Blogger Widgets

Thứ tư, ngày 20 tháng bảy năm 2011

BỨC THƯ THỨ 2 GỬI CHÚ NGUYỄN XUÂN DIỆN


THƯ THỨ 2 GỬI CHÚ NGUYỄN XUÂN DIỆN, CHO NGÀY CHỦ NHẬT BẼ BÀNG, NỖI BUỒN CHIA RẼ VÀ LÒNG TIN KHÔNG TÌM THẤY

Cháu xin chào chú Diện,

Lần thứ 2 cháu lại ngồi viết thư cho chú, hôm nay 17 tháng 07 năm 2011, không phải như tâm trạng của ngày hôm trước. Về đến nhà, cháu thực sự thất vọng và càng uất nghẹn hơn khi nhìn những hình ảnh, theo dõi những thông tin trên Internet về buổi sáng nay. Trong thư này gửi chú, cháu sẽ không nói bất kỳ gì về những sự việc, hình ảnh và hoàn cảnh mà chúng ta có lẽ sẽ phải đi dần từ bất ngờ, e ngại đến bình thường hóa đó, xem nó như 1 trong những “câu chuyện” rất bình thường. Những nơi mà ta sẽ phải đến – không mong muốn, được mời đến – không thể từ chối, hãy tập làm quen và xem nó cũng tựa như nhà mình, không gần gũi than thuộc nhưng cũng sẽ ra vào hết sức thường xuyên, rất thản nhiên và vô tư lự.

Hôm nay, cháu sẽ viết để kể với chú về những nỗi buồn, những nỗi buồn mà người ta luôn bảo “rỗi hơi, những thứ ấy đã có ai đó lo rồi”. Buồn cho 1 ngày Chủ Nhật bẽ bàng. Buồn cho 1 sự chia rẽ vô cùng khó khăn hàn gắn. Và buồn cho 1 lòng tin đã mất không thể tìm thấy lại.

Chủ Nhật bẽ bàng? Chính xác là phải có đến 2 ngày, 10 tháng 07 và sáng hôm nay. 10 tháng 07, khi phần lớn các nhân sỹ đã quyết định chiều muộn hôm trước rằng hôm ấy sẽ tạm nghỉ biểu tình khi mà phía nhà nước đã có 1 hành động nhượng bộ đáng hoan nghênh đó là thôi không mời anh Nguyễn Văn Phương lên làm việc 8h sáng Chủ Nhật ngày 10 tháng 7. Một chút lòng tin vừa bùng dậy. Tuy vẫn còn mông lung, tuy vẫn còn mờ ảo nhưng nó đã hiện ra: 1 con đường đối thoại, 1 cử chỉ chấp nhận lắng nghe, 1 hành động tôn trọng và tiếp thu nguyện vọng nhân dân của cơ quan nhà nước. Nhưng từ cả 2 bên, đều đã không phải tất cả cùng cảm nhận và đồng lòng như thế. Bởi vậy mà, Chủ Nhật 10 tháng 07 biểu tình vẫn diễn ra nhưng chỉ èo uột trong khoảng 15 phút là bị dập tắt. Nên nhiều lúc cháu buồn, về phía nhân dân, với những ai không biết blog chú, hay blog nhiều người khác, hay những trang mạng loan truyền lời kêu gọi, thì họ vẫn đi là 1 lẽ thường. Nhưng có cả những người đã đọc được lời kêu gọi tạm nghỉ 1 ngày của các nhân sỹ, trí thức mà họ vẫn đi. Dĩ nhiên, yêu nước là quyền tự do cao cả hơn mọi quyền tự do riêng tư khác nên họ đương nhiên được quyền biểu hiện theo suy nghĩ của họ mà không ai có quyền chê trách. Và vẫn có rất nhiều cách lý giải, hợp tình và hợp lý. Cho nên. Không cần lý giải. Không thể chê bai, trách móc. Và đương nhiên buồn thì cũng không thể không buồn. Khi mà mỗi chúng ta trong hi vọng nuôi ý tưởng hình thành 1 nhận thức chung, xoay sở tìm cách bảo vệ tha nhân thì cũng lại vô tình tự hành động tách mình ra xa những người xung quanh khác.

Nó trở thành 1 cái cớ, 1 cái cớ mà cháu tin rằng khiến cho không chỉ đa số chúng ta mà cả những người thuộc cơ quan nhà nước thực lòng với quyết định nhượng bộ thôi mời làm việc với anh Nguyễn Văn Phương phải thấy buồn rầu. Trong khi, 1 lực lượng khác thì hí hửng, cười mừng cho cơ hội của Tàu, hay cười mừng cho chính bản thân họ đang bị chi phối trong mê hồn trận của Tàu. Và hôm ấy, rồi cả hôm nay, họ vung tay thoải mái. Với những cái cớ tự cho rằng hợp lý, cánh tay họ cứng rắn hơn, nặng nề hơn giáng xuống người yêu nước khi lương tâm đã bị che khuất để không còn là trở lực.

Cuộc đời không có “nếu”, và cháu nghĩ rằng dù cái hôm 10/07 ấy chúng ta có ứng xử thế nào thì ngày hôm qua cũng sẽ vẫn là như vậy. Ngày 13, 14 cháu theo dõi mỗi giờ về tình hình cuộc gặp giữa bộ ngoại giao và các nhân sỹ trí thức. Kết quả là không có, với sự việc được mô tả trên blog chú, được kể bởi Gs Nguyễn Huệ Chi. Niềm tin cuối cùng về 1 cử chỉ đối thoại, tiếp thu ý kiến, tâm tư, tình cảm giữa nhà nước và những trí thức đại diện cho nhân dân cũng đã tắt. Cộng thêm vào đó là tin tức về ngư dân Quảng Ngãi lại bị lính Trung Quốc tịch thu tài sản, đánh đập gần quần đảo Hoàng Sa, ngư dân Phú Yên lại bị tàu quân sự Trung Quốc bắt giữ và đánh đập ở vùng biển Trường Sa. Và thật tủi nhục làm sao khi mà Ủy ban nhân dân Tỉnh Phú Yên đã phải có Công điện khẩn cấp gửi Bộ ngoại giao đề nghị can thiệp thì tất cả vẫn chỉ nhận được sự im lặng mà thôi, kể cả dù chỉ 1 lời phát ngôn của bà Nguyễn Phương Nga cũng vắng. Phải chăng Bộ ngoại giao đã chỉ còn chơi với nước ngoài? Thế là lên lịch cho Chủ Nhật, định viết thư cho chú nhưng công việc túi bụi, cuống cuồng nên lại bẵng đi.

Sáng Chủ Nhật, đi mà không đến, lại thấy buồn nhớ câu hứa trong thư trước với chú rằng “Một hôm nào đó, khi Trung Quốc lại giở thói côn đồ và hành động bá quyền xâm lược, cháu sẽ lại tiếp tục đi và ngày hôm đó, Sài Gòn của cháu sẽ không chịu kém cạnh Hà Nội của chú nữa đâu.” Té ra, nói như thế người ta gọi là quá lạc quan và thiếu nhận định tình hình. Nhưng cháu vẫn tin không thứ gì có thể khống chế lòng yêu nước. Và 1 lần nữa, cảm ơn tất cả những bạn Sài Gòn, đã lại chứng minh điều không bao giờ sai ấy: nhốt bất kỳ ai là 1 việc quá dễ dàng, nhưng xiềng xích lòng yêu nước là không thể.

Nhưng, 17 tháng 07 – 2011 là 1 Chủ Nhật quá bẽ bàng, cho thứ tình cảm được định danh là Lòng Yêu Nước. Nếu như ở Sài Gòn, người ta có thể gọi những thanh niên xuống đường là bọn cơ hội, là thế lực thù địch, là bị kích động xúi giục rồi bắt giữ, mời làm việc là hành động còn có thể có chút lý lẽ thì việc làm ở Hà Nội đã vạch trần toàn bộ cái vỏ bọc bên ngoài ấy. Những nhân sỹ, trí thức như chú, như Ts Nguyễn Quang A, Gs Nguyễn Huệ Chi, Gs Phạm Duy Hiển, Ts Nguyễn Hồng Kiên, Nhà văn Trần Nhương… có lẽ nào cũng là bọn phản động hay bị xúi giục kích động hay sao. Vậy mà Hà Nội cũng tan tác thế, những hình ảnh không khác gì ngày 12 tháng 06 tại Sài Gòn đã tìm đến nơi đây – thủ đô Ngàn năm Văn Hiến. Nhưng nhờ thế những người yêu nước Sài Gòn đã được rửa oan. Họ có thể “ngây thơ”, họ có thể “bồng bột”, họ có thể “suy nghĩ đơn giản” và “không lường hết được hậu quả” như người ta nói, nhưng chắc chắn cháu khẳng định rằng họ vô cùng yêu nước, yêu nước rất chân thành. Lòng yêu nước của những con người nhỏ bé nhưng vô hạn và không thua kém bất kỳ ai.

Nghĩ tới họ, rồi nghĩ tới những người trấn áp thô bạo họ mà lại thấy đau lòng. Đau lòng thật, mà tại sao lại thế. Một lần nữa cháu lại phải đắn đo câu hỏi: bản chất Việt Nam là đấy hay sao?!
Tại ta không nói? Hay tại ai không biết? Hay người nào đấy cố tình biết mà làm như không biết? Những hình ảnh đó, sẽ để lại gì trong ánh mắt và suy nghĩ của bọn bành trướng Bắc Kinh – những kẻ đang ngồi chễm trệ trong phòng lạnh, xuyên qua những khung kính cửa sổ sáng bóng nhìn đoàn người Việt Nam hỗn độn nhễ nhại dưới nắng nôi tự bắt bớ lẫn nhau – không giống những hình ảnh bắt người theo Pháp luật. Đó mới là nỗi đau quặn thắt hơn tất cả những nỗi đau thể xác, đó mới là nỗi đau sâu lắng nhất trong tâm khảm con người - nỗi đau của lòng yêu nước bị giết chết, mà không phải bởi kẻ thù xâm lược. Một ngày khủng hoảng, một ngày thật bẽ bàng cho những người gọi là nhân dân có 1 lòng yêu nước không theo định hướng. Ai cũng cố chứng tỏ cái lý của họ, ai chứng tỏ không được thì áp đặt cái lý của họ và rồi đẩy những con người cùng chung một mẹ, cùng máu mủ ruột rà vào tình trạng đối đầu nhau.

Lúc này đây, những người đại diện cho quần chúng ở đâu? Tại sao họ không bao giờ xuất hiện? Quốc Hội ơi, đại biểu ơi, các ngài không xuất hiện, phải chăng là vì đang bận ráo riết soạn thảo luật biểu tình. Nếu được thế, những kẻ dân hèn này sẽ mừng rơi nước mắt và tạc dạ suốt đời. Còn nếu không phải vậy, thì xin quý vị hãy 1 lần, 1 lần thôi và thật ngắn gọn thoáng qua cũng được, đến và nói với những người đang thi hành mệnh lệnh của chính phủ rằng: là ý chí của dân như vậy, là dân đang thể hiện lòng yêu nước, tình đoàn kết, và biểu dương lực lượng để ủng hộ chính phủ trong những quyết định cứng rắn hơn, minh bạch hơn đấy chứ không phải là chống đối gì chủ trương, chính sách của nhà nước cả đâu. Nếu họa có chiến tranh, xin nhà nước cứ điểm danh bảo đảm tên tuổi những người này sẽ không ai vắng. Nhà nước biết tìm giải pháp đối phó với Trung Quốc bằng đàm phán ngoại giao để tìm đồng thuận, mà lẽ nào lại chẳng muốn đạt được đồng thuận với nhân dân bằng đối thoại sao? Trấn áp là phương thức giải quyết vấn đề không thể đạt được tôn trọng và tuân phục mà sẽ chỉ dẫn đến gia tăng căng thẳng, bất đồng. Nhưng lại đang là đối pháp duy nhất vậy. Đối thoại: nhà nước không cần, không muốn hay không dám? Với chính tổ quốc mình?

Mà nếu không thể tìm  ra biện pháp nào ngoài trấn áp, thì nhân dân cũng chỉ mong muốn 1 điều, xin hãy trấn áp chúng tôi bằng pháp luật. Quốc có quốc pháp, nhà có gia quy, xin hãy cứ theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật mà làm thì dân này cũng xin cam chịu. Các anh công an, cảnh sát, an ninh phải làm nhiệm vụ, cũng chỉ xin các anh nhớ giúp dân 1 điều rằng, quân có quân pháp, mệnh lệnh cấp trên là phải thực hiện. Nhưng còn 1 thứ mệnh lệnh  vươt trên mọi thứ mệnh lệnh khác đó là pháp luật và 1 mệnh lệnh tối cao trên cả Pháp luật là lương tri. Một thượng cấp có thể sẽ chủ quan, nóng nảy, sai lầm hay vì mục đích cá nhân khi ra mệnh lệnh, còn pháp luật là cả một hệ thống đã được xây dựng và áp dụng cho cả những người cao cấp nhất và lương tri là thứ để con người ta không hổ thẹn với chính bản thân mình. Nếu buộc phải bắt một người giữa đám đông, xin hãy đúng nguyên tắc pháp luật mà làm điều đó. Xin dừng vì phải bằng được làm cho xong nhiệm vụ mà có những hành động lạ thường, và xin đừng bảo rằng ấy là vì quan hệ ngoại giao. Ai cũng hiểu, muốn có được 1 thế đứng ngoại giao vững chắc thì trước tiên gia quy mình phải thật nghiêm minh.

Nhưng đâu phải một người, cũng đâu phải bây giờ mới nói… Thôi thì lúc này đây, ai còn tha thứ được cho ai thì cũng chỉ còn biết nghĩ thế mà bỏ qua và tiếp tục việc mình làm, cũng đành chỉ vậy. Lại lấy lý do nhiệm vụ, mệnh lệnh cấp trên mà cố vui vẻ, tươi cười với những người luôn nhìn ta bằng ánh mắt hình viên đạn vậy. Có gì đâu.

Phàm ở đời, lẽ công bằng nào lại chẳng cần đến sự thứ tha. Không có đức hi sinh, không có lòng vị tha, nhường nhịn thì mọi nền công lý, mọi lẽ công bằng xét cho cùng cũng chỉ là những bản án mà người ta sát phạt lẫn nhau khi quyền lợi cá nhân bị xâm phạm đến. Chẳng có tình người. Chú Diện ơi, từ nay, cháu sẽ không bao giờ kể lại hay mô tả về những cuộc mời mọc đầy kịch tính của những người phải thi hành công vụ nữa, cháu sẽ xem đó như 1 việc rất bình thường, có lẽ là 1 đặc điểm riêng khác biệt của xứ Việt Nam.

Chú biết không, cái tối thứ 7 mà nhận được tin cơ quan an ninh sẽ không mời làm việc anh Nguyễn Văn Phương vào sáng Chủ Nhật hôm sau ấy, cháu đã hết sức vui mừng. Chỉ là 1 tín hiệu rất nhỏ, nhưng nó làm bùng lên 1 tia hi vọng về lòng tin đã mất. Đất nước này đã đánh mất, đang khủng hoảng và cần nhiều lắm lắm niềm tin để hàn gắn những rạn nứt, những vết thương và những chia cắt của cả một lịch sử chiến tranh, 1 quá trình xung khắc trong nhận thức và những chiều hướng tiêu cực của 1 xã hội đầy rẫy khó khăn, phức tạp. Và rồi, cơ hội ấy đã không thể đến, tia sáng ấy đã bị khuất lấp đi thì khi chú thông báo trên trang blog Nguyễn Xuân Diện rằng, Bộ ngoại giao thông báo sẽ đối thoại với các nhân sỹ, trí thức, cháu lại 1 lần nữa đặt cược tất cả niềm tin của mình vào cơ hội ấy. Rồi cũng bất thành. Sao vậy nhỉ, Bộ ngoại giao có thể đàm phán với Trung Quốc dễ dàng đến thế, mau chóng đạt đồng thuận chung đến thế mà với chính dân mình thì khó đến vậy sao? Những điều tốt đẹp, lẽ nào vẫn cứ mãi chỉ là tưởng bở, ngây thơ? Lòng tin đã mất vẫn chưa thể tìm lại được, mọi nỗ lực rồi cũng chỉ là gió thoảng mây bay. Đất nước này vụn vỡ, khi niềm tin đã không còn được 1 sự nối kết nào, chính phủ đã thả nhân dân vào vô vọng. Vì sao?

Có lẽ nào, biết bao nhiêu niềm tin đặt vào giờ phút ấy, cho 1 sự hiệp thông, lắng nghe, trao đổi và chia sẻ để tạo nên một Việt Nam thực sự thống nhất lý trí, đồng tâm hiệp lực vẫn không đủ để chỉ 1 lần Bộ ngoại giao gửi giấy mời các nhân sỹ, trí thức vào phòng họp để trả lời những thắc mắc trong kiến nghị hay sao? Hay chỉ là thứ trưởng Hồ Xuân Sơn không thể công khai điều đó. Cơ hội vô cùng hiếm hoi cho 1 lần tìm lại lòng tin đã bị bỏ lỡ. Dân tộc này, rồi sẽ còn chia rẽ, tan rã trong cái vỏ bọc 36 năm thống nhất dài dài. Buồn lắm chú à.

Và 1 nỗi buồn âm ỉ khác, không đến từ kẻ thù xâm lược, cũng không đến từ những con người đang ở 2 phía mang nhiệm vụ trái ngược nhau -  mệnh lệnh cấp trên hay mệnh lệnh của lương tâm và lòng yêu nước. Nỗi buồn đến từ chính chúng ta, chính những người thuộc cùng tầng lớp nhân dân, quần chúng với nhau. Những khi rảnh rỗi, cháu thường luôn tranh thủ thu thập tin tức từ mạng Internet và bạn bè đã đưa link cho cháu đọc, về những bài viết của Bs Hồ Hải, Kami hay của Đông A, về những bài viết xung quanh hình ảnh biểu tình ngày 05 tháng 06. Bạn bè cháu bảo, họ đọc thấy liên quan đến cháu, mà thấy ấm ức nên muốn cháu là người trong cuộc, lên tiếng 1 lần. Nhưng cháu đọc xong, càng đọc càng thấy buồn, buồn đến chẳng nói được gì. Sao người Việt mình cứ mãi chia rẽ, hơn thua vậy chú? Bởi thế nếu trách những người phải thi hành công vụ kia 1, thì có lẽ ta nên tự trách chính mình phải gấp đôi lên. Trong thư trước, cháu đã tâm sự với chú về việc làm hôm đó của mình, về mục đích cuối cùng là xây dựng 1 Việt Nam thực sự thống nhất, đoàn kết một lòng trước kẻ ngoại xâm. Vậy mà có ngờ đâu, cũng chính hành động đó lại trở thành 1 tiêu điểm để chính phe mình phản bác phe ta. Tự do ngôn luận là quyền căn bản nên mọi người được thoải mái trình bày suy nghĩ của mình, nhưng nếu chúng ta thực sự mở lòng để cảm thông nhau nhiều hơn nữa, thì chắc sẽ bớt được rất nhiều thời gian tranh cãi và những lời nói khó cho nhau. Tổ quốc cần chúng ta và thời gian thực sự không nhiều, lãng phí là có tội. Cháu đọc các bài tranh luận đó xong, thấy người ta lại chia thành 2 phái rồi đả phá nhau, thậm chí cả tấn công cá nhân cũng có, sao lại thế? Cháu thì chỉ thấy rằng, ai cũng có lý lẽ của riêng mình, có suy nghĩ, cảm nhận và đánh giá của riêng mình. Dĩ nhiên là đã không cùng nhận định, lại ở vào hoàn cảnh khác nhau thì có những phán xét khác nhau là chuyện bình thường. Những phán xét, đánh giá ấy, dù đúng dù sai, xét cho cùng không phải là điều quan trọng nhất. Cháu nghĩ rằng điều quan trọng nhất là ta nên hiểu cho nhau, hiểu tại sao 1 người nào đó trong 1 hoàn cảnh nào đó lại nhìn nhận sự việc, vấn đề như vậy. Nếu được như thế, việc góp ý sẽ thật nhẹ nhàng và việc bỏ qua những khác biệt cũng sẽ dễ dàng hơn nhiều lắm. Tự do luôn là điều con người khao khát, nhưng nếu ngoài tự do cho bản thân mình chúng ta biết giúp tìm và tôn trọng tự do của người khác nữa, thì cuộc đời sẽ tươi đẹp và hòa nhã biết bao.

Cháu sẽ rất buồn khi nỗ lực của mình lại diễn biến theo chiều ngược lại. Cháu thấy Đông A cũng có cái lý của Đông A, dù lời lẽ thì có vẻ hơi nặng nề hay mang tính châm biếm, mỉa mai. Nhưng cháu vẫn luôn nghĩ rằng, khi nhìn một con người thì hãy mở lòng mở trí của mình để nhận thấy những điểm đáng và cần học hỏi ở con người ấy, chứ xin đừng mang tâm lý dò xét để bắt lỗi nhau. Dù không quen biết, cũng là lần đầu tiên đọc những bài viết của tác giả Đông A, nhưng cháu tin cháu cảm nhận được con người này và hiểu được ông ấy muốn chia sẻ những gì. Chỉ có điều, nếu tác giả Đông A có vào đọc blog chú Nguyễn Xuân Diện, xin hãy cho cháu nhắn gửi lời này: Người ngoài cuộc thường sáng suốt hơn, nhưng sẽ không bao giờ có được trọn vẹn suy tư và cảm giác của người trong cuộc. Nếu bác hay chú Đông A gì đó muốn trình bày quan điểm trọn vẹn hoàn chỉnh về những cuộc biểu tình chống Trung Quốc vừa qua thì xin hãy một lần xuống đường như thế, bằng tất cả cảm xúc, nhận thức, suy nghĩ, trăn trở của mình và gạt bỏ mọi thứ ở xung quanh thì cháu tin, khi trở về bác (chú) Đông A sẽ có thêm nhiều cách nhìn trải nghiệm. Và chắc chắn sẽ hiểu được cái cảm giác: dù bác đi 1 mình, đi bằng “sự tự do nội tại riêng mình”, dù không quan tâm đoái hoài gì bất kỳ người nào khác, nhưng bác sẽ thấy chính mình gắn kết với họ bằng một lực hút vô cùng mạnh mẽ, không thể tách rời. Đó là hào khí thiêng liêng của lòng yêu nước, thứ ấy sẽ cuốn trôi tất cả những gì gọi là trí thức độc lập, sáng suốt rời rạc hay tỉnh táo một mình, chúng ta sẽ được cuộn vào dòng chảy và bất chấp xa thân tất cả cho một cảm xúc rất chung, cho mọi người bên cạnh. Xin hãy thử cảm nhận 1 lần, bác sẽ thấy những giây phút hạnh phúc lớn lao ấy đủ để có thể tha thứ cho những lỗi lầm nhỏ bé phát sinh. Và cái cách người ta siết chặt tay nhau cùng chịu trách nhiệm, cùng khắc phục hậu quả nếu có sai lầm sẽ là những phút giây bất tử. Còn nếu chỉ đứng ngoài, thì cho dù có là người xuất chúng và sáng suốt đến đâu, chắc chắn một số nhận xét theo chiều hướng thiếu tích cực vẫn sẽ là coi thường hay nặng nề hơn là chà đạp danh dự người trong cuộc. Chúng ta cần thật nhiều những tranh luận để khai sáng vấn đề, đồng thời cũng cần thật nhiều những tình cảm ấm áp, hòa nhã, bao dung để không tách rời nhau. Nếu không, nỗi buồn chia rẽ sẽ chẳng bao giờ chấm dứt và dù có uyên bác bao nhiêu, chúng ta cũng sẽ phải chết trong cái lặng lẽ cô đơn trí thức của mình.

Đất nước đã Nam – Bắc một nhà, thì xin hãy giúp lòng người thôi ly tán. Sự đoàn kết của chúng ta sẽ làm cho kẻ thù run sợ, sẽ làm chúng kinh khiếp hãi hùng mà tắt ngấm những nụ cười đểu giả và toan tính gian tà. Xin hãy làm cho Việt Nam là như thế.

Nỗi buồn đã quá nhiều, xin cho cháu gửi mấy lời vui chia sẻ. Xin cho cháu cảm ơn thật nhiều các bác, các chú, các cô, các anh, các chị và các bạn đã chia sẻ với cháu thật nhiều trong bức thư qua. Cháu vô cùng cảm động và hạnh phúc vì biết rằng mình không bao giờ phải cô đơn. Cảm ơn tất cả mọi người nhiều lắm. Cháu cảm ơn Gs Hoàng Xuân Phú thật nhiều.

Đặc biệt là cháu xin gửi riêng lời cảm ơn xúc động đến bác Phạm Chuyên, cảm ơn bác đã cho cháu niềm tin vào một điều tốt đẹp. Bác đã từng là Thiếu tướng công an, từng là Giám đốc công an Hà Nội nhưng bác đã hòa mình vào và thấu hiểu tấm lòng của những người dân nước Việt thì cháu tin rằng, những người chiến sỹ công an đang phải làm nhiệm vụ những Chủ Nhật qua rồi cũng sẽ có ngày họ hiểu được nhân dân như bác. Ngày ấy, Việt Nam ta sẽ tươi sáng hơn nhiều.

Những việc bác đã làm vừa qua, những dòng tâm sự bác đã gửi gắm đến mọi người đã là những giá trị để giúp cháu tin rằng rất nhiều người công an Việt Nam đều mang trong họ những suy tư như vậy. Cho nên, nếu vì nhiệm vụ mà họ buộc phải khó chịu với mình, thì ta hãy vì hoàn cảnh của họ mà thông cảm nhiều hơn chút vậy. Chỉ mong các anh, các chú công an đừng trút những bực dọc, nóng nảy của một ngày không được nghỉ lên những con người chân thành yêu nước như hình ảnh ngày 12 tháng 06 tại Sài Gòn và ngày 17 tháng 07 tại Hà Nội vừa qua thêm nữa. Những người đi tuần hành, biểu tình cũng bởi vì yêu nước, các anh xin cũng hãy là những người làm nhiệm vụ cho quê hương.

Thư viết cho chú từ tối hôm Chủ Nhật, đến bây giờ mới có thể dừng mà trong lòng vẫn còn rất nhiều cảm xúc.

Cháu cảm ơn chú Diện thật nhiều, trong nỗ lực truyền tải thông tin những ngày qua cũng như những hành động góp sức cùng các bậc nhân sỹ, trí thức để vận động xã hội nhằm thúc đẩy đất nước tốt đẹp hơn. Chân thành cảm ơn chú và tất cả các bậc nhân sỹ nước Nam.

Kính chúc chú và tất cả những nhân sỹ, trí thức, cùng toàn thể những người yêu nước Việt Nam sức khỏe dồi dào, tin thần kiên định, lý trí vững vàng. Chúc tất cả chúng ta sớm đạt được những ước mơ trong sáng và cao đẹp.

Tổ quốc chúng ta sẽ giàu đẹp, dân tộc chúng ta sẽ trường tồn.

Sài Gòn, 19 tháng 07 năm 2011
Cháu
Một Người Việt Nam
-->đọc tiếp...

THƯ GỬI NHÂN SĨ HÀ TÂY

18.07.2011
Thư gửi Nhân sỹ Hà tây

Lê Dũng 

 

Thưa các Cụ, các Bác, các Chú, các Anh, các Chị là người Hà tây, 

 

Tôi là một người con của Hà Tây quê lụa, Ứng hòa là quê hương bản quán, có mồ mả Tổ Tiên từ 600 năm để lại. Theo sử chép thì Ứng hòa còn có trước khi Vua Lý rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long bây giờ.


Địa linh nhân kiệt tuy vẫn hơi nghèo so với các huyện khác bây giờ, nhưng có sao đâu - quê tôi đẹp lắm. Nếu như không sáp nhập vào Hà nội thì giờ đây, cứ sáng ra là tôi lại được nghe bài hát của Nhạc sỹ Lai Vu trên đài phát thanh truyền hình Hà tây : " Hà tây, cửa ngõ Thủ đô - cô gái Suối hai chàng trai Cầu Giẽ..."

Thực ra thì chưa bao giờ tôi có ý nghĩ là sẽ viết thư thế này cho Người Hà tây, chỉ bởi vì ngày 17.7 vừa qua, được chứng kiến cảnh nhồi da xáo thịt giữa thanh thiên bạch nhật giữa Thủ đô, nó đã khiến tôi nảy ra ý này.

Cũng bởi Hà Tây "Đất thiêng nảy sinh nhân tài " ( theo lời trong bài hát : về Hà tây) nên quê tôi đã có nhiều nhân tài và hào kiệt. Xưa là đất có hai Vua, nay không còn Vua thì có nhiều quan lớn, quan võ, quan văn, quan nghệ sỹ, quan báo...nhiều vô kể.

Giá như tôi được học nghề viết văn như anh Hoàng Minh Tường cạnh làng tôi, hay như anh Nguyễn Quang Thiều cùng huyện, hoặc là học nhạc như Lê Minh Sơn nhạc sỹ...để có thể viết văn hay, dùng năng khiếu của mình để viết ra những áng văn, dòng nhạc ai oán của hôm nay.

Thưa anh Nguyễn Đức Nhanh - Giám đốc công an Hà nội bây giờ, nhà anh cách nhà em vài cánh đồng, con cháu em lấy vợ lấy chồng bên làng anh cả lũ, kiểu nhà quê mình họ hàng nửa làng chắc kiểu gì chả có dính dáng họ hàng ( !). Anh ạ, hôm rồi em và con gái đi biểu tình bị đám lính của anh "đánh cho vỡ mặt" - như thằng Tàu nói trong clip của đài Phượng hoàng gì đấy. Lính của anh tẩn em như tẩn một tên tội phạm, ném con gái em 11 tuổi lên xe buýt như ném bao hàng.

Thưa anh, vì Tổ quốc, vì Nhân dân nên em coi đó chỉ chỉ kiếp khổ kiếp nạn của cá nhân. Chỉ khi xem tận mắt cảnh mấy lính áo xanh và một thằng áo phông vàng - mà em biết rõ nó là lính của anh Ca, phó an ninh Hoàn kiếm - đã đạp thẳng vào mặt thằng cu Đức khi nó đang bị khiêng tới cửa xe buýt. Em bàng hoàng đến đơ cả người ra, em cứ tưởng đây chỉ là giấc mơ không có thật. Tỉnh lại, em nghĩ là : có thể tới đây, Hà nội mình sẽ bị tòa án Liên hợp quốc hỏi han, đưa ra các bằng chứng chống lại loài người của lính dưới quyền của Anh. Anh hãy thử xem clip đó một lần, nếu Anh vẫn là Người Hà Tây quê lụa thì em nghĩ anh cũng có những cảm xúc như em : uất hận !

Anh ạ, mộ tổ, nhà thờ họ của Anh và em đều đang nằm ở Ứng hòa, em không bao giờ nghĩ mình sẽ rời xa Quê để đi đâu đó sống vì em là con trưởng, hương khói cho các Cụ là việc phải làm.

Anh Nhanh ạ, Anh là người mà em xin gửi những chia xẻ đầu tiên, cũng cho phép em được gửi những tâm sự này đến anh em an ninh Hà nội, nhiều người Ứng hòa và là người thân của em.

Thưa anh Uy - nguyên Phó tổng Giám đốc TTXVN, tuy anh đã về hưu nhưng em vẫn rất nhớ anh, những ngày được làm việc cùng anh cách đây chục năm, khi xây dựng tòa nhà của TTX, em được anh chỉ bảo rất ân cần. Khi ấy anh cũng đã không còn khỏe như thanh niên bọn em nhưng cũng từng họp hành giải quyết nhiều công việc với anh em dự án, không quản ngoài giờ, ngày nghỉ để phục vụ việc chung.

Em buồn lắm khi thấy TTXVN của mình đưa tin tàu hải giám của Tàu tới Trường sa mà cứ như đưa tin của ta vậy. Đã thế vài ngày sau lại dắt díu nhau sang đó, chả hiểu làm gì ?

Thưa các anh nhà văn : anh Tường, anh Thiều kính mến. Suốt từ đầu tháng 6 đến nay, chỉ vì phải xuống đường cùng bà con để biểu tình phản đối bọn Tàu xâm lược mà em không còn được cùng ra quán cà phê chỗ quận Hà đông để uống cùng quán với anh Thiều. Tiếc lắm anh ạ, nhưng ra Cột cờ em lại được gặp anh Nguyên cũng Nhà văn, bác Đào cũng Nhà văn, em được sát cánh kề vai bên các bác và các anh ấy cùng Nhân dân hô vang tiếng lòng mình, hy vọng xua đuổi được tà ma của Đất nước. Em lâu rồi không được gặp và đọc các tác phẩm của các anh viết, chả nhẽ chưa có hứng để viết sao anh ? các anh hãy xuống đường cùng em một lần, em đảm bảo nếu không có tác phẩm cả ngàn người đọc thì em xin bé bằng ...con kiến.

Thưa bạn Lê Minh Sơn nhạc sỹ, tôi mê những tác phẩm của bạn lắm. Tôi đã sởn da gà khi nghe Thanh Lam hát bài " Ôi quê tôi" do bạn sáng tác ! hay tôi và bạn là đồng niên nên cảm xúc có vài cái giống nhau ?

Được " tẩn " bởi lính của anh Nhanh hôm rồi, tôi nằm nhà hôm sau vì đau và cứ hát bài ấy của bạn. Chiều qua, khi xem clip thằng Đức sinh năm 76, kém anh em mình nửa giáp bị lính anh Nhanh "tẩn" và đạp chân vào mặt khi còn bị ba đứa khác khiêng mà mình cả đêm không ngủ. Nước mắt cứ trào ra, vợ bảo ông bị sốt rồi. Thề có trời cao đất dày, mình thương Quê, thương Hà nội quá, giữa ban ngày ban mặt mà các anh em của mình cứ giết nhau. Hay mái nhà trong "Quê tôi" của Sơn đã dột ?

Sơn hãy viết tiếp đi Sơn ơi, viết lên tiếng khóc của mình... viết đến đây quả thực mình lại khóc nữa. Nghiến răng cho hết, mong Sơn có những tác phẩm mới, trong đó có tiếng la, tiếng khóc, tiếng than, tiếng oán , tiếng còi hú, tiếng còi huýt, tiếng chửi mắng của côn đồ, tiếng phân trần của trí thức - các bậc Thày của mình, nguyên khí của Quốc gia ...đang đứng dưới đường, dưới chân Cột Cờ để Ái Quốc.

Thưa anh Diện - Tiến Sỹ Hán Nôm và các bạn đồng nghiệp, Đường Lâm quê anh là đất Vua Cha, từng viên đá ong còn ghi dấu lịch sử oai hùng. Làng cổ tuy không còn nguyên vẹn nhưng đức hạnh của những người con Đường Lâm vẫn không hề bị mai một. Suốt từ đầu tháng 6 đến giờ, cả Đất nước chứng kiến những hành động cao cả, đẹp đẽ của anh cùng các Nhân sỹ của Đất nước, liên tục lo lắng cho vận mệnh Quốc gia trước họa xâm lăng của Tàu cộng. Lịch sử đã ghi nhận và lịch sử sẽ tiếp tục ghi nhận anh và các bạn của anh, những Trí thức thực sự của Quê hương, của Đất nước - các anh không ngủ bao giờ.

Còn nhiều Người con của Hà Tây nữa mà tôi chưa có duyên được biết, được gặp. Xin thưa rằng : Quê hương chúng ta đang gặp hoạn nạn, giặc chưa đến mà đồng bào đã bị giết bởi đồng bào, các bạn nghĩ sao? các bạn sẽ nghĩ gì nếu các bạn có những đứa con nghịch tử, chỉ biết cướp thuê, đánh thuê, bóp cổ ngay cả Ông Bà Cha Chú Anh Chị của mình?

Tôi viết mà vẫn lo mình thô lỗ, không học viết nên cứ tào lao. Chỉ mong gửi đến những Nhân sỹ, những người con của Quê hương sẽ đọc được những tâm tình này. Để cùng suy nghĩ, chia xẻ, hành động đúng với lương tâm, đúng với luật pháp, đừng để mình phải hổ thẹn với tiền nhân và con cháu chỉ vì chút danh hão, vài đồng tiền dơ bẩn.

Tôi thấy bên Pháp họ đặt tượng Sacozi và đúc dưới chân dòng chữ: "Đừng vì tiền mà làm hỏng thanh danh của mình !". Câu đó xin được chép để tôi mang về treo trên tường, cho con cái đọc hàng ngày cùng với dòng chữ: "Mình là Người Hà Tây quê lụa".

Vài dòng kính gửi các Nhân sỹ, gửi Người Hà tây cho vợi cõi lòng. Nay Hà Tây không còn nhưng Hà Nội sẽ là Quê mới, truyền thống đất thiêng nảy sinh nhân tài sẽ được hòa chung với Hà nội thanh lịch hào hoa, ngàn năm văn hiến. Để không còn cảnh người giết người giữa ban ngày, cảnh sát " tẩn" Dân chỉ vì Dân Ái Quốc.
.
Kính thư,
Lê Dũng
Nguồn: Lê Dũng-Blog

-->đọc tiếp...

HÃY NHANH ĐẾN ĐỊA ĐIỂM PHÂN PHỐI ÁO THUN ỦNG HỘ NGƯ DÂN BÁM BIỂN


Địa điểm phân phối áo thun ủng hộ ngư dân bám biển tại Hà Nội:
Số 19C Lê Văn Lương - Quán cafe Cơm Việt - Hà Nội. 

Ngoài ra khách hàng có thể chuyển tiền vào TK và cầm phiếu chuyển tiền đến nhận áo tại Địa chỉ trên. Thông tin TK như sau:

1. TK Công ty Cổ phần TM & DV Sài Gòn Truyền Thông.
Số TK 007.100.2381488 NH VCB chi nhánh TP HCM

2. TK Qũy Hỗ trợ Phát triển Giáo Dục
Số TK 001.234.230001 NH Đông Á Chi nhánh Đinh Tiên Hoàng TP HCM.

Trân trọng cảm ơn các anh chị đã ủng hộ ngư dân bám biển!
_______________
Xin chân thành cảm ơn một nhân sĩ Sài Gòn đã tặng 50 áo phông 
cho những người tham gia biểu tình tại Hà Nội.

-->đọc tiếp...

ĐỀ NGHỊ XEM LẠI HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG QUỐC HỘI

Ông Trần Đình Đàn, Chủ nhiêm VP Quốc hội. Ảnh: PL tp HCM

ĐỀ NGHỊ XEM LẠI HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG QUỐC HỘI

Thưa chư vị, 

Theo báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh: Chiều 19-7, tại cuộc họp báo công bố chương trình kỳ họp thứ nhất, Quốc hội (QH) khóa XIII (từ ngày 21-7 đến 8-6) do Văn phòng QH tổ chức, ông Trần Đình Đàn, Chủ nhiệm Văn phòng QH, đã trả lời các câu hỏi của báo chí xung quanh những nội dung quan trọng của kỳ họp lần này. 

Trong đó có câu hỏi như sau:
Hỏi: Thưa ông, hiện trên mạng đang lưu truyền bản kiến nghị của các nhân sĩ về bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay gửi đến QH, Ủy ban Thường vụ QH. Vậy đến nay QH đã nhận được chưa và việc giải quyết kiến nghị này như thế nào?
Trả lời: Đến nay chúng tôi chưa nhận được bản kiến nghị trên nên chưa thể nói gì được.
Sáng nay, 20 tháng 7 năm 2011, Giáo sư Chu Hảo và tôi đã đến Bưu điện - nơi chúng tôi gửi Kiến Nghị bằng đường Phát chuyển nhanh, thì được các nhân viên Bưu điện cho biết:

1- Phong bì thư chứa 16 thư gửi cho các ủy viên Thường vụ Quốc hội đã được chuyển đến Văn phòng Quốc hội lúc 10h ngày 14 tháng 07 năm 2011. Người ký nhận thư là Ông KHÔI.

2- Phong bì thư chứa 02 thư gửi cho ông Đào Trọng Thi và bà Trương Thị Mai (đều là ủy viên Thường vụ Quốc hội) đã được chuyển đến nơi làm việc là 35 Ngô Quyền lúc 10h ngày 14 tháng 07 năm 2011. Người ký nhận thư là bà NHUNG.

Chúng tôi đang yêu cầu phía Bưu điện cung cấp biên bản ký nhận thư của Văn Phòng Quốc hội.

Chúng tôi cũng đã hỏi và đã có 1 số vị Ủy viên Thường vụ Quốc hội xác nhận đã nhận được Bản Kiến nghị Về Bảo vệ và Phát triển đất nước trong tình hình hiện nay của 20 nhân sĩ trí thức.

13h50 ngày 20.07.2011, Bưu điện cung cấp chữ ký xác nhận của
Văn Phòng Quốc hội:

Ông Khôi ở Văn Phòng Quốc hội ký xác nhận đã nhận Kiến nghị
 

Bà Nhung xác nhận đã nhận bản Kiến nghị gửi Ông Đào Trọng Thi và bà Trương Thị Mai
 Như vậy, ở đây cần phải xem lại hoạt động của Văn phòng Quốc hội và trách nhiệm của Ông Trần Đình Đàn - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội!
Chu Hảo - Nguyễn Xuân Diện


-->đọc tiếp...

BÁO ĐẠI ĐOÀN KẾT LÊN TIẾNG VỀ "CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG"

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (20/07/2011)

Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 
Đảo Núi Le thuộc quần đảo Trường Sa

Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
"Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược "lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

Ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ. 

Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH –Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em”. Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.
 
Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên. Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
 
Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.
 
 
Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa
 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do. Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại "estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại "estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án "Ngôi đền Preah Vihear”...

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ "nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu "miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.

Nhóm PV Biển Đông
-->đọc tiếp...