Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

NHỮNG CUỐN SÁCH MỚI NHẤT TRÊN GIÁ

Lâm Khang thư viện vừa tiếp nhận các ấn phẩm quý báu
mà các tác giả và bạn bè gửi tặng. Chúng tôi chân thành cám ơn
và xin trân trọng giới thiệu với chư vị

.

Lời giới thiệu 
Giàn thiêu
Dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư và huyền tích dân gian, tác giả đã dựng lên một bức tranh hoành tráng nhiều mảng màu đối chọi. Chàng trai trẻ Từ Lộ chất chứa oan khuất và khổ đau trải qua hai kiếp - một của Đạo Hạnh Đại Sư theo con đường tu luyện khổ ải, một của bậc đế vương Thần Tông ngập chìm trong hậu cung đầy cung phi mỹ nữ. Đan chéo vào hai kiếp của Đạo Hạnh - Thần Tông là cô cung nữ Ngạn La vừa hoang dại vừa quyến rũ, là sư bà Nhuệ Anh với cuộc đời trôi dạt. Và có thêm một Ỷ Lan Linh nhân xây dựng bao nhiêu chùa chiền để xám hối vì đã bức tử Dương Thái hậu và 76 cung nữ chết theo vua.

..."Tiếng kêu thảng thốt chợt thức tỉnh bốn mươi tám cung nữ còn lại. Họ cho rằng mình đã chết từ khi Tiên đế băng hà, như vô cảm khi đặt chân lên chiếc xe tang có gắn hoa mẫu đơn màu đen, khi đặt chân lên sạn đạo và bị lôi đi xềnh xệch trong những bàn tay đao phủ. Tiếng gào xé ruột của Ngạn La đã đánh thức họ, báo cho họ biết rằng nàng và họ đang là những linh thể sống.

Bốn mươi tám cái cổ họng đồng loạt rú lên bốn mươi tám tiếng rú tắc nghẹn. Tiếng rú được nối dài bởi hàng ngàn tiếng rú phẫn uất của rừng người. Thần Tông ôm ngực lảo đảo. Quan Trung thừa Mâu Du Đô ngồi phịch xuống thở hổn hển, mồ hôi rịn ra trên trán.
Thái bảo Lý Trác cũng rợn tóc gáy. Nhưng quan Thái bảo cố trấn tĩnh, mím miệng giơ lá cờ ngũ sắc trong tay lên phát lệnh.

Lửa lập tức bùng lên. Những lưỡi đỏ khổng lồ thèm khát rần rật liếm giàn thiêu. Sạn đạo cũng bùng cháy như một con giao long khổng lổ quằn quại há cái miệng ngùn ngụt lửa đỏ mà nuốt trọn đảo Âm Hồn.

Trong bóng lửa và khói đang cuồn cuộn bốc cao, thấp thoáng bóng các đao phủ và hỏa công vun vút nhẩy lên những chiếc thuyền đợi sẵn, phóng như tên về bờ bên kia.

Trên mặt hồ chỉ còn các phiến gỗ sơn đỏ nổi lềnh bềnh như những thây người bị xử trảm trong tiếng rú man dại của các cung nữ trong cơn quằn quại trước khi linh hồn về với Cựu hoàng..

Nối dài những tiếng gào thét, các đôi công, trĩ, uyên ương bị trói chân trên nóc giàn thiêu cũng đồng loạt bật lên những tiếng xé ruột.

Đảo nhỏ biến thành đảo lửa"....
Em Trần Hoàng Ngân tặng 


  .
Nguyễn Xuân Diện-Blog hân hoan giới thiệu cùng chư vị

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2011

CÙNG XEM LẠI BỨC THƯ GỬI BỘ TRƯỞNG GD PHẠM VŨ LUẬN

Tại nhà thờ họ Phạm Vũ ở làng Đôn Thư, 11.09.2011.
Bức thư gửi Tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận
 Thưa Giáo sư Phạm Vũ Luận,
Trước hết, chúng tôi xin gửi lời chúc mừng chân thành tới Giáo sư và bà con họ Vũ Phạm - Phạm Vũ ở làng Đôn Thư, xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, Hà Tây (cũ). Chúng tôi biết GS. Phạm Vũ Luận là cháu thuộc đời thứ 4 của Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm - vị Tam khôi (đỗ đầu cả ba khoa thi) cuối cùng và là một trong ba vị Tam nguyên trong hơn 100 năm khoa cử Nho học của triều Nguyễn.

Cụ Thám hoa đã ngồi ghế Đốc học Hà Nội (như GĐ Sở Giáo dục đào tạo HN hiện nay) khi mới 29 tuổi, rồi lần lượt ngồi Đốc học 4 tỉnh và ngồi Án sát 2 tỉnh ở Bắc thành. Cụ cũng là Chủ bút tờ báo đầu tiên của Bắc Kỳ - tờ Đại Nam đồng văn nhật báo. Ghi nhận đóng góp của cụ, thành phố Hà Nội cũng vừa đặt một tên đường phố là phố Vũ Phạm Hàm. 

Chúng tôi cũng được biết, sau khi nhậm chức Bộ trưởng (tương đương Thượng thư Bộ học ngày xưa), GS đã về quê nhà và thắp hương kính cáo tiên liệt. 

Nhậm chức Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo trong thời điểm hiện nay là gánh vác một trách nhiệm vô cùng lớn lao, nặng nề. Ghế Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo là một ghế nóng trong Chính phủ và nó có liên quan đến toàn xã hội, đến vận mệnh của đất nước, đến tiền đồ của dân tộc. Vì vậy, dân chúng đều mong muốn và hy vọng rằng, với truyền thống về khoa bảng và giáo dục của dòng họ, GS. Bộ trưởng sẽ đem hết bản lĩnh, khả năng và tâm huyết của mình để xoay chuyển tình hình nền giáo dục nước nhà.

Nhân đây, những người quan tâm đến nền giáo dục nước nhà kính mong Chính phủ, đứng đầu là Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và các bộ, ngành TW; các quan chức ở Bộ Giáo dục Đào tạo hết sức quan tâm chỉ đạo sát sao, hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi nhất để GS. Bộ trưởng Phạm Vũ Luận vận hành nền giáo dục nước nhà vượt qua cơn khủng hoảng hiện nay.

Việc "trồng người" là sự nghiệp lớn, và việc chấn hưng giáo dục là một việc cấp bách hiện nay, tuy vậy cũng không thể thấy ngay kết quả. Song dân chúng hàng ngày hàng giờ luôn dõi theo mỗi quyết định, mỗi việc làm, hành động của Giáo sư Bộ trưởng. Thiết nghĩ, đó cũng là hạnh phúc lớn lao đối với một người đang gánh trọng trách mà dân chúng đang trông đợi.

Một lần nữa, chúng tôi xin chúc Giáo sư có nhiều thành tựu lớn lao trên cương vị cao cả của mình, ghi lại dấu ấn trong lịch sử của ngành!

Kính chúc Giáo sư và quý quyến lời chúc An khang, Vạn phúc, Thành tựu!

Nguyễn Xuân Diện
*Kèm theo bức thư này là toàn băn bài văn sách thi Đình của Thám hoa Vũ Phạm Hàm do Thạc sĩ Đinh Thanh Hiếu phiên âm và dịch nghĩa, xem bản lưu tại đây. Giáo sư Phạm Vũ Luận đã nhận được ngay sau khi gửi 02 ngày (thứ Bảy, CN) và đã gọi điện cảm ơn trực tiếp (08h30 Thứ Hai) và mời về Đôn Thư dự lễ tưởng niệm cụ Vũ Phạm Hàm.
________________

* Ông Phạm Vũ Luận sinh năm 1955, là giáo sư, tiến sĩ kinh tế. Năm 1999-2004, ông là hiệu trưởng ĐH Thương mại. Tháng 6/2004, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo. Tháng 12/2009, ông được phân công làm Thứ trưởng thường trực. Từ tháng 4/2010, ông Phạm Vũ Luận đã tạm điều hành Bộ Giáo dục và Đào tạo. 

Chiều 18/6/2010, với hơn 80% số phiếu tán thành, Quốc hội đã thông qua nghị quyết phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm ông Phạm Vũ Luận giữ chức Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo. 

Trang Chinhphu.vn cho biết tiểu sử của ông:
Ngày sinh: 01 tháng 8 năm 1955.  
Dân tộc: Kinh. Quê quán: Xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội  
Trình độ văn hóa: 10/10  
Trình độ chuyên môn: Giáo sư, Tiến sĩ Kinh tế  
Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp  
Ngày vào Đảng: 17 tháng 5 năm 1987  
Ngày chính thức: 17 tháng 5 năm 1988.
Chức vụ hiện nay: Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. 
Một vài thông tin về Thám hoa Vũ Phạm Hàm:

Vũ Phạm Hàm từng ngồi Đốc học (như GĐ Sở GD) của Hà Nội năm ông 29 tuổi. Trong hơn 15 năm hoạt động trong sự nghiệp giáo dục (1890 - 1906) ông ngồi ghế Đốc học ở 4 tỉnh (Hà Nội, Ninh Bình, Phù Lỗ, Cầu Đơ) và giữ chức Án sát tại 2 tỉnh của Bắc thành. Năm 1893, khi đang là Đốc học Hà Nội, ông còn được sung làm Đốc biện (Chủ bút) của Đại Nam đồng văn Nhật báo là tờ báo đầu tiên (chữ Hán) tại Bắc Kỳ. 
Trang bìa Đại Nam Đồng văn nhật báo
Người đời còn được biết đến Vũ Phạm Hàm qua đôi câu đối ở đền Kiếp Bạc (xem ảnh dưới đây): Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí/ Lục Đầu vô thủy bất thu thanh. 
Trong đó THU THANH hay THUNG THANH, đã là một cuộc tranh luận dai dẳng trong học giới suốt hàng chục năm nay, cuốn hút đến các nhà Hán Nôm học lừng danh như: Tảo Trang, Nguyễn Quảng Tuân, Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Tiến Đoàn, Thế Anh.... Tuy nhiên, câu đối ở Đền Kiếp Bạc thì viết là THU THANH, như dưới đây: 
Và hiện tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ bài Văn sách Thi Đình đem lại học vị Tam nguyên Thám hoa cho Vũ Phạm Hàm. 
Mới đây, các con cháu chắt hậu duệ của Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã cùng một nhóm 
các nhà nghiên cứu biên soạn cuốn sách biên khảo về thân thế và sự nghiệp 
của Thám hoa Vũ Phạm Hàm.

***Chân dung Thám hoa Vũ Phạm Hàm

Chân dung cụ Thám bà Lê Thị Thọ 

Tên của Vũ Phạm Hàm được khắc lên bia Văn Miếu Huế

Mộ Thám hoa Vũ Phạm Hàm trên cánh đồng làng Đôn Thư
Bác Vũ Phạm Đính - cháu nội cụ Thám hoa Vũ Phạm Hàm đến tặng sách cho Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (3 bản) và cho Nguyễn Xuân Diện. Ngày 27.4.2010.

Bác Phạm Vũ Úy - cháu cụ Thám hoa và Nguyễn Xuân Diện tại Viện Hán Nôm. (27.4.2010)

HÌNH ẢNH HAI DI VẬT CỦA THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM
1- TẤM ÁO ĐẠI TRIỀU VĂN GIAI
(hiện do hậu duệ của cụ Thám hoa giữ)
.








2. TỦ SÁCH CỦA THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM

Tủ sách (gỗ) của Thám hoa Vũ Phạm Hàm. Hiện lưu giữ trong nhà một người bạn tôi.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ LÀNG ĐÔN THƯ VÀ 
LỄ TƯỞNG NIỆM THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM


Làng Đôn Thư được nhà vua phong cho 4 chữ "Mỹ tục khả phong"
(Phong tục đẹp đáng làm gương)


Phương đình, đình Đôn Thư


Lối xóm xanh bóng tre và ao đặc bèo


Ao nhà Thám hoa Vũ Phạm Hàm


Cổng một gia đình họ Phạm Vũ.
Trên có ba chữ: Thế Hữu Hưng (Đời nào cũng thịnh, cũng có người tài giỏi)


Đền thờ bà Bạch Hoa - một tướng của Hai Bà Trưng


Các hậu duệ của cụ Thám hoa về thăm đình làng


GS. Phạm Vũ Luận chăm chú nghe các bài phát biểu


GS. Phạm Vũ Luận và GS Đinh Khắc Thuân (Phó TBT Tạp chí Hán Nôm)


GS Phạm Vũ Luận và Nguyễn Xuân Diện

Mời cơm các vị khách tại nhà khách. Có 3 mâm: 1- Hội đồng gia tộc. 2- Các giáo sư. 3- Các vị khách đến từ các gia tộc khác. Tôi ngồi cùng 3 vị là hậu duệ của: Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hữu Chỉnh.
Ông Phạm Vũ Luận ngồi cùng các vị trong gia tộc.
Cũng như bao gia đình nền nếp khác, mỗi khi có cỗ bàn, 
trước hiên nhà là chậu nước để rửa tay.
Con cháu trong họ, già trẻ trai gái đều thụ lộc tổ ở sân nhà thờ
Các cụ già trong gia tộc Phạm Vũ ra về




Theo lối cổ, các cụ chắp tay chào khách. Một hình ảnh đẹp như một bức tranh vẽ về đời xưa!

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

Thơ Nguyễn Duy Xuân: NHÂN DÂN LÀ AI?

Nhân dân Hà Nội biểu tình phản đối TQ gây hấn. Hà Nội, 12.6.2011. Ảnh: Nguyễn Xuân Diện

NHÂN DÂN LÀ AI ? 
- thơ Nguyễn Duy Xuân

Ngài đại tá, tiến sĩ vô danh
Luận về hai chữ “nhân dân”
Khiến gỗ đá cũng giật mình sửng sốt
Ông múa bút nhân dân là một tầng, một lớp...
Cái tầng lớp đại diện cho quốc gia, dân tộc ?
Ô hô !

Chúng tôi tuy văn dốt vũ nhát
Chẳng được như ông vừa “tê ét”, vừa sĩ quan cao cấp
Nhưng chúng tôi cũng đủ trí lực để hiểu nhân dân là ai
Chín mươi triệu đồng bào đất nước tôi
Sao có thể tin ông ngồi trong phòng lạnh
Tự cho mình quyền phân chia thứ hạng
Và các ông là nhân dân hạng tót vời
Chẳng thèm để mắt ngó xuống
Biết bao nhiêu triệu triệu con người
Đang bươn chải ngày đêm kiếm sống
Tiền công chỉ đủ mua rau muống
Đâu dám mơ lên hạng, đổi đời

Xin hỏi ngài đại tá: - Họ là ai ?
Ôi, nhân dân của đất nước tôi
Đến cái tên chung cũng bị lấy mất rồi
Tôi còn biết gọi Người sao được nữa
Chín mươi triệu đồng bào yêu quý ơi ?

26-10-2011
Nguyễn Duy Xuân
 _________________________
Bài đọc thêm:
Người không danh hiệu
Phạm Chuyên
.
Trên đời này người mang danh hiệu là chuyện thường, cho dù đó là những danh hiệu thường hay là những danh hiệu cao quý. Về những danh hiệu ấy người ta có thể liệt kê không biết bao nhiêu mà kể.
Người không danh hiệu mới là của quý và cực kỳ khó nhận ra, khó phát hiện, khó định dạng định nghĩa. Mặc dù những người như thế đâu đó đang ở quanh ta, gần gũi với chúng ta. Và có những người không mang danh hiệu mà ta biết ơn đời đời. Không hiếm lắm những lúc trối trăng, người sắp khuất núi còn kể ra, còn dặn dò các con, các cháu, nếu có gặp người ấy, tên tuổi thì không được rõ, gương mặt thì thế này, đôi mắt thì thế kia, cái mặt thì thế nọ. Nhưng không có ở đó thứ mặt sắt đen sì, thứ môi thâm mắt trắng, thứ khô chân gân mặt, thứ cười mà nhạt cứ như nước ốc, thứ khi nói năng cứ thầm thầm thì thì, bàn tay thì che kín miệng, thứ nhìn đời bằng nửa con mắt.
Trối trăng như thế chỉ có những người có duyên lắm mới gặp được người không danh hiệu mà ông cha ta đã dặn dò. Người ấy có thể là cụ, là ông, là bà, là anh, là chị, là em… Người không danh hiệu cho ta nắm cơm khi ta đói lòng, cho ta một chỗ nằm ấm lòng vào giữa mùa đông. Cho ta một mái nhà yên ấm để ta học hành giữa lúc bom rơi đạn nổ.
Cho những gì nữa nhỉ. Một viên thuốc khi ta thập tử nhất sinh. Một vuông tã lót khi tấm thân ta đỏ hỏn giữa đất trời. Và cho ta hai thước đất để ta được ở bên cha mẹ ta, ông bà ta tổ tiên ta.
Chỉ ngần ấy thứ mà người không danh hiệu mang đến cho ta, đã khiến ta không được phép nói năng mà sàm sỡ rằng: Ta mới là người mà những người không danh hiệu phải nhớ ơn đời đời.
Đến cái độ không còn trẻ nữa, từ lòng mình, ta mới nhận ra, người không danh hiệu là ân nhân ngàn đời. Như tổ tiên ta, ông bà ta, cha mẹ ta… và những người nam, người nữ là anh em ta. Người không danh hiệu vì thế có một cái gì đó mà ta yêu thương, kính trọng và biết ơn.
Cảm xúc biết ơn nói gọn lại bằng mấy câu sau đây:
Biết ơn nhiều những đêm không ngủ
Đem bàng hoàng đem hốt hoảng về đâu.
Trời chưa sáng mà mặt người ngời sáng
Đêm tưởng dài đâu có dài đâu.

*Bài đã đăng trên tạp chí Văn Việt, số 30 năm 2011. 
Tác giả Phạm Chuyên là Thiếu tướng, nguyên GĐ Công an Tp Hà Nội.

Nguồn: tại đây.

 

ĐỀ NGHỊ THỦ TƯỚNG CHỊU TRÁCH NHIỆM TRỰC TIẾP VỀ GIÁO DỤC

Giáo sư Hồ Tú Bảo:

Đề nghị Thủ tướng chịu trách nhiệm trực tiếp về giáo dục

Thu Hà

Tất nhiên Thủ tướng hết sức bận rộn, nhưng nếu người đứng đầu Nhà nước trực tiếp lo về giáo dục sẽ giúp giáo dục nhiều cơ hội để thực sự trở thành quốc sách - Giáo sư Hồ Tú Bảo giải thích.

LTS: Làm thế nào để thúc đẩy cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục lâu nay luôn là một chủ đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Đây cũng là một trong những nội dung then chốt được nhiều nhân sĩ, trí thức thời gian qua sôi nổi bàn thảo, góp ý với Đảng và Nhà nước. Để có thêm góc nhìn, Tuần Việt Nam trò chuyện với Giáo sư Hồ Tú Bảo, đồng tác giả Bản ý kiến của nhóm trí thức ở nước ngoài về việc đẩy mạnh cải cách để đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Giáo dục chậm tiến do đâu?


Thưa giáo sư Hồ Tú Bảo, vì sao trong Bản Ý kiến gần đây các giáo sư người Việt sống ở nước ngoài lại một lần nữa nhấn mạnh vào vai trò của giáo dục?

Giáo sư Hồ Tú Bảo Bản Ý kiến "Cải cách toàn diện để phát triển đất nước" trình bày suy nghĩ của chúng tôi về nội lực Việt Nam và cải cách các lĩnh vực thiết yếu của đất nước: kinh tế, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, giáo dục, và đối ngoại.

Nói một cách đại thể thì các lĩnh vực kinh tế, y tế, khoa học và công nghệ chủ yếu liên quan đến phần vật chất của một xã hội, văn hóa chủ yếu liên quan đến phần tinh thần, còn giáo dục là nền tảng của những lĩnh vực kể trên. Giáo dục nhằm đem tri thức đến cho các công dân, và do vậy chất lượng các lĩnh vực kể trên phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục. Trong thời buổi kinh tế tri thức và khi khoa học và công nghệ đang thay đổi rất nhanh, một nền giáo dục chất lượng cao là mục tiêu tối thượng của nhiều quốc gia.

Theo tôi có hai điều cần nhấn mạnh. Một là chất lượng giáo dục của chúng ta còn thấp, chưa đáp ứng được vai trò nền tảng cho sự phát triển. Hai là giáo dục chưa được quan tâm và quyết tâm thay đổi và thực hiện, từ cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước, như nó cần phải có. Điều này có lẽ do ảnh hưởng của giáo dục không dễ thấy và tác động của giáo dục không cấp bách như kinh tế chẳng hạn.

Làm công việc giảng dạy và nghiên cứu ở những nơi giáo dục đã thực sự là nền tảng của sự phát triển và luôn gắn bó với giáo dục Việt Nam, chúng tôi muốn một lần nữa nhấn mạnh ý kiến của mình về vai trò của giáo dục trong sự phát triển của đất nước.

Giáo dục đã được các nhà hoạch định chính sách quan tâm nâng lên thành "quốc sách hàng đầu" cách nay gần 20 năm. Nhìn lại quãng thời gian từ bấy đến nay, giáo sư có những nhận xét như thế nào về chất lượng giáo dục, đào tạo của ta?

Tôi xin trích những nhận xét về tình hình giáo dục tại Việt Nam do cả nhóm nhận xét và phân tích trong Bản Ý kiến:

"Giáo dục là vấn đề được toàn xã hội Việt Nam quan tâm nhất từ nhiều năm nay. Từ cuối thập niên 1990 nhà nước đã đưa giáo dục lên quốc sách hàng đầu, nhưng thực tế thì tình hình giáo dục ngày càng tụt hậu, sa sút, nhất là trong những năm gần đây. Một vài điểm nổi bật dễ thấy của giáo dục Việt Nam trong những năm qua như sau.

Một là chất lượng đào tạo sút kém, từ bậc phổ thông đến đại học và càng lên cao chất lượng càng yếu. Nhìn tổng thể, giáo dục Việt Nam chưa đào tạo đủ những người có kiến thức và năng lực để đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước. Nhân lực đào tạo ra ở cuối bậc đại học, cao đẳng và dạy nghề còn ở khoảng cách xa với đòi hỏi thực tế của các ngành nghề và xã hội.

Hai là hệ thống giáo dục phổ thông gây ra nhiều hiện tượng làm bức xúc trong xã hội như tổ chức quá nhiều kỳ thi, lãng phí sức người, sức của; dạy thêm, học thêm tràn lan; chương trình giáo dục và sách giáo khoa luôn thay đổi nhưng chất lượng không được cải thiện. Ngoài ra, bệnh thành tích và các tệ nạn tham nhũng trong giáo dục hết sức phổ biến.

Ba là giáo dục đại học có chất lượng nói chung còn thấp, gần đây lại phát triển hỗn loạn với nhiều trường tư chạy theo lợi nhuận lại được cấp phép bừa bãi, không đáp ứng một quy hoạch có cân nhắc nào. Tình trạng nói trên dẫn đến hiện tượng "tị nạn giáo dục", khi những người giàu có ở Việt Nam, kể cả các quan chức, đều tìm cách cho con em ra nước ngoài học, thậm chí từ cấp phổ thông.

Bốn là bằng cấp trở thành mục đích, là cứu cánh của cả xã hội, và các tệ nạn học vẹt, học tủ, bằng giả, gian lận trong thi cử, ... không hề được bài trừ một cách kiên quyết. Nhiều quan chức bị tố cáo trên báo chí về việc dùng bằng giả hay gian lận thi cử rồi cũng được bỏ qua, thậm chí được bổ nhiệm chức vị cao hơn. Hiện tượng mua bằng, sao chép luận án, thuê viết luận án, v.v. đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức học đường nói riêng và toàn xã hội nói chung.


Năm là chế độ phong chức danh phó giáo sư và giáo sư ở đại học còn nhiều bất cập. Các tiêu chuẩn phong chức danh hiện nay không khuyến khích nhà giáo đại học hướng đến những nghiên cứu khoa học đích thực, có ý nghĩa mà thường làm những việc để dễ có "điểm" theo quy định không đâu có của việc phong chức danh. Ngoài ra, các chức danh này lẽ ra chỉ dành cho người giảng dạy đại học hoặc nghiên cứu khoa học, nay được phong ở nhiều ngành cho nhiều người vốn không có vị trí giảng dạy đại học hay nghiên cứu ở cơ quan khoa học, làm cho nhiều quan chức hành chính nhảy vào tham gia công việc của đại học một cách không thích đáng.

Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng sa sút của giáo dục đã được bàn luận rộng rãi, chúng tôi cho rằng các nguyên nhân sau đây là chính yếu.

Giáo dục của Việt Nam trong những năm qua thiếu một tầm nhìn chiến lược tổng thể; thiếu kiên quyết theo đuổi một triết lý giáo dục xác định; thiếu kế hoạch đồng bộ từ cơ cấu tổ chức đến triển khai các hoạt động giáo dục; ở rất nhiều nơi, sự cứng nhắc và áp đặt của hệ thống chính trị đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động giáo dục. Thêm nữa là nội dung giáo dục nặng nề, phương pháp dạy và học lạc hậu, chậm đổi mới; và trên hết là thiếu những người lãnh đạo ngành giỏi cùng một đội ngũ quản lý giáo dục hiệu quả. Những cố gắng thay đổi của ngành giáo dục trong những năm qua thường mang tính vụn vặt, chắp vá, nhiều khi do một vài quyết định vội vã và càng làm tình hình thêm rối.

Và, lương của giáo viên quá thấp làm họ không thể vô tư toàn tâm toàn ý với công việc. Do giáo viên phải tự bươn chải trong một xã hội cha mẹ sẵn sàng làm mọi việc cho sự học của con cái, nhiều tiêu cực đã nảy sinh, ảnh hưởng đến tư cách và hình ảnh người thầy, vốn là điều kiện tiên quyết cho thành bại của giáo dục".

Đề nghị Thủ tướng chịu trách nhiệm trực tiếp về giáo dục

Phát biểu của các nhà lãnh đạo đều quả quyết: "nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người", nhưng thực tế cho thấy nguồn lực này đã không bắt kịp ánh sáng từ cuộc đối mới do đảng khởi xướng. Vậy, theo giáo sư, cần phải làm những gì để nguồn lực con người Việt Nam đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của đất nước?

Đây thật sự là một câu hỏi lớn mà để trả lời cần nhiều nghiên cứu thấu đáo. Giáo dục là chuyện của mọi nhà và được bàn luận hằng ngày trên các phương tiện truyền thông, nên hầu như mọi chuyện đều là "biết rồi, nói mãi". Trong một khuôn khổ hạn chế, chúng tôi chỉ nêu ra vài ý kiến như sau.

Về tổng thể, do tầm quan trọng và tình hình ngày càng xuống cấp của giáo dục, "chúng tôi đề nghị Thủ tướng trực tiếp chịu trách nhiệm về giáo dục, cụ thể là chỉ đạo nội dung cải cách, theo sát việc triển khai các chiến lược, chính sách, và chịu trách nhiệm về kết quả của các cải cách lớn." Tất nhiên Thủ tướng hết sức bận rộn, nhưng nếu người đứng đầu Nhà nước trực tiếp lo về giáo dục sẽ giúp giáo dục nhiều cơ hội để thực sự trở thành quốc sách.

Về cải tổ giáo dục, "một trong những nội dung cải cách cấp bách phải là nâng cao vị thế của người thầy, bắt đầu từ đồng lương đủ sống và nuôi gia đình. Từ đó tiến đến việc thiết lập lại sự trung thực trong học tập và thi cử, trả lại tính trong sáng của tuổi trẻ cho học trò, tạo điều kiện cho những tài năng nảy nở. Một nội dung nữa là tôn trọng quyền tự do học thuật và tư tưởng ở đại học cũng như trong các hoạt động trí thức, văn hoá nghệ thuật, tạo ra sức thu hút đối với tuổi trẻ và qua đó giúp thế hệ trẻ có động lực phấn đấu mạnh mẽ, có ý thức công dân cao và hoài bão phát triển đất nước".

Về một số biện pháp cần làm ngay để giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, chúng tôi cho rằng cần "triệt để thực hiện miễn phí bậc tiểu học và trung học cơ sở (chậm nhất là đến năm 2015) và trung học phổ thông (đến năm 2020). Song song với việc nâng cấp các đại học đang có, cần có ngay kế hoạch xây dựng một hoặc hai đại học chất lượng cao, trong đó nội dung giảng dạy, cơ chế quản lý, và trình độ giáo sư cũng như tiêu chuẩn đãi ngộ tương đương với các đại học tiên tiến ở châu Á. Về các đại học và trường cao đẳng ngoài công lập, cần có biện pháp chấn chỉnh giải quyết ngay những nơi không đủ chất lượng và có quy chế để ngăn ngừa hiện tượng kinh doanh giáo dục hiện nay. Ngoài ra, cần ban hành các sắc thuế khuyến khích doanh nghiệp và những cá nhân có tài sản đóng góp vô vị lợi (chủ yếu là tặng không) cho sự nghiệp giáo dục. Những vấn đề này cũng cần có kế hoạch thực hiện cụ thể trước năm 2015.

Cần tăng cường mở rộng và xây dựng thêm các trường, các khoa liên quan khoa học tự nhiên và công nghệ, xây dựng nhiều trường cao đẳng công nghệ để cung cấp đủ lao động cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới. Hiện nay, một mặt, trong nhiều ngành, sinh viên tốt nghiệp ra truờng không có việc làm, trong khi một số ngành về công nghệ tin học, điện tử, hoá học, kế toán, nông cơ, v.v. thì nguồn cung cấp thiếu hoặc không đủ chất lượng. Chính sách sắp tới cần chú trọng đầu tư xây dựng thêm các ngành ở các lĩnh vực này và cải thiện chương trình, nội dung giảng dạy để nâng cao chất lượng.

Mặt khác, nhu cầu về lao động có trình độ trung cấp và cao đẳng kỹ thuật, cao đẳng kế toán,... đang và sẽ tăng nhanh nhưng khả năng cung cấp còn rất hạn chế. Tâm lý coi thường bậc trung cấp và cao đẳng trong xã hội Việt Nam rất lớn. Cần có chính sách khuyến khích học tập trong các bậc học này, chẳng hạn tăng cường chế độ cấp học bổng và quan tâm giới thiệu việc làm cho học viên sau khi ra trường. Tóm lại, cần đổi mới thể chế giáo dục và đào tạo hiện nay mới có thể thực hiện toàn dụng lao động và đẩy mạnh công nghiệp hoá trong thập niên 2010".

Nếu nói thêm một ý kiến riêng, thì tôi cho là cần nhìn cải cách giáo dục theo quan điểm hệ thống, tức giáo dục chỉ có thể cải cách khi đồng thời cải cách những lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, giao thông vận tải, ... Đây cũng chính là ý tưởng xuyên suốt của "Cải cách toàn diện để phát triển đất nước". Chẳng hạn chúng ta không thể giáo dục trẻ em sống tốt đẹp, có văn hóa nếu xung quanh cha mẹ chúng và rất nhiều người lớn làm những điều sai trái. Rồi cũng theo quan điểm hệ thống, cần xem xét để thiết kế lại tổng thể nội dung giáo dục, xuyên suốt các cấp học, điều hòa tất cả các môn học để đào tạo một cách thích hợp nhất các công dân tương lai.

Chỉ dựa vào "trồng cây gì, nuôi con gì" thì không tiến nhanh được

Đẳng cấp của một quốc gia mạnh, ngoài nguồn lực con người đã được đào tạo chất lượng cao còn bao gồm cả việc sở hữu khoa học và công nghệ tiên tiến. Giáo sư có nhận xét như thế nào về tình hình khoa học và công nghệ ở Việt Nam?

Bản Ý kiến đã thảo luận và nêu một số nhận xét về tình hình khoa học và công nghệ (KH&CN) ở Việt Nam. Ở đây tôi nêu thêm một số ý kiến nữa, giới hạn trong nghiên cứu KH&CN.

- Về vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của đất nước. Từ hàng chục năm nay chúng ta đã luôn nói về vai trò then chốt của KH&CN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, nhưng theo tôi KH&CN chưa thật sự đóng được vai trò đó. Tức trong những gì ta đã làm được đến nay, phần đóng góp của KH&CN còn hết sức khiêm tốn (không kể đến việc dùng các sản phẩm KH&CN nhập khẩu).

Năm 2008, lần đầu tiên thu nhập đầu người của Việt Nam vượt qua ngưỡng 1.000 USD, thoát ra được vị trí của nước thu nhập thấp. Đây là kết quả của thời đổi mới và dựa nhiều vào việc xuất khẩu tài nguyên khoáng sản. Nhưng đổi mới chủ yếu do chúng ta tháo cởi được những ràng buộc vô lý đã có lúc tự buộc vào mình, còn tài nguyên khoáng sản thì đào mãi sẽ đến lúc hết. Chúng ta chủ yếu vẫn sản xuất hàng công nghiệp gia công, nuôi trồng thủy sản, dùng nhiều lao động giản đơn và phụ thuộc sản phẩm trung gian nhập khẩu.

Yếu tố nào giúp ta có thể thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình là câu hỏi khó nhưng ta phải trả lời. Rõ ràng nếu chỉ dựa vào "trồng cây gì, nuôi con gì" thì cả nước không bao giờ tiến nhanh được. Nhìn vào những nước đã vượt lên được như Hàn Quốc hay Singapore, có thể thấy rõ họ đã làm được vậy do nhờ phần lớn vào phát triển khoa học và công nghệ. Ta chắc chắn cũng không có cách khác, vấn đề là làm sao để KH&CN thật sự là yếu tố then chốt đưa đất nước vượt lên.

- Cần thấy "cơ cấu" KH&CN của ta đang khác nhiều so với các nước phát triển, tức ở họ lực lượng nghiên cứu và nội dung KH&CN vừa có trong giới hàn lâm (đại học và các viện nghiên cứu công) vừa có trong giới sản xuất (như viện nghiên cứu của các tập đoàn công nghiệp lớn), thì ở ta KH&CN chủ yếu mới chỉ có trong giới hàn lâm. Muốn KH&CN góp phần vào phát triển đất nước, gây dựng lực lượng và đưa nghiên cứu KH&CN vào các lĩnh vực của sản xuất là một nhiệm vụ cốt yếu.

- Lực lượng và thành quả KH&CN của ta còn rất hạn chế và khoảng cách so với KH&CN tiên tiến trên thế giới còn rất lớn. Một hiện tượng rất đáng suy nghĩ là trong hàng chục năm qua nhà nước đã đào tạo rất nhiều cán bộ KH&CN, nhưng rất ít trong số này hoạt động khoa học được thật sự, còn số đông có "cuộc đời khoa học" không mấy kết quả. Sở dĩ vậy chủ yếu vì các nhà khoa học Việt Nam chưa có được môi trường KH&CN thích hợp để làm việc và sáng tạo.

Mới đây tôi nghe một giáo sư vật lý đầu ngành (đã về hưu) kể rằng nhiều bạn bè cùng thế hệ ông khi về già cảm luôn thấy tiếc và ngậm ngùi vì đã cống hiến cả đời cho khoa học, nhưng suốt mấy chục năm không làm được gì đáng kể do không có môi trường khoa học. Môi trường này gồm ba yếu tố cơ bản: trang thiết bị làm việc đủ tốt, lương đủ sống để tập trung cho công việc, các chính sách hợp lý kích thích tinh thần sáng tạo, dấn thân vì khoa học.

Chuyện có lương đủ sống và điều kiện làm việc đã được đề cập trong Bản Ý kiến. Đáng nói là nhiều chính sách và cách quản lý KH&CN chưa hợp lý đã làm ảnh hưởng nhiều phát triển của KH&CN. Đơn cử những quy định, tiêu chuẩn hiện nay về việc phong các chức danh giáo sư, phó giáo sư của ta không đề cao nghiên cứu chất lượng cao, do vậy đã không khuyến khích nhà khoa học hướng đến những nghiên cứu quan trọng và thách thức, có giá trị khoa học cao hoặc cần cho sự phát triển, mà dễ hướng con người đến những nghiên cứu dễ làm, những nơi dễ công bố để có đủ "điểm" thỏa mãn các tiêu chuẩn phong chức danh, vốn không có ở bất kỳ nước nào khác. Đây thật sự là những điều rất bất hợp lý đã được nhiều học giả góp ý hơn hai chục năm, nhưng không được thay đổi. Và không là chuyện nhỏ vì nếu không thay đổi, nó có thể làm chúng ta không bao giờ xây dựng được một nền khoa học đích thực cần cho đất nước.

Vậy theo giáo sư, chúng ta nên ứng xử với khoa học và công nghệ thế nào để nguồn lực này góp phần đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia công nghiệp hóa, hiện đại hóa?

Thật khó nói cái chuyện lớn này trong ít dòng, tôi chỉ nêu lên hai trong số nhiều điều cốt yếu.

Thứ nhất, kinh phí cho KH&CN phải được tăng lên một cách đáng kể. Tôi nhớ trong một phỏng vấn cách đây mấy tháng Bộ trưởng KH&CN nói đại ý cần đầu tư nhiều gấp 4-5 lần so với hiện nay thì mới kỳ vọng có được các sản phẩm khoa học xứng với mong mỏi của xã hội. Trong Bản Ý kiến chúng tôi cũng chỉ rõ điều này: "Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ năm 2006 chẳng hạn chỉ có 428 triệu USD, chiếm khoảng 0,17% GDP. Trong cùng năm, Thái Lan đầu tư 1,79 tỉ USD (0,3% GDP) và Malaysia 1,54 tỉ (0,5% GDP). Đáng chú ý là Trung Quốc đầu tư 1,4% GDP cho khoa học và công nghệ trong năm 2010 và đặt mục tiêu đầu tư 4% GDP vào năm 2015".

Thứ hai, cùng với tăng kinh phí đầu tư, cần thay đổi cách quản lý kinh phí và đề tài KH&CN. Nói ngắn gọn, chỉ cấp kinh phí cho những tập thể có khả năng làm nghiên cứu và ứng dụng KH&CN, và yêu cầu họ làm ra sản phẩm xứng với "đồng tiền bát gạo". Chúng tôi cho rằng: "Hiện nay, các đề tài nghiên cứu cơ bản ở cấp nhà nước do các nhà khoa học xây dựng đã được quản lý khá tốt bởi Quỹ KH&CN quốc gia (Nafosted). Nhưng với các loại đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản xuất ở các cấp - do cơ quan chủ quản ra đề tài, kêu gọi các nhà nghiên cứu nộp đơn xin và các cơ quan chủ quản xét duyệt và thẩm định - lại chưa có sự tham gia đúng mức của các nhà chuyên môn. Vì lý do này nhiều đề tài nghiên cứu của các bộ ngành, địa phương đề ra không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế và nhu cầu thực tế."

Vài lời ngắn gọn và hy vọng khi có dịp sẽ thảo luận kỹ hơn.

Xin cám ơn giáo sư đã dành thời gian cho Tuần Việt Nam!

Nguồn: Tuần Việt Nam

CÔ TRỊNH KIM TIẾN TIẾP TỤC TÌM CÔNG LÝ CHO CHA

Trong các tháng 6, 7, 8 năm 2011, cô Kim Tiến đã gác thù nhà, đáp lời sông núi. Ảnh: L.T A

'Tiếp tục tìm công lý cho cha' 


BBC - Cô Trịnh Kim Tiến, người cáo buộc công an và dân phòng đánh chết cha mình, xác nhận việc gia đình có nhận tiền khắc phục hậu quả sau cái chết của bố mình nhưng khẳng định đi tìm công lý cho "tội giết người". 

Trong cuộc phỏng vấn với BBC tiếng Việt ngày 27/10/2011, con gái của người đã quá cố Trịnh Xuân Tùng giải thích về việc gia đình nhận 500 triệu đồng từ ông Nguyễn Văn Ninh (Trung tá công an), một trong những người bị cáo buộc "hành hung" ông Tùng và dẫn tới cái chết của ông hồi tháng Ba năm nay.

"Việc nhận tiền chỉ là sự giải quyết dân sự trong một vụ án hình sự và hoàn toàn không liên quan tới khía cạnh hình sự," Kim Tiến cho hay.

Cô Kim Tiến cũng xác nhận việc gia đình đã và đang đề nghị nhà chức trách đổi tội danh từ cố ý gây thương tích thành tội giết người trong vụ này.

Kim Tiến cho BBC biết gia đình thu âm được lời ông Trịnh Xuân Tùng kể lại những gì đã xảy ra trước khi ông qua đời.

"Bố em lúc đó vẫn còn tỉnh táo và nhắc lại sự việc xảy ra và gia đình vẫn còn giữ ghi âm những lời bố nói".

Trung tá Nguyễn Văn Ninh, công an phường Thịnh Liệt (Hà Nội), hồi tháng Ba năm nay bị khởi tố và bắt tạm giam để điều tra vì hành vi Cố ý gây thương tích, theo Điều 104 Bộ Luật Hình sự.

Ông Ninh bị gia đình ông Tùng tố giác đã cùng ba dân phòng hành hung ông Trịnh Xuân Tùng hôm 28/02 tại bến xe Giáp Bát.

Vào tuần này, Kim Tiến viết thư ngỏ khẳng định "không có chuyện gia đình bãi nại vụ việc của ông Trịnh Xuân Tùng". 

'Không bán mạng sống'

Thư được viết trong bối cảnh được mô tả là "tin đồn lan truyền cho rằng gia đình tôi đã nhận tiền và bãi nại, vụ án coi như kết thúc."

"Gia đình tôi đã sống trong nỗi đau buồn tột cùng vì mất người thân, nay lại bị đẩy vào những phiền nhiễu và đau đớn hơn trước những tin đồn và thái độ ác ý của nhiều người."

"Tôi khẳng định, gia đình tôi đã nhận 500 triệu đồng tiền khắc phục hậu quả từ gia đình anh Nguyễn Văn Ninh – một trong những người gây ra cái chết của bố tôi," Kim Tiến viết.

"Việc gia đình tôi nhận tiền khắc phục hậu quả từ người gây ra thiệt hại là hoàn toàn hợp lý về mặt pháp luật và giải quyết được khía cạnh dân sự của một vụ án hình sự."

"Còn trách nhiệm hình sự của anh Ninh thì cơ quan nhà nước sẽ xử lý theo đúng quy định của pháp luật," Kim Tiến viết trên mạng.

"Tôi xin khẳng định lại, gia đình tôi không bán mạng sống và danh dự của bố tôi để đổi lấy 500 triệu đồng".

"Chúng tôi sẽ đi đến cùng trong việc đòi lại danh dự và công lý bằng tất cả những gì chúng tôi có thể làm được".

Trả lời BBC, Kim Tiến cho hay "cho tới thời điểm hiện tại, nhân chứng của phía gia đình là người chạy xe ôm vẫn chưa được trả giấy tờ xe vì họ nói là giấy tờ xe là bằng chứng liên quan tới vụ án, do đó việc đi lại của nhân chứng rất khó khăn".

Cách đây không lâu được biết cơ quan điều tra đã gửi kết luận lên Viện Kiểm Sát và đang chuẩn bị gửi lên tòa án, cô Kim Tiến cho biết.

Nguồn: BBC Tiếng Việt.
_________________________

THƯ NGỎ của cô Trịnh Kim Tiến:
Không có chuyện gia đình bãi nại vụ việc của ông Trịnh Xuân Tùng


Bạn bè thân mến, 

Thời gian vừa qua, tôi và gia đình đã chịu nhiều điều tiếng và những tin đồn không đúng sự thật liên quan đến việc chúng tôi nhận tiền khắc phục hậu quả cho cái chết của bố tôi – ông Trịnh Xuân Tùng, từ gia đình anh Nguyễn Văn Ninh – một trong những người gây ra hậu quả trên. Tin đồn lan truyền cho rằng gia đình tôi đã nhận tiền và bãi nại, vụ án coi như kết thúc.

Khi tôi ra tiệm ảnh rửa ảnh cho bố để đính kèm theo những lá đơn, chủ tiệm ngạc nhiên hỏi: “Ơ thế tưởng vụ này xong rồi chứ, hóa ra vẫn tiếp tục à?”. Đau đớn hơn, một người bạn thân của tôi đã mỉa mai hỏi tôi rằng: “Thật nực cười, công lý chỉ với cái giá 500 triệu thôi sao?”. 

Gia đình tôi đã sống trong nỗi đau buồn tột cùng vì mất người thân, nay lại bị đẩy vào những phiền nhiễu và đau đớn hơn trước những tin đồn và thái độ ác ý của nhiều người.

Nay tôi xin công bố rõ các thông tin liên quan đến khoản tiền khắc phục hậu quả như sau:

1. Tôi khẳng định, gia đình tôi đã nhận 500 triệu đồng tiền khắc phục hậu quả từ gia đình anh Nguyễn Văn Ninh – một trong những người gây ra cái chết của bố tôi. Biên bản nhận tiền tôi đính kèm theo nội dung bài viết này.

Sở dĩ tôi quyết định nhận khoản tiền trên vì:

– Chi phí chữa bệnh và mai táng cho bố tôi quá lớn, lên tới 300 triệu đồng. Đây là khoản tiền vượt quá khả năng tài chính của gia đình tôi và hầu hết phải vay mượn. Phần 200 triệu đồng còn lại là khắc phục hậu quả về tinh thần và các chi phí khác.

– Biên bản nhận tiền giữa hai bên ghi rõ đây là: khoản tiền hỗ trợ mai táng phí và các chi phí khác.

– Theo tôi được biết, về mặt pháp luật, trong một vụ án hình sự cũng có khía cạnh dân sự của nó, nghĩa là ngoài trách nhiệm hình sự, nếu anh gây ra thiệt hại cho tôi thì anh có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại đó. Ở đây thiệt hại từ việc anh Ninh gây ra cái chết cho bố tôi không chỉ là thiệt hại về mặt vật chất, mà lớn hơn rất nhiều là thiệt hại về tinh thần. Vì vậy việc gia đình tôi nhận tiền khắc phục hậu quả từ người gây ra thiệt hại là hoàn toàn hợp lý về mặt pháp luật và giải quyết được khía cạnh dân sự của một vụ án hình sự. Còn trách nhiệm hình sự của anh Ninh thì cơ quan nhà nước sẽ xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

2. Hoàn toàn không có chuyện gia đình tôi làm thủ tục bãi nại cho anh Nguyễn Văn Ninh.

Trong Biên bản nhận tiền tôi đã ghi rõ: “Tôi đã nhận đủ số tiền này và không đòi hỏi gia đình anh Ninh bất kỳ khoản tiền nào khác. Mọi việc đúng sai đề nghị pháp luật xử lý theo quy định, còn những người liên quan đến vụ việc đề nghị pháp luật xử lý nghiêm minh”.

Như vậy trong văn bản trên, hai bên gia đình tôi và gia đình anh Ninh đã xác định rõ việc nhận tiền này là để khắc phục hậu quả, chứ không phải nhận tiền để bãi nại. Trên thực tế, gia đình tôi không thực hiện bất kỳ thủ tục bãi nại nào trong vụ án này.

Hơn nữa, đây là vụ án hình sự, dù gia đình tôi có làm thủ tục bãi nại chăng nữa thì cơ quan nhà nước vẫn phải xử lý trách nhiệm hình sự theo đúng pháp luật, chứ không có chuyện chúng tôi bãi nại thì nhà nước không xử lý nữa và vụ án khép lại.

Tôi xin khẳng định lại, gia đình tôi không bán mạng sống và danh dự của bố tôi để đổi lấy 500 triệu đồng. Chúng tôi sẽ đi đến cùng trong việc đòi lại danh dự và công lý bằng tất cả những gì chúng tôi có thể làm được.

Với bài viết này, tôi mong rằng tất cả mọi người có thể hiểu rõ hơn rằng các tin đồn thất thiệt về việc chúng tôi nhận tiền để im lặng về cái chết của bố tôi là hoàn toàn không chính xác.

Cám ơn sự quan tâm và động viên tinh thần của các cô, chú, các anh, chị và bạn bè khắp nơi đối với cá nhân tôi và gia đình. Mong rằng mọi người tiếp tục ủng hộ gia đình tôi trong việc đòi lại danh dự và công lý cho bố tôi.

Thay mặt gia đình