mười nghiêng về sở hữu toàn dân. Ông tin vào điều ông Lê Duẩn nói, sở hữu toàn dân là quan hệ sản xuất tiên tiến. Ông Đỗ Mười tin, trước sau gì ta cũng tới đó nên cứ để vậy”.
.
Các Nhà Làm Luật
.
Luật Đất đai 1993 đã trao cho người dân 5 quyền: sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê quyền sử dụng đất. Nhưng, so với Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 có một điểm lùi. Hiến pháp ghi: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Trong khi Luật chỉ giao đất cho cá nhân và chỉ giao có thời hạn. Ông Tôn Gia Huyên giải thích: “Thời hạn giao đất thực chất chỉ là ý chí chính trị, là sợi chỉ cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước”. Là ranh giới để trấn an những người vẫn còn tin, Việt Nam tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội.
.
Nhưng, cái ranh giới tưởng có giá trị trấn an ấy đã lại rất mù mờ, mù mờ ngay trong đầu chính các nhà lập pháp. Tháng 7-1993, sau bốn buổi thảo luận trên Hội trường về Luật Đất đai, các đại biểu miền Nam đề nghị “giao đất lâu dài” như Hiến pháp 1992, trong khi các đại biểu miền Bắc và miền Trung lại tán thành giao đất có thời hạn; thậm chí có đại biểu còn đòi rút ngắn thời hạn giao đất xuống còn từ 10-15 năm. Trong tính toán của nhiều người, giao đất có thời hạn nghĩa là sau đó Nhà nước có thể lấy lại để giao cho người khác. Đại biểu Đặng Quốc Tiến, Bắc Thái, nói: “Đất ít, người đông, giao có thời hạn thì sẽ bảo đảm cho công tác điều chỉnh đất đai khi có biến động nhân khẩu”. Ông Nguyễn Bá Thanh, khi ấy là Chủ tịch Thành phố Đà Nẵng, đã rất hăng: “Đi nghĩa vụ quân sự 2 năm thì kêu dài, giao đất 20 năm thì bảo ngắn”.
.
Khi Luật Đất đại 1993 được đưa ra sửa đổi, Chính phủ đề nghị nâng thời hạn giao đất nông nghiệp từ 20 năm lên 50.
.
Trong hai ngày 14 và 16-11-1998, nhiều đại biểu cũng đã phản ứng, thậm chí còn có phần gay gắt. Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Đại Thắng, Đại Lộc (Quảng Nam) ông Trần Văn Mai nói: “Số nông dân chưa có đất đang trông chờ cho hết thời điểm 20 năm, bây giờ đã được 5 năm, còn 15 năm nữa họ sẽ được chia đất. Nếu bây giờ ta tăng thời hạn lên 50 năm sẽ là một sự hụt hẫng lớn của nhân dân với Đảng”. Theo cách hiểu của ông Trần Văn Mai: “Hoặc hết hạn 20 năm, hoặc người sử dụng đất chết, chúng ta sẽ thu hồi cấp lại cho những nhân khẩu phát sinh”. Nhưng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, ông Nguyễn Đức Hoan đã phát biểu: “Đừng lo cho 20 năm sau không có đất để phân phối lại. Bây giờ ở ta 80% dân số làm nông nghiệp. Không lẽ 20 năm sau cũng 80%?”. Chủ tịch Hội nông dân tỉnh Đồng Tháp ông Trương Minh Thái cho rằng: “Đừng nghĩ chúng ta chỉ có thể điều phối ruộng đất ở nông thôn bằng cách thu hồi rồi chia lại. Chúng ta đã giao cho người dân năm quyền, họ có thể để thừa kế, hoặc sang nhượng cho người chưa có đất”.
. 
Đất Dân Quyền Quan
.
Năm quyền của người sử dụng đất sau đó được “pháp điển hóa” trong Bộ Luật Dân sự 1995 như các quyền dân sự. Quyền sở hữu, tuy “trá hình” này, vẫn là cơ sở pháp lý để hình thành thị trường địa ốc. Và trong giai đoạn đầu, nhờ tư vấn của World Bank, thị trường đã được điều hành bằng công cụ thuế. Cho dù do thuế suất quá cao, Luật Thuế Chuyển quyền sử dụng đất, ngay lúc ấy, đã khiến nhà đất đóng băng nhưng sử dụng công cụ thuế chính là thừa nhận giá trị các giao dịch dân sự liên quan tới đất đai. Tuy nhiên, chính quyền các cấp có vẻ như không mấy mặn mà với vai trò đứng ngoài. Các giao dịch, đặc biệt là mua bán đất đai đã bị hành chánh hóa: Nhà nước thu hồi đất của người bán rồi giao đất cho người mua. Thay vì thu thuế chuyển quyền, người mua phải đóng tiền sử dụng đất, đặt người có đất trong tình thế phải trả tiền hai lần.
.
Đỉnh cao của sai lầm về chính sách là Pháp lệnh 14-10-1994 và Nghị định 18, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh đó. Theo Nghị định 18, các tổ chức không còn được giao đất có đủ các quyền như Hiến pháp 1992. Những doanh nhân tiên phong như Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Trần Quang Vinh… đã vay hàng ngàn tỷ đồng để mua đất, sau Nghị định 18 phải chuyển những lô đất ấy thành đất thuê và chỉ được thế chấp ngân hàng theo giá trị số tiền thuê đã trả cho nhà nước. Khi bị bắt, cũng nhân danh “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, Hội đồng thẩm định do Nhà nước lập ra đã tính, có những mét vuông đất, giá không bằng que kem. Đất biệt thự đường Trần Phú, Vũng Tàu, mà chỉ được Tòa công nhận giá ba-trăm-đồng/m2. Khoản chênh lệch giữa giá thực mua và giá của Tòa được coi là thất thoát để buộc tội các doanh nhân này lừa đảo.
.
Trong tù, có lúc Minh Phụng nói với Luật sư Nguyễn Minh Tâm: “Xin luật sư hãy nhìn vào mắt em để xem em có phải là người lừa đảo?”. Ngày 12-7-1999, khi nghe Luật sư Tâm nhắc lại câu này Minh Phụng đã bật khóc trước Tòa. Cũng đầu tư vào đất đai cùng một phương thức tuy khác quy mô, nhưng, thái độ của Nhà nước với giá đất đã biến ông Lê Văn Kiểm, Huy Hoàng, thành anh hùng và tử hình ông Tăng Minh Phụng.
. 
Danh Chính Ngôn Thuận
.
Đầu tháng 12-2011, Chính quyền Đà Nẵng nơi ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân đã đề nghị cho tư nhân sở hữu đất đai. Sau 20 năm lãnh đạo một địa phương, có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh nhìn thấy, quyền sở hữu trá hình đã đặt đất đai của người dân vào tay chính quyền cấp huyện với quá nhiều rủi ro. Điều 38, Luật Đất đai 2003, nói: Nhà nước chỉ thu hồi đất khi “cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế” (khoản 7). Nhưng, tại khoản 10 cũng của Điều 38, Luật lại mở ra khả năng: Nhà nước thu hồi những phần đất “không được gia hạn khi hết thời hạn”. Chính quyền cấp huyện được Luật giao quyền giao đất và thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình. Nếu chính quyền Tiên Lãng áp dụng điều 67, tiếp tục giao đất cho ông Vươn, thì đã không có gì xảy ra, nhưng họ đã đẩy ông vào khoản 10, Điều 38: Thu hồi đất vì “không được gia hạn” khi thời hạn giao đất của ông đã hết.
.
Sau “trái bom Đoàn Văn Vươn”, chúng ta biết, khu đất đầm mà anh có không phải là đất được nhà nước giao mà là đất do gia đình anh phải lấn biển, khai hoang. Suốt 5 năm “trầm mình dưới nước từ mờ sáng tới tận tối khuya”, biết bao lần bị bão biển cuốn phăng để đắp được một bờ kè dài hai cây số, tạo nên bãi bồi màu mỡ và một khu đầm nuôi tôm cá rộng gần 40 hecta. Cũng nơi đây, anh Vươn mất một đứa con gái 8 tuổi vì khi cha mẹ mải làm con gái của anh đã rơi xuống cống. Đừng nói chuyện thu hồi, lẽ ra chính quyền Tiên Lãng phải xấu hổ khi ký quyết định giao cho anh Vươn phần đất của chính anh, phần đất mà anh Vươn đã phải gắn bó suốt 20 năm, đã đổ cả mồ hôi và máu.
.
Nếu như, quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, thì cách khai hoang, lấn biển của gia đình anh Vươn phải được coi như một hình thức thụ đắc ruộng đất mà từ xa xưa cha ông ta đã áp dụng cho người dân để ngày nay Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau. Nếu như quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, Chính quyền không thể hành chính hóa các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai. Các đại gia không thể thậm thụt với đám cường hào thu hồi những mảnh đất của dân mà họ mua không được.
.
Nhưng đó là câu chuyện có thể được thảo luận trong quá trình sửa đổi Hiến pháp. Người dân đang dõi theo thái độ của Chính phủ, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước trường hợp Đoàn Văn Vươn.
.
Theo cách giải thích của Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thì đất ông Vươn nằm trong vùng quy hoạch xây dựng một sân bay quốc tế. Nếu thu hồi bây giờ hoặc chuyển thành thuê thì mai này nhà nước không phải bồi thường cho ông Vươn. Đỗ Hữu Ca nói: “Với công trình đặc biệt quan trọng như thế thì đền bù sẽ rất lớn. Ông Vươn cố giữ lại như thế để lấy đền bù khi dự án được triển khai”. Có thể Đỗ Hữu Ca là một công chức mẫn cán chứ không phải là “cụ Bá”. Nhưng, lo quyền lợi của nhà nước sao không tính quyền lợi của dân, không tính máu và mồ hôi 20 năm của gia đình anh Vươn. Chắc Đỗ Hữu Ca không nghĩ, anh em, bà con ông và chỉ vài năm nữa chính ông cũng là dân.
.
Đỗ Hữu Ca có lẽ không nhớ chuyện anh rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sáng 17-4-2009, bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 185 hecta cao su của ông để làm khu công nghiệp. Ông đã không đồng ý cho giải tỏa, mặc dù, 185 hecta cao su này ông có được nhàn hạ hơn so với công sức khai hoang, lấn sóng của anh Vươn và mức đền bù thì cao hơn gấp 20 lần giá vốn. Nhắc lại câu chuyện này để thấy, bất luận là ai, khi phải đối diện với tài sản của mình thì mới thấy của đau, con xót.
.
Dù sao thì hành động chống người thi hành công vụ của anh Đoàn Văn Vươn cũng phải được đưa ra xét xử. Nhưng, thông điệp mà các địa phương chờ đợi không phải là những năm tù cho anh mà là thái độ của nhà nước với chính quyền Tiên Lãng. Từ năm 2013, ruộng đất của nông dân bắt đầu lần lượt hết hạn giao đất. Nếu như quyết định của Chủ tịch Tiên Lãng Lê Văn Hiền không bị coi là sai, hơn 500 chủ tịch huyện trên cả nước có thể noi gương thu hồi đất đáo hạn của nông dân để… giao, thì không biết điều gì sẽ xảy ra. Đừng chậm trễ và đừng để “quả bom Đoàn Văn Vươn” lại nổ.

  

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

NGUYỄN QUANG VINH: ĐỦ CƠ SỞ KHỞI TỐ LÃNH ĐẠO HUYỆN TIÊN LÃNG

Phải lấy lại nụ cười mùa màng, tình yêu đất đai của nhân dân bằng việc phải trừng trị nghiêm khắc những tên cường hào mới ở nông thôn.

Nguyễn Quang Vinh

MỞ BÀI

Tĩnh tâm lại,soát xét toàn bộ sự việc của vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, mới nhận ra rằng, đã có đủ cơ sở chứng lý để khởi tố ngay Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền và Chủ tịch UBND xã Vinh Quang Lê Văn Liêm vì tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn gây hậu quả nghiêm trọng ( Còn phải tính đến tội: Lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi- khi có chứng cứ).

Vì sao lại phải khởi tố hai anh em nhà họ Lê?

Vì sao Đoàn Văn Vươn và những người dân phải rơi vào vòng lao lý?

Vì sao thẩm phán Ngô Quang Anh ( Tòa hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng) lại năng nổ, nhiệt tình, tự nguyện hợp tác với anh em nhà họ Lê, cùng nghĩ ra cả “mẹo cứt gà” để lừa dân?

Vì sao đội thi hành cưỡng chế dù gặp phải nguy hiểm ( nổ mìn) vẫn liều mình như chẳng có để đập phá nhà dân tới mức mà Giám đốc Sở công an TP Hải Phòng cũng thấy có gì đó không ổn?

Cuối cùng, vì sao năm hết tết đến, cuộc sống khó khăn, mà báo chí, dư luận, cư dân mạng lại bỏ công, bỏ sức, bỏ trí ra vì Đoàn Văn Vươn?

Và, chắc chắn rồi, Vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng trở thành tâm điểm chú ý của nhân dân. Có lẽ Bộ Chính trị chọn ngay Tiên Lãng để làm nơi bắt đầu  với quyết tâm Chỉnh đốn Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân mình.

THÂN BÀI

Có một điều chắc chắn rằng, trong mấy năm gần đây, đặc biệt gần gần gần đây nữa, thì khu đầm hồ của anh Vươn và các hộ dân đã trở thành tâm điểm chú ý của nhiều nhà đầu tư. Và quan trọng hơn, nó làm cho anh em nhà họ Lê bắt đầu ngứa ngáy không yên. Chắc phải tốn trà và tốn thuốc lào rít sòng sọc nhiều đêm, bia bọt,  cùng với sự thì thầm to nhỏ với các nhà đầu tư chụp giật, anh em nhà họ Lê mới quyết định cướp đất của dân như thế. Bởi vì, họ, những chủ tịch huyện, chủ tịch xã, hơn người dân cả ngàn lần về kiến thức pháp luật, để biết việc giao đất cho dân phải làm như thế nào, luật đất đai ra làm sao, nhưng hỡi ôi, kiến thức pháp luật càng nhiều mà rơi vào trái tim công bộc xấu xa thì người dân hiền hậu, chất phác càng dễ bị đánh lừa. Ở đây, anh Đoàn Văn Vươn và bà con có đầm hồ ở xã Vinh Quang đã bị chính quyền lừa.

Dân kiện. Anh em nhà họ Lê đủ khôn ngoan để biết rằng, nếu thả cho vụ kiện này đi đúng trình tự pháp luật, thì không những không, không, không, và không thể thu hồi đất của Đoàn Văn Vươn và một số hộ dân, hơn thế, lại càng phải giao đất lâu dài cho họ. Vì thế, phải chấm dứt ngay vụ kiện bằng sự hợp tác hơi bị ngọt, hợi bị khôn ngoan, hơi bị lưu manh, hơi bị nhiệt tình trong sự vận dụng sáng tạo “ mẹo cứt gà” với người dân của thẩm phán Ngô Quang Anh, Tòa hành chính, tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Dân thì chỉ biết làm ăn, cùng đường mới phải kiện, nay Tòa lập cho cái biên bản, rằng, các anh rút đơn kiện huyện thì huyện có trách nhiệm cho các anh thuê lại đất. Mừng quá. Rút. Về. Họ có biết đâu, họ rút đơn mặc nhiên là quyết định cưỡng chế của Tòa sơ thẩm ở huyện có giá trị pháp luật. Và thế là anh em nhà họ Lê được đã vung cao ống điếu thuốc lào chỉ huy quân cán cưỡng chế, coi như một thắng lợi lừa dân ngoạn mục.

Những hành vi lật lọng, tráo trở, lừa đảo của anh em nhà họ Lê đã khiến cho những người dân thấp cổ bé họng phải liều chết, giữ đất, giữ cuộc sống, giữ lấy miếng cơm manh áo và “sập bẫy”, rơi vào vòng lao lý. Như vậy, cần phải nhìn thẳng vào mắt nhau để hỏi câu này: Ai đã xô đẩy những người dân hiền lành thành kẻ phạm tội? Ai? Chắc chắn là có những con người cụ thể, những cái tên cụ thể, nhưng đã thấy rõ ràng chân dung của anh em nhà họ Lê này đã. Tội của các vị lãnh đạo này là tội đặc biệt nghiêm trọng: Không những đã xô đẩy những người dân lương thiện vào hành vi phạm tội, hơn cả điều đó, hơn cả ngàn lần điều đó, tội làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ, vào chính quyền. Những kẻ như anh em nhà họ Lê mang trong mình dấu hiệu của tội hình sự, và pháp luật phải công minh để vạch rõ điều này.

Tòa án nhân dân Tối cáo bằng cả trách nhiệm nghề nghiệp, lương tâm và trách nhiệm giám sát, cần phải ra quyết định hủy ngay lập tức quyết định cưỡng chế trái pháp luật của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

Việc đơn phương cưỡng chế vi phạm pháp luật, phá hoại nhà cửa, tài sản của dân phải thành lập hội đồng kiểm đếm để có số liệu đưa vào vụ án khởi tố anh em nhà họ Lê, họ phải đền bù.

Trong quá trình xem xét, xử án Đoàn Văn Vươn và những người dân, các tòa án cấp trên cần có chỉ đạo theo hướng nhân văn của luật pháp, có căn nguyên phạm tội, ở đây là sự tức nước mới vỡ bờ để cho Đoàn Văn Vươn và những người cùng tội một mức án nhẹ nhất trong khung hình phạt, để họ có  thêm nhận thức về pháp luật, tin vào pháp luật và lấy lại được niềm tin của nhân dân về Tòa án. Để họ và nhân dân hiểu rằng, có thể chính quyền xử lý bất công, không minh bạch, ức hiếp, nhưng phải tin vào chế độ, tin vào pháp luật, kiên nhẫn, phải biết tìm kiếm ngay luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình, đừng phẫn uất thượng cẳng chân, hạ cẳng tay hoặc oàng oàng, đòm đòm là ” sập bẫy”, là tù tội, không được như thế các bác nhé.

KẾT LUẬN

Hơn bao giờ hết, đây là lúc giới luật sư cần lên tiếng, vì chính họ là lực lượng nắm chắc nhất, rõ nhất trình tự các thủ tục pháp luật trong việc giải quyết  tranh chấp dẫn đến hậu quả to lớn xảy ra ở Tiên Lãng. Vì trách nhiệm với người dân, các luật sư không cần phải có lời mời, Hội luật gia cần cử ngay tổ công tác về Tiên Lãng, đây là cơ hội ngàn vàng để khẳng định thương hiệu của các anh với nhân dân.

Các nhà báo yêu quý đừng ngại gian khổ, tiếp tục tìm cho ra chứng cứ, ai, kẻ nào thực sự chủ mưu cướp  đất dân, động cơ ở đâu? Danh sách những nhà đầu tư cánh hẩu với anh em nhà họ Lê.

Qua vụ Tiên Lãng, nhân dân chờ đợi rất nhiều về sự công minh, nghiêm túc của Thành ủy Hải Phòng, hãy coi đây là điểm bắt đầu cho một cuộc cách mạng mới về chỉnh đốn Đảng.

Hãy đốt lửa niềm tin từ vụ việc ở Tiên Lãng.

Nguồn: Nguyễn Quang Vinh-Blog.

NHÀ NGHIÊN CỨU ĐINH KIM PHÚC TRẢ LỜI RFA VỀ CUỐN SÁCH MỚI

Hoàng Sa - Trường Sa: Luận cứ & sự kiện

Thanh Trúc, phóng viên RFA

clip_image001
Bìa sách "Hoàng Sa- Trường Sa: Luận cứ & sự kiện"
Chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, mà Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa, một vấn đề thời sự được người Việt trong và ngoài nước chú ý suốt thời gian qua. 

Tự chọn đề tài biển Đông và hải đảo Việt Nam làm hướng nghiên cứu của riêng mình, ông Đinh Kim Phúc, tác giả cuốn sách nghiên cứu Hoàng Sa - Trường Sa: Luận cứ & sự kiện vừa được xuất bản, trình bày những điểm chính trong tác phẩm nhằm minh chứng Việt Nam đã có chủ quyền lâu đời trên hai quần đảo này.

Công trình nghiên cứu mới

Trả lời câu hỏi đầu tiên là căn nguyên và hoàn cảnh nào dẫn đưa ông đến việc chuyên tâm nghiên cứu về biển Đông, ông Đinh Kim Phúc trình bày:

Ông Đinh Kim Phúc: Đầu năm 1974, khi Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tôi đã cùng hàng ngàn học sinh ở Vĩnh Long xuống đường biểu tình phản đối hành động của Trung Quốc với khẩu hiệu của trường chúng tôi:

“Thủ Khoa Huân ta nhắn về phương Bắc
Đừng ngông cuồng mưu nhổ vảy rồng Nam”

Những hình ảnh ngày ấy cho đến hôm nay tôi không bao giờ quên được. Rồi lịch sử lại sang trang, chiến tranh ở biên giới Tây Nam xảy ra, tôi vào bộ đội khi mới mười tám tuổi. Từng đặt chân trên đất nước Campuchia, tôi hiểu như thế nào là tội ác diệt chủng của Pôn Pốt – Iêngxari mà đằng sau chúng là tập đoàn phản động Bắc Kinh.

Năm 1980, tôi chuyển ngành về học tại Khoa Sử - Địa trường Đại học Cần Thơ và năm 1984 tốt nghiệp được giữ lại Khoa làm cán bộ giảng dạy. Năm 1986 tôi thi đậu và theo học cao học tại Khoa Lịch sử Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Trong thời gian này tôi đã được học với nhiều giáo sư hàng đầu như giáo sư Trần Văn Trị, giáo sư Phan Ngọc Liên, giáo sư Phạm Gia Hải, vân vân…

Đặc biệt may mắn tôi tiếp thu được ba chuyên đề của giáo sư Trần Bá Đệ: Từ chiến lược toàn cầu của Mỹ cho đến Chiến tranh xâm lược Việt Nam, Từ Chủ nghĩa bá quyền sô-vanh Đại Hán cho đến Chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979, Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam. Từ đây tôi đã chọn hướng nghiên cứu cho riêng mình: biển Đông và hải đảo Việt Nam.

Nhiều tài liệu mới xác lập chủ quyền của VN

clip_image002
Đường màu đỏ trên bản đồ là vùng biển hình “lưỡi bò” mà Trung Quốc tự vẽ để giành chủ quyền vùng biển Đông. (Đây là bản đồ nguyên gốc phổ biến trên nhiều website Trung Quốc:Tianyon/china)

Thanh Trúc: Thưa ông Đinh Kim Phúc, được biết ông có nhiều công trình nghiên cứu đã xuất bản, như vậy trong quyển sách: Hoàng Sa –Trường Sa: Luận cứ & sự kiện, do nhà xuất bản Thời Đại ấn hành, có vấn đề và tư liệu gì mới so với các công trình đã được công bố?

Ông Đinh Kim Phúc: Trong quyển sách Hoàng Sa - Trường Sa: Luận cứ & sự kiện, có nhiều tài liệu mới phát hiện đã củng cố thêm chứng cứ về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa cũng như góp phần phản biện quan điểm của các học giả Trung Quốc.

Thí dụ như tấm bản đồ thế giới có tuổi đời hơn 400 năm, đã được trưng bày tại thư viện Quốc hội Mỹ vào đầu năm 2010 do Matteo Ricci, một nhà truyền giáo người Ý, vẽ tấm bản đồ vào năm 1602 theo yêu cầu của vua Minh Thần Tông.

Điểm thứ nhất chúng ta cần đặc biệt chú ý, Ricci đã sáng tác tấm bản đồ thế giới đầu tiên bằng chữ Hán theo bản đồ được vẽ ở Châu Âu. Hiện nay tấm bản đồ nầy đã thất lạc, viên quan nhà Minh tên là Lý Chi Tảo đã dày công vẽ lại thành “phiên bản Lý Chi Tảo” với tên gọi là “Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ”.

Điểm thứ hai, trong bản của Lý Chi Tảo vẽ lại bản gốc của Matteo Ricci không có bốn chữ “Vạn Lý Trường Sa” là điều nên lưu ý hơn cả, chứng tỏ thời nhà Minh đã không nhận thức được quần đảo nầy là thuộc về mình hoặc không xem chúng thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc thời bấy giờ.

Mặt khác, theo bản đồ của Ricci (phiên bản do Nhật Bản vẽ lại) vùng biển dọc theo bờ của lục địa Trung Quốc, nằm dưới dãy đảo nước Nhật Bản được ghi là “Đại Minh Hải” chứ không phải là biển Trung Hoa hay Nam Trung Hoa, và trong “Đại Minh Hải” nầy không bao gồm vùng biển Đông ngày nay và những hòn đảo trong khu vực này, chứng tỏ nhà Minh lúc bấy giờ đã không xem biển Đông và những đảo ấy là của mình. Sự thật nầy là bằng chứng bác bỏ mọi lập luận khiên cưỡng của các học giả Trung Quốc trong việc chứng minh những dãy đảo trên biển Đông là thuộc về chủ quyền “không có thể tranh cãi” của nước nầy, rằng đã được xác lập từ các đời nhà Hán, Đường, Tống, Minh…
Trong bản của Lý Chi Tảo vẽ lại bản gốc của Matteo Ricci không có bốn chữ “Vạn Lý Trường Sa” là điều nên lưu ý hơn cả, chứng tỏ thời nhà Minh đã không nhận thức được quần đảo nầy là thuộc về mình hoặc không xem chúng thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc thời bấy giờ.
Ô. Đinh Kim Phúc
Một thí dụ khác, như Giáo sư Li Jinmin, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Đại học Hạ Môn, trong bài viết Nguồn gốc và sự tranh cãi đang diễn ra về vấn đề biển Đông, đăng trên Beijing Review ngày 1 tháng Tám 2011, đã nhận xét rằng: “Pháp đã không kiểm soát quần đảo Nam Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Hơn nữa, không có tài liệu chứng minh việc chuyển giao giữa Pháp và Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam thừa nhận quần đảo Nam Sa và quần đảo Tây Sa là lãnh thổ Trung Quốc trong quá khứ. Vì vậy, dựa trên nguyên tắc estoppels (promissory estoppel:sự ngăn chận việc làm trái với lời hứa) của luật pháp quốc tế, chính phủ Việt Nam hiện nay nên tuân theo ghi nhận trước đó”.

Thanh Trúc: Thưa từ những luận cứ đó ý ông muốn nói rằng lý lẽ Trung Quốc đưa ra về chủ quyền của họ trên biển Đông là không đúng?

Ông Đinh Kim Phúc: Sự thật thì không phải như những gì mà các học giả lẫn chính phủ Trung Quốc thường rêu rao. Một số tư liệu mà tôi mới phát hiện gần đây như báo Le Journal ngày 21 tháng Tám năm 1938, đã đưa tin: “Paris, 20 tháng Tám 1938, theo một công bố của Bộ Ngoại giao Pháp chiều hôm qua, chính phủ Nhật Bản đã chấp nhận quan điểm của Pháp về việc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của quân đội Pháp. Công bố cũng nhắc lại rằng Nhật Bản đã từng tranh cãi về quyền chiếm hữu quần đảo này, một vị trí có tầm quan trọng trên tuyến đường biển giữa Trung Hoa và Đông Dương.

Quyết định của chính phủ Nhật đã được đón nhận tốt đẹp ở Paris và công bố cũng nói rằng với thiện chí song phương , tất cả những khác biệt về chính trị có thể sẽ được giải quyết – Transocean.

Hoặc như học giả Samuels đã nhận xét sự leo thang về thời gian trong việc tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông: “Những tuyên bố của Trung Quốc trên các quần đảo Trường Sa bị suy yếu bởi một báo cáo 1928 của Ủy ban chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cho biết các quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc” (thay vì đảo Hải Nam như trước đây?!) và “điều này ít ra cũng đã cho thấy rằng quần đảo Trường Sa không được xem như là lãnh thổ Trung Quốc tại thời điểm đó”.

Chúng tôi thấy rằng nhận xét của Samuels hoàn toàn phù hợp với bản đồ của Chính phủ Trung Quốc xuất bản năm 1925. Rất nhiều tài liệu mới được trình bày trong quyển sách này đã làm phong phú thêm nhiều sự kiện liên quan đếng Hoàng Sa - Trường Sa trong giai đoạn 1909-1945 cũng như trước đó.

Những tài liệu mới phát hiện được đã góp phần chứng minh một sự thật là chính quyền bảo hộ của Pháp ở Đông Dương đã tái xác lập chủ quyền của Việt Nam (để bảo vệ quyền lợi chính trị lẫn kinh tế của chính sách thực dân như trên đã có đề cập) trong thời kỳ đô hộ, đấu tranh bác bỏ lập luận của phía Trung Quốc, trước đây là Trung Hoa Dân Quốc của Quốc Dân Đảng, trong âm mưu bành trướng lâu dài của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán mà lãnh hải hình lưỡi bò xuất hiện vào năm 1947 là một minh chứng hùng hồn nhất.

Khó khăn – thuận lợi

Thanh Trúc: Thưa ông Đinh Kim Phúc, những thuận lợi trong quá trình nghiên cứu của ông?

Ông Đinh Kim Phúc: Thuận lợi là lãnh đạo nhà trường nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện cho tôi nghiên cứu về biển Đông. Tôi đã có hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường đã được nghiệm thu và hiện nay tôi đang thực hiện đề tài thứ ba: “Phản biện quan điểm của một số học giả Trung Quốc về biển Đông”.

Hạn chế của tôi là ngoại ngữ nhưng tôi đã được sự giúp đỡ của nhiều học giả trong và ngoài nước cũng như nguồn tư liệu quý báu từ Thư viện Quốc hội Mỹ, từ các kho lưu trữ ở Pháp, Nhật… mà các em bên Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa cung cấp.

Thanh Trúc: Thế thì bên cạnh đó ông có gặp sự khó khăn nào không?

Ông Đinh Kim Phúc: Khó khăn thì cũng không tránh khỏi. Khi tôi xin phép để đi dự Hội thảo Hè ở Mỹ hồi năm 2010, một cán bộ an ninh đã hỏi lãnh đạo của tôi rằng “ông Phúc có bị bệnh tâm thần hoang tưởng hay không?”. Và hiện nay tôi thường được mời uống cà phê mà không phải tốn tiền.

Thanh Trúc: Xin cảm ơn ông Đinh Kim Phúc, tác giả cuốn sách nghiên cứu Hoàng Sa-Trường Sa: Luận cứ & sự kiện.
T. T.
Nguồn: rfa.org