Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2011

HÀ NỘI: BIỂU TÌNH TRƯỚC TRỤ SỞ ĐÀI TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI

Hình ảnh biểu tình trước trụ sở Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội sáng 21.10.2011. Ảnh: Ba Sàm

Từ 10h25, đoàn người biểu tình, trong đó có một số nhân sĩ trí thức đã tuần hành từ tượng Đài Quang Trung sang Đài Truyền hình Hà Nội để đòi Công Lý - Thanh Danh - Nhân phẩm, hỏi tội tên tội đồ Trần Gia Thái và đồng bọn.

Được biết trong đoàn có Nhà Văn Phạm Đình Trọng, Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải, nhà nghiên cứu Quỳnh Hương, và một số luật sư....

Công an được trang bị súng, đã được điều đến, với số lượng khá đông....

Dưới đây  là tường thuật của TTX Vìa hè Anh Ba Sàm:

9h45′ – Hiện có khoảng 30 “biểu tình viên” tập trung ở Tượng đài Quang Trung, thắp hương, căng biểu ngữ “Hãy tôn trọng sự thật!”, “Đòi công lý”, và đang chuẩn bị kéo tới Đài PTTH HN.

10h25′ – Một cuộc biểu tình kiểu mới sắp diễn ra trước trụ sở Đài PTTH-HN (và có thể sẽ có nhiều cuộc nữa trong thời gian tới):

 
“Mẹ Việt Nam anh hùng thời chống … bành trướng”

Chuẩn bị

 
Lên đường!
Trên đường Thái Hà

Trước Đài PTTH-HN

Cám ơn blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh đã kịp thời gửi ngay từ “mặt trận”(chống bành trướng) 
những hình ảnh này

10h40 – Đoàn đang có mặt trước trụ sở Đài PTTH-HN. Công an cũng đã kéo tới khá đông, đang giật khẩu hiểu của người biểu tình … Đặc biệt lực lượng giữ trật tự này có cả súng (chắc rút kinh nghiệm của Gaddafi?).

 
Có lẽ “súng” là của lực lượng cảnh sát bảo vệ thường xuyên khu vực này, không phải của lực lượng được điều tới “giữ trật tự”

11h15′ – Phía Đài PTTH-HN đã mời 3 đại diện của những người biểu tình vào trụ sở và trả lời sẽ trình lãnh đạo yêu sách của người biểu tình, vì tuần này GĐ Trần Gia Thái đi vắng.

 
Một trong ba vị đại diện vừa ra khỏi trụ sở Đài

Nguyễn Xuân Diện: Được biết, mặc dù lực lượng công an được điều đến rất hoành tráng có trang bị súng nhưng có cư xử khá nhẹ nhàng, ôn hòa. Được biết, công an có giật một số biểu ngữ, nhưng không có phát súng nào được nổ. 

Hết

Nguyễn Xuân Diện-Blog nhận tin và post bài từ Quân y viện Sơn Tây


TIN NÓNG: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA TRẢ LẠI HỒ SƠ VỤ KIỆN

Trước tượng đài Quang Trung, trong giờ xuất phát tiến sang Đài Truyền hình Hà Nội. Ảnh: Ba Sàm
Thưa chư vị,

Như chư vị đã tường, 09h00 sáng nay, Toà án nhân dân quận Đống Đa, nơi nhận đơn khởi kiện Đài Phát Thanh và Truyền hình Hà Nội, đứng đầu là Ông Trần Gia Thái- Giám đốc kiêm Tổng Biên tập vu khống các nhân sĩ trí thức và đồng bào yêu nước - hẹn sẽ trả lời về việc có hay không thụ lý vụ kiện. Đây là lần gặp mặt thứ 5 giữa toà và những người khởi kiện.

Đúng 09h00 sáng nay, rất đông công dân yêu nước đã đến để trực tiếp theo dõi về việc trả lời của toà án.

Hiện đã có 05 người vào bên trong toà, gồm các ông: Lê Dũng, Nguyễn Đăng Quang, TS Nguyễn Văn Khải và các LS Hà Huy Sơn, Lê Quốc Quân. Mười người khác chờ ngoài cửa, số còn lại đang ngồi đợi tại chân tượng đài Hoàng Đế Quang Trung gần kề bên toà án.

Toà án Nhân dân quận Đống Đa trả lời chính thức: Toà trả lại HỒ SƠ vụ kiện vì "NGƯỜI KHỞI KIỆN KHÔNG CÓ QUYỀN KHỞI KIỆN".

Lúc này, một cuộc biểu tình đang sắp sửa nổ ra, đòi CÔNG LÝ và đòi THANH DANH cho những người yêu nước Lương thiện, chính nghĩa.

Toàn văn văn bản trả lời của Tòa án Nhân dân Quận Đống Đa:




Nguyễn Xuân Diện - Blog nhận tin và post bài từ Quân y Viện Sơn Tây

.

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

GS HÀ MINH ĐỨC SẮP ẴM CÚ ĐÚP GIẢI THƯỞNG HỒ CHÍ MINH?

GS. Hà Minh Đức sắp được hai giải thưởng Hồ Chí Minh về một công trình không phải khoa học, cũng không phải văn học

Trần Mạnh Hảo

Trong danh sách các tác giả được giải thưởng văn học Hồ Chí Minh năm 2011 (HCM), do http://lethieunhon.com đưa, thấy giới thiệu về GS. Hà Minh Đức như sau: “Cụm tác phẩm thơ văn báo chí Hà Minh Đức, cụm tác phẩm văn hóa nghệ thuật”. Như vậy, G.S. Hà Minh Đức sẽ được giải thưởng văn học Hồ Chí Minh toàn bộ tác phẩm của mình.

Nếu thơ của GS. Hà Minh Đức được giải thưởng văn học HCM thì đấy là một cách tốt nhất để hạ bệ các nhà thơ từng được giải này như: Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…Vả, nếu thơ của GS. Hà Minh Đức được giải văn học HCM, chắc chắn sẽ tạo tiền đề cho thơ của các ông Hồng Vinh, Trần Gia Thái giật giải văn học HCM đợt sau (vì thơ hai ông Vinh và Thái đều đã được ông Hữu Thỉnh bốc thơm). 

Trong bài viết này, chúng tôi xin phê bình cuốn giáo trình của GS. Hà Minh Đức: “Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều loại hình phong phú” để chứng minh nó không phải là tác phẩm văn học, cũng không phải là tác phẩm mang tính khoa học, sao lại được hai giải thưởng văn học HCM, khoa học công nghệ HCM ?

Trước khi vào bài viết, xin quý bạn đọc tham khảo tin GS. Hà Minh Đức sẽ được hai giải thưởng HCM trong năm 2011 này: giải văn học và giải khoa học công nghệ cho cùng một công trình (cùng những cuốn sách). Đây là thông tin của báo Văn hóa online:

Về thông tin: “Một tác giả được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh ở cả hai lĩnh vực VHNT và KHCN” (17/10/2011) 

VH- Sau khi Báo Văn Hoá số 2063 ra ngày 7.10.2011 đăng tin: “Một tác giả được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh ở cả hai lĩnh vực VHNT và KHCN”, nhiều bạn đọc đã gọi điện về toà soạn đề nghị cho biết rõ hơn về trường hợp của GS Hà Minh Đức như tin đã đưa. 

Đa số các câu hỏi xoay quanh vấn đề: “Cùng một tác giả có 3 công trình trùng nhau trong đề cử giải thưởng ở 2 lĩnh vực khác nhau như vậy có đúng với quy định hay không?...”. 

Để có cơ sở trả lời bạn đọc, phóng viên Văn Hoá đã liên lạc với đại diện Bộ KHCN - cơ quan thường trực của Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2010. Trả lời về vấn đề này, ngày 15.10.2011, đại diện Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên- Bộ KHCN cho biết đã báo cáo về trường hợp của GS Hà Minh Đức lên Chủ tịch Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2010 là TS Nguyễn Quân- Bộ trưởng Bộ KHCN.
.
Ảnh - Những công trình của GS Hà Minh Đức được đề cử ở cả hai lĩnh vực 

Vị đại diện này cho biết, sau khi đối chiếu, so sánh danh mục các công trình được đề cử Giải thưởng Hồ Chí Minh ở 2 lĩnh vực công bố công khai theo quy định, đúng là có một số công trình của GS Hà Minh Đức được đề cử ở cả 2 lĩnh vực (đó là các công trình Sự nghiệp văn thơ Hồ Chí Minh; Báo chí Hồ Chí Minh, chuyên luận và tuyển chọn; Một nền văn hóa, văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú-P.V). 

Dự kiến, tuần này Hội đồng sẽ có cuộc họp xem xét về trường hợp này- vị đại diện này cho biết. 

P.V 
Cùng những cuốn sách (công trình), sao tác giả Hà Minh Đức lại xin xét giải thưởng ở hai nơi, ở hai hội đồng: khoa học công nghệ và văn học để xin được giải thưởng HCM ?

Một tác phẩm mang tính khoa học công nghệ, hầu như không phải là tác phẩm văn học và ngược lại. Trừ những công trình, những cuốn sách có tính cắm mốc về giáo khoa văn học, về lý luận và phê bình văn học không chỉ thuần mang tính phổ biến kiến thức mà còn hấp dẫn với tính thẩm mỹ cao, đưa ra những phát hiện mới mẻ mang tính sáng tạo mới, khái quát cao có thể vừa là khoa học vừa là văn học. Những cuốn sách như vậy ở nước ta hơi bị hiếm, trừ một số công trình của GS. Dương Quảng Hàm, Hoài Thanh, Nguyễn Hiến Lê…

Xin quý bạn đọc cùng chúng tôi khảo sát cuốn giáo trình “Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú” (NXB Khoa học xã hội -2005)
Tiêu đề cuốn sách này của GS. Hà Minh Đức là một mệnh đề của nghị quyết, được lặp đi lặp lại trong các nghị quyết của đảng cộng sản Việt Nam: “Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”:

“16. NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ NĂM BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA VIII) VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC - Số 03/NQ-TW ngày 16/7/1998” 

Cuốn sách 277 trang, gồm năm chương và một số bài báo lẻ của GS. Hà Minh Đức này nhằm triển khai tinh thần nghị quyết đảng trong văn hóa văn nghệ, chứng minh cho nghị quyết đảng về văn hóa là hết sức đúng đắn và sáng suốt vô cùng. Hầu như trong toàn bộ cuốn sách, GS. Hà Minh Đức chưa có một sự sáng tạo cá nhân, phát hiện những yếu tố mới mang tầm khái quát mới về văn hóa văn nghệ, mà toàn lặp lại những ý có sẵn trong nghị quyết, hoặc nhắc lại ý kiến những tác giả khác. Lối hành văn là lối viết giáo trình, khô khan, buồn tẻ, thậm chí nhạt nhẽo, viết ra cốt chỉ nhằm minh họa nghị quyết; ví dụ:

“Điều quan trọng nhất đối với một nền văn hóa là hai yếu tố TIÊN TIẾN và ĐẬM DÀ BẢN SẮC DÂN TỘC (chữ in hoa là chữ của nghị quyết đảng-TMH nhấn mạnh).Tiên tiến nói lên trình độ cập nhật, tiêu biểu, định hướng đúng đắn về tương lai, chất lượng hoàn thiện và cao đẹp của một nền văn hóa, cái thế chiếm lĩnh, vươn tới của văn hóa. Đậm đà bản sắc dân tộc nói lên đặc điểm bản chất của một nền văn hóa dân tộc, cái tương đồng và khác biệt đối với một nền văn hóa khác, tinh hoa và sự quy tụ của văn hóa dân tộc, sự tồn tại bền vững những giá trị riêng, không thể pha trộn, hòa lẫn với các cộng đồng khác. Nền văn hóa Việt Nam được xem là nền văn hóa có bản sắc. Ở một tiểu vùng mà văn hóa của một vài nước lớn dễ chi phối, o ép ảnh hưởng, và có xu thế đồng hóa bộc lộ rõ các quan hệ giao lưu ở các thời kỳ lịch sử, nhưng văn hóa Việt Nam vẫn tồn tại bền vững và có bản sắc”…(trang 11)…” Từ sau cách mạng tháng tám, khi nhân dân đã có ý thức sâu sắc về quyền làm chủ vận mệnh của mình và từng năm tháng thoát dần khỏi cảnh đói nghèo, thì cái tâm , cái thiện, cái mỹ ngày càng nảy nở trong cuộc sống. Người tốt việc tốt trở thành quen thuộc, phổ biến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhạy cảm và sớm chỉ ra hướng động viên và giáo dục mọi người bằng những tấm gương người tốt việc tốt là có cơ sở xã hội và có căn cứ thuyết phục về đạo lý” (trang 63)….” Đường lối văn nghệ của đảng đã chỉ rõ phương hướng khai thác và tiếp nhận di sản văn hóa văn nghệ. Từ sau cách mạng, chúng ta bước đầu luận bàn vấn đề này. Hòa bình lập lại, những hình thái khai thác , phục hồi, cải biên vốn cổ được tiến hành với tinh thần nghiêm túc, khoa học. Tuy nhiên, nhiều vấn đề vẫn đang còn ở phía trước. Khôi phục truyền thống, nhưng khôi phục xong rồi sẽ phát triển chúng theo hướng nào, phát huy những giá trị truyền thống với thời hiện đại như thế nào ? Không tránh khỏi nhiều giá trị văn hóa truyền thống như bị đóng băng không phát huy được vào việc nâng cao nhận thức và cảm hóa người đọc hôm nay” (trang 215)… 
(hết trích)

Có thể nói, lối hành văn trong cuốn sách này của GS. Hà Minh Đức là lối hành văn báo chí, văn nghị quyết…không phải lối viết mỹ cảm đầy chất văn của một nhà lý luận phê bình văn học đúng nghĩa.

Nếu “công trình” “Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú” mà được giải HCM về văn học, thì tất cả các nghị quyết đảng đều xứng đáng nhận giải văn học HCM.

Chúng ta thử tìm coi, nếu cuốn sách này của GS.Hà Minh Đức được giải HCM về khoa học công nghệ, liệu có xứng đáng không ?

Xét về khía cạnh khoa học nghĩa là ta cần xem xét những kết luận của tác giả có đúng không, có logic không?
Ở trang 17 và 18, tác giả viết: “Trên thế giới có những dân tộc hình thành từ nhiều ngàn năm lịch sử như Hi Lạp, La Mã, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam. Có dân tộc lịch sử chỉ mới hình thành vài trăm năm như Mỹ, Canada”.

Kiến thức sơ đẳng của GS. Hà Minh Đức ở chỗ này không ổn, khi GS. cho dân tộc Mỹ và Canada mới có lịch sử vài trăm năm nay. Nước Mỹ lập quốc vào ngày 4-7-1776 và nước Canada tuy lập quốc vào ngày 01-7-1867 nhưng người châu Âu: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Ý…đã di dân từ châu Âu qua châu Mỹ từ đầu thế kỷ thứ 17. Như vậy là văn hóa châu Âu đã theo những người dân châu Âu đổ bộ qua lục địa mới này tới ngót 400 năm. Nói “lịch sử dân tộc Mỹ, Canada mới có 200 năm” là sai; vì rằng hai nước này là hai nước di dân, đa sắc tộc, lịch sử, văn hóa của họ phải tính từ thời Hi Lạp, La Mã mới đúng.

Trang 30, sách của GS. Hà Minh Đức nêu ra một mệnh đề theo chúng tôi là rất thiếu tính khoa học, khi ông viết: “Văn hóa phải có ích, phục vụ cho đất nước, cho nhân dân. Văn hóa văn nghệ không thể ở ngoài chính trị” 

Chính những quan niệm ấu trĩ này đã phần nào làm hỏng nền văn hóa văn nghệ Việt Nam đương đại.

Về những quan niệm Mao-ít sai lầm: “Chính trị là thống soái”…”“Súng đẻ ra chính quyền”, “mâu thuẫn luận”, “Trí thức không bằng cục phân”…“Văn nghệ phục vụ chính trị” của Mao Trạch Đông thời “văn nghệ Diên An” đã từng du nhập vào nước ta sau chiến dịch biên giới thu đông 1949-1950 … đã dần dần làm tha hóa nền văn hóa văn nghệ nước nhà.

Trước hết, theo quan điểm Mác-xít, quan niệm “văn nghệ phục vụ chính trị” của Mao Trạch Đông là một quan điểm phản động. Theo triết học Mác, văn hóa, văn nghệ, triết học, sử học, chính trị, khoa học, tôn giáo, đạo đức… đều là những hình thái ý thức xã hội, cùng nằm trên một mặt bằng có tên là thượng tầng kiến trúc. Những hình thái ý thức xã hội trên tuy có tương tác, tương hỗ với nhau, nhưng không phủ nhận nhau, không nuốt chửng hay bắt cóc nhau làm nô lệ. Bản thân văn học đã là một hình thái ý thức xã hội độc lập, sao lại bắt nó làm tôi đòi cho một hình thái ý thức xã hội khác là chính trị ?

Việc một số nhà cầm quyền bắt cóc hình thái ý thức xã hội có tên văn học nghệ thuật về làm tôi tớ cho nền chính trị chuyên chế của mình là một hành vi phản phản Mác-xít.

Cuốn sách này của GS. Hà Minh Đức in năm 2005, sau nền văn nghệ được ông tổng bí thứ Nguyễn Văn Linh cởi trói (1986) mười chín năm, mà sao giáo sư vẫn giữ quan niệm phi khoa học xưa cũ ? Thiết tưởng, chỉ cần quan điểm này làm tư tưởng chi phối cuốn sách của GS. Hà Minh Đức, thì việc người ta sắp trao cho giáo sư giải thưởng HCM về khoa học công nghệ sẽ càng chứng tỏ sự phản tác dụng của giải thưởng này.

Chính ra nên trao giải thưởng khoa học công nghệ Mao Trạch Đông cho GS. Hà Minh Đức vì giáo sư đã có công tôn vinh những luận điểm rất phản Mác-xít của Mao là khẩu hiệu trong Mao tuyển: “Chính trị là thống soái”…Văn nghệ phục vụ chính trị”. Ngay cả ở Trung Quốc lục địa, người ta đã dùng thực tế bác bỏ các tư tưởng Mao như vừa nêu trên. Chỉ còn mình GS. Hà Minh Đức và một vài vị khác “bảo hoàng hơn vua” ở Việt Nam, ở Bắc Triều Tiên là vẫn còn tôn sùng tư tưởng Mao Trạch Đông mà thôi.

Khi GS.Hà Minh Đức viết: “Văn hóa văn nghệ không thể ở ngoài chính trị”… là một mệnh đề phi khoa học, sao lại được trao giải thưởng HCM về khoa học công nghệ. Chúng tôi xin chứng minh.

Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần của con người sáng tạo ra trong hành trình lịch sử. Chính trị hóa toàn bộ sản phẩm vật chất và tinh thần của nhân loại, của dân tộc là một sự phỉ báng văn hóa. Nếu chính trị thò bàn tay cơ hội vào tôn giáo ngay từ thời khai sinh ra mỗi tôn giáo, thì nó đã đưa vua La Mã lên thờ chứ không phải thờ một người thợ mộc nghèo khổ, ít học đòi giải phóng nô lệ bằng tình thương là Chúa Jesus như bây giờ ; thì nó đã đưa vua Ấn Độ lên thờ, chứ không phải đưa một người hành khất đi tìm chân lý là Đức Phật lên thờ như hôm nay; thì nó đã đưa vua nước Sở lên thờ chứ không phải đưa Lão tử cưỡi trâu ngao du thiên hạ lên thờ như Đạo giáo… bên Trung Hoa…

Nếu triết học bị chính trị hóa từ thời cổ đại thì nhân loại không còn triết học nữa. 
Nếu nhân loại bị chính trị hóa đạo đức từ thời cổ đại thì không còn đạo đức nữa. 
Nếu sử học bị chính trị hóa thì không còn lịch sử nữa. 
Nếu tôn giáo bị chính trị hóa thì không còn tôn giáo nữa. 
Nếu các tập tục, thuần phong mỹ tục của dân tộc bị chính trị hóa thì không còn tập tục, không còn thuần phong mỹ tục nữa. 
Nếu nền giáo dục bị chính trị hóa thì không còn giáo dục nữa. 
Nếu pháp luật (hiến pháp) bị chính trị hóa thì không còn pháp luật (hiến pháp) nữa. 
Nếu tòa án bị chính trị hóa thì không còn tòa án nữa. 
Nếu nền báo chí bị chính trị hóa thì không còn nền báo chí chân chính nữa. 
Nếu luật sư bị chính trị hóa thì không còn luật sư nữa. 
Nếu đêm tân hôn bị chính trị hóa thì không còn đêm tân hôn nữa. 
Nếu đám ma bị chính trị hóa thì không còn đám ma nữa. 
Nếu đám giỗ bị chính trị hóa thì không còn đám giỗ nữa. 
Nếu thi ca bị chính trị hóa thì không còn thi ca nữa. 
Nếu đám cưới bị chính trị hóa thì không còn đám cưới nữa. 
Nếu tình yêu bị chính trị hóa thì không còn tình yêu nữa. 
Nếu một tâm hồn bị chính trị hóa thì không còn tâm hồn nữa. 
Nếu hành vi chăn gối bị chính trị hóa thì không còn chuyện chăn gối nữa…
Nói tóm lại, theo mỹ học Mác-xít, nếu CÁI ĐẸP bị chính trị hóa thì đó là CÁI ĐẸP VONG THÂN, tức không còn CÁI ĐẸP nữa.

Điều quan trọng nhất cho nước ta hiện nay là: 
NẾU CHÍNH TRỊ HÓA KINH TẾ THÌ KHÔNG CÒN KINH TẾ NỮA…

Thưa GS. Hà Minh Đức, chính nền kinh tế bị chính trị hóa toàn phần thời bao cấp đã đưa nước ta, dân tộc ta vào thời kỳ sắp chết đói. Từ năm 1986, đảng cộng sản Việt Nam phần nào cởi trói cho kinh tế, xóa bỏ dần khái niệm chính trị hóa kinh tế để cho nhân dân tự do làm kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường (kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản) nên dân ta mới thoát chết đói mà có tí cơm ăn, tí áo mặc, tí ô tôi đi, tí du lịch nước ngoài, tí cao ốc, tí ngân hàng, tí chứng khoán… đó thưa giáo sư…

Công cuộc giải phóng con người của chúng ta hôm nay chính là công cuộc giải phóng các giá trị tinh thần & vật chất thoát ra khỏi dây lòi tói chính trị mà học thuyết Mao-ít đã trói buộc bao năm. 

Khái niệm “Văn hóa… không thể ở ngoài chính trị” của giáo sư quả là đang chống lại con người đó thưa giáo sư. Chúng tôi chỉ xin dẫn ra một thí dụ: sinh hoạt đi tắm, đi toilet của con người vốn là một hành vi văn hóa. Thế thì thưa GS. Hà Minh Đức, xin giáo sư thử giải thích dùm thế nào là kiểu đi tắm, đi toilet chính trị và kiểu đi tắm, đi toilet phi chính trị ạ ?

Chao ôi, viết đến đây, chúng tôi mới nhớ đến và thương cho nhà thơ Tế Hanh thời Nhân văn giai phẩm; ông chỉ nói rằng thưa các đồng chí kính mến, theo Tế Hanh tôi thì cái bông hoa đẹp kia, ánh trăng rằm đẹp kia nằm ngoài chính trị ạ; rằng ai ngắm hoa, ngắm trăng cũng thấy thoải mái và nhẹ cả mình vì được cái đẹp làm sảng khoái ạ. Lập tức nhà thơ Tế Hanh bị đấu tố trong chi bộ toàn những trí thức lớn, nhà văn lớn như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Công Hoan, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… Đấu tố rằng, đồng chí Tế Hanh phát ngôn như vậy mà phi chính trị, phi giai cấp. Chỉ có bọn nhà giàu, bọn tư sản địa chủ bóc lột, bọn rửng mỡ như đám giòi bọ nhân văn giai phẩm kiểu Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Thụy An, Phùng Quán, Sĩ Ngọc, Trần Duy… mới thấy hoa kia đẹp, trăng kia đẹp. Còn bần cố nông, còn giai cấp vô sản đang đói khổ thì căm thù hoa, căm thù ánh trăng vì nó không thể ăn cho đỡ đói được. Các đồng chí phải lên án bọn duy mỹ, bọn Nhân tính chung chung (tính người chung chung)… đều là bọn phản động…

Việc tuyệt đối hóa tính hữu ích của văn hóa văn nghệ như giáo sư đã viết: Văn hóa phải có ích…” là một nhận định chưa thể tất, nếu như giáo sư nghiên cứ kỹ mỹ học và mỹ học Mác-xít. Nói chung, trong phạm trù CÁI ĐẸP, thường hàm chứa cái có ích. Nhưng thái độ thực dụng quá mức trước cái đẹp là một thái độ làm tổn thương chính CÁI ĐẸP BẤT VỤ LỢI. Con người không phải khi nào thưởng thức cái đẹp cũng chỉ nhăm nhăm tìm cái có lợi. Người ta đọc một cuốn sách văn học không nhằm tìm một chân lý, tìm một nhận thức mới hay để được dạy bảo, được giáo dục mà cốt để giải trí. Một lối sống vu lợi, vị lợi là một lối sống khó tìm ra CÁI ĐẸP trong đời. 

Trang 70, sách của GS. Hà Minh Đức có đoạn viết: “Cái đẹp cũng phù hợp với lợi ích của dân tộc, lợi ích của cộng đồng và những người thân thuộc. Cái đẹp thoát ly, viển vông, mang tính chất nghệ thuật vị nghệ thuật cũng là xa lạ với tâm lý thưởng thức quen thuộc”

Thưa GS. Hà Minh Đức, khái niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” và khái niệm “nghệ thuật vị nhân sinh” là những khái niệm phi khoa học, xa lạ với mỹ học Mác-xít. Văn học nghệ thuật vốn là một hình thái ý thức xã hội do con người sáng tạo ra để phục vụ chính nó; nên nghệ thuật từ trong bản chất chẳng vị nghệ thuật, cũng chẳng vị nhân sinh. Việc dùng những nội hàm ảo tạo ra những khái niệm không có thật “nghệ thuật vị nghệ thuật”, “nghệ thuật vị nhân sinh” chính là phương cách hữu hiệu nhất đuổi nghệ thuật ra khỏi hiện tồn con người vậy. 

Trang 94, sách của GS. Hà Minh Đức, có đoạn viết: “Những tác giả văn xuôi tiêu biểu như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi vẫn tỏ ra sung sức, dồi dào bút lực khi trở về với mảng đề tài trước cách mạng tháng tám. Với cách suy nghĩ và nhận thức mới về cuộc sống của một thời kỳ lịch sử đã qua nhiều tiểu thuyết với kích cỡ lớn đã được xây dựng. Nguyên Hồng với bộ Cửa Biển, Nguyễn Đình Thi với Vỡ Bờ, Tô Hoài với Mười Năm đã đóng góp vào sự phát triển của tiểu thuyết những giá trị mới” 

Phải nghiêm túc mà nói với nhau rằng, ba cuốn sách của ba tác giả Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài được GS. Hà Minh Đức ca ngợi trên đều là những cuốn sách minh họa chính trị thô thiển, thiếu hẳn tính hấp dẫn tức tính nghệ thuật. Những sáng tác của ba nhà văn lớn kể trên ra đời trước và sau năm sáu mươi thế kỷ trước, tức sau vụ “đánh” nhân văn giai phẩm. Quan niệm văn nghệ chính thống lúc đó được ông Hà Huy Giáp, Hà Xuân Trường, Hồng Chương, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức… cổ xúy là quan niệm nền văn học ta phải tuyệt đối mang tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân nên VĂN NGHỆ TA PHẢI TUYỆT ĐỐI KHÔNG CÓ TÍNH BI KỊCH. 

Khi xóa sổ bi kịch, xóa sổ nỗi buồn niềm đau, những quan niệm văn nghệ tả khuynh, ấu trĩ thời đó đã giết chết chính văn học nghệ thuật. Cho nên, khi những tác phẩm có nội dung bi kịch tí ti, có tố chất văn học hồi đầu những năm sáu mươi như “Sắp cưới” của Vũ Bão, “Vào Đời” của Hà Minh Tuân, “Mùa hoa dẻ” của Văn Linh, “Cái gốc” của Nguyễn Thành Long, “Mái nhà ấm” & “Con nhện vàng” của Châu Diên, “Trăng Sáng” & “Đôi Bạn” của Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi)… bị phê bình là tàn dư của nhân văn giai phẩm, bị tịch thu không cho phát hành… chính là cách để goodbye văn học đi chơi chỗ khác. 

Việc GS. Hà Minh Đức đến thế kỷ 21 rồi mà vẫn còn giữ nguyên xi quan niệm “văn nghệ phi bi kịch Mao-ít Hà Huy Giáp” để ca ngợi những cuốn sách thiếu tính nghệ thuật trên là một quan niệm vừa phi khoa học vừa phi văn học vậy. 

Nói tóm lại, cuốn sách “Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú” của GS. Hà Minh Đức là một tác phẩm vừa thiếu tính khoa học vừa thiếu tính văn học. Trao giải thưởng văn học HCM, giải thường khoa học công nghệ HCM cho cuốn sách này thì giải thưởng danh giá kia sẽ không còn mang tính chính danh nữa.,.
Sài Gòn ngày 20-10-2011 
Trần Manh Hảo 

*Bài viết do Nhà thơ Trần Mạnh Hảo gửi trực tiếp cho NXD-Blog. Xin cảm ơn tác giả!
**Ảnh minh họa: D.L.B.


NHỮNG CUỐN SÁCH MỚI NHẤT TRÊN GIÁ

Lâm Khang thư viện vừa tiếp nhận các ấn phẩm quý báu do các tác giả và bạn bè gửi tặng. Chúng tôi chân thành cám ơn và xin trân trọng giới thiệu với chư vị  
.
 TS. Nguyễn Thúy Nga tặng

 Thạc sĩ Nguyễn Kim Măng tặng

  Nhà nghiên cứu Hoàng Giáp tặng

 
 Giáo sư Đinh Khắc Thuân tặng

 Giáo sư Đinh Khắc Thuân tặng

 Giáo sư Chu Hảo  tặng


Nguyễn Xuân Diện-Blog hân hoan giới thiệu cùng chư vị

HIỀN TÀI, HÀO KIỆT VÀ SỰ THỊNH SUY CỦA ĐẤT NƯỚC

Hiền tài, hào kiệt và sự thịnh suy của đất nước

Tô Văn Trường

Hiền tài và hào kiệt của đất nước ta thời nào cũng có và rất cần. Vấn đề là họ được huy động và sử dụng như thế nào để có thể đóng góp được nhiều nhất cho đất nước. Chính sách chiêu hiền đãi sĩ và mở rộng dân chủ thực sự phải đi đôi với nhau. 

Cha ông ta đã nói: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" và câu này đã được viết trang trọng trước cửa "Nhà Việt Nam" tại Shanghai World Expo 2010 (Triển lãm Thế giới tại Thượng Hải, Trung Quốc năm 2010) bằng bốn thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Hoa thu hút sự chú ý đặc biệt của khách thăm quan các nước. 

Các cụ ta còn khẳng định "Hào kiệt thời nào cũng có"! Như vậy là ông cha ta luôn coi hiền tài và hào kiệt là nguồn lực đặc biệt quan trọng và vô tận, quyết định sự thịnh suy, hưng vong của đất nước.

Một thời, trên công luận nói nhiều về "think tank". Trong tiếng Anh: "think" là suy nghĩ, ý tưởng, "tank" là cái thùng, cái bồn cho nên có thể hiểu think tank là bồn trí tuệ hay là kho tri thức. Ở các nước đặc biệt là Mỹ và châu Âu  (kể cả Trung Quốc) think tank xuất hiện từ lâu và hoạt động rất hiệu quả. 

Think tank tập trung một số trí thức, chuyên gia về một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực nào đó để thực hiện xây dựng một số chính sách hay chiến lược nhằm cố vấn, tư vấn, định hướng chiến lược cho một tổ chức hay đối tượng khách hàng nào đó. Có thể có think tank tổ chức phi lợi nhuận hoặc lợi nhuận. Giá trị của think tank có thể thuộc về hiệu quả và chất lượng kết quả tư vấn chính sách hay chiến lược của nó mà chỉ có thực tiễn mới có câu trả lời. Think tank còn là nơi tập hợp "các nguồn lực chất xám tinh túy của quốc gia" (tôi thích định nghĩa thế này về think tank hơn là "bồn trí tuệ").














Think tank là sự cộng hưởng của nhiều khối óc ở nhiều lĩnh vực là sự sẻ chia trí thức để dồn nội lực của bao khối óc vào một tâm điểm: làm giầu dân tộc về mặt vật chất và tinh thần. Người Mỹ có một câu nói rất hay: "America is a melting pot". Người ta dịch: "Nước Mỹ là nước đa sắc tộc". Đấy chỉ  là bề nổi của câu này, song ngụ ý sâu xa hơn, đó là think tank. Bao nhiêu văn hóa, trí thức, trí tuệ khi đã hội tụ ở nước Mỹ thì không còn tản mạn và hòa chảy thành một khối. 

Lãnh đạo giỏi còn là biết sử dụng, tận dụng nhiều think tank giỏi, biết tập hợp nhiều nguồn lực chất xám tinh túy này, cùng với một lòng nhiệt tâm, hết lòng vì dân, vì nước. Do vậy, lãnh đạo giỏi phải biết khơi gợi, tạo điều kiện cho các tổ chức think tank phát triển mạnh. Biết "gạn đục, khơi trong" trong việc sử dụng lời khuyên, tư vấn, cố vấn của think tank. Lãnh đạo giỏi không chỉ là ở sử dụng think tank mà cả trong bộ máy của Chính phủ, bộ máy Nhà nước. 

Nhìn ra thế giới, các bài học kinh nghiệm của họ về việc tổ chức và hoạt động các "bồn trí tuệ" của Chính phủ cùng như hoạt động trong xã hội dân sự là :

1/ Chỉ tư vấn có hiệu quả cho người biết trân trọng và biết làm việc với chuyên gia tư vấn (chuyên gia tư vấn là tên gọi khiêm tốn của "cố vấn"). Không dễ có người có tâm và có tầm như thế. 

2/ Chỉ tư vấn có hiệu quả khi có những người thật sự xứng đáng về phẩm chất và tài năng là chuyên gia tư vấn. Không dễ có người có tâm và có tầm như thế. 

3/ Chỉ tư vấn có hiệu quả khi quốc gia có những thể chế chính trị, kinh tế, xã hội thích hợp (chủ yếu là về tự do, dân chủ đạt tới mức cần thiết). 

Thiếu một trong ba điều kiện trên đây là đủ để dẫn đến không thành công hoặc thành công giả tạo. Tuy nhiên, còn một yếu tố nữa rất quan trọng chính là dân tộc ấy, trình độ phẩm chất bản thân dân tộc ấy quyết định sản sinh ra người cầm quyền tốt, cố vấn tốt. Dân tộc nào cũng thế, cũng phải chịu trách nhiệm trước loài người về lịch sử của bản thân mình, được tôn vinh những điều tốt đẹp và bị chỉ trích, trừng phạt về những điều xấu xa, tội ác. 

Nhìn ngược về quá khứ lịch sử, người xưa có lập ra chức "Gián nghị đại phu" để can Vua. Nhưng vì cái chức (của một người) chớ không phải tổ chức (có nhiều người), có quyền lực luật định nên hiệu quả cũng hạn chế. Bên Tầu Ngũ Tử Tư thời Chiến quốc, Lưu Dung thời Càn Long, Đại Việt có Nguyễn Trãi là những điển hình có tài, có đức, có chức mà không làm hết ý nguyện, Lê Thái Tổ có chiếu cầu hiền, và "cỗ xe cầu Hiền luôn còn chừa bên phía tả". Cụ thể hơn còn qui định "Ai biết người tài mà không tiến cử thì bị phạt". Thế nhưng chính người thảo chiếu ấy lại có một kết cục bi thảm. Như vậy, ta trọng hiền tài là chỉ biết dùng người tài chớ không biết tạo cái nôi cho hiền tài có nơi sống, nảy nở, được bảo vệ, được lắng nghe. Ngày nay gọi đó là "cơ chế"!

Trên thế giới này không có chính phủ nào tránh được sai lầm khi đưa ra các chủ trương, chính sách. Nếu lãnh đạo biết lắng nghe, phân tích, sàng lọc các ý kiến tư vấn thì chắc chắn mức độ sai lầm sẽ giảm đi đáng kể!

Trong bài "Tư duy kinh tế Việt Nam", GS Đặng Phong đã viết "Sự thịnh suy của một quốc gia lệ thuộc rất nhiều vào bộ máy lãnh đạo và đặc biệt là những người lãnh đạo. Xưa nay, trong lịch sử mọi quốc gia, không có thời đại nào được gọi là thịnh trị mà lại không phải là thời đại có một vị minh quân. Ngược lại, không có một thời đại nào suy đồi mà lại không liên quan tới một vị hôn quân, một bộ máy nhà nước hủ bại." 

Trong cuộc sống, tôi đã được gặp một số vị trí thức thực sự tài năng, tâm huyết hay nói như người đời họ là những người rất khó chịu vì họ cứ làm cái việc đánh thức thiên hạ, không cho người ta ngủ. Không ít người đã chán nản buông bút nghiên...

Tôi cũng may mắn, từng được chứng kiến, hồi hộp theo dõi các diễn biến và cảm nhận được là nguồn trí tuệ đang dâng lên, dòng nhân ái đang chảy mạnh, nhiều tấm gương biết làm, biết viết, biết nói, để thúc giục nhân tâm, kiên nhẫn từng giờ, từng phút "vắt óc" nghĩ suy tạo ra năng lượng tích cực trong nhân gian. Đó cũng là nguồn lực sâu xa đang âm vang, cộng hưởng, sẽ tác động tới những nơi cần lắng nghe.


"Nồng nàn tâm huyết thưa thành quả
Gieo trăm gặt một thế cũng là
Được bao nhiêu cũng là được cả
Một thời khô héo một thời hoa"
Những trí thức tài giỏi thực sự, có nhiều đóng góp cho đất nước cũng chính là "hiền tài và hào kiệt". Họ rất tự trọng, luôn có ý thức tự hoàn thiện mình và phấn đấu không ngừng, luôn hướng tới các "chân trời mới" để khám phá và cống hiến. Tuy nhiên, không bao giờ có "chân trời thực" cả, vì thế đó chỉ là hướng đi để người trí thức và các bậc hiền tài, hào kiệt dốc sức vươn tới mà thôi. Cả đời người cũng chẳng ai có thể đi tới chân trời đó cả! Nhưng đó vẫn là động lực để người trí thức sống lạc quan và hết mình cho sự hưng thịnh, hùng cường của đất nước. Đó cũng là điều chúng ta ngưỡng mộ và tôn vinh họ. 

Hiền tài và hào kiệt của đất nước ta thời nào cũng có và rất cần. Vấn đề là họ được huy động và sử dụng như thế nào để có thể đóng góp được nhiều nhất cho đất nước. Chính sách chiêu hiền đãi sĩ và mở rộng dân chủ thực sự phải đi đôi với nhau. Điều  này tùy thuộc chủ yếu ở  cái TÂM và cái TẦM của các nhà lãnh đạo, quản lý đất nước. Suy cho cùng, sự thịnh suy của đất nước cũng là ở đấy cả mà thôi!

Nguồn: Tuần Việt Nam.

CHỊ BÙI THỊ MINH HẰNG NÓI VỚI BBC VỀ NHỮNG NGÀY TRONG HỎA LÒ

Bà Hằng đã tham gia nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc

Bà Bùi Thị Minh Hằng được công an thả 


Người nhiều lần biểu tình chống Trung Quốc, bà Bùi Thị Minh Hằng, được thả sau ba ngày bị tạm giữ vì cáo buộc 'gây rối trật tự'. Bà Hằng bị bắt hôm Chủ nhật, khi cùng một số người từng tham gia biểu tình khác "dạo quanh Bờ Hồ".

Vào lúc 16:00 giờ chiều thứ Tư 19/10, nhóm bạn hữu đã tới nhà giam Hỏa Lò để đón bà. Bà Bùi Thị Minh Hằng đã nói chuyện với BBC ngay khi ra khỏi nhà giam:

Bà Bùi Thị Minh Hằng: Tôi đã quyết định tuyệt thực ngay từ phút đầu vì mình không làm điều gì sai trái. Trong biên bản hàng ngày, tôi cũng ghi như thế. Lần này ở trong phòng (tạm giam) vui lắm. Chúng tôi lại còn tổ chức chào cờ và hát quốc ca. 

Ngay từ ngày đầu ở trong phòng giam, tôi biết là bên cạnh tôi có nhiều đồng bào và đồng đội ủng hộ tôi.

Tôi nói với các cơ quan điều tra rằng các anh cứ diễn những trò gọi là vi phạm pháp luật trước mắt người dân.

Khi mà bị bắt họ đối xử rất tàn tệ, có thể thấy qua những hình ảnh ghi lại, nhưng khi bị giam ở Hỏa Lò thì họ lại đối xử rất tử tế.

Phòng của tôi lần này đông hơn 10 người. Các bạn cũng hỏi thăm là bị bắt vì lý do gì. Nhân cơ hội đó, tôi cũng giảng giải và động viên các em rằng có tội thì phải tuân thủ luật pháp và cố gắng hiểu biết về pháp luật hơn để sau này không vi phạm nữa.

Khi được hỏi về tội danh của tôi, tôi nói với họ rằng tôi bị bắt vì tội yêu nước, và nhiều người ngạc nhiên. Khi được tôi giảng giải về những vấn đề ngoài xã hội hiện nay, họ đã ủng hộ tôi và còn nói: Khi nào ra khỏi trại cho em đi theo chị Hằng.

BBC: Khi bị bắt, công an hành xử như thế nào ạ?

Bà Bùi Thị Minh Hằng: Sau khi bị bắt ở Bờ Hồ, họ mang tôi đi lòng vòng trên con đường và họ đưa tôi sang Đông Anh và để tôi ngồi tại đồn công an từ lúc bị họ bắt giữ là 10 giờ sáng cho tới tận 5h chiều. Công an Đông Anh đối xử với tôi rất là từ tốn. Họ nói với tôi là chúng em chị bảo vệ chị thôi và đây là Công an Hoàn Kiếm gửi nên phải đợi mới biết được. 

Khi chụp hình lại thì chỉ có duy nhất một cái nón lá bị họ đạp bẹp và một cái khăn tôi đeo trên cổ có ghi hai hàng chữ: Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh và Hoàng Sa - Trường Sa - Việt Nam.
"Tôi không có khái niệm về cuộc biểu tình vì thật ra cuộc biểu tình là phải mang tính chất rầm rộ mà đây lại là việc người dân sinh hoạt hằng ngày và người ta có quyền thể hiện suy nghĩ ý tưởng của người ta."
Bà Bùi Thị Minh Hằng
Công an Hoàn Kiếm hành xử không khác những lần trước, chỉ có lần này họ không dám giam giữ tôi ở bên đó vì sợ dư luận của nhân dân.

Họ bắt tôi phải ký quyết định tạm giam nhưng tôi không ký và khi vào đến trại giam, trong biên bản thu giữ đồ đạc của tôi có ghi tội danh là gây rối trật tự công cộng tôi cũng không đồng ý.

Tôi chỉ ghi vào một tờ giấy trắng xác nhận khi bị bắt tôi có những tài sản gì trên người. Tôi phản đối vì không có chuyện tại sao họ xô vào người tôi, cướp đồ trên người tôi và sau đó họ lại la lên là tôi gây rối trật tự công cộng.

Khi ra khỏi trại tôi đang cầm trên tay quyết định hủy bỏ giam giữ vì không đủ điều kiện.

Tôi bị giam giữ từ 10h sáng ngày 16/10 cho đến 16h28 hôm nay 19/10.

Trong tất cả những biên bản tuyệt thực, tôi tuyên bố rất rõ ràng ở phía cuối là tôi tuyệt thực vì lý do phản đối Công an Hoàn Kiếm bắt giữ tôi trái pháp luật và vu khống tội danh.

BBC: Hôm bị bắt, chị có hẹn tham gia gặp gỡ tại Bờ Hồ phải không ạ?

Bà Bùi Thị Minh Hằng: Chính xác là khi tôi đi ra Bờ Hồ thì có một vài người tôi nhìn thấy quen nhưng không có chuyện chúng tôi hẹn nhau đi chung từ nhà. 

Vào lúc 0h36’ ngày 16/10 có một tin nhắn bậy bạ gửi vào máy tôi, chửi bới và dọa tôi rằng: hôm nay ra Bờ Hồ thì tao sẽ giết mày. Tôi đã chụp lại và đưa lên Facebook thông báo cho mọi người biết về tin nhắn này, sau đó, tôi vẫn tiếp tục đi ra Bờ Hồ như những ngày thường.

Ngày Chủ nhật, tôi gặp các bạn hay đi biểu tình chung. Các bạn có đưa tôi một chiếc nón và bảo tôi vẽ nón cho họ. Tôi dùng bút dạ đỏ và viết chữ HS-TS-VN và tôi viết lên mép nón là Đả đảo TQ xâm lược.

Cũng như tất cả mọi người đã từng tham gia biểu tình với nhau thì chúng tôi có những ý tưởng trùng với nhau, mang tính đồng lòng đồng suy nghĩ hết.

Lần này tôi đi ra Bờ Hồ là với tư cách cá nhân, theo thói quen từ sau các cuộc biểu tình theo đoàn đông, tôi vẫn giữ thói quen ấy.

Nhà nước đã ra lệnh cấm tụ không tụ tập đông người, không hô hào, không đeo băng rôn thì thực tế tôi không làm điều gì vi phạm, tức là không gây mất trật tự hay gây ảnh hưởng. Chỉ có một mình tôi với cái nón lá đội trên đầu mà họ dám ngồi trên xe ôtô nói vào loa rằng yêu cầu tất cả mọi người bỏ nón xuống.

Tôi nói thực là tôi không có khái niệm về cuộc biểu tình vì thật ra cuộc biểu tình là phải mang tính chất rầm rộ mà đây lại là việc người dân sinh hoạt hằng ngày và người ta có quyền thể hiện suy nghĩ tư tưởng của người ta.
Theo tôi, thì đây không phải là khái niệm biểu tình nhưng mà có thể hiện chính kiến của cá nhân tôi. Và tôi nghĩ rằng lúc nào trên người tôi cũng có thể mang những vật dụng đó.

Bản thân tôi thường xuyên rèn luyện sức khỏe nên mặc dù trong 5 ngày bị đói thì tôi chỉ thấy hơi mệt trong người thôi.

Tôi quan ngại là vì tôi là người đứng đơn kiện lần vừa rồi. Tôi không thể nào lường trước được là họ sẽ làm việc gì đó không tốt đối với tôi. Tôi nghĩ họ sẽ dùng các hành động vi phạm pháp luật ở mức độ cao hơn ví dụ như họ có thể cho người gây thương tích cho tôi hay làm điều gì đó.


20.10.2011: NHƯ MỘT GIẤC MƠ


Nhân ngày Phụ nữ Việt Nam, Nguyễn Xuân Diện-Blog và bạn bè xin gửi đến các Bà, các Mẹ, các Chị và các em những lời chúc tốt đẹp nhất!

Nhân dịp này, xin gửi đến chư vị bài viết của nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế (ĐH Mỹ thuật Việt Nam) về bức tranh dân gian Bà Triệu.
Nguyễn Xuân Diện-Blog


Như một giấc mơ
Trần Hậu Yên Thế
- gửi riêng NXD-Blog

Từ tấm bé, tôi được nghe về Bà Triệu (Triệu Thị Trinh, sinh 225 – mất 248), người anh hùng của dân tộc Việt Nam. Trí óc non nớt của tôi không nhớ nổi bà đã lãnh đạo cuộc nổi dậy của dân tộc Việt như thế nào, và vì sao bà bị chết? Thế hệ chúng tôi những đứa trẻ mới lớn cắp sách đến trường khi đất nước vừa hoà bình. Tôi đến trường học những bài học đầu tiên về lịch sử là khi Việt Nam đã chấm dứt cuộc chiến tranh với hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Chúng tôi náo nức hân hoan chờ đón xem các cuộc duyệt binh nhân ngày độc lập. Những chiếc xe tăng, những mũi lê tuốt trần, những tiếng tung hô vang dậy, những đoàn ngươi đi rầm rập, thẳng tắp. Phim ảnh về chiến tranh thường trực trên vô tuyến, những ngày lễ lớn vẫn thấy những bức tranh cổ động hình chú bộ đội, cô du kích đeo súng. 
 
Trong những bài học lịch sử đầu tiên, câu nói nổi tiếng của Bà được chúng tôi thuộc lòng, được nhắc đi nhắc lại trong giờ học lịch sử: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta!”. Thật khí phách làm sao!

Rồi, qua tranh dân gian Đông Hồ, tôi thấy Bà hiện lên như một nàng tiên cưỡi con voi trắng. Tiếng nhạc chuông khoan thai nhịp cùng chiếc vòi đung đưa. Dáng người nhỏ bé của bà chập chờn trước mắt tôi.

Ở cái thời buổi như thế, hình ảnh về người anh hùng dân tộc - Bà Triệu, trên bức tranh dân gian Đông Hồ giống như một giấc mơ. Một giấc mơ ngọt ngào không có gươm đao.Cuộc đời ngắn ngủi mà oanh liệt của bà đã lưu danh vào sử sách. Và bức tranh Đông Hồ này là bức tranh duy nhất còn lại tới nay về hình ảnh của Bà. Trên một nền điệp lung linh, rực rỡ không một hàng chữ, người nghệ nhân thật tự tin với câu chuyện rất hóm hỉnh của mình. Chắc khỏe mà uyển chuyển trong từng nét khắc người nghệ sỹ dân gian, như nói với chúng ta: Bà Triệu đấy…hãy nhìn cặp vú tương truyền rất dài này của Bà …Nó cũng lắc lẻo theo nhịp đi của chú voi. Người anh hùng trở về trong hân hoan, bỏ lại phía sau gươm giáo, bỏ lại hận thù, những vinh quang trận mạc. Chỉ còn lại đây những gì đó thật nhân bản và giản dị.

Bà là nhân vật lịch sử đã đi vào huyền thoại của người Việt. Dân gian đã lý giải về sự thua trận như sau: “Bà Triệu vốn ghét sự ố trọc, ưa tinh khiết. Vì có kẻ gian lén báo với quan địch. Tướng giặc cho quân lính cởi truồng đi đánh trận. Bà vì xấu hổ nên lên núi tự vẫn !” ….

Tôi từng đinh ninh rằng, câu chuyện này là sự thật, chí ít là đối với người nghệ nhân đã khắc nên bức tranh tuyệt đẹp này. Nếu không thật thì sao có thể khắc nổi một hình tượng người anh hùng như một thiếu nữ duyên dáng và nhẹ nhàng đến vậy. Có lẽ không nên trách các nghệ nhân Đông Hồ là quá ngây thơ và kém hiểu biết về lịch sử. Lịch sử không nhất thiết chỉ một cách nhìn. Trong bộ sách lịch sử nổi tiếng Đại Việt sử ký toàn thư, Bà hiện lên thât mạnh mẽ, phi thường. Còn ở đây trên bức tranh này ta chỉ thấy một vũ điệu tung tẩy của màu sắc của ánh mắt, của đôi tay và những dải áo.

Và cũng không nên trách các nghệ sỹ thời xưa sáng tạo các tác phẩm về người anh hùng mà không có “tính chiến đấu” như các tác phẩm mới của thời kỳ cách mạng. Một bức tranh về một nữ anh hùng dân tộc khác, bức Hai Bà Trưng (cũng thuộc dòng tranh Đông Hồ) rõ ràng có tính chiến đấu hơn. Ở bức tranh Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc quân xâm lược phương Bắc, hình ảnh hai bà cưỡi voi vung gươm xốc tới. Tuy cùng một dòng tranh Đông Hồ nhưng bức tranh Hai Bà Trưng xem ra muộn hơn, thậm chí niên đại của nó có thể chỉ vào thế kỷ 19. Bức tranh này đã biết sử dụng luật cận viễn, gần to xa nhỏ, Đặc biệt là có in chữ Hán trên tranh, về sau lại có bản in chữ quốc ngữ. 

Thềm điện đền Bà Triệu, xứ Thanh
Việt Nam là một đất nước có một lịch sử chinh chiến hào hùng. Nhưng thật kỳ lạ là nó không được nghệ thuật tô vẽ lại, mà thậm chí nhiều khí còn có tình lờ đi. Một nhân vật anh hùng khác là Đinh Bộ Lĩnh, vị hoàng đế được các sử gia đời sau coi là người đầu tiên lập nên triều đại chính thống trong lịch sử Việt Nam cũng được các nghệ sỹ Đông Hồ khắc họa. Đinh Bộ Lĩnh người anh hùng đánh Đông dẹp Bắc lại được vẽ dưới dạng nhi đồng cùng lũ trẻ chăn trâu đang diễn trò “cờ lau tập trận”. Những tình tiết bạo lực ít đuợc khai thác. Như bức vẽ khác về Đinh Tiên Hoàng, khắc họa cảnh người chú của Đinh Tiên Hoàng lạy cháu. Người chú trong lần giao tranh với cháu, Đinh Tiên Hoàng bị ngã xuống đầm, khi chuẩn bị đâm thì chợt có con rồng vàng ngũ sắc hiện lên che chở. Những tình tiết đầy bạo lực gay cấn đã không được mô tả. Thay vào đó là một giọng điệu hóm hỉnh, cả chú lẫn cháu đều đóng khố. Người chú đứng trên bờ vái lạy người cháu đang đứng trên lưng con rồng. Nói chung các tượng thờ vua chúa Việt Nam thật hi hữu mới có cầm gươm đao. Một ngoại lệ hiếm hoi là bức tượng đồng Lê Thái Tổ ở Hồ Gươm. Đức vua cầm bảo kiếm, nhưng không phải trong cảnh chinh chiến, mà lại đang trả gươm cho rùa thần. 

Quay trở lại hiện tượng các nữ tướng trở thành các thủ lĩnh đánh đuổi giặc ngoại xâm như Bà Trưng, bà Triệu, những nghiên cứu mới về lịch sử cho ta những phát hiện thú vị. Trong cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, có tới ít nhất là 75 vị nữ tướng. Theo chính sử, Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa là để báo thù chồng là Thi Sách. Cách viết sử theo quan điểm Trung - Hiếu - Tiết- Nghĩa của Nho giáo, đã giải thích sự nổi dậy của Hai Bà Trưng như vậy, thì 75 bà tướng kia thì sao. Và cũng có những nghiên cứu khác chứng minh rằng, khi bà Trưng phất cờ nổi dậy thì chồng bà, ông Thi Sách vẫn còn sống. Và sử cũng không có nói bà Triệu nổi dậy vì thay thế vị trí của anh trai mình là Triệu Quốc Đạt. Thời của Bà Trưng bà Triệu, chắc hẳn nước Việt lúc đó còn duy trì chế độ mẫu hệ. Và việc người phụ nữ trở thành thủ lĩnh không nên hiểu đơn giản vì tài thao lược, sức mạnh hơn người. Những nữ thủ lĩnh có sứ mệnh giống như những là cờ trận, như tiếng trống trận. Sức mạnh của lá cờ, của hồi trống không giống với sức mạnh của gươm giáo, nó là một biểu tượng thu hút và khích lệ mọi lực lượng vùng lên. Cách tư duy về hình tượng người nữ anh hùng của những người nghệ nhân Đông Hồ rất xa lạ với tôi, nhưng có thể lại rất gần với bản chất của lịch sử. Khi hình tượng nữ anh hùng đã thấm sâu vào trái tim nhân dân thì những nghệ sỹ làng tranh Đông Hồ cứ hồ nhiên mà kể, kể bằng những mảng màu tươi tắn nhất, những đường nét ngộ nghĩnh nhất. Bức tranh đã đặt nhân vật vào vị trí chính diện một cách trọn vẹn. Hình tượng Bà Triệu cưỡi voi ở đúng vào vị trí trung tâm của bức tranh, nhưng không bị tĩnh lặng bởi cái vũ đạo tung tẩy của đôi cánh tay đang đang cầm hai dải áo.

Câu hỏi với tôi cho tới nay là, người phụ nữ anh hùng có còn là phụ nữ. Giống như câu chuyện về các nữ chiến binh trong thần thoại Hy lạp đã tự cắt đi một bên vú của mình để bắn cung được dễ dàng. Cặp vú dài của Bà Triệu có lẽ là một cản trở cho việc chinh chiến. Nên truyền thuyết kể rằng mỗi khi ra trận Bà phải cột nó ra…tận sau lưng. Những hình ảnh về người phụ nữ trong Bảo tàng Phụ nữ (tp. Hồ Chí Minh) cho tôi cảm nhận họ là người anh hùng cách mạng trước khi là phụ nữ. Người xem tới đây, trước hết được thấy những hình ảnh đấu tranh kiên cường bất khuất của phụ nữ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau đấy, các du khách mới được thấy những hình ảnh dịu hiền của phụ nữ Việt Nam trong các trang phục truyền thống của các dân tộc. Nếu sẽ ra sao nếu trật tự các gian trưng bày sẽ làm ngược lại. Trước hết cho du khách xúc động trước vẻ đẹp văn hóa truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, sau đó dành cho họ sự cảm động, sự khâm phục và kính phục trước những mất mát hy sinh trong chiến tranh và những chiến công lẫy lừng. 

Lịch sử vẫn thường được viết qua lăng kính của giới mày râu. Nhưng nghệ thuật thì không hẳn như thế. Một người đàn bà đội vương miện cưỡi voi đã chễm chệ đi qua biết bao thế kỷ trọng nam khinh nữ, biết bao thế kỷ những người đàn bà không còn tên gọi, không được học hành, thi cử. Hình tượng Bà Triệu, người đàn bà cưỡi voi không một tấc sắt trên người xứng đáng là bức tranh kiệt xuất nhất về người nữ anh hùng Việt Nam. Bức tranh được những người nông dân mua về dán vào dịp Tết. Họ cứ dán thẳng bức tranh lên vách đất của những ngôi nhà nơi thôn quê. Bức tranh đã đi qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử. Trong tiếng pháo Tết rộn ràng Bà Triệu hiện về cùng với mùa Xuân, tươi tắn và rạng ngời hạnh phúc”.

Trần Hậu Yên Thế 
- Giảng viên ĐH Mỹ thuật Việt Nam (42 Yết Kiêu, HN)

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

TIN VUI: CÔNG AN HÀ NỘI ĐÃ PHẢI TRẢ TỰ DO CHO CHỊ MINH HẰNG


Thưa chư vị,

Cách đây ít phút (lúc 16h25), Chị Bùi Thị Minh Hằng đã được trả tự do. Hiện Chị đã rời khỏi Nhà tù Hoả Lò - xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm HN.

Theo “bật mí” của ABS: "Chiều qua BS nghe một nguồn tin đáng tin cậy cho biết: bác Nghị không tán thành vụ (bắt giam) nầy" (hết lời trích). 

Khi chị ra khỏi nhà tù, chị không có điện thoại bên mình, nên đã ra một quán nước gần đó, gọi điện cho mọi người. Những người đầu tiên đến đón chị là Binh Nhì Nguyễn Tiến Nam, Người Buôn gió Bùi Thanh Hiếu, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Văn Phương.

Sau đó khoảng 40 người khác đã đến rồi kéo nhau ra một quán bia ở gần Công viên Nghĩa Đô (gần Bảo tàng Dân tộc học) để hàn huyên.

Chị Bùi Hằng cho biết, sau khi bị đưa lên xe, công an đưa chị đi đường tắt qua đồng ruộng về Đông Anh. Trên xe, công an áp giải hỏi chị có mang theo máy ghi âm không. Chị nói, nếu cần để chị cởi đồ để các anh ấy khám. Tại đồn Công an Đông Anh, chị được đồn trưởng đồn phó và anh em công an ở đây đối xử lịch sự, tôn trọng và đúng mực. Đến 5h chiều mới đưa về Hoả Lò.

Lần này, về Hỏa Lò chị không bị lao động khổ sai; được chị em cùng tù rất tôn trọng. Chị được cấp số tù như các tù nhân khác. Đươc biết, chị Minh Hằng đã tuyệt thực suốt thời gian bị giam giữ để phản đối việc bắt người trái pháp luật của công an Hoàn Kiếm, HN.

Trước khi thả, chị Hằng được trao trả hết các thứ đã bị giữ lúc bắt. Chị ký vào biên bản nhận và ghi thêm có hai tài sản của chị phía công an chưa trao trả. Đó là tấm khăn quàng cổ trên cò dòng chữ: Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh - Hoàng Sa - Trường Sa - Việt Nam và chiếc nón Bài Thơ trên có viết những giòng chữ HS - TS - VN...

Xin chúc mừng Chị!
Chúc mừng tất cả những người dân yêu nước Việt Nam!
Nguyễn Xuân Diện kính báo!

Chùm ảnh trên trang Anh Ba Sàm:
.
Nhờ chính sách nhân đạo trong nhà lao, nên có … ngót đi, đẹp thêm

Phải xe khủng nầy mới chở nổi Bùi Hằng? Chắc không phải

Chí Đức, Bích Phượng, Nguyễn Văn Phương … Nhưng còn nhiều người nữa chưa được chụp hình cùng

Cùng blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh và “Hoa hậu biểu tình” Trịnh Kim Tiến

Dân đen mừng nhau bằng bia cỏ


(Cám ơn “Binh nhì” Nguyễn Tiến Nam, blogger Gốc Sậy, blogger J.B. NHV 
đã gửi hình ảnh kịp thời)

Bổ sung 12h25, ngày 21 tháng 10 năm 2011:


 Thư cảm ơn của Chị Bùi Thị Minh Hằng
Gửi đến tất cả những người Việt Nam yêu nước,
Trong bốn ngày bị bắt giam phi pháp vừa qua, Minh Hằng đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, thăm hỏi cùng những nỗ lực lên tiếng từ đồng bào và bạn bè gần xa. Trước sự đấu tranh kiên trì của những người Việt Nam yêu nước, cơ quan Công an TP Hà Nội đã bắt buộc phải trả tự do cho Minh Hằng. Có thể nói, đây là một chiến thắng của Chính nghĩa và Công lý, đặc biệt, đây cũng chính là chiến thắng của tất cả những người Việt Nam yêu nước, chống TQ xâm lược.
Ngay khi vừa bước ra khỏi nhà giam Hỏa Lò, Minh Hằng đã được đón nhận rất nhiều tình cảm của anh em, bạn bè, của đồng đội. Những cảm xúc không thể diễn tả hết, với những vòng tay ôm chặt, những giọt nước mắt, nụ cười, những bó hoa tươi thắm chan chứa tình yêu thương và những lời thăm hỏi động viên... Tất cả những điều ấy, Minh Hằng xin mãi khắc ghi trong lòng

Sau những gì đã xảy ra, xin cho Minh hằng được gửi lời cảm ơn chân thành, những tình cảm khắc cốt ghi tâm nhất đến tất cả đồng bào, đến các bạn, đến đồng đội thân thương của tôi, những người Việt Nam yêu nước.

Xin được cảm ơn những nỗ lực đấu tranh kiên trì, sự lên tiếng, vận động kịp thời của mọi người.

Xin được cảm ơn những người anh em, đồng đội bất chấp hiểm nguy đã đứng lên biểu tình đòi tự do cho Minh Hằng.

Xin cảm ơn những bài viết, những tin tức kịp thời từ những blogger, những diễn đàn và các cơ quan báo chí tự do.

Bốn ngày bị giam giữ trái phép, cộng với bao nhiêu việc làm mờ ám của cơ quan CA, Minh Hằng vẫn đấu tranh đến cùng để chống lại những việc làm sai trái ấy. Dù bị cô lập với thế giới bên ngoài, Minh Hằng vẫn luôn tin tưởng về sự tiếp tục đấu tranh của những người bạn, những đồng đội ở ngoài. Tình cảm của mọi người đã khiến Minh Hằng vô cùng cảm động, không biết nói sao cho hết.

Là một người con của Tổ Quốc Việt Nam, Minh Hằng nguyện hứa sẽ tiếp tục chiến đấu đến cùng để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ Quốc. Là một công dân yêu nước, Minh Hằng sẽ làm tất cả để chống lại những điều sai trái để góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn.

Một lần nữa, xin cho Minh Hằng được gửi lời cảm ơn đến toàn thể đồng bào trong và ngoài nước, đến tất cả những người con yêu giống nòi trên toàn cõi Việt Nam cảm ơn ! Cảm ơn và ngàn lần cảm ơn tình cảm vô biên của của những người Dân yêu nước

Thân thương và trân trọng!

Minh Hằng
- gửi trực tiếp tới NXD-Blog