Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

40 NĂM NGÀNH HÁN NÔM (1972 - 2012)

40 NĂM NGÀNH HÁN NÔM - KHOA VĂN HỌC,  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,  
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 
         
PGS.TS. Phạm Văn Khoái
(Chủ nhiệm Bộ môn Hán Nôm)

Năm 1972, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, có tính bước ngoặt lịch sử, ngành đào tạo Hán Nôm đã mở lớp đầu tiên ở Khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ những người làm công tác sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, phiên dịch, khai thác di sản Hán Nôm, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hiến của dân tộc, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng lúc bấy giờ là giải phóng miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới thống nhất nước nhà.

Bốn mươi năm đã qua kể từ ngày mở đầu gian nan ấy, hôm nay nhìn lại, đó là cả một chặng đường dài phấn đấu, lắm gian nan, nhiều vất vả nhưng đầy tự hào vì đã có được nhiều thành tựu. “Ôn cố tri tân”, thầy trò Hán Nôm vinh dự tự hào bao nhiêu về những gì đã làm được thì lại càng thấy trách nhiệm lớn lao đối với nhiệm vụ chính trị của mình, càng phải cố gắng phấn đấu nhiều hơn nữa cho xứng đáng với những lớp thầy cô đi trước, những người đã lập Ngành, đặt những viên gạch đầu tiên cho Ngành đào tạo Hán Nôm – Ngành đào tạo văn hiến cổ điển Việt Nam.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ điểm lại những nét chính yếu của sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu Hán Nôm. Bài viết gồm 2 phần sau:

- 40 năm Ngành đào tạo Hán Nôm – Những bước đi đầu tiên.

- 10 năm hiện tại của Ngành (2002-2012)

1. Bốn mươi năm Ngành đào tạo Hán Nôm – Những bước đi đầu tiên

Những ngày đầu tiên, đội ngũ giảng dạy Hán Nôm được biên chế thành Tổ Hán Nôm theo cách thức và tên gọi lúc bấy giờ. Tổ Hán Nôm lúc ấy với biên chế chính gồm có thầy Lê Văn Quán, thầy Nguyễn Đình Thảng, thầy Trần Thuyết, do thầy Đinh Gia Khánh – Tổ trưởng Tổ Cổ Cận Dân (Văn học Việt Nam Cổ đại, Cận đại và Dân gian) kiêm nhiệm tổ trưởng. Tham gia đội ngũ đào tạo giảng dạy hướng dẫn luận văn, luận án tốt nghiệp Hán Nôm là những thầy trong Tổ Hán Nôm và các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ Văn, Khoa Lịch Sử của Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc đó như GS. Hoàng Xuân Nhị, thầy Nguyễn Tài Cẩn, Bùi Duy Tân, Trần Đình Hượu, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng cũng như nhiều bậc túc nho nổi tiếng lúc bấy giờ như: Giáo sư Cao Xuân Huy, nhà Hán học Đỗ Ngọc Toại…

Đội ngũ những bậc thầy đầy uy tín và khả kính đó như là một trong những đảm bảo chủ yếu cho chất lượng của sản phẩm đầu ra. Đến nay, đa số các thầy đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nhớ đến các thầy, lòng chúng tôi bùi ngùi xúc động, một lòng thành kính, tưởng nhớ và biết ơn, khắc ghi công lao to lớn của các thầy cho sự nghiệp đào tạo Hán Nôm ở buổi lập Ngành gian khổ, không bao giờ có thể quên được. Chúng tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến đội ngũ các thầy cô giáo của Khoa Ngữ Văn nói riêng, của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nói chung đã tích cực góp phần tham gia đào tạo đội ngũ những người làm công tác Hán Nôm theo chương trình đào tạo Hán Nôm bậc đại học lúc bấy giờ. 

Chương trình Hán Nôm bậc đại học lúc đó được thiết kế trong sự liên hệ chặt chẽ với 2 Ngành đào tạo của Khoa Ngữ Văn: Văn học và Ngôn ngữ. Ngoài các môn chung cho cả hệ đại học Việt Nam như Triết học, Kinh tế chính trị, Lịch sử Đảng, cả ba Ngành (Hán Nôm, Văn học, Ngôn ngữ) cùng học chung một giảng đường, cùng thời lượng, cùng một giáo trình, cùng một thầy về một loạt môn học như: Văn học Việt Nam (dân gian, cổ, cận, hiện đại); Lý luận văn học, Văn học Trung Quốc, Dẫn luận ngôn ngữ, Ngữ âm tiếng Việt, Ngữ pháp tiếng Việt, Từ vựng tiếng Việt, Phong cách học tiếng Việt.

Được đào tạo trên nền chung ngữ văn ấy là một trong những cơ sở làm nên sự khác biệt của “thành phẩm Hán Nôm” Đại học Tổng hợp Hà Nội so với một số cơ sở khác. Tính tổng hợp kiến thức về xã hội và nhân văn của thành phẩm Hán Nôm Đại học Tổng hợp Hà Nội là một trong những nhân tố đã góp phần quan trọng làm nên “thương hiệu Hán Nôm” Đại học Tổng hợp Hà Nội trong suốt một thời kỳ dài. Tính thương hiệu đó đã được các cơ quan tiếp nhận sinh viên Hán Nôm về công tác cũng như được xã hội thừa nhận và khẳng định. Đồng thời tính tổng hợp kiến thức đó cũng là một cơ sở quan trọng giúp cho những người tốt nghiệp Hán Nôm có thể thích ứng với yêu cầu phân công công tác và tìm việc ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Họ có thể công tác ở những lĩnh vực trực tiếp phải sử dụng Hán Nôm như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các trường đại học và cao đẳng, các cơ quan lưu trữ và văn hóa cũng như ở cả các lĩnh vực văn hóa và xã hội khác. Phổ rộng năng lực khai thác các giá trị của di sản Hán Nôm mà một người làm công tác Hán Nôm có được, một phần dựa trên mặt bằng các tri thức khoa học xã hội và nhân văn rất nền tảng mà họ được tiếp thu từ chương trình học cũng như từ các đội ngũ của các bậc thầy khả kính. Tất nhiên, cho dù có kiến thức nền về các khoa học xã hội nhân văn rộng thì cũng không thể làm nên đặc trưng, tính chất hay sự khác biệt của Hán Nôm Đại học Tổng hợp Hà Nội nếu như không có kiến thức chuyên ngành Hán Nôm thể hiện qua khả năng nắm chữ nghĩa và phiên dịch, chú giải văn bản Hán Nôm. Không đọc và hiểu được văn bản Hán Nôm thì không thể nói đến bất kỳ sự khai thác hay thuyết minh nào cho giá trị của văn bản. Để đọc và dịch được văn bản Hán văn không thể chỉ biết từ ngữ là đủ mà còn phải hiểu biết cả những vấn đề lịch sử và văn hoá chứa đựng trong các văn bản ấy. Chính những vấn đề về lịch sử và văn hoá mang tính nội dung đó lại định hướng các qui tắc tạo nên văn bản. Khối kiến thức Hán Nôm theo niên chế được trải đều và phù hợp trong 4 năm rưỡi theo yêu cầu từ dễ đến khó, phù hợp với trình độ của người học và cũng là phù hợp với các yêu cầu của giáo dục đào tạo nói chung.

Khối kiến thức Hán Nôm chuyên ngành được thiết kế theo hướng lần theo những bước mà chính những người tạo ra văn bản Hán Nôm đã học. Người đi học thời xưa từ lúc 6 tuổi đến trường, trước hết học các sách thuộc phạm trù Tiểu học để có một lượng chữ nghĩa nhất định và sau đó mới qua Tứ thư, Ngũ kinh, Chư tử, Chư sử và làm văn. “Vi học giả, tất hữu sơ. Tiểu học chung, chí Tứ thư…”. “Hiếu kinh thông, Tứ thư thục. Như Lục kinh, thuỷ khả độc…”. “Kinh ký minh, phương độc tử. Kinh tử thông, độc chư sử. Khảo thế hệ, tri chung thuỷ” – “Là người học, ắt có buổi đầu. Tiểu học xong đến Tứ Thư…”. “Hiểu kinh thông, Tứ Thư thuộc, qua Lục kinh có thể đọc…”. “Kinh đã minh, mới đọc tử… Kinh tử thông, đọc các sử. Khảo thế hệ, biết đầu cuối…” như sách Tam tự kinh đã tóm tắt. Buổi học chữ Hán đầu tiên của giai đoạn “lập Ngành” đã vang lên trong lời giảng của thầy Nguyễn Đình Thảng khi thầy đọc lại một bài học thuật lại lời của Khổng Tử ở trường Nho học khi xưa: “Thượng đại nhân, Thánh ẤT DĨ, hoá tam thiên thất thập sĩ nhĩ. Tiểu sinh, giai tác nhân, khả tri lễ dã” (Thưa Đại nhân, Khâu này đây, đã giáo hoá được ba ngàn bảy mươi học trò. Chúng trò ấy đã có thể làm được điều nhân và khá biết về lễ vậy).

LỜI NÓI SUÔNG KHÔNG LỌT ĐƯỢC TAI DÂN!

Lời nói suông không lọt được tai dân!

Thứ Sáu, 16/11/2012 – 07:45

(Dân trí) – Lời nói không đi đôi với việc làm không có cơ hội để tồn tại. Hãy hành động và tạo ra giá trị. Người làm lãnh đạo chỉ thực sự có giá trị khi chính họ tạo ra được giá trị cho đất nước. Chí ít, hành động từ chức cũng là một giá trị.

Người dân quan tâm theo dõi kỳ họp của Quốc hội, đặt biệt là những phiên chất vấn, chứng tỏ chất lượng của dân trí và nhận thức về dân chủ ngày càng cao. Không khí chính trị của đất nước thực sự lành mạnh một khi có sự tham gia một cách tự giác và tự do của dân chúng. Sự tham gia đó được thể hiện bằng cách thông qua đại diện của dân trước nghị trường và đặc biệt là ý kiến đóng góp, phản biện của dân thông qua dư luận, báo chí.

Đại biểu Dương Trung Quốc đặt ra một vấn đề dân rất ưng bụng, đó là đừng nói lời xin lỗi nữa, mà hãy có hành động cụ thể hơn, hãy từ chức nếu như làm không được việc. Quá đúng, từ trước đến nay, lời xin lỗi được đưa ra rất nhiều, có khi bị lạm dụng. Ban đầu dân còn chia sẻ, nhưng nghe hoài cũng nhàm tai. Lời xin lỗi phải đi liền với sửa đổi, phục vụ nhân dân tốt hơn, đem lại lợi ích thiết thực cho xã hội, tạo ra thành quả cho đất nước. Nếu không thì xin lỗi chẳng có ý nghĩa gì.

Dư luận đánh giá cao phát biểu chất vấn của đại biểu Dương Trung Quốc. Vấn đề ông Quốc đặt ra nghiêm túc, đúng tâm tư nguyện vọng của dân. Sự quyết liệt đoạn tuyệt với lời xin lỗi là để hướng đến hành động và trách nhiệm trước pháp luật. Những người đang giữ các cương vị lãnh đạo trong hệ thống chính quyền chắc chắn chia sẻ được với điều mà vị đại biểu này đặt ra, để sắp tới, sẽ không còn những lời xin lỗi chung chung. Dân chúng đón nhận một luồng sinh khí mới từ bộ máy công quyền, đó là chỉ có những con người sẵn sàng hành động và dám chịu trách nhiệm.

Lịch sử ghi lại nhiều vị quan cởi ấn từ quan, Chu Văn An, Nguyễn Trãi là những bậc hiền tài có nhân cách như vậy. Dâng “Thất trảm sớ” can vua chém đầu nịnh thần không được là từ quan, tự thấy mình không đủ sức gánh vác việc nước là từ quan. Với những con người này, làm quan là trọng trách, là hy sinh, không phải vì danh lợi. Là nhà sử học, đại biểu Dương Trung Quốc đưa dẫn chứng: “Đảng ta từng có một vị Tổng bí thư, người có công lớn trong Cách mạng Tháng 8-1945, sau khi nhận trách nhiệm chính trị về những sai lầm trong Cải cách ruộng đất 1956 đã từ chức và tiếp tục phấn đấu để rồi ba thập kỷ sau trở lại với cương vị Tổng bí thư, kịp góp phần khởi động công cuộc Đổi mới trước khi từ trần”.

Những nhân cách lớn đó là những tấm gương sáng cho hôm nay.

Tiếc rằng, trên thực tế vẫn diễn ra “văn hóa chạy chức” nhiều hơn văn hóa từ chức. Nhiều diễn đàn, hội thảo nêu tệ nạn này nhưng chưa hạn chế được. Đặt vấn đề về văn hóa từ chức lúc này tuy muộn mằn nhưng còn hơn không, bởi vì lời nói suông không lọt được tai dân. Với thời đại thông tin ngày nay, con người dễ dàng xác định chân giá trị của cuộc sống. Mọi lời nói không đi đôi với việc làm không có cơ hội để tồn tại dù cho nó được biện minh hay che chắn như thế nào. Cho nên, hãy hành động và tạo ra giá trị. Người làm lãnh đạo chỉ thực sự có giá trị khi chính họ tạo ra được giá trị cho đất nước. Chí ít, hành động từ chức cũng là một giá trị.

Lê Chân Nhân
Nguồn: Dân trí.

ĐƠN KHIẾU NẠI BỘ TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN VĂN GIANG

Về hành vi hành chính soạn (thẩm định), ký và gửi nội dung Tờ trình số 14/TTr-BTNMT ngày 12/3/2004 và Tờ trình số 99/TTr-BTNMT ngày 29/6/2004 của Bộ Tài nguyên & Môi trường do ông Đặng Hùng Võ, Thứ trưởng Bộ TNMT ký thay mặt Bộ trưởng  Bộ TNMT 







BÓNG Ô CUỐI LÀNG - Hồi ký Phạm Thành Hưng

Bóng ô cuối làng
Hồi ký của Phạm Thành Hưng
Quãng giữa thế kỷ trước, nếu về vẽ cảnh làng tôi, họa sỹ chỉ cần tô lên nền toan hai mảng màu xanh nối nhau: mảng xanh trên là màu xanh chân trời, mảng xanh dưới là màu xanh của cói. Giữa đường kẻ chỉ, nối tiếp mặt đất với bầu trời, hãy thả xuống một giọt mực tàu, tạo một chấm đen. Đúng vậy. Giữa hai tầng xanh của trời và đất, chỉ cần thêm một chấm đen thôi, người làng tôi sẽ nhận ra ngay phong cảnh làng mình. 

Chấm đen đó là chiếc ô của ông ngoại tôi, sớm chiều xuất hiện trên con đê cuối làng. 

Có lẽ trên đời, chưa ai đi chậm như ông tôi. Ông đi chậm vì mặt đê ngày nắng thì gập ghềnh sống trâu, ngày mưa thì bùn lầy trơn như đổ mỡ. Biển rút ngày một xa, con đê mỗi năm một thấp. Người đồng cói chỉ làm nhà thấp mái để tránh bão biển. Vì vậy mà làng cói quê tôi nhìn đâu cũng chỉ thấy cói, chẳng thấy nhà. Cói lên cao, mặt đất tuyền một màu xanh ngăn ngắt. Ông tôi cầm ô chậm rãi bước qua những đồng cói xanh ngút ngàn, tưởng chừng bất tận. Ông tôi đi chậm, còn vì chiếc đẫy đựng thuốc nặng trên vai. Chợ Huyện một tháng 4 phiên, chợ Hói Đào, chợ Hôm Giún cứ ba ngày lại họp một lần. Vì vậy mà ngày nào ông tôi cũng đi chợ. Có điều ông tôi đi chậm quá. Người làng cứ thấy ông tôi ở đầu con đê, bảo nhau nấu cơm chiều. Nhưng nấu xong rồi, vẫn thấy chiếc ô đen ông tôi trên đê. Chiếc ô đen lừ lừ trôi, có lúc đứng lại như dấu chấm hỏi cuối chân trời. 

THÔNG BÁO VỀ LỄ KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP NGÀNH HÁN NÔM


Nhân dịp tròn 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm 1972 - 2012 (thuộc Khoa Văn học), Trường ĐH KHXH và Nhân văn HN, Khoa Văn học và Ngành Hán Nôm tổ chức Lễ Kỷ niệm 40 năm  thành lập Ngành Hán Nôm vào hai ngày 16 & 17 tháng 11 năm 2012. 

1.Các hoạt động kỷ niệm:
1.1.Hội thảo Khoa học : “40 năm đào tạo và nghiên cứu Hán Nôm 
tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”
Thời gian: 7h30-11h45, ngày 16/11/2012
Địa điểm: Phòng 701, Tầng 7, Nhà E (Số 336 – Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội).
Ghi chú: Địa điểm thây đổi, trước đó ghi trong Giấy mời là Phòng 506 Nhà E.
1.2.Hội trại – Trưng bày ảnh, thư pháp – Giao lưu thư pháp:
Thời gian: từ 13h00 ngày 16/11 đến 12h00 ngày 17/11/2012: ngoài trưng bày ảnh và tác phẩm thư pháp, còn có hoạt động viết tặng Quý khách tham dự Lễ kỷ niệm.
Địa điểm: tại sân trước Nhà E.
1.3.Giao lưu Văn nghệ:
Thời gian: từ 19hoo đến 21h45, ngày 16/11/2012.
Địa điểm: Hội trường Tầng 8 Nhà E.
Ghi chú: ngoài 8-10 tiết mục văn nghệ của hai ngành Văn học – Hán Nôm, phần giữa còn có giao lưu giữa cựu sinh viên và tân sinh viên ngành Hán Nôm.
2.Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm:
Thời gian: 8h00-11h00, ngày 17/11/2012.
Địa điểm: Hội trường Tầng 8 Nhà E.
  

Phụ trách các tiểu ban chuẩn bị cho lễ kỷ niệm gồm:
- Lễ Kỷ niệm: Phạm Ánh Sao, Phó Chủ nhiệm Khoa Văn học
- Hội trại: Lê Văn Cường (GV)
- Văn nghệ: Phạm Vân Dung (GV)
- Hội thảo: Nguyễn Tuấn Cường (GV)

HAI BÀI TRÊN TẠP CHÍ HÁN NÔM CỦA SV NGUYỄN XUÂN DIỆN - BÀI 2

Chụp ảnh cùng Thầy Đinh Trọng Thanh - Thầy hướng dẫn luận văn tốt nghiệp (đã mất) nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Ngành Hán Nôm (1972-2002).



 .
Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm (1972 - 2012), nhớ lại thời sinh viên hơn 20 năm trước, xin giới thiệu 02 bài viết của SV Nguyễn Xuân Diện đăng trên Tạp chí Hán Nôm (01 bài năm 1991 và 01 bài năm 1992 - là năm tốt nghiệp)
Bài đăng trên tạp chí Hán Nôm số 2-1991:
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 
CỦA KIỀU OÁNH MẬU
Nguyễn Xuân Diện

Trước nay, các nhà nghiên cứu Truyện Kiều và văn bản Truyện Kiều đều dành một sự chú ý đặc biệt và những đánh giá cao đối với bản Kiều do Kiều Oánh Mậu khảo đính, chú giải và đưa in năm Nhâm Dần, niên hiệu Thành Thái 14 (1902). Một số nhà nghiên cứu đã có viết về cuộc đời và tác phẩm của Kiều Oánh Mậu, song chúng tôi thấy cần phải bổ sung thêm một số tư liệu để giúp cho việc nghiên cứu được đầy đủ hơn. Bài viết này bước đầu cung cấp một số tư liệu mới về cuộc đời, tác phẩm và những đóng góp để bạn đọc tham khảo thêm.

Kiều Oánh Mậu (1854-1911)(1) người làng Đông Sàng, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Đương Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây). Lúc nhỏ Kiều Oánh Mậu tên là Kiều Dực (hoặc Kiều Hữu Dực), sau lại đổi là Kiều Cung, tự Tử Yến, hiệu Giá Sơn. Năm 1883, vua Tự Đức chết, đặt miếu hiệu là Dực Tông, ông mới đổi tên là Kiều Oánh Mậu. Theo Kiều thị gia phả (do chính Kiều Oánh Mậu biên soạn(2) thì cụ tổ của ông là Kiều Phúc, đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493). Tiếp sau đó là các cụ Kiều Văn Bá đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Tỵ, niên hiệu Hồng Thuận 1 (1509)(3); Kiều Bá Nghiễm, Kiều Trọng Dương đều đỗ Hương cống năm Ất Mùi (1775) đời Lê Cảnh Hưng.

Cha của Kiều Oánh Mậu là Kiều Huy Tùng (1834 - 1917), đỗ Tú tài khoa Đinh Mão (1867), đỗ Cử nhân Ân khoa Mậu Thìn (1868); thời Tự Đức, nhiều năm làm Tri huyện các huyện Chân Định, Quỳnh Côi, Phù Dực tỉnh Thái Bình.

HAI BÀI TRÊN TẠP CHÍ HÁN NÔM CỦA SINH VIÊN NGUYỄN XUÂN DIỆN - BÀI 1

Cùng Anh Phạm Ánh Sao K30 (hiện là Phó Chủ nhiệm Khoa Văn) trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập ngành



Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm (1972 - 2012), nhớ lại thời sinh viên hơn 20 năm trước, xin giới thiệu 02 bài viết của SV Nguyễn Xuân Diện đăng trên Tạp chí Hán Nôm (01 bài năm 1991 và 01 bài năm 1992 - là năm tốt nghiệp)

Bài đăng trên tạp chí Hán Nôm số 2-1991:
VỀ TIỂU SỬ CỦA LÊ ANH TUẤN THƯỢNG THƯ NHÀ THƠ ĐẦU THẾ KỶ XVIII
Nguyễn Xuân Diện

Trên Tạp chí Hán Nôm số 1 (8)-1990 có bài viết Lê Anh Tuấn Thượng thư nhà thơ đầu thế kỷ XVIII của Nguyễn Tuấn Lương. Bài viết đã cung cấp được những chi tiết quan trọng về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Anh Tuấn, đồng thời đưa ra nhiều nhận xét thú vị về giá trị nội dung và nghệ thuật thơ của vị quan Thượng thư họ Lê.

Với bài viết lần này, chúng tôi muốn trình bày thêm một vài vấn đề nhằm làm sáng rõ hơn về tiểu sử của Thượng thư - nhà thơ Lê Anh Tuấn.

Về Lê Anh Tuấn, Lược truyện các tác gia Việt Nam (LTCTGVN) của Trần Văn Giáp ghi: “Lê Anh Tuấn, hiệu Dịch Hiên, người làng Thanh Mai, huyện Tiên Phong (?). Không rõ ông sinh và mất năm nào. Năm 1704, ông đậu Tiến sĩ, sau được sang sứ Trung Quốc, làm đến Hộ bộ Thượng thư, tước Điện quận công” (1).

Trước hết, chúng tôi nói về cái dấu hỏi ở đằng sau chữ “huyện Tiên Phong” trong LTCTGVN. Nhiều thư tịch Hán Nôm, nhiều công trình nghiên cứu về địa danh hành chính và các vấn đề khác đã cho biết huyện Tiên Phong thuộc phủ Quảng Oai (có thời thuộc phủ Quốc Oai) trấn Sơn Tây. Chẳng hạn sách Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC) của Phan Huy Chú có chép: “Trấn Sơn Tây có 6 phủ, 24 huyện”. Sáu phủ đó là: “Quốc Oai, Tam Đới, Lâm Thao, Đoan Hùng, Quảng Oai và Đà Dương”(2).

Nguyễn Công Việt: BỐN MƯƠI NĂM NHỚ THẦY, NHỚ BẠN

PGS.TS Nguyễn Công Việt – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Cựu sinh viên Ngành Hán Nôm Khóa 1 (K17 – Khoa Ngữ Văn – Đại học Tổng hợp Hà Nội):
BỐN MƯƠI NĂM NHỚ THẦY, NHỚ BẠN
Nguyễn Công Việt
Đi bộ hết con đường đất đỏ, tôi leo lên đê lần đầu nhìn dòng sông Cầu trong xanh lặng lẽ trôi dòng xuôi về hướng biển. Bến đò chiều Đông vắng ngắt thấp thoáng những khóm tre mái rạ lờ mờ trong khói sương tà; Qua đò sang sông là đã đến được địa điểm tập trung thôn Ngọ Phúc, huyện Hiệp Hòa. Cái tên bến đò Đông Xuyên, thôn làng Ngọ Phúc, Ngọ Khổng, Sát Thượng, Chính Trung thuộc đất Kinh Bắc xưa là những địa danh đầu tiên lưu lại trong ký ức của tôi ngày tựu trường 40 năm trước.
Ngày ấy khóa 17 Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội của chúng tôi có hơn 100 người, được đăng ký phân vào ba chuyên ngành Văn, Ngữ và Hán Nôm. Văn, Ngữ đã có sẵn từ trước trước nên nhiều bạn không phải đắn đo, riêng Hán Nôm là khóa đầu nên các thầy phải bỏ công đi giới thuyết, chiêu mộ. Cuối cùng cũng được 13 trò, trong đó có tôi là kẻ chưa có một chút khái niệm nào về Hán Nôm mà chỉ làm theo sự hăng hái của mấy bạn mới quen. Duyên nghiệp định phận từ ngày ấy tới hôm nay, trước tiên phải kính cẩn nhắc đến quý danh của các thầy Nguyễn Đình Thảng, Lê Văn Quán, Đinh Gia Khánh, Trần Thuyết, Nguyễn Văn Tu… là những người thầy hướng đạo buổi đầu nhập môn cho lớp thiếu niên mới trưởng thành.
Buổi học đầu tiên của chúng tôi vào tiết Đông chí năm Nhâm Tý 1972, đúng đợt gió Bắc giá lạnh ở ngôi đình hoang xơ xác không cửa. Ghế ngồi của trò là những đệm rơm nắm rạ, bàn viết là đôi đầu gối chụm thành. Còn thầy chỉ có cách đứng, cấm chỉ ngồi vì nếu ngồi sẽ bệt xuống đất như trò. Người thầy khai tuệ cho tôi những nét chữ đầu tiên là thầy Nguyễn Đình Thảng. Những chữ nhập môn ấy là chữ Nhân, chữ Thiện trong Nhân chi sơ, tính bản thiện. Cái thiện lương bản căn con người như luôn nhắc nhở theo sát bên chúng tôi – những người theo nghiệp Hán Nôm suốt mấy chục năm ròng.
Những tháng ngày nơi sơ tán vất vả đào hầm trú ẩn, vận chuyển kho sách, lương thực, giúp dân trồng trọt thu hoạch… Rồi chứng kiến 12 ngày đêm máy bay Mỹ dội bom xuống Hà Nội, pháo ta bắn, bom đạn như mưa, lửa rực ngút trời đêm… Đến sự học phòng lớp chẳng có, những buổi học nơi đình hoang, lúc nhà kho, khi lều gianh vách đất. Lớp không ghế không bàn, cũng không cửa che gió mưa, song không bao giờ thiếu một trò nào. Ở tuổi mới lớn cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm, nhưng vẫn hồn nhiên hăng hái. Những ngày khói lửa, gian nan cơ cực thủa ấy chẳng bao giờ quên trong tâm trí mỗi người.

Nguyễn Văn Thịnh: HÁN NÔM MÃI ĐAU ĐÁU TRONG TÔI


HÁN NÔM MÃI ĐAU ĐÁU TRONG TÔI
Nguyễn Văn Thịnh
Lời dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Thịnh - nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Hán Nôm, là người Thầy cả khi đi học, khi công tác, lẫn khi đã nghỉ hưu, lúc nào cũng say mê, nhiệt thành “đến một mức rất quá”. Tấm lòng của Thầy với Ngành được tất cả đồng nghiệp trong ngoài Ngành ghi nhận và được tất cả thế hệ học trò ghi nhớ biết ơn. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm (1972-2012), chúng tôi xin giới thiệu những cảm xúc, những kỷ niệm của Thầy về Ngành, về những lĩnh vực văn hóa Hán Nôm mà Thầy “mến yêu” và xả thân hết mình. Chúng tôi xin đặt lại nhan đề bài viết của Thầy.
Đặt bút viết Hồi cố và cảm xúc về ngành Hán Nôm, nhưng dòng hồi cố của tôi lại chảy miên man về nhiều phương, cũng như công việc của tôi từ ngày nghỉ hưu chưa lúc nào ngừng lắng. Có lẽ bởi tôi đã gắn với chữ Hán, chữ Nôm từ quá sớm. Tuy không theo con đường khoa cử, nhưng dòng họ tôi cũng nhiều đời học để đủ vốn chữ nghĩa tu tâm luyện tính, biết tới Hiên-Kỳ, nắm được chính yếu của Trung y, đọc hiểu được Bản thảo cương mục, Thương hàn luận hay Nam dược thần hiệu, Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh của y học nước nhà nhằm mục đích trị bệnh cứu người. Suốt năm đời nối nhau làm thuốc (tính từ ông nội tôi Lương y Nguyễn Văn Mai, mà nhà thờ họ lưu truyền đại tự Nho y kế thế, Xuân phong tại, do Nội ngoại trường môn sinh dâng tặng), tôi đã sớm có được vốn nhỏ chữ Hán do Cụ ngoại tôi - Cụ phó Nguyễn Duy Quảng (tất nhiên là Phó lý mua) và ông trẻ tôi Lương y Nguyễn Văn Lan truyền lại; còn ông nội tôi là Lương y Nguyễn Văn Mai thì lập nghiệp tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; Đến thân phụ tôi thì có học chữ Hán, nhưng ở thời ông, nho học đã vào cuối chầu, chữ Quốc ngữ đã thu hút giới trẻ. Ông chỉ khuyến khích tôi thôi chứ ông không giúp gì trực tiếp bởi ông là người biết thế nào là “học hải mang mang”, chữ nghĩa Thánh Hiền biết mấy mà dám làm thầy dạy. Sau này tôi được học Trung văn ở phổ thông, rồi đại học, tại khoa lúc đó giáo trình Trung văn cũng có cả âm Hán Việt. Việc đó giúp tôi duy trì thói quen và ham mê học chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt. Trong những năm học văn tại Khoa Khoa học Xã hội (Ký túc xá Láng), chúng tôi vẫn được học thêm chữ Hán do Cụ Trần Lê Hữu - thân phụ PGS Trần Lê Sáng dạy, còn học Cụ Đỗ Văn Hỷ chỉ được một số buổi, tôi còn nhớ nhiều bài Cụ dạy nhưng không nhớ lớp học do cơ quan nào của Bộ Văn hóa tổ chức nữa, hình như Vụ Bảo tồn Bảo tàng. Lớp bồi dưỡng chính quy chính là các lớp Hán Nôm sau đại học do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam mở. Lớp học này, tôi thực sự chờ đón, vì ra trường vào giữa thời chống Mỹ, giữa những năm ác liệt, nhưng lúc này tôi lại có nhiều thời gian nơi sơ tán. Có lần nghe láng máng lớp chuẩn bị khai giảng, tôi đã khăn gói lên huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, nơi Viện (Ban?) Hán Nôm sơ tán. Nhưng lớp học này mãi dến năm 1973 mới chính thức khai giảng tại Trần Xuân Soạn, Hà Nội. Lớp học này có các thầy dạy là các bậc túc Nho như Cụ Đỗ Ngọc Toại, Cụ Trần Duy Vôn, Cụ Đào Phương Bình, đặc biệt là cụ Lê Thước bậc đại khoa của triều Nguyễn, các giáo sư thân thuộc nổi tiếng của các viện các trường như GS Đào Duy Anh, GS Cao Xuân Huy, GS Trương Đình Nguyên… Nhiều Giáo sư của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc đó cũng tham gia dạy về sử học và văn học như GS Phan Huy Lê, GS Đinh Xuân Lâm, GS Trần Đình Hượu…

LS. Nguyễn Anh Vân: Ý KIẾN VỀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT VỤ VĂN GIANG

Ý KIẾN VỀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT VỤ VĂN GIANG
Luật sư Nguyễn Anh Vân

Trong bài này tôi không nhắc lại nội dung vụ việc Văn Giang mà chỉ nói về hướng giải quyết theo quy định của luât pháp. Tôi cũng biết rằng, hướng giải quyết vụ việc là do các Luật sư tư vấn và bà con (Văn Giang) bị thu hồi đất lựa chọn. Dù vậy, tôi vẫn cứ mạo muội góp ý kiến về hướng giải quyết. Sự mạo muội có lẽ xuất phát từ sự khâm phục tinh thần bất khuất, dũng cảm và kiên cường của bà con. Sự mạo muội có lẽ cũng bắt nguồn từ mong muốn giúp được một điều gì đấy dù nhỏ nhoi cho những người dân bị oan ức Sự mạo muội có lẽ cũng bắt nguồn từ sự cảm thông của người cùng cảnh ngộ, cùng quê hương cũng đã phải sống mòn mỏi nhiều năm tháng để đi tìm công lý trong nỗi đau uất nghẹn..
Vụ việc này khá phức tạp. Nói như ông giáo sư, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường (BTNMT) Đặng Hùng Võ, “Vụ việc Văn Giang không đơn giản” là rất đúng. Nó không đơn giản, bởi vụ việc liên quan tới nhiều cấp, nhiều nghành và bởi quyền lợi của nhiều người cũng như sự vô trách nhiệm của những người có thẩm quyền đã không giải quyết dứt điểm, để khiếu kiện kéo dài 8 năm. Nó không đơn giản bởi chính ông Võ là người đã khơi mào cho sự rắc rối, phức tạp này bằng một tờ trình vi phạm pháp luật từ những năm 2004 mà ông đã thừa nhận tại buổi đối thoại với bà con tại hội trường BTNMT ngày 8/11/2012.
Nhưng dù vụ việc có phức tạp đến đâu đi chăng nữa thì nó vẫn có hướng giải quyết, nếu như những người có thẩm quyền công tâm và có tinh thần thượng tôn pháp luật, biết lấy các quy định của pháp luật làm cơ sở.
Dưới đây tôi đưa ra hướng giải quyết vụ việc dựa vào các quy định của pháp luật và dựa vào chút kinh nghiệm, chút hiểu biết về kiến thức luật pháp của mình để bà con bị thu hồi đất và các độc giả tham khảo. 

Phương Bích: CÓ MỘT VƯỜN HOA "BỊ TRÓI"

Có một vườn hoa "bị trói"

Phương Bích


Một người bạn đáng kính mới đi công tác xa về, nghe tin về cái chết của cụ bà xấu số Hà Thị Nhung, thì ngỏ ý muốn ra vườn hoa Lý Tự Trọng để thắp hương cho cụ.

Lâu lắm không có việc đi qua, thấy một sợi dây màu vàng chóe khá ấn tượng chăng từ gốc cây này sang gốc cây khác, quây hết cả vườn hoa Mai Xuân Thưởng. Tôi trỏ cho bác ấy xem thì bác bên cạnh thốt lên một câu nghe cứ như thơ: Vườn hoa bị trói!
Câu nói thật lạ tai, tựa như một tiếng than. Tôi kinh ngạc như thể vừa phát hiện ra được một tứ thơ hay, nghe sao mà đau đớn, mà ai oán thế.
Thật là hình tượng quá – Vườn hoa bị trói!
Chúng tôi dắt xe lên vườn hoa Lý Tự Trọng ở phía bên kia đường, nơi những nhóm dân oan đang nằm ngồi la liệt. Một điều đau buồn là phần lớn trong số họ đều là phụ nữ lớn tuổi. Những gương mặt dãi dầu mưa nắng ngước lên nhìn chúng tôi, đầy vẻ  hy vọng khi tôi giơ điện thoại lên chụp. Như người sắp chết đuối, thấy cái cọc nào là cứ vớ đại lấy - Họ tưởng đâu như các nhà báo đến quay phim, chụp ảnh để bá cáo lên lãnh đạo, giải quyết sơm sớm cho họ còn về quê. Hỏi thăm thì mỗi người một miền, xa thì Bình Định, gần thì Vĩnh Phúc, Sơn Tây, phần lớn chung cảnh ngộ bị mất đất, mất nhà...

QUYẾT ĐẤU TRUNG CỔ VÀ ĐỐI THOẠI VĂN GIANG - HÙNG VÕ

Quyết đấu Trung cổ và đối thoại Văn Giang – Hùng Võ

15/11/2012

Phạm Hồng Sơn

Quyết đấu tay đôi (duel), thường bằng kiếm hoặc súng, để tự giải quyết một hận thù, một khúc mắc, bất đồng giữa hai cá nhân, không cần viện tới phân xử của các thiết chế chính thống/nhà nước, là một tập tục xuất hiện từ thời Trung cổ ở châu Âu và trở nên thịnh hành trong giới có vị thế xã hội cao (hiệp sĩ, thượng lưu-gentlemen, chính trị gia,…) tại châu Âu trong thời Phục Hưng. Sau đó quyết đấu tiếp tục phát triển sang Bắc Mỹ và duy trì cho tới tận cuối thế kỷ XIX. Nguyên tắc của quyết đấu có nhiều điều khoản và biến thể và từng được lập thành các bộ qui tắc (code) có tính phổ quát trong dân chúng ở nhiều quốc gia châu Âu và thậm chí còn được nhà nước pháp điển hóa như ở Pháp trong thời Phục Hưng. Nhưng tựu trung, quyết đấu dựa trên ba nguyên tắc: bình đẳng, minh bạch và chính trực. Vũ khí và điều kiện thực hiện cho cả hai bên là hoàn toàn như nhau. Cuộc quyết đấu được thực hiện dưới chứng giám của thân hữu của cả hai bên. Cả hai đều coi sự chính trực – tuân thủ tuyệt đối các điều kiện đã được thỏa thuận, dù biết chắc nhiều phần sẽ phải bỏ mạng vì sự tuân thủ đó, làm cái đích phải đạt được. Tuy nhiên mục đích cao nhất của quyết đấu không phải là hạ sát đối thủ mà chỉ nhằm phục hồi danh dự hay chứng minh cho phẩm giá toàn vẹn của mình. Do đó bên thua (nhưng sống sót) của một cuộc quyết đấu không bao giờ ấm ức hay phàn nàn điều gì về bên thắng và sau một cuộc quyết đấu mọi khúc mắc, hận thù giữa hai bên đều coi như không còn. Không bên nào còn có thể coi thường bên kia. Đa phần xã hội đương thời khi đó không lên án người sống sót duy nhất trong quyết đấu là kẻ giết người và cũng không có ai phê phán người bỏ mạng là kẻ dại dột.

Tính chất cao thượng của quyết đấu chắc chắn đã nằm trong khối di sản đồ sộ và sáng rực của thời Phục Hưng châu Âu: đặt danh dự, nhân phẩm con người lên tất cả. Khi danh dự bị tổn thương hoặc bị nghi ngờ người ta sẵn sàng lấy tính mạng hoặc chấp nhận đối mặt với thử thách tính mạng để bảo tồn, phục hồi danh dự bất kể danh giá, chức tước to lớn, bổng lộc, hạnh phúc ngất trời đang tận hưởng hay sự nghiệp, tương lai rực rỡ đang nằm ngay trong tầm tay. Évariste Galois, thiên tài toán học Pháp đầu thế kỷ XIX, đã phóng vội những suy tư kiệt xuất về toán học ra lề bức thư tuyệt mệnh trong đêm cuối cùng trong tuổi 21 trước khi đi quyết đấu. Chính trị gia lập quốc, luật gia lập hiến, bộ trưởng tài chính đầu tiên của Mỹ Alexander Hamilton không ngần ngại nhận lời đấu súng từ đương kim phó tổng thống Mỹ Aaron Burr. Bốn thủ tướng Anh [i] trong thế kỷ XVIII, XIX, hai người vẫn đang trên ghế thủ tướng, đã tham gia quyết đấu. Tổng thống Abraham Lincoln  cũng là người đã từng vui vẻ đi thẳng tới một cuộc quyết đấu súng. Pushkin tài hoa và lãng mạn đã viết nhiều về quyết đấu và cuối cùng cũng từ giã cuộc đời bằng đấu súng chỉ vì không muốn danh dự phải dính chút đàm tiếu.

Cuộc đối thoại giữa những nông dân huyện Văn Giang – Hưng Yên với ông Đặng Hùng Võ cựu thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi Trường ngày 08/11 mới đây, ở một vài phương diện nào đó, có thể được coi là một cuộc “quyết đấu” nhằm giải quyết mâu thuẫn quan điểm giữa hai bên về tính pháp lý của một số văn bản do chính ông Đặng Hùng Võ đã ký khi tại chức và phục hồi lại phần nào danh dự cho những người nông dân bị nhiều cáo buộc bất công khi quyết giữ đất. Nhưng cuộc “quyết đấu” Văn Giang – Hùng Võ có vài điểm đặc biệt cần ghi nhận.

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

ỐI ĐẢNG ƠI! CƠ QUAN ĐẢNG LẠI CÒN NHẢY VÀO CHUYỆN NÀY NỮA Ư?

Buổi họp báo giới thiệu về hội nghị xúc tiến đầu tư vào Quảng Ninh năm 2012.

Văn phòng TW Đảng thẩm định dự án casino Vân Đồn

M. Chung

 

Văn phòng Trung ương Đảng vừa có buổi làm việc với lãnh đạo Quảng Ninh về các đề xuất liên quan tới dự án casino ở Vân Đồn...

Theo nguồn tin của VnEconomy, hôm 14/11, Văn phòng Trung ương Đảng đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh về các đề xuất, ý kiến của các bộ, ngành liên quan tới dự án casino ở Vân Đồn.

Ông Đặng Huy Hậu, Phó chủ tịch UBNN tỉnh Quảng Ninh cho biết, buổi làm việc này để Văn phòng Trung ương Đảng thẩm định lại các đề xuất, ý kiến từ các bộ ngành về dự án casino tại khu kinh tế Vân Đồn.

Theo ông Hậu, là một khu kinh tế, phát triển nhiều về du lịch thì nhất định phải có các sản phẩm về du lịch, trong đó có casino.

Ông nói, trước mắt, casino ở góc độ hành lang pháp luật thì chủ yếu vẫn dành cho người nước ngoài, vì thế nếu có mở casino cũng mới chỉ dành cho người nước ngoài, không cho người Việt Nam vào chơi. Theo ông, trong phát triển kinh tế không bao giờ có lợi 100%. Có cả lợi và hạn chế, tuy nhiên phải xem mặt tích cực là bao nhiêu.

“Dự án casino tại Vân Đồn tôi nghĩ tích cực là rất nhiều, còn hạn chế thì rất ít”, ông nói.

Và vì thế, “theo tôi casino ở Vân Đồn là nên làm, làm càng sớm càng tốt”, ông Hậu đưa quan điểm.

Trước đó, trong quá trình chuẩn bị cho hội nghị xúc tiến đầu tư, UBND tỉnh Quảng Ninh đã công bố danh mục 18 dự án kêu gọi đầu tư, trong đó dự án khu vui chơi giải trí phức hợp tại Vân Đồn với vốn đầu tư khoảng 4 tỷ USD và dự án sân bay quốc tế Vân Đồn với vốn đầu tư khoảng 1 tỷ USD là những dự án quan trọng nhất.

Tại hội nghị xúc tiến đầu tư vào Quảng Ninh hồi đầu năm nay, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu tỉnh này cần "hợp tác chặt chẽ với các bộ ngành của Trung ương và các địa phương liên quan" để triển khai hàng loạt công việc quan trọng. 

Nguồn: VNEconomy.