Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

NHỮNG SÁNG KIẾN KÉO LÙI ĐẤT NƯỚC

Những sáng kiến kéo lùi đất nước

Nguyễn Duy Xuân

Tai nạn giao thông đang là vấn nạn của đất nước. Để hạn chế nó, biết bao giải pháp đã được thực thi nhưng xem ra hiệu quả chưa thấy đâu mà tai nạn vẫn cứ gia tăng. Mới đây, Bộ Công an lại đưa ra dự thảo sẽ cấp phiếu kiểm soát lái xe (KSLX) bên cạnh giấy phép lái xe nhằm quản lý lái xe và ngăn ngừa tai nạn giao thông.

Đành rằng mục đích là cực tốt nhưng xem ra, chủ trương này sẽ kéo theo những hệ lụy khôn lường. Thứ nhất nó đi ngược lại những cố gắng của Chính phủ trong việc cải cách thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lí thông thoáng, giảm bớt phiền hà cho người dân. Thứ hai nó sẽ gây lãng phí mà theo ước tính nếu thực thi cấp phiếu KSLX trong cả nước sẽ tốn khoảng 600 tỉ đồng. Một con số không nhỏ giữa thời cơm cao gạo kém này. Với số tiền đó dư sức để trang bị phương tiện kiểm soát hiện đại cho cảnh sát giao thông mà hiệu quả chắc chắn sẽ tốt hơn nhiều. Thứ ba là thêm loại giấy phép này có nghĩa là thêm một lỗ hổng tiêu cực cho các cơ quan quản lí, nhất là ngành cảnh sát giao thông. Thứ tư là trước đây công an đã phát hành phiếu này nhưng sau đó thì bãi bỏ vì những phiền hà, tiêu cực của nó. Rõ là “mèo lại hoàn mèo”. Thứ năm là việc cấp lại phiếu KSLX là việc làm chẳng giống ai giữa thời hội nhập. Thiên hạ người ta quản lí nhân sự chỉ bằng một cú nhấp chuột, còn ta bằng cả một đống giấy tờ và thủ tục “hành dân”.

Tóm lại là đây là một tối kiến hơn là sáng kiến bởi nó sẽ kéo lùi sự phát triển của đất nước. Những người nghĩ ra nó chắc bị dồn vào thế bức bách không lối thoát bởi sự bất lực, bất tài cho nên mới nhắm mắt chọn lại cái mà chính họ đã vứt vào sọt rác từ lâu.

Nhân cái sáng kiến này của ngành công an lại nghĩ tới cái sáng kiến của ngành giáo dục. Số là để chống lại cái việc giáo viên cóp giáo án trên mạng, nhiều trường chủ trương buộc họ phải soạn bài bằng tay, cấm sử dụng giáo án in. Thế là cái hình ảnh đã đi vào kí ức tuổi học trò giờ có dịp trở lại: đêm đêm thầy (cô) chong đèn (dù bây giờ là đèn điện) miệt mài trên trang giáo án.

Thế giới đẻ ra công nghệ thông tin (CNTT) để xã hội phát triển. Bộ GD-ĐT cũng đã chủ trương đưa công nghệ thông tin vào trường học với những hô hào năm học ứng dụng CNTT để đổi mới dạy học. Internet đã và đang có mặt khắp mọi nhà. Tác động tích cực của nó đối với sự phát triển xã hội thì không cần bàn cãi. Thế mà, không hiểu sao trong hàng ngũ quản lí giáo dục lại có những vị lãnh đạo muốn quay ngược thời gian như thế ? Vì sao vậy ? Vì sự dốt nát về công nghệ ư ? Rất có thể bởi lãnh đạo cũng không hiếm người mù CNTT hoặc giả nếu biết chỉ đủ để nhắp chuột xem các trang web đen. Vì bất tài ư ? Quá đúng, bởi có những vị lên chức bằng chạy chọt, chứ cái đầu thì rỗng tuếch. Vì lười biếng ư ? Cũng đúng, bởi quan chức bây giờ cần thời gian cho nhậu nhẹt, ăn chơi hơn là đầu tư trí tuệ cho công việc quản lí của mình. Bắt giáo viên soạn giáo án bằng tay tức là họ muốn đá quả bóng trách nhiệm quản lí chất lượng chuyên môn sang người khác. Đây quả đúng là một loại tối kiến cho thấy sự bất lực, bất tài của những người được giao nhiệm vụ quản lí giáo dục phổ thông. Chống giáo viên coppy giáo án của người khác thì phải dùng cái đầu tức là bằng các biện pháp chuyên môn nghiệp vụ chứ không phải bằng cơ bắp, bằng mệnh lệnh hành chính kiểu như thế. Chả trách, giáo dục của ta bây giờ ngày lại ngày cứ luẩn quẩn và tụt hậu.

16-10-2011
Nguyễn Duy Xuân

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011

GIÁM ĐỐC ĐÀI TRUYỀN HÌNH TỈNH ĐỒNG NAI KHÔNG CÓ BẰNG CẤP III

Ông Mai Sông Bé - GĐ Đài PTTH tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Internet
.
KHÔNG CÓ BẰNG CẤP III VẪN LÀM GIÁM ĐỐC ĐÀI TRUYỀN HÌNH TỈNH

Ông Mai Sông Bé – đương kim Giám đốc Đài PTTH Đồng Nai vừa lập kỷ lục, có lẽ là vô tiền khoáng hậu, lần thứ 5 đắc cử vào vai trò Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh. Nhưng, lần Đại hội này cũng ghi dấu một “kỷ lục”. Chưa bao giờ Đại hội Hội Nhà báo tỉnh Đồng Nai lại phải tổ chức nhiều cuộc họp “chuẩn bị” như vậy. Các hội viên là đảng viên được mời họp riêng một tiếng đồng hồ trước phiên trù bị. Trước đó, các đảng viên thuộc chi hội Đài Phát Thanh và Truyền hình Đồng Nai cũng đã được quán triệt trước một bước về một số nội dung liên quan đến nhân sự đại hội.

Vì sao có động thái bất thường này? Câu trả lời là, trước đại hội vài tháng, một hội viên đã đâm đơn tố cáo ông Mai Sông Bé, Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, Giám đốc Đài PTTH Đồng Nai.

Ba mươi lăm năm, không bằng mà vẫn lái xe phân khối lớn

Đơn tố cáo ngày 04/05/2011 của cựu chiến binh Lê Đăng Đua có hai nội dung chính. Thứ nhất, ông Đua tố cáo “chuyên viên, giám đốc Mai Sông Bé” (Ông Bé đang hưởng lương ngạch chuyên viên) không có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học và  không có bằng tốt nghiệp đại học. Thứ 2, trong khi đó, hồ sơ lý lịch và hồ sơ nâng bậc lương đều ghi ông Mai Sông Bé có trình độ giáo dục phổ thông 12/12 và trình độ chuyên môn đại học (hoặc hoàn chỉnh đại học).

Cũng cần nhắc lại, ông Mai Sông Bé học hết lớp 12 năm 1976, nhưng không hiểu vì lý do gì, ông không thi tốt nghiệp và vì thế, ông không có bằng. Những năm đầu sau giải phóng, ông Mai Sông Bé công tác tại Thông tấn xã Việt Nam phân xã Đồng Nai. Sau đó ông chuyển về Văn phòng Hội Nhà báo tỉnh Đồng Nai, đảm nhận vai trò Phó chủ tịch rồi Chủ tịch. Giai đoạn 1985 – 1987, ông Bé học chương trình hoàn chỉnh đại học chủ nghĩa Mác Lê Nin nhưng không được cấp bằng, vì không có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học. Mặc dù vậy, ông Bé đã được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng biên tập báo Đồng Nai (5 năm) và Giám đốc Đài PTTH Đồng Nai (8 năm). Trong 35 năm hoạt động trong lĩnh vực báo chí và quản lý báo chí, ông Mai Sông Bé không có bằng đại học nào và cũng không có cả bằng cấp 3. Hai nội dung này, văn bản trả lời công dân Lê Đăng Đua của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã chính thức công nhận là đúng. 

Và… không hề bị thổi còi!?

Không những không thổi còi, không phạt, mà ngay cả khi đã công nhận ông Mai Sông Bé “không có bằng tốt nghiệp PTTH và vì thế cũng không có bằng đại học”; khi đã công nhận ông Mai Sông Bé khai phần “trình độ” trong một số hồ sơ giấy tờ không đúng, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy vẫn cho rằng, không có có cơ sở kết luận ông Bé không trung thực.

Về việc ông Bé không có bằng tốt nghiệp PTTH mà vẫn khai trình độ 12/12, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai cho rằng:

Thứ nhất ông Bé không có bằng tốt nghiệp PTTH nhưng có học bạ xuyên suốt 12 năm học. 

Thứ hai, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy còn cho rằng, “việc hướng dẫn khai lý lịch công chức hiện nay chưa rõ ràng, nên công chức không biết cách khai cho đúng. Hiện nay, người tốt nghiệp PTTH cũng khai trình độ giáo dục phổ thông là 12/12 và người học hết 12 nhưng chưa có bằng cũng khai như vậy, không có cách khai khác”, vì thế việc ông Bé không có bằng tốt nghiệp PTTH nhưng khai trình độ giáo dục phổ thông 12/12 là không sai.

Tuy nhiên, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai đã cố tình quên rằng, phần hướng dẫn khai lý lịch cán bộ công chức trong Quyết định số 06/2007/QĐ-BNV ngày 18/06/2007, mục 15.1 nêu rõ: Trình độ giáo dục phổ thông: ghi đã tốt nghiệp lớp mấy, thuộc hệ đào tạo phổ thông nào. Ví dụ : Lớp 10/10 (đối với những người tốt nghiệp lớp 10 hệ 10 năm); lớp 12/12 (đối với những người tốt nghiệp lớp 12 hệ 12 năm)  

Không lẽ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy cũng như ông Mai Sông Bé không hiểu hàm nghĩa của khái niệm “tốt nghiệp” và cái gì cần có để chứng tỏ một người đã tốt nghiệp 12/12? 

Về việc ông Bé không có bằng tốt nghiệp đại học mà vẫn khai trình độ chuyên môn “đại học” hoặc “hoàn chỉnh đại học”, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai cho rằng: Ông Bé không có bằng đại học là do không có bằng tốt nghiệp PTTH, “tuy nhiên thực tế đồng chí Bé đã hoàn thành tất cả các chương trình hoàn chỉnh đại học cho nên không thể phủ nhận kết quả học tập chương trình đó, nên việc đồng chí Bé khai trình độ chuyên môn là hoàn chỉnh đại học là có cơ sở”.

Trong các văn bản trả lời công dân Lê Đăng Đua, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai thể hiện rằng, họ biết rõ, ông Bé chỉ được cấp “giấy chứng nhận hoàn tất chương trình hoàn chỉnh đại học lý luận chính trị Mác Lê nin” và giấy này chỉ có giá trị từ 6 tháng đến 1 năm. Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai biết rõ giấy chứng nhận đó đã hết hạn sử dụng 23 năm. Nhưng, tập thể Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai vẫn cho rằng, việc khai trình độ chuyên môn của ông Bé vẫn là có cơ sở.

Và vì vẫn thừa nhận trình độ của ông Mai Sông Bé, dù ông Bé không có một tấm bằng phổ thông và chuyên môn nào trong 35 năm công tác, nên, Đại hội Hội Nhà báo tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2011 – 2016, ông Bé vẫn ra ứng cử và Thường vụ Tỉnh ủy vẫn phê chuẩn danh sách ứng cử viên. Và để chuẩn bị cho một Đại hội đứng trước nguy cơ tranh cãi về nhân sự, các cuộc làm việc riêng với đội ngũ đảng viên đã diễn ra, như chúng tôi đã đề cập.

Nhiều câu hỏi chưa có lời đáp???

Thứ nhất, việc ông Bé không có bằng, kể cả bằng chuyên môn lẫn bằng phổ thông, đã được nhiều người biết, Ủy ban Kiểm tra tỉnh ủy biết, Thường vụ Tỉnh ủy biết, thậm chí biết từ lâu. Đầu năm 2010, đã có đơn nặc danh tố cáo chuyện này. Nhưng vì là đơn nặc danh nên sau đó ông Bé vẫn ung dung “tại vị” và cũng không hề có động thái bổ sung bằng cấp. Vậy tại sao trong 35 năm là công chức, là cán bộ lãnh đạo, ông Bé, với tư cách đảng viên, không hoàn thiện trình độ của mình? Vì sao ông Bé không bị nhắc nhở, bắt buộc phải nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ? Trong khi, gần 20 năm qua, có rất nhiều lần Chính phủ yêu cầu chuẩn hóa cán bộ. Tiêu chuẩn cán bộ công chức đã có từ năm 2005. Riêng ông Bé, không có bằng cấp mà vẫn được bổ nhiệm giữ rất nhiều vị trí quan trọng?

Thứ 2, tại sao cho đến giờ phút này, chuyện ông Mai Sông Bé không hề có bằng đã được làm sáng tỏ, công khai trong giới báo chí Đồng Nai, mà ông vẫn được Tỉnh ủy Đồng Nai chỉ định cơ cấu vào Ban Chấp hành Hội Nhà báo nhiệm kỳ 2011 – 2016 với chức danh chủ tịch. Và tại sao, với một người thiếu tiêu chuẩn như thế, lãnh đạo tỉnh vẫn cố tình làm nhiều động tác “chuẩn bị” để đảm bảo cho việc đắc cử của ông ta?

T.H
TƯ LIỆU ĐI KÈM VỚI BÀI VIẾT:










Bài trên báo Công An Nhân Dân:
Việc tố cáo đồng chí Mai Sông Bé chưa học hết THPT và khai tốt nghiệp cấp III là không đúng

Cơ quan đại diện Báo Công an nhân dân tại TP Hồ Chí Minh nhận được đơn khiếu nại của ông Lê Đăng Đua, ngụ khu Cư xá Đài Phát tranh - Truyền hình Đồng Nai, tố cáo đồng chí Mai Sông Bé - Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai gian dối về trình độ học vấn để được bổ nhiệm. Bà Hoàng Thị Lài - Phó Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy Đồng Nai đã ký công văn thông báo kết quả giải quyết tố cáo như sau: 

Qua thẩm tra học bạ cả quá trình học thể hiện rõ đồng chí Mai Sông Bé đã học hết chương trình trung học phổ thông hệ 12/12 và hoàn thành lớp 12 niên khóa 1975-1976. Đồng thời, các văn bản lý lịch Đảng khai năm 2001 và phiếu Đảng viên năm 2008, lý lịch CBCC năm 2008, 2011, đồng chí Bé tự khai trình độ học vấn lớp 12/12 và khẳng định không có bằng tốt nghiệp cấp III.

Về trình độ chuyên môn, đồng chí Mai Sông Bé đã học xong chương trình hoàn chỉnh Đại học lý luận chính trị Mác - Lênin trong thời gian từ 14/2/1985 – 25/11/1987 và được cấp giấy chứng nhận hoàn chỉnh vì đồng chí không có bằng tốt nghiệp cấp III nên không đủ điều kiện xét cấp bằng tốt nghiệp.

Do trước thời điểm ban hành Quyết định 06/2007/QĐ-BNV ngày 18/6/2007, không có văn bản quy định rõ CBCC kê khai phải có bằng tốt nghiệp mới được khai trình độ tương đương nên việc đồng chí Bé khai trình độ chuyên môn "Hoàn chỉnh đại học lý luận chính trị Mác - Lênin" là phù hợp với kết quả thực học, không có căn cứ để kết luận gian dối với Đảng, với cấp trên.

Tuy nhiên, xét thấy, đồng chí Mai Sông Bé có khuyết điểm chưa hoàn thành nhiệm vụ trong học tập để đủ điều kiện nhận bằng chính thức, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai đã chỉ đạo tổ chức Đảng có thẩm quyền kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với đồng chí Bé về tinh thần trách nhiệm của đảng viên trong việc học tập và đã tổ chức kiểm điểm nghiêm túc.

Sau đó, tại Đại hội Hội Nhà báo tỉnh Đồng Nai (khóa VIII nhiệm kỳ 2011-2016), đồng chí Mai Sông Bé tiếp tục được tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành, giữ chức Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh.

PLBĐ


NỮ "THI SĨ" BỐC THƠM ÔNG TRẦN GIA THÁI LÀ AI?

TRẦN HUYỀN NHUNG LẠI BỐC THƠM THƠ TRẦN GIA THÁI
Nguyễn Hoàng Nguyên

Ngày 8-10-2011, Trần Huyền Nhung tung lên mạng của nhà văn Trần Nhương, mạng của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo bài bốc thơm tập thơ “Lời nguyện cầu trước lửa” của Trần Gia Thái (Chủ tịch Hội nhà báo Hà Nội, tổng giám đốc, tổng biên tập Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội) có tên: “Đọc tập thơ “Lời nguyện cầu trước lửa” của Trần Gia Thái”.

Trước khi nói đến bài bốc thơm thơ Trần Gia Thái của Trần Huyền Nhung, tôi xin bạn đọc tìm hiểu xem Trần Huyền Nhung là ai qua lời nhà thơ Vũ Thanh Hoa ( Vũng Tàu):

“Vụ việc Trần Huyền Nhung và văn chương mạng
VŨ THANH HOA

NVTPHCM- Mấy ngày qua, các bloggers trên trang vnweblogs.com sửng sốt khi phát hiện ra một blogger mới “nhập làng vnweblogs” chưa lâu lộ mặt đạo văn liều lĩnh và trắng trợn tên là Trần Huyền Nhung (tên blog là hoangnhungmedia) và bên 360 plus là blog Tigon’s.

Thỉnh thoảnh post lên vài bài bình thơ, văn, ca khúc… của một số nhà thơ, nhà văn lão làng trên mạng, blogger này bắt đầu tự tin post những bài thơ ký tên “Trần Huyền Nhung” lên vnweblogs.com… nhưng cô ta quên rằng trò chơi mạng bao giờ cũng có hai mặt, tức khắc có người đã phát hiện ngay bài thơ “Nghĩ về anh” ký tên Trần Huyền Nhung  sự thật là của một bloggers thâm niên trên vnweblogs tên Phương Phương. Các blogger bắt đầu vào cuộc, thôi thì có đủ ý kiến khác nhau, người cho là cô ta nông nổi lỡ dại, người cho là cô ta ỷ thế có những người nổi tiếng trên văn đàn mạng đứng sau lưng (những người đã giúp cô viết những bài phê bình), người thì nổi giận lôi đình vì thói ăn cắp trắng trợn… nhưng sự thật cứ hé lộ dần dần khi các bloggers tiếp tục “điều tra”, họ thành lập hẳn một blog cảnh báo cho cư dân mạng trên yahoo 360 để điều tra rõ trắng đen và có những dẫn chứng cụ thể, theo từng đường link và blog bị Trần Huyền Nhung đạo (tại đây) và vô cùng bất ngờ khi biết rằng: hầu như tất cả các bài thơ ký tên Trần Huyền Nhung đều “mượn lại” của các tác giả khác, có bài chưa ai biết và có bài đã nhiều người biết, có bài trên các blog cá nhân, trên các trang web, có bài đã được giải trong một cuộc thi… và Trần Huyền Nhung cũng đã kịp thời gửi đăng thơ và bài viết ký tên mình trên các trang web thiên về văn học như: vanchuongviet.org, trannhuong.com, nguyentrongtao.org, vanthoviet.com, vandanviet.net, Đất đứng, văn nghệ Nam Định… Sau khi phát hiện vụ việc và cảnh cáo, Ban Quản trị trang vnweblogs.com đã chiếu theo nội quy của trang vnweblogs.com để 3 ngày chờ chủ nhân blog hoangnhungmedia giải thích nhưng đáp lại, blogger này lại tiếp tục đăng bài bình thơ của một nhà văn lão làng như chẳng cần biết có gì xảy ra… và kết quả là blog hoangnhungmedia đã bị vô hiệu hóa trên trang vnweblogs.com, một số trang web đã gỡ những bài thơ ký tên Trần Huyền Nhung sau khi  điều tra sự thật là của tác giả khác và  Trần Huyền Nhung cũng bị trục xuất ra khỏi “Ban Quản trị” một trang web văn học.

Đạo văn thời gian qua đã được nói khá nhiều, thôi thì đủ mọi loại thượng vàng hạ cám, nếu in trên giấy trắng mực đen sẽ dễ dàng “bắt tận tay day tận mặt” (vụ cô Lê Thủy) còn trên mạng thì có thể nhanh chóng xóa dấu vết hơn. Từ lâu văn chương mạng vẫn bị coi thường bởi người ta vẫn nghĩ đằng sau các trang web văn chương có sự thiếu khách quan mang nhiều dấu ấn cá nhân của chủ trang, khi các nhà văn lão làng thiếu thận trọng chọn đăng và lăng-xê  các bài viết (nhất là các bài viêt ca ngợi mình) của những ngòi bút không đi bằng con đường chân chính, vô tình làm mất sự tín nhiệm của độc giả. Còn bản thân những blogger như Trần Huyền Nhung đã vội vã, chủ quan coi thường người đọc, nghĩ khá đơn giản về sự nổi danh và quá tự tin vào những mối quan hệ bên ngoài văn chương, mong một sớm một chiều ngồi “chiếu trên” của Văn đàn, mà không biết rằng Ngôi đền Văn chương đích thực  luôn thiêng liêng và trong sáng.”
18.6.2011
BQT vnweblogs.com
.
Trn Huyn Nhung đo văn bo gan hơn c Lê Thy!
(Lên mng lúc 18:30 ngy 13/6/2011)

Vụ Lê Thủy đạo văn vẫn đang ì xèo khắp nơi. Thế mà ngay tại vnweblogs này vừa có blogger ngang nhiên đạo thơ của một blogger khác! Cũng có thể người này đã chôm bài thơ “sưu tầm” từ một trang nào đó và “hồn nhiên” bê nguyên nó đặt vào blog mình với cái tên T.H.N tức Trần Huyền Nhung, và không ngờ tác giả đích thực của bài thơ lại là một nữ blogger của vnweblog? Hy vọng là thế để chúng ta không nghĩ người này quá liều lĩnh và trơ tráo, nhất là cô ta đang được coi là một người yêu văn chương và có nhiều bài viết phê bình văn thơ được đăng tải trên mạng.

Sự việc bị phát giác vào trưa hôm qua, khi BQT được “một người đọc” thông báo trên trang blog Trần Huyền Nhung (http://hoangnhungmedia.vnweblogs.com/) đã đăng nguyên xi bài thơ “Nghĩ về anh” của Phương Phương với tên tác giả THN. Chủ nhân blog hoangnhungmedia sau khi cám ơn một số lời khen về bài thơ thì nhận được thắc mắc của “Một người đọc” (Tôi thấy Bài thơ "Nghĩ về anh" đăng TẠI ĐÂY đề là của tác giả Phương Phương, sao nay lại đăng TẠI ĐÂY đề là của THN? Hai người là một hay là hai?) và đã vội cho bài viết vào chế độ đang soạn thảo và sau đó thì xóa hẳn. Nhưng chúng tôi đã kịp lưu lại những “khoảnh khắc” hiện diện của bài thơ này trên blog Trần Huyền Nhung:

Như vậy, chúng ta biết Trần Huyền Nhung vốn có tài đạo văn; không ngờ, ngay trong bài viết  bốc thơm thơ Trần Gia Thái, đoạn văn  mở đầu có vẻ “lý luận” lại là đoạn Trần Huyền Nhung đạo văn. Xin xem lời nhà văn Khôi Vũ ( Đồng nai) viết trên website của ông như sau :

Trần Huyền Nhung lại copy của người khác đưa vào bài mình
 
Hôm nay KV tôi đọc được trên nguyentrongtao.org bài của nữ doanh nhân Trần Huyền Nhung (có lập blog trên vnweblogs do yêu văn chương?). Đây là bài "phê bình" (khen) tập thơ mới xuất bản của tác giả Trần Gia Thái, Giám đốc Đài TH Hà Nội (Người bị các nhân sĩ Hà Nội kiện về việc cho đưa tin biểu tình & vu khống những người này). Trước bài của Trần Huyền Nhung đã có vài bài viết khen thơ Trần Gia Thái, đồng thời một số bài khác chê tập thơ này, phản đối những người đã "khen".
Chuyện khen, chê trong sáng tác văn học là bình thường. Ở đây, KV tôi chỉ nói đến một phần bài phê bình của Trần Huyền Nhung (ngoài trang nguyentrongtao.org, còn đưa lên cả trên trang http://hoangnhungmedia.vnweblogs.com/ nữa). 

Dưới bài này trên trang nguyentrongtao.org có một comment của bạn đọc như sau:
Ngố Tàu09/10/2011

Bài bình thơ này lại đạo một số đoạn và ý của bài viết tại đây:http://ngonnguhoc.org/forum/viewtopic.php?f=13&t=1656&p=9233.
Pó tay.com!!!

Tò mò, KV tôi bèn vào địa chỉ trên thì thấy đây là trang web của trường Đại học Khoa học Xã Hội Nhân văn - Khoa Ngôn ngữ học có tên là MISS & MISTER NGÔN NGỮ HỌC LẦN 3 NĂM 2011. Tiêu đề bài viết là Thơ Thơ Thẩn Thẩn Thơ thẩn, người gửi là hankaro, Đã gửi: 26 Tháng 5 2010, 16:04.

Tiếp tục tìm xem có đoạn nào giống nhau không thì thấy có đoạn này (trong bài trên trang ngonnguhoc.org:

Nằm trong phương thức biểu hiện trữ tình, thơ được xác lập nhờ mối rung cảm thầm kín giữa những con người và cuộc sống. Sống trong dòng chảy ngọt ngào của thơ ca, con người được tắm mình trong tình cảm của nhà thơ và của chính bản thân mình. Thơ đi vào lòng người những cảm xúc những mối liên tưởng kín đáo bằng ý tứ sâu xa và sức quyến rũ của thanh điệu, tiết tấu... tất cả đã ùa vào cùng một lúc tràn ngập trong lòng người đọc, xoá sạch đi hay khắc sâu hơn những tình cảm con người: những tình cảm nhỏ nhem, ích kỷ sẽ bị loại bỏ, những tình cảm cao quý sẽ được nâng lên. Tâm hồn con người sống với thơ sẽ được “thanh lọc” (Aristot) trở nên trong sáng và đẹp đẽ hơn. Sống với thơ con người sẽ tìm được sự yên tĩnh trong tâm hồn, sẽ được nghĩ ngơi. Nhưng cũng trong lúc đó, tâm hồn con người sẽ tiếp tục cuộc hành trình trên đường đời, để lớn hơn, để khôn hơn... những giây phút nghĩ ngơi như thế không phải là trống rỗng, ngược lại sự im lặng của nó có một ý nghĩa sâu xa trong cuộc đời của một con người. Là khoảnh khắc mà con người sống với chính bản thân mình, sống với cuộc sống nội tâm. Nhưng cũng chính vì thơ là tiếng lòng nên cũng không dễ dàng khơi nguồn những cảm xúc, những nắm bắt của tâm lý đời thường. Cảm xúc của chúng ta trào dâng mãnh liệt, cuộc sống cứ cuộn xoáy lên, từng mãng tràn đầy trong tâm hồn, song để viết thành những lời thơ có vần điệu thì không mấy dễ dàng. 

Cuối cùng, đọc lại bài của Trần Huyền Nhung thì gặp ngay đoạn đầu tiên như sau:

Nằm trong phương thức biểu hiện của trữ tình, thơ ca được xác lập nhờ mối rung cảm thầm kín giữa con người và cuộc sống. Sống trong dòng chảy ngọt ngào của thơ ca, con người tắm mình trong tình cảm của nhà thơ và của chính mình. Thơ ca thấm vào lòng người đọc bởi những cảm xúc trực tiếp và nhiều mối liên tưởng kín đáo, bằng những ý tứ sâu xa và sức quyến rũ của tiết tấu, thanh điệu… Tất cả như cùng một lúc ùa vào, tràn ngập trong lòng người đọc, xóa đi hay khắc sâu thêm tình cảm của con người: Những nhỏ nhen, ích kỷ bị loại bỏ, những gì đẹp đẽ, cao quý được tôn vinh. Tâm hồn của con người với thơ sẽ được “thanh lọc” (Aristot) để trở nên trong sáng hơn, cao thượng hơn. Sống với thơ con người sẽ tìm thấy sự yên tĩnh trong tâm hồn, sẽ được nghỉ ngơi, nhưng cũng chính lúc đó, con người tiếp tục hành trình để trở về bản ngã của chính mình. Những phút nghỉ ngơi ấy không phải là trống rỗng, vô nghĩa; ngược lại sự im lặng lại có một ý nghĩa sâu xa trong cuộc đời của mỗi người, là khoảnh khắc con người sống thật nhất, sống với bề dày của cuộc sống nội tâm. Cảm xúc của ta cứ trào dâng mãnh liệt, cuộc sống cứ cuộn lên, xoáy sâu từng mảng ngập tràn tâm hồn khi đọc những vần thơ của Trần Gia Thái.

So sánh thì thấy giống nhau "hơi bị nhiều": những chỗ in nghiêng ở bài trên được "chuyển qua" bài của THN và được tác giả sửa đôi chỗ (cắt bỏ hoặc thêm vài chữ)!

Được biết tác giả viết blog Trần Huyền Nhung trước đây đã từng bị admin của Vnweblogs cảnh cáo và tạm dừng trang blog một thời gian vì đăng bài giống của các tác giả khác! Sau đó cô THN "nhận lỗi" bằng một bài viết (được cho là nhận lỗi quanh co chứ không dám nhận trực tiếp lỗi của mình). Trước sự "phục thiện"(!) này, Admin của Vnweblogs đã cho trang blog Trần Huyền Nhung tiếp tục hoạt động.


Xin xem người làm nghề “ thó “ thơ văn thiên hạ làm thơ văn mình - Trần Huyền Nhung - ca ngợi thơ Trần Gia Thái hết lời, hệt như những nhà phê bình quốc doanh xưa tụng ca thơ Tố Hữu : “Cảm xúc của ta cứ trào dâng mãnh liệt, cuộc sống cứ cuộn lên, xoáy sâu từng mảng ngập tràn tâm hồn khi đọc những vần thơ của Trần Gia Thái.

 “Lời nguyện cầu trước lửa” là một tập thơ của Trần Gia Thái rất có ấn tượng với tôi ngay từ tiêu đề. Nghe như lòng thành tâm của Trần Gia Thái trước một vấn đề thuộc về tâm linh. Lần dở vào trang trong, tôi bắt gặp bài thơ “Lời nguyện cầu trước lửa” (Tr.67), đúng như ý nghĩ ban đầu của tôi khi cầm tập thơ trên tay. Nội dung bài thơ không những giàu tính nhân văn cao cả, mà còn mang đậm chất Thiền của kinh nhà Phật. Cuộc sống đầy rẫy những bon chen, ghen ăn tức ở… lúc này không có mặt trong “lời nguyện cầu trước lửa” của Trần Gia Thái. Ta có cảm tưởng như Trần Gia Thái đã thiền vào thơ, để rồi Anh cảm nhận xung quanh mình chỉ còn là:

“Gió và gió
Hoa tràn theo gió
Gió cuốn hương của muôn loài thảo dược thấm quyện lên một trời hương tinh khiết
Nhìn họ, ta tin những điều thiện cát trong lá sớ kia sẽ thành hiện hữu
Mãn nguyện một đêm hương
Sương ngủ quên trên lá
Trăng đã khóc
Những giọt nước mắt hoan hỉ mừng cho sự giải thoát
Sẽ không còn nữa cảnh đói niềm tin”
                         ( Trích “lời nguyện cầu trước lửa”- tr.69)

Kẻ viết bài này, xin mượn lời nhà thơ Trần Mạnh Hảo, trong bài “ Đọc tập thơ Trần Gia Thái, buồn về hội chứng “méo mó hình hài vẹo xiêu nhân cách” của nền văn học hôm nay”, bình về bài thơ “ Lời nguyện cầu trước lửa”, là cái đinh, là điểm nhấn số một của tập thơ, được Trần Huyền Nhung  bốc thơm như sau:

“Một người chưa biết viết câu văn tiếng Việt đơn giản, viết sai ngữ pháp, viết thật tối nghĩa, phản nghĩa, lủng củng như Trần Gia Thái, sao có thể lãnh đạo toàn ngành báo chí từ báo chữ, báo nói, báo hình của thành phố Hà Nội ? Bó tay !Đọc cả tập thơ “ Lời nguyện cầu trước lửa”, chúng tôi chẳng tìm thấy sự lớn lao nào cả, chí thấy toàn chữ là chữ, toàn nói là nói, nhưng chất thơ thì biến thành vô hình, biến thành không có thật.

Xin trích nguyên văn bài thơ “ Lời nguyện cầu trước lửa” ( trang 67) được lấy làm tên cho cả tập thơ để thách đố bạn đọc xem có tìm ra câu thơ nào không ? Chắc Trần Gia Thái cho bài thơ này hiện đại lắm, “lớn lao đến mức thành vô hình” lắm lắm, tâm huyết lắm, là cái đinh của cả tập thơ:

“Lời nguyện cầu trước lửa

( Kính tặng Đại Đức Thích Minh Pháp)

Ấy là lúc chuyển sang nghi thức cuối cùng của Đàn lễ tân niên
Trang nghiêm Đại Đức tọa theo tư thế Đức Phật ngự trên tòa sen
Tự tay ông khơi ngọn lửa
Lớn dần lớn dần lửa đồng điệu cùng âm vang lời cầu nguyện của những thiện nam tín nữ
Lửa bay phần phật như cờ vàng rồi hợp thành một tháp lửa vàng
Vàng cuồn cuộn hất ngược vào không trung
Đêm và ngày giao hòa
Quyền uy phủ vàng mật thất
Tựa như muôn lưỡi mác uốn cong kết thành đài lửa
Hoàng Liên
Hoàng Liên
Tòa sen vàng đấy ư ?
Trong quầng lửa kỳ biến dường như quần tụ những gương mặt chúng sinh rạng ngời ký thác trên dung nhan Phật
Từ mơ hồ vọng về lời sấm
Gió bão nắng mưa nóng lạnh đội lên từ sâu thẳm đất hay ngồn ngộn kéo về từ vũ trụ bao la ?
Không, không hẳn thế
Đấy là lời vị Đại Đức có đôi mắt sáng như sao và giọng nói trầm hùng vang động
Ông nói với lửa bằng ngôn ngữ riêng
Ngọn lửa dịu dần dịu dần hóa thân vào một vầng trăng viên mãn sau cái lắc chuông đường đột như một khẩu lệnh cắt đứt chuỗi âm thanh tưởng như triền miên vô tận ấy khiến ta bừng tỉnh
Ôi, giá như bức tường kia là một tấm gương thì các phật tử lúc này sẽ được chiêm ngưỡng chính mình và cảm nhận rõ sự thăng hoa hàm súc
Gió và gió
Hương hoa tràn theo gió
Gió cuốn theo hương của muôn loài thảo dược thấm quyện nên một trời hương tinh khiết
Nhìn họ, ta tin những điều thiện cát trong lá sớ kia sẽ thành hiện hữu
Mãn nguyện một đêm hương
Sương ngủ quên trên lá
Trăng đã khóc
Những giọt nước mắt hoan hỉ mừng cho sự giải thoát
Sẽ không còn nữa cảnh đói niềm tin”
( hết bài thơ)

Đọc xong bài được Trần Gia Thái gọi là thơ này, chúng tôi không biết nó thuộc thể loại gì : văn xuôi, văn tế, văn tường thuật, văn đưa linh…hay mê cung triết học ? Cầu mong ông Trần Gia Thái thương tình mà chỉ giáo cho sự tò mò có thể phát ốm của chúng tôi được giải tỏa phần nào ? Với kiến văn hạn hẹp người trần mắt thịt, chúng tôi xin cá với ông Trần Gia Thái bài sớ trên của ông mà là thơ thì chúng tôi xin …chết liền.”

Xin trích những lời bốc thơm vô tội vạ, bốc thơm không biết ngượng của Trần Huyền Nhung trước những câu không thể được gọi là thơ của Trần Gia Thái trong bài thơ “ Lời nguyện cầu trước lửa” :

“Trăng đã khóc” hay chính là Trần Gia Thái đã nhỏ những “ giọt nước mắt hoan hỉ” từ chính tấm lòng của mình? Vâng, Anh đã mừng cho sự “giải thoát” chúng sinh. Anh cầu nguyện cho những cảnh đói nghèo không còn xuất hiện trong xã hội này nữa. Lòng tin vào Đức Phật từ bi trong Trần Gia Thái rất cao. Nếu không có một tấm lòng từ bi bác ái, thì tôi nghĩ rằng Trần Gia Thái không thể viết lên được những câu thơ như thế.”

Trần Huyền Nhung còn tung ra hàng chục dòng tụng ca lên mây xanh thơ Trần Gia Thái, khen tới bến hơn cả những bài bốc thơm thơ Trần Gia Thái của Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Nguyễn Sĩ Đại; ví dụ như :”


“Đọc tập thơ “Lời nguyện cầu trước lửa”, ta còn nhận ra giá trị nhân văn trong mỗi trang thơ của Trần Gia Thái.
“Giản dị, chân tình, mộc mạc, thăng hoa… đó là tất cả những gì người đọc tìm thấy trong thơ Trần Gia Thái. Xin đặt bàn tay lên ngực thành kính “lời nguyện cầu trước lửa” cùng Người con của quê hương Bình Lục – Hà Nam!”

Vấn đề tôi muốn nói ở đây là sự ngụy biện đến ngớ ngẩn của Trần Huyền Nhung, bênh vực hành vi tội lỗi của Trần Gia Thái, dùng đài truyền hình Hà Nội chiếu hai cuốn phim hạ nhục, phỉ báng những người yêu nước chống giặc Trung Quốc xâm lược quanh Hồ Gươm Hà Nội là xấu xa, phản động, đáng phải trừng trị.

Trần Huyền Nhung viết :

Lời nguyện cầu trước lửa”, Trần Gia Thái tuyệt nhiên không hề nói tới chuyện chính trị trong thơ, ta không được quyền “lẫn lộn” giữa thơ và đời thực. Ý thức được vai trò “đệm đàn” của nhà phê bình – làm sao “đệm” nhưng “không át tiếng hát”, nghĩa là gợi lên cái nhịp cầu (không ai bắc nổi) nối thực với mơ, giữa trời với đất ( ý Hoài Thanh). Gần đây, một số nhà phê bình đã “đệm đàn” làm “át cả tiếng hát” của Trần Gia Thái. Đang chuyện thơ thì nhảy qua chuyện chính trị, thậm chí bàn luận những vấn đề chẳng liên quan tới tập thơ “lời nguyện cầu trước lửa” gì cả. Trong cách hành văn, như thế gọi là “lạc đề”, thậm chí một số người còn “lậu đề” một cách trắng trợn”

Trần Huyền Nhung bảo “ Không được nói chuyện chính trị trong thơ”. Thế mà, trong bài bốc thơm này, Trần Huyền Nhung lại trích hơn hai lần thơ Tố Hữu - một nhà thơ chính trị số một Việt Nam - làm cơ sở cho “lập luận” của mình.

 Trần Huyền Nhung lại phán : “TA KHÔNG ĐƯỢC LẪN LỘN GIỮA THƠ VÀ ĐỜI THỰC” ! Thơ được viết ra từ con người cụ thể, con người thực, hồn thơ xuất phát từ đời thực mà thăng hoa, mà đi vào lòng người thực. Tách thơ ra khỏi đời, tách thơ ra khỏi người viết ra nó, thì thơ được hư vô viết ra ư ? Chế Lan Viên từng quở trách thứ thơ siêu hình kia : “ Đời đẻ ra thơ mà thơ lại hòng quên “. Đời là cơ sở, là cội nguồn của thi ca. Hô hào tách thơ ra khỏi cuộc đời, Trần Huyền Nhung đang một mình chơi thơ trên sao Hỏa (!) ?

Dụng ý của Trần Huyền Nhung nhằm chống lại những bài viết nói về thân nhân bất hảo của Trần Gia Thái, kẻ dùng truyền hình thóa mạ những người yêu nước.Một kẻ chống lại nhân dân mình, xỉ vả, bôi nhọ những người yêu nước trên truyền hình như Trần Gia Thái, kẻ đó liệu có tâm hồn đẹp không, có nhân cách tốt không ?

Không, một trăm lần không ! Một kẻ chống lại dân tộc mình, chống lại đồng bào mình, làm tay sai cho ngoại bang như Trần Gia Thái không thể nào có một tâm hồn cao đẹp, tất nhiên không thể nào thành nhà thơ chân chính.

Than ôi, mèo mả gà đồng xưa nay gặp nhau là lẽ thường tình.

Chúng ta không hề ngạc nhiên khi một người chuyên đi đạo văn người khác làm văn mình như Trần Huyền Nhung lại bốc thơm thơ Trần Gia Thái đến thế .,.

Hà Nội 13-11-2011
Nguyễn Hoàng Nguyên

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

Đi tìm vẻ đẹp Ca trù - Bài 10: CA TRÙ - NGHỆ THUẬT CỦA TRI ÂM

Vẻ đẹp của nghệ thuật ca trù
Vẻ đẹp của nghệ thuật ca trù
 Nguyễn Xuân Diện

Vẻ đẹp của ca trù là vẻ đẹp của âm thanh đã chuốt thành những chuỗi ngọc lung linh mà người hát trao cho người nghe hát, cũng đồng thời là những người làm ra các bài thơ đó, lại cũng là người phẩm bình, chấm điểm tiếng hát, tiếng phách ấy. 

Xưa nay, đến với ca trù là những tâm hồn yêu tiếng hát, tiếng thơ, tiếng tơ, nhịp phách ca trù, để sẻ chia tâm sự, để hoà mình vào thế giới nội tâm sâu thẳm của những tri âm, để hào hứng dốc sạch túi tiền vào một cuộc hát mà thưởng cho một ngón nghề tài hoa. 

Khác với nghệ thuật chèo hay hát văn, đi thưởng thức ca trù gọi là đi “nghe hát”, chứ không phải là đi “xem hát”. Người hát ca trù không có múa và diễn với các trang phục nhiều màu vẻ như chèo hay hát văn. Đào nương ca trù chỉ ngồi yên gần như bất động trong suốt cuộc hát trên một mảnh chiếu cạp điều, với vẻ mặt bình thản, đoan trang. Đào nương chỉ có một cỗ phách tre đặt trước mặt và “đối thoại” với khách nghe chỉ bằng giọng hát và tiếng phách của mình. Do đó, vẻ đẹp của ca trù là vẻ đẹp của âm thanh đã chuốt thành những chuỗi ngọc lung linh mà người hát trao cho người nghe hát, cũng đồng thời là những người làm ra các bài thơ đó, lại cũng là người phẩm bình, chấm điểm cho tiếng hát, tiếng phách ấy.

PHÁCH VÀ TIẾNG HÁT ĐÀO NƯƠNG

Tiếng phách và tiếng hát của đào nương là một nét rất độc đáo của ca trù. Cỗ phách trong ca trù bằng gỗ hoặc tre, gồm bàn phách, hai lá phách (hai lá phách dẹt cầm ở tay trái, một là phách tròn cầm ở tay phải). Phách ca trù không chỉ giữ nhịp cho lời hát, mà nó thực sự là một tiếng hát khác của người đào nương. Phách ca trù có 5 khổ. Người ca nữ trước tiên là học cho thật thành thạo 5 khổ phách. Yêu cầu là phải gõ phách đúng cao độ và trường độ, có thể tập phách với đàn. Sau khi gõ phách đã thành thạo thì sẽ học hát.

Ca trù chỉ có năm khổ phách, nhưng phách lại là một yếu tố rất cơ bản để đánh giá trình độ của người ca nữ. Người ca nữ giỏi là người biết biến hóa tiếng phách của mình, tuỳ theo từng bài thơ hoặc tuỳ theo ý riêng của mình. Người trong nghề nghe tiếng phách mà biết cá tính sáng tạo của người ca nữ. Song điều quan trọng nhất là cho dù có biến hoá thế nào, thì phách ca trù vẫn có trong một khuôn khổ nhất định, và sự biến hoá này là để phục vụ cho việc phô diễn sự tinh tế của bài thơ mà nghệ sĩ đang thể hiện. Những nghệ sĩ có tiếng phách hay là Nguyễn Như Tuyết, Quách Thị Hồ, Kim Đức.


Cách lấy hơi nhả chữ là một nét rất độc đáo của ca trù. Khác với các lối hát cổ truyền khác, cách lấy hơi trong hát ca trù tinh tế và phức tạp hơn. Trong khi hát chèo, người nghệ sĩ lấy hơi chủ yếu là từ khoang miệng, trong hát quan họ, người nghệ sĩ lấy hơi ở khoang miệng và cổ họng; thì hát ca trù, người nghệ sĩ lấy hơi không chỉ ở khoang miệng hay cổ họng mà còn vận hơi từ đan điền lên, lấy hơi ở khoang mũi nữa. Điều này rất khó, nhưng cái khó hơn là làm sao khi chuyển hơi mà người nghe không thể nhận ra, không để lộ và làm thô sự biến hoá này. Tất cả các kỹ thuật đổ hột, sang hơi, đổ con kiến đều ở nơi cổ họng của đào nương. Đạt được như vậy, tiếng hát của đào nương sẽ trở nên tinh tế, giàu âm sắc và đạt được đến sự biểu cảm cao nhất.

Quá trình luyện tập cách lấy hơi là một khổ luyện thật sự. Quan trọng nhất là học lấy hơi cho ra chất riêng của ca trù. Các giáo phường xưa, khi dạy hát ca trù, người ta dạy điệu Bắc phản đầu tiên rồi mới sang các làn điệu khác. Bắc phản là một điệu hát sử dụng nhiều âm ư kéo dài, tiết tấu chậm. Do đặc điểm của lối giữ hơi, nhả chữ và luyến láy trong lối hát mà đào nương ca trù có khoé miệng luôn đoan trang, đài các, đôi môi cắn chỉ luôn mím lại, khi đổi giọng sang hơi thì chỉ rung lên khe khẽ. Miệng cô đào luôn ở hình chữ “nhất”, rất kín đáo.

Bấy nhiêu vẫn chưa nói hết cái công phu của đào nương. Mọi cố gắng của cô đào sẽ còn thể hiện ở năng lực cảm thụ văn chương nữa. Đào nương trước hết cảm thụ ý thơ, bài thơ để mới có thể nhập vào nó, phô diễn ý thơ thơ một cách đúng và hay nhất. Nếu chỉ cậy tốt giọng hoặc cố phô giọng hát trời phú, thì dù tiếng vàng tiếng ngọc thật đấy, nhưng nếu không diễn tả tình ý của bài thơ, ý thơ thì chỉ là một giọng hát vô hồn.

Nghệ sĩ Nhân dân Quách Thị Hồ là một bậc thầy về kỹ thuật luyến láy trong nghệ thuật ca trù Việt Nam trong thế kỷ 20.

ĐÀN ĐÁY

Theo nhiều nhà nghiên cứu thì đàn đáy là một nhạc cụ chỉ có duy nhất ở Việt Nam. Và đàn đáy cũng chỉ dùng trong khi hát ca trù. Cây đàn này gắn bó với một thể loại ca nhạc độc đáo của người Việt, và chỉ với một thể loại mà thôi và trở thành một nhân tố đặc trưng, khu biệt ca trù với các thể loại ca nhạc khác. Các căn cứ sớm nhất về đàn đáy trong mỹ thuật cổ là các bức chạm gỗ ở một số đình làng như đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hoà, Bắc Giang), Hoàng Xá (Ứng Hòa, Hà Tây), Tam Lang (Can Lộc, Hà Tĩnh).

Đàn đáy có cần đàn dài khoảng 1,2 m, với 3 dây. Thùng đàn thường là đóng bằng gỗ ngô đồng. Đàn đáy cho một âm thanh trầm đục sâu lắng nền nã, hoà với tiếng phách có âm thanh sắc giòn tạo nên một sự đối chọi âm thanh vừa độc lập lại vừa bén quyện. Thỉnh thoảng lại xen một tiếng trống chầu gọn chắc, đĩnh đạc, khiến cho cuộc hát rất thi vị, mà trong đó chủ khách vừa tôn vinh nhau, lại vừa khẳng định sự độc lập và chủ động của mình.

Nhiều người đã biết đến những danh cầm đàn đáy của ca trù trong thế kỷ 20 như Chu Văn Du, Đinh Khắc Ban, Phó Đình Kỳ. Gần đây, tại một liên hoan ca trù, những người yêu ca trù lại biết thêm một danh cầm nữa. Đó là kép đàn Nguyễn Phú Đẹ.

TRỐNG CHẦU VÀ QUAN VIÊN

Người Quan viên là người cầm chầu (đánh trống chầu). Trống chầu là một nhạc khí truyền thống, có đường kính khoảng 15 cm, tang trống bằng gỗ mít, cao khoảng 18cm. Dùi trống còn gọi là roi chầu, được làm bằng gỗ găng.

Tiếng trống chầu là để ngắt câu, ngắt mạch thơ, giục hát, khen câu thơ hay, thưởng giọng hát đẹp, thưởng cho nhịp phách tuyệt kỹ hoặc cho cung đàn ngọt. Đánh trống chầu là một nghệ thuật. Người có trình độ thẩm âm cao và có sự am hiểu văn học thì mới có thể cầm chầu để thưởng thức, khen chê đích đáng.

Trong lối hát tuồng, hát chèo, cũng có sự khen chê, thưởng phạt như trong lối hát ca trù. Song trống chầu trong ca trù thì biểu thị sự tinh tế rất cao. Vì trống chầu ca trù là để “bình phẩm” cả tiếng phách, tiếng hát, tiếng đàn, và hơn hết là lời thơ. Người cầm chầu vừa phải bộc lộ khả năng thẩm âm, lại vừa phải bộc lộ khả năng cảm thụ văn chương nữa. Và do vậy, tiếng trống chầu rất giàu cá tính sáng tạo của người thưởng thức.

Cái trống chầu là nhạc khí giữ vai trò nối sợi dây liên hệ giữa người nghe hát và người hát, người đàn. Người cầm chầu là người lịch lãm, biết thưởng thức vẻ đẹp của văn chương và âm nhạc. 

Trong một cuộc hát ca trù, những khách nghe (quan viên) đều bình đẳng trước văn chương và âm nhạc. Tham gia cuộc hát có thể là một ông quan to đương chức, một hưu quan, một ông đồ hỏng thi, một thầy khóa…Khi vào chiếu hát, mọi người quên đi chức tước, quyền hành, bình đẳng trong thưởng thức. Mọi người thay nhau cầm chầu. Ai có bài thơ mới làm thì đưa cho cô đào hát. Người hát, người đàn, người nghe cùng góp cho cuộc thưởng thức nhạc - thơ thêm hoàn hảo. Đó là một lối chơi tao nhã của cha ông ta suốt nhiều thế kỷ qua.

Ca trù - một lối chơi tao nhã, lịch lãm của các văn nhân tài tử xưa nay, trong đó văn chương, âm nhạc hoà quyện làm một, tạo nên một vẻ đẹp hoang sơ mộc mạc mà khúc triết tinh tế, dân gian mà bác học, thực mà ảo huyền vi diệu. Ca trù sinh ra trong cái nôi của văn hoá dân gian, lớn lên trong nguồn mạch bất tận ấy và mang trong mình diện mạo của bản sắc văn hóa Việt Nam. Ca trù trở thành một bộ môn nghệ thuật bác học vào bậc nhất của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Đóng góp của ca trù vào văn hóa Việt Nam thật lớn. Từ ca trù, một thể thơ hết sức độc đáo ra đời và trở nên có vị trí sáng giá trong dòng văn học chữ Nôm của dân tộc. Đó là thể thơ Hát nói, với hàng nghìn bài thơ chữ Nôm chứa đựng rất nhiều tâm trạng, rất nhiều biến thái vi tế của tâm hồn Việt Nam qua nhiều thế kỷ. Về mặt âm nhạc, có hai nhạc khí là đàn Đáy là Phách, trải qua quá trình sử dụng lâu dài đã trở nên những nhạc khí đặc trưng của ca trù, góp phần đưa ca trù trở nên một thể loại thanh nhạc kinh điển của Việt Nam. Xưa nay, đến với ca trù là những tâm hồn yêu tiếng hát, tiếng thơ, tiếng tơ, nhịp phách ca trù, để sẻ chia tâm sự, để hoà mình vào thế giới nội tâm sâu thẳm của những tri âm, để hào hứng dốc sạch túi tiền vào một cuộc hát mà thưởng cho một ngón nghề tài hoa.

Sau năm 1945, trong một thời gian khá dài sinh hoạt ca trù vốn tao nhã và sang trọng trước đây đã bị hiểu lầm và đánh đồng với các sinh hoạt thiếu lành mạnh ở một số ca quán đô thị khiến cho xã hội chối bỏ và quyết loại sinh hoạt ca trù ra khỏi đời sống văn hóa. Ca trù đã không được nuôi dưỡng và phát triển một cách tự nhiên, không được tôn vinh đúng mức, phải chịu tồn tại thiếu sinh khí và tàn lụi. Nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ đã phải cố quên đi nghiệp đàn hát và giấu đi lai lịch của mình. Khoảng chục năm trở lại đây, ca trù đang tìm lại cho mình một chỗ đứng trong đời sống văn hóa phong phú đa dạng hôm nay.

Và như vậy, sau sáu bảy mươi năm vắng bóng, ca trù lại bắt đầu đi tìm tri âm. “Tri âm ta lại bắt đầu tri âm”.

N.X.D

Ghi chú: Loạt bài Đi tìm vẻ đẹp ca trù được hoàn thành vào năm 2006, đăng tải 10 kỳ trên tạp chí Thế giới mới.


Đi tìm vẻ đẹp Ca trù - Bài 9: HỒN CỔ NHẠC TRONG TRANH

Hồn cổ nhạc trong tranh 
Nguyễn Xuân Diện


Trong bài Giai nhân nan tái đắc (Người đẹp khó gặp lần hai) của Cao Bá Quát có câu: Phong lưu công tử đa xuân tứ/ Trường đoạn tiêu nương nhất chỉ thư (Chàng công tử phong lưu lòng tràn ngập ý xuân, có thể làm đứt ruột người con gái đẹp chỉ vì một bức thư tình). Người đẹp khó gặp lần hai, có phải vậy nên đó ở bên nhau rồi, không muốn rời nhau một bước? Và người nghệ sĩ cầm cọ đó được trời phú cho một “nghề riêng” là chép lại những cảm xúc đó thành những hình hài trên tranh. Những cung cầm, tiếng hát dìu dặt được biến hóa trong màu, trong sắc để ghi lại những cuộc tao ngộ đầy xúc cảm. Những bức tranh về đề tài đào nương, ca trù đó ra đời trong những khoảnh khắc như vậy.
Năm 1943, để minh họa cho tập Giai phẩm của Nhà xuất bản Đời Nay, họa sĩ Nguyễn Gia Trí cũng đó ký họa một cảnh hát ả đào. Ca nữ với khuôn mặt đẹp và búi tóc vấn khăn như đang chuẩn bị dạo đầu cho một khúc hát. Vận một chiếc áo dài may bằng lụa của người con gái Hà thành trước năm 1945, đơn giản nhưng ở cô lại toát nên được một nét đẹp quí phái. Cái mỏng manh mềm mại của lụa, cái đoan trang của nét mặt ca nữ, như đối lại với mảng đậm, mảng chìm của hộp đàn, như thể nhấn nha thể hiện tâm tình của lời hát lúc thăng trầm diệu vợi. 
Không chỉ là những ký họa để nắm bắt những giây phút xuất thần của các đêm hát, không ít các tác giả cũng dựng những chất liệu rất đa dạng để mô tả cái sâu lắng của nghệ thuật ca trù. Họa sĩ Chu Mạnh Chấn (Hà Tây) cũng có một bức tranh sơn mài vô cùng sinh động về đề tài này. Trong một phòng khách ấm cúng của một ca quán phong lưu, với bức tranh tứ bình trên vách, các câu đối và bức trung đường treo trang trọng, giọng ca của cô đào cất lên như vấn vít cả không gian. Một chậu cây cảnh được kê giữa nhà như điểm thêm cho cái thú chơi tao nhã của những tay sành điệu. Một quan viên cầm chầu như đang lắng nghe từng nhịp phách, cung đàn để khen, để thưởng. Tiếng hát cất lên trầm bổng, tiếng phách reo như tôn như nhấn cho từng câu chữ, đến nỗi cô đào rượu phải khép nép sau tấm rèm cửa đợi cho trọn khúc hát mới dám bước vào. Cái thẳm sâu, trong veo của chất liệu sơn mài, cái óng ánh của nét vàng nét bạc, khiến cho thần thái của đêm hát như càng khắc sâu vào tâm khảm của người xem. Cho dù người ta không nghe thấy tiếng hát cất lên trực tiếp từ bức tranh nhưng dường như cái không gian này lại gợi nhớ da diết cái không gian văn hóa cổ xưa khi ca trù trở thành một nếp sinh hoạt không thể thiếu trong xã hội cổ truyền.
Ca trù xưa không chỉ là một thú vui của các gia đình phong lưu, mà nó cũng là một sinh hoạt mang tính chất lễ nghi ở các đình làng. Họa sĩ Phạm Văn Đôn đã mô tả cảnh này trong một bức tranh sơn mài khác Lễ hội ca trù. Trước ban thờ tổ ở một đình làng, cảnh hát ca trù được diễn ra long trọng. Quan viên, kép đàn và đào nương như đang say sưa dâng tiếng hát của mình lên đấng linh thiêng. Người ta như nghe thấy đâu đây âm vang của những khúc tiên nhạc dìu dặt.
Vẽ nhiều và gần như trở thành một niềm đam mê không dứt với đề tài này phải kể đến họa sĩ Phạm Công Thành. Ông là một giáo sư danh tiếng của Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Các tác phẩm sơn mài của ông về Ca trù ít nhiều mang những sắc thái và giá trị đương đại đối với các vấn đề của bộ môn nghệ thuật này, mà tác phẩm ở Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 2005 là một ví dụ. Ông cho biết dù vẽ không có mẫu, chỉ thuần túy là vẽ trong tưởng tượng, nhưng ông vẫn nhớ như in nét mặt của cụ Quách Thị Hồ. Người mà ta có thể nhận thấy lẫn trong đám đông, bà đang ngồi nghe những tiếng phách tiếng đàn của thế hệ con cháu mình. Ở tác phẩm này ông muốn đặc biệt chú trọng đến những người thưởng thức ca trù, những công nhân, công chức, học sinh và cả những “phó thường dân” trong xó hội. Đó cũng là ước vọng của người tâm huyết với bộ môn nghệ thuật ca trù đang có nguy cơ mai một. Ông mong rằng nghệ thuật ca trù có ngày sẽ trở thành tài sản của tất cả các tầng lớp trong xã hội, và sức hấp dẫn của nó là vượt ra khỏi biên giới của tuổi tác, nghề nghiệp, đến với tất cả mọi người. Nó sẽ mãi tồn tại trong xã hội đương đại, giống như đó từng ghi một dấu ấn không phai trong quá khứ. 



Nói về ca trù, không ai là không nhắc đến Nghệ sĩ nhân dân Quách Thị Hồ. Say tiếng ca của bà, họa sĩ Nguyễn Mộng Bích đó vẽ một bức tranh lụa Chân dung Nghệ sĩ Quách Thị Hồ. Tác phẩm này đã nhận được giải thưởng ở Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1995. Khuôn mặt bà vừa toát lên vẻ thanh thản, nhưng cũng chứa chất trong lòng không ít nỗi ưu tư với nụ cười nụ chúm chím rất đặc trưng của cụ trên môi. Bà được khắc họa ngồi bên một trong số bốn bức tranh tứ bình của tranh Hàng Trống. Cái uy danh lừng lẫy của một con người như được hiện ra, nhưng cái cô độc, cực nhọc của một nghệ nhân đó luống tuổi cũng đó được toát lên.

NSND Quách Thị Hồ. Tranh: Mộng Bích
Vẽ về đề tài ca trù, không chỉ các thế hệ cao niên từng được tham dự và thưởng ngoạn ca trù trong các đình, tại các tư gia, không ít các họa sĩ trẻ nghe âm hưởng ca trù cũng đó đắm say lòng. Đối với họ, ca trù không chỉ là sự miêu tả một cảnh hát, mà còn là âm vang của hồn đàn, hồn phách. Do đó ngoài một không gian hiện thực, cái không gian ảo ít nhiều đó được chú trọng. Ví dụ ở bức tranh khắc thạch cao của Nguyễn Anh Tuấn cái không gian của cuộc hát dưới một đêm trăng như mờ, như tỏ, ít nhiều có tính trừu tượng, làm lay động cả tâm can con người. Không ít các tác giả chọn cách vẽ có tính đương đại hơn là cách kể một câu chuyện thuần túy. Âm hưởng của ca trù được biến hóa ra thành những không gian trừu tượng vô hình.

Hội họa có cách hưởng thụ và trải nghiệm văn hóa riêng của mình. Và ca trù cũng nhờ đó mà được lưu giữ hình hài cho muôn đời sau, như ngày nay chúng ta cũng biết đến ca trù qua nhiều bức chạm ở đình làng. Hôm nay những thanh âm vọng từ muôn xưa lại hiện lên trong sắc màu trên toan, trên vóc, trên lụa lưu giữ lại cho các thế hệ sau một chút hồn Việt. Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời. 

N.X.D