Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

ĐỪNG GIEO RẮC TƯ TƯỞNG ĐẦU HÀNG!


ĐỪNG GIEO RẮC TƯ TƯỞNG ĐẦU HÀNG!
Nguyễn Trọng Vĩnh

Tình cờ tôi đọc được bài thuyết giảng của ông Đại tá Trần Đăng Thanh trước thầy trò một trường Đại học nào đó.
 
Tôi bỏ qua đoạn đầu ông nói về một số nước để khoe kiến thức của mình mà chỉ phân tích đoạn ông nói về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ông cũng biết là “Trung Quốc nung nấu tham vọng độc chiếm biển Đông, bản đồ 2 lần của nhà Thanh vẽ khẳng định Hải Nam là điểm biên giới cực Nam của Trung Quốc. Ông cũng nói được rằng biển Đông đối với ta là quan trọng và Trung Quốc phá hoại kinh tế của ta, hành động ngang ngược nếu ta sơ sẩy là nó cướp luôn”. 

Ông cũng thừa nhận là Việt Nam có đầy đủ cứ liệu lịch sử và pháp lý đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý là thuộc chủ quyển Việt Nam, đến ngay một số nhà nghiên cứu và học giả Trung Quốc như Trương Kỷ Phạm, Lý Lệnh Hoa, Hà Quang Hộ, Trương Tự Quang, v.v. cũng nói rằng cái đường “lưỡi bò” 9 đoạn tự vẽ là không có tính pháp lý không được các nước Việt Nam, Phillipines, Malaysia, Brunei chấp nhận mà cũng không được quốc tế thừa nhận.

GỬI ANH VÕ VĂN THƯỞNG - BÍ THƯ TỈNH UỶ QUẢNG NGÃI XEM XÉT

Cửa biển thành lạch sông, ngư dân “mắc cạn”

TT - Cổ Lũy, cửa biển lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Hơn 1.300 tàu, thuyền cùng hàng vạn ngư dân làm nghề cá huyện Tư Nghĩa rơi vào cảnh khó khăn.
.
 Đợi thủy triều lên đến đỉnh, tàu liều vượt lạch cạn ra biển - Ảnh: V.Q.Cầu

Nguyên nhân là mùa mưa năm nay không có lũ, nên cát sông Trà Khúc bồi lấp cửa biển nghiêm trọng hơn.

“Mắc cạn” 

Cửa biển Cổ Lũy, nơi con sông Trà Khúc gặp vùng biển thuộc xã Nghĩa An (huyện Tư Nghĩa) trước đây sâu, tàu lớn nhỏ vào được, có bề rộng trên 500m. Giờ đây cửa biển chỉ còn một con lạch nhỏ rộng chừng 50m, nông lộ cả đáy biển. Chiều 29-12-2012, dù thủy triều lên nhưng hàng chục chiếc tàu cá đành “thúc thủ” bên trong cửa biển, không tàu nào dám vượt ra biển.

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

TÔI ĐỨNG VỀ PHÍA ANH ĐOÀN VĂN VƯƠN

Ngô Minh
.
Vụ cưỡng chế thu hồi 19,3 ha diện tích đầm nuôi trồng thủy sản của anh Đoàn Văn Vươn ở khu vực Cống Rộc, xã Vinh Quang, H.Tiên Lãng, TP.Hải Phòng.vào buổi sáng cưỡng chế, 5.1.2012, rồi sau đó đập phá ngôi nhà của vợ chồng anh Vươn là việc làm trái pháp luật của chính quyền huyện Tiên Lãng, là vụ án chưa từng có , làm cho nhân dân cả nước phẫn nộ lên án gay gắt trong những ngày giáp Tết Tân Mão. Chính phủ đã phải có một cuộc họp bàn về vụ này. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phải hứa sẽ điều tra toàn bộ sự việc để xử lý công bằng.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của  Thủ tướng, trong thời gian dài, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an TP.Hải Phòng cũng đã có kết luận điều tra số 03/KLĐT đề nghị truy tố Nguyễn Văn Khanh, 51 tuổi, nguyên Phó Chủ tịch H.Tiên Lãng; Phạm Xuân Hoa, 57 tuổi, nguyên Trưởng phòng TN-MT H.Tiên Lãng; Lê Thanh Liêm, 49 tuổi, nguyên Chủ tịch xã Vinh Quang (H.Tiên Lãng) và Phạm Đăng Hoan, 52 tuổi, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Vinh Quang cùng về hành vi hủy hoại tài sản của người khác theo điều 143 của bộ luật Hình sự.  Những ngày đầu năm 2013, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an TP.Hải Phòng vừa ra quyết định khởi tố bị can đối với ông Lê Văn Hiền, nguyên Chủ tịch UBND H.Tiên Lãng về hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điều 285 của bộ luật Hình sự. Như vậy toàn bộ bộ máy huyện Tiên Lãng trực tiếp cưỡng chế thu hồi đất và phá hoại tài sản của anh Đoàn Văn Vươn đều đã bị truy tố. Hẳn nhiên còn sót một nhân vật quan trọng, đó là ông Đỗ Hữu Ca - Giám đốc Công an thành phố Hải Phòng, nhân vật đã trực tiếp điều động lực lượng công an đi cưỡng chế và khoái chí về cuộc cưỡng chế  và phá hủy tài dân công dân bằng câu nói nổi tiếng ”đây là một trận đánh đẹp, có thể viết thành sách”. 

KIẾN NGHỊ VIỆN KSND HẢI PHÒNG THAY ĐỔI TỘI DANH VỤ ĐOÀN VĂN VƯƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
  
Việt Nam, tháng 2 năm 2012

KIẾN NGHỊ CỦA CÔNG DÂN

(Đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hải Phòng - VKSNDTPHP, xem xét thay đổi tội danh và biện pháp ngăn chặn đối với các bị can bị tạm giam trong vụ án chống lại cưỡng chế trái pháp luật tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng)
Kính gửi: Ông Lương Văn Thành, Viện trưởng VKSNDTPHP,
                đại biểu Quốc hội tại Hải Phòng.

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, căn cứ Điều 53 Hiến Pháp 1992, gửi Ông Kiến nghị với nội dung sau:

Theo thông tin trên báo chí, chúng tôi được biết:

1/ Quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất của Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng đối với đầm của ông Đoàn Văn Vươn đã được Thủ tướng kết luận là trái pháp luật;

2/ Việc cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật (và không có phương án bồi thường) vào ngày 5/1/2012, giao cho người khác sử dụng (như theo đề nghị của Ủy ban nhân dân xã  Vinh Quang tại văn bản đề ngày 3/1/2012 - xem danviet.vn ngày 11/2/2012) thực chất là việc lợi dụng nhân danh chính quyền địa phương cướp đoạt có tổ chức tài sản của đại gia đình ông Đoàn Văn Vươn;

3/ Việc sử dụng lực lượng quân sự tham gia cưỡng chế thu hồi đất là trái Luật quốc phòng; 

4/ Khu vực nổ súng (nhà ông Đoàn Văn Quý) nằm ngoài diện tích bị cưỡng chế bị thu hồi. Nguyên nhân trực tiếp có vụ nổ súng là lực lượng vũ trang tham gia cưỡng chế (bộ đội, công an) đã đột nhập trái phép vào nhà gia đình ông Đoàn Văn Quý đang ở;

5/ 6 chiến sỹ (2 bộ đội, 4 công an) bị thương nhẹ, phần lớn đã trở lại công tác;

VIỆN KSND HẢI PHÒNG TRUY TỐ ÔNG ĐOÀN VĂN VƯƠN TỘI GIẾT NGƯỜI

Truy tố ông Đoàn Văn Vươn tội giết người 


Thứ sáu, 04/01/2013, 19:01 (GMT+7)
Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hải Phòng vừa kết luận anh em ông Đoàn Văn Vươn phạm tội “giết người - chống người thi hành công vụ” với khung hình phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hải Phòng, 4 người trong gia đình ông Vươn bị truy tố tội “giết người” gồm các ông: Đoàn Văn Vươn (SN 1963); Đoàn Văn Quý (SN 1966, em trai ông Vươn); Đoàn Văn Sịnh (SN 1957, anh trai ông Vươn) và Đoàn Văn Vệ (SN 1974, cháu ruột ông Vươn) có hành vi chống người thi hành công vụ nhưng đã bị khởi tố truy tố về tội giết người được quy định tại điểm d khoản 1 điều 93 bộ luật hình sự (BLHS) nên không khởi tố, xử lý về tội chống người thi hành công vụ quy định tại điều 257 BLHS.
Viện Kiểm sát cũng truy tố tội “chống người thi hành công vụ” đối với bà Phạm Thị Báu (SN 1982, tức Hiền, vợ ông Đoàn Văn Quý) và bà Nguyễn Thị Thương (SN 1970, vợ ông Đoàn Văn Vươn) theo quy định tại điểm d, khoản 2 điều 257 BLHS với khung hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
Đối với ông Đoàn Văn Thoại (em trai ông Đoàn Văn Vươn) và ông Phạm Thái (anh vợ ông Đoàn Văn Quý), sau khi gây án đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Gia đình ông Vươn phải bồi thường toàn bộ tổn thất về tinh thần và gần 64 triệu tiền phí nằm viện cho 7 người thuộc đoàn cưỡng chế bị thương tích, trong đó nặng nhất là ông Lê Văn Ghi, cán bộ Ban Chỉ huy quân sự huyện với 16 vết thương; ông Đỗ Xuân Trường, cán bộ Công an huyện bị 9 vết thương…
 - 1
Chị em bà Hiền nhận cáo trạng tại Trụ sở UBND xã Vinh Quang
Trên cơ sở kết quả điều tra, ngày 7/4/2009, UBND huyện Tiên Lãng ra quyết định thu hồi diện tích 19,3 ha đầm nuôi trồng thủy sản của gia đình ông Đoàn Văn Vươn. Ngày 24/11/2011, UBND huyện ra quyết định cưỡng chế để thu hồi diện tích đất trên.
Không chấp hành quyết định của UBND huyện Tiên Lãng, nên từ tháng 12/2011 đến 4/1/2012, ông Đoàn Văn Vươn đã tập hợp các ông Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Đoàn Văn Thoại và Phạm Thái để bàn bạc, thống nhất lên kế hoạch chuẩn bị chống đối lại lực lượng cưỡng chế.
Như kế hoạch, anh em ông Vươn sẽ dựng các hàng rào bằng tre, dóc rào để ngăn cản không cho những người thi hành nhiệm vụ cưỡng chế tiếp cận khu đất đầm; rải rơm, rạ ra lối đi vào và phủ lên nơi đặt mìn tự tạo, tưới xăng đốt và kích điện gây nổ mìn, nổ bình gas, bắn súng hoa cải vào lực lượng cưỡng chế.
Để thực hiện kế hoạch, ông Đoàn Văn Vươn chỉ đạo ông Vệ đi mua súng còn ông Quý, ông Sịnh, ông Thoại, ông Thái cùng bà Báu (vợ ông Quý), bà Thương (vợ ông Vươn), Quỳnh (con trai ông Vươn) và một số người thân khác làm 5 hàng rào dóc kín chắn ngang đường vào khu cưỡng chế, rải kín rơm rạ trên đường từ hàng rào đến nhà.
Sau đó, anh em ông Đoàn Văn Vươn chôn mìn tự tạo xuống, phía trên đặt bình gas, trên bình gas chèn bằng những bao đá (loại đá đổ bê tông), đồng thời chuẩn bị sẵn 2 khẩu súng hoa cải.
Ông Vươn phân công toàn bộ người nhà rút khỏi khu đầm chỉ còn ông Quý, ông Thoại và ông Thái ở lại để trực tiếp thực hiện gây nổ mìn để kích nổ bình ga, đổ xăng đốt rơm rạ và bắn đạn hoa cải vào lực lượng cưỡng chế. Riêng ông Vươn và ông Sịnh ở phía ngoài để chỉ đạo khi cần.
Tầm 7h30’ ngày 5/1/2012, khi đoàn người cưỡng chế khoảng hơn 10 người gồm: công an, bộ đội quân sự huyện Tiên Lãng được phân công đi trước để rà phá vật liệu cháy nổ và thực hiện vận động, thuyết phục lần cuối trước khi cưỡng chế.
Khi tiếp cận đến hàng rào thứ nhất chắn lối vào khu nhà của ông Đoàn Văn Quý thì lập tức ông Quý chập điện cho nổ mìn và bình gas. Tuy nhiên, bình gas không phát nổ nên không xảy ra thương vong.
Khi đoàn công tác tiếp tục tiến vào hàng rào thứ hai thì ông Quý, ông Thoại cùng ông Thái dùng súng hoa cải bắn 4 phát vào đoàn công tác làm 7 người bị thương.
Sau đó ông Quý, ông Thoại và ông Thái chạy trốn vào khu rừng phòng hộ phía sau nhà, thoát ra biển. Trong quá trình chạy trốn, ông Quý đã mang hai khẩu súng đến bãi dứa bờ sông Hóa, thuộc thôn Đồng Xuân, xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình cất giấu. Công an đã thu hồi hai khẩu súng giấu tại bãi dứa, bình ắc quy dùng để kích nổ kíp mìn tự tạo, 4 vỏ đạn đã bắn vào đoàn công tác, vật liệu chế tạo đạn hoa cải...

Nam Minh
Nguồn: Khám Phá.

NGUYỄN SĨ DŨNG: HIẾN PHÁP LÀ MỘT BẢN KHẾ ƯỚC XÃ HỘI

Khế ước xã hội

04:50-03/01/2013
Nguyễn Sĩ Dũng *

Về mặt kỹ thuật, nói Hiến pháp là một khế ước xã hội, thì không có nghĩa là cả xã hội phải tham gia soạn thảo văn bản này. Việc soạn thảo Hiến pháp vẫn phải do giới tinh hoa của dân tộc đảm nhận.

Hiến pháp trước hết cần được nhìn nhận như một bản khế ước xã hội. Dưới đây là những lý do cơ bản vì sao.

Trước hết, nếu tất cả chúng ta đều sinh ra tự do, nhưng đều phải phối hợp hành động để tồn tại, thì những nguyên tắc, những khuôn khổ hành xử chung là bắt buộc phải có. Vấn đề là chúng ta bắt buộc phải có những nguyên tắc, những khuôn khổ chung này bằng cách nào. Cách thứ nhất là chúng ta tự thỏa thuận về chúng. Cách thứ hai là chúng ta bị áp đặt về chúng. Theo cách thứ nhất, chúng ta vẫn tiếp tục là những con người tự do. Theo cách thứ hai chúng ta không còn là những con người tự do nữa.

Hiến pháp là đạo luật cơ bản với những nguyên tắc, những khuôn khổ hành xử chung nhất (kể cả những nguyên tắc, khuôn khổ hạn chế quyền tự do của cá nhân). Vì vậy, chúng ta chỉ có thể vẫn là những con người tự do nếu chúng ta được tự thỏa thuận về Hiến pháp.
.
Thứ hai, một bản Hiến pháp chỉ thực sự hiệu năng khi nó trở thành một thứ “kinh thánh” thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Muốn được như vậy thì nó không thể bị áp đặt. Bạn yêu tha thiết đứa con của mình nhiều khi không hẳn chỉ vì nó xinh đẹp, mà chủ yếu là vì nó do bạn sinh ra. Thế thì Hiến pháp cũng vậy. Bản Hiến văn phải là đứa con tinh thần của chúng ta, là sự kết tinh của trí tuệ, đạo đức và văn hóa tâm linh của tất cả những công dân sống trên đất nước Việt Nam. Chúng ta sản sinh ra Hiến pháp, thỏa thuận với nhau về các quy định của Hiến pháp, về các quyền và nghĩa vụ của mình, thì chúng ta tuân thủ và đấu tranh đến cùng để bảo vệ Hiến pháp. 
.
Ba là, chúng ta là gần 90 triệu người, 54 dân tộc, nhiều tôn giáo và thành phần xã hội khác nhau. Chúng ta rất chung, mà cũng rất riêng. Lợi ích của chúng ta cũng có nhiều điểm rất chung và có những điểm rất riêng. Chỉ một bản khế ước xã hội với sự tham gia xây dựng và thỏa thuận của tất cả mọi người và giữa tất cả mọi người, cái chung và cái riêng của tất cả chúng ta mới được cân nhắc đủ thận trọng, đủ cân bằng. Chỉ có như vậy, chúng ta mới củng cố được khối đại đoàn kết của mình và có được sự phát triển bền vững, hài hòa. Không có Hiến pháp tốt một cách chung chung, chỉ có Hiến pháp tốt theo nghĩa được tuyệt đại đa số người Việt chúng ta chấp nhận.
.
Bốn là, với tư cách là một bản khế ước xã hội, Hiến pháp mới có thể tạo cho tất cả người Việt chúng ta một vị thế bình đẳng- bình đẳng với nhau và bình đẳng với Nhà nước. Tất cả chúng ta đều có những quyền và nghĩa vụ như nhau. Nhà nước được chúng ta phân chia quyền lực chỉ ở mức độ và trong phạm vi cần thiết để phụng sự cho công chúng. Nhà nước được chúng ta phân chia cho quyền lực và phải chịu trách nhiệm trước chúng ta, chứ không phải Nhà nước ban phát quyền cho chúng ta và chúng ta phải phục vụ Nhà nước. Đây cũng là lý do tại sao Hiến pháp thường quy định cụ thể hơn chế tài đối với các cơ quan Nhà nước hơn là các công dân.
.
Về mặt kỹ thuật, nói Hiến pháp là một khế ước xã hội, thì không có nghĩa là cả xã hội phải tham gia soạn thảo văn bản này. Việc soạn thảo Hiến pháp vẫn phải do giới tinh hoa của dân tộc đảm nhận. Vấn đề là những người này phải thể hiện bản hiến văn như một khế ước xã hội, và người dân phải được tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến và phê chuẩn bản hiến văn đó.
.
Nguồn: Tia sáng
* TS Nguyễn Sĩ Dũng hiện là Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Thư giãn cuối tuần: TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI

Trọng dụng nhân tài
Lão Phích
Trưởng phòng tổ chức nhân sự sau khi được Giám đốc sở giao tuyển một Phó giám đốc để giúp việc, liền trình lên nhân sự:
- Báo cáo anh, một tiến sĩ tuổi đời 38, từng đi du học ở nước ngoài về, từng là học sinh giỏi quốc gia và từng đạt huy chương đồng quốc tế về tin học ạ.
- Tốt!
- Dạ, tiếng Anh, tiếng Pháp thông thạo như tiếng mẹ đẻ ạ!
- Tốt!
- Sọan thảo văn bản, thảo luận làm ăn với các đối tác nước ngoài thì tuyệt vời!
- Tốt!
- Nhìn chung anh ta thông minh, tài giỏi, là người tài tầm cỡ quốc gia, quốc tế đấy ạ!
- Tốt!
- Thế anh quyết định nhận tiến sĩ này về làm Phó giúp việc cho anh chứ ạ?
- Cậu biết tớ chỉ học đại học tại chức, rồi sau mới học thạc sĩ không?
- Dạ em biết!
- Cậu biết tiếng Anh tớ một chữ bẻ đôi không biết không?
- Dạ em biết!
- Cậu có biết tớ soạn cái văn bản dài hai trang khổ A4 ba ngày chưa chắc xong không?
- Dạ em biết!
- Cậu có biết khi vào mạng xem phim Sex xong tớ tắt máy bằng cách rút phụt ổ cắm cho nhanh không?
- Dạ, em biết!
- Thế tại sao cậu lại tuyển cái tay tiến sĩ kia làm Phó giúp việc cho tớ?
- Dạ, tại trong các cuộc họp anh thường phát biểu: Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Phải biết trọng dụng nhân tài ạ!
- Đúng thế nhưng không được tài hơn tớ cậu hiểu không?
- Dạ, bây giờ thì em rất hiểu ạ! 
Lão Phích ( Hà Nội)

NGUYỄN QUANG A: LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN VÀ TRƯNG CẦU DÂN Ý

Lấy ý kiến nhân dân và trưng cầu dân ý

 Nguyễn Quang A
Ngày 2-1-2013 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được công bố để lấy ý kiến nhân dân trong ba tháng. Nhiều người lẫn giữa việc lấy ý kiến của nhân dân và việc trưng cầu dân ý. Hãy thử làm rõ sự khác biệt này.
Hiến pháp là của ai? Ai là người quyết định về Hiến pháp và họ quyết định thế nào? Đáng tiếc những vấn đề cơ bản như vậy từ rất lâu vẫn bị hiểu nhầm.
Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng 2011 và các từ điển trước đó khá lâu) vẫn định nghĩa hiến pháp là “đạo luật cơ bản của nhà nước, quy định chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, quyền và nghĩa vụ công dân, tổ chức bộ máy nhà nước”. Có lẽ những người soạn dự thảo lần này cũng vẫn hiểu lầm như thế.
Nếu muốn xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân, thì mọi quyền lực phải thuộc về nhân dân. Hiến pháp không phải là của nhà nước, mà là của nhân dân. Trong Hiến pháp nhân dân là chủ thể, là người quyết định, là những người trao quyền cho nhà nước (phân quyền cho các nhánh nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp) đến mức nào và như thế nào để bảo vệ các quyền tự do và sự hạnh phúc của người dân. Đấy là quyền tối cao của nhân dân. Như thế nhân dân là người quyết định Hiến pháp. Đối tượng của Hiến pháp (đối tượng phải thi hành, phải tuân thủ Hiến pháp và bị hạn chế quyền lực bởi Hiến pháp)  chính là nhà nước chứ không phải người dân.
Tất nhiên, việc đòi hỏi tất cả nhân dân cùng tham gia vào soạn ra Hiến pháp là việc bất khả thi.
Nhân dân có thể ủy thác cho các nhóm không quá đông người (có thể là một Quốc hội lập hiến hay các nhóm có chức năng như vậy) để soạn ra (các) dự thảo Hiến pháp.
(Các) dự thảo đó phải được công bố công khai để nhân dân góp ý và thảo luận trong một thời gian đủ dài.
Trên cơ sở góp ý và thảo luận công khai đó (các) dự thảo cuối cùng được hoàn thiện (tốt nhất là: (a) chỉ có 2 dự thảo hoàn chỉnh cuối cùng; hay (b) có 1 dự thảo với một số điều cốt lõi mà mỗi điều có 2 lựa chọn khác nhau; hoặc (c) có 1 dự thảo hoàn chỉnh duy nhất) để đưa ra trưng cầu dân ý.
Trong trưng cầu dân ý tất cả các công dân bằng lá phiếu của mình đều có quyền lựa chọn: (a) tán thành (một trong 2) bản dự thảo; hoặc (b) tán thành từng lựa chọn của các điều cơ bản của một dự thảo; hay (c) tán thành hoặc bác bỏ một dự thảo hoàn chỉnh duy nhất.
Việc bỏ phiếu phải được diễn ra một cách tự do và việc kiểm phiếu phải được giám sát chặt chẽ (bởi người dân, báo chí, đại diện của các tổ chức quốc tế) để tránh sự gian lận. Kết quả Hiến pháp được thông qua sẽ là: (a) bản dự thảo nào được đa số cử tri tán thành; hay (b) dự thảo Hiến pháp với các điều khoản cơ bản theo đúng lựa chọn của đa số; hoặc (c) dự thảo duy nhất được đa số cử tri tán thành hay Hiến pháp cũ (nếu dự thảo duy nhất này bị đa số bác bỏ).
Chỉ với việc quyết định của nhân dân, thông qua trưng cầu dân ý như trên, thì Hiến pháp mới thực sự là Hiến pháp.
Như thế có thể thấy hai khâu “lấy ý kiến của dân” và “trưng cầu dân ý” là 2 khâu tách biệt và đều rất quan trọng.
Không có lấy ý kiến của nhân dân, không có thảo luận công khai hay không có đủ thời gian để thảo luận công khai về (các) dự thảo, để hình thành (các) dự thảo cuối cùng sẽ dẫn đến một Hiến pháp không tốt, không tạo ra sự đồng thuận trong nhân dân và như thế có thể gây chia rẽ, có hại cho sự phát triển của đất nước.
Việc thông qua Hiến pháp bằng trưng cầu dân ý ở Ai cập vừa qua là một thí dụ như vậy. Tại Ai Cập đã có trưng cầu dân ý, nhưng đã không có sự tham gia, lấy ý kiến, thảo luận của nhân dân (hay các nhóm khác nhau) để hình thành bản dự thảo cuối cùng đưa ra trưng cầu dân ý. Khi không có sự thảo luận công khai để cho các ý kiến khác nhau đối chọi với nhau, thì người dân thiếu thông tin và rất dễ nhầm trong lựa chọn (tán thành hay bác bỏ) của mình.
Chúng ta để 3 tháng lấy ý kiến nhân dân. Để cho việc lấy ý kiến được hiệu quả thì việc khuyến khích thảo luận, tranh luận công khai về nội dung của dự thảo là hết sức quan trọng.
Nếu không có thảo luận, tranh luận mà mỗi người chỉ viết ra ý kiến của mình và gửi cho ban soạn thảo thì việc lấy ý kiến rất dễ biến thành hình thức. Không có sự cọ xát, thậm chí sự đối đầu kịch liệt của các ý kiến khác nhau thì không thể hình thành các nhóm ý kiến chính được phản ánh trong 2 lựa chọn của bản dự thảo cuối cùng, khiến cho việc tiếp thu ý kiến là không thể. Ban soạn thảo dẫu có 5 đầu 6 tai cũng không thể đánh giá, phân loại ý kiến của hàng triệu người. Thiếu thảo luận, thiếu tranh luận tự do và công khai hay cản trở việc hình thành các nhóm khác nhau có các ý kiến khác nhau để giúp cho quá trình lấy ý kiến được hiệu quả thể hiện trong các dự thảo cuối cùng, thì việc lấy ý kiến của nhân dân dễ trở thành hình thức, tốn tiền của, công sức và vô ích.
Sau khi đã có thảo luận, tranh luận để hình thành (các) dự thảo cuối cùng mà nhân dân không được quyết định thông qua lá phiếu của mình, thì Hiến pháp, dẫu có được 100% “đại biểu” thông qua, cũng không phải là Hiến pháp thực sự để tạo ra một nhà nước của dân, do dân, vì dân nhằm hạn chế quyền lực của nhà nước và bảo vệ các quyền tự do của người dân.
Việc khuyến khích nhân dân góp ý, thảo luận, tranh luận là rất đáng hoan nghênh. Sau ba tháng nên hoàn chỉnh (các) dự thảo và đưa ra cho toàn dân quyết định. Làm được vậy là một bước tiến lớn để xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân và  góp phần hết sức quan trọng để làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
 Ghi chú: Bài đã được đăng trên Lao động Cuối tuần, Số 1, thứ Năm, 3/1/2013, hầu như không thay đổi với bản gốc ở trên.

TIN MỚI: TRUNG QUỐC NGANG NHIÊN TẬP TRẬN Ở HOÀNG SA



Trung Quốc ngang nhiên tập trận ở Hoàng Sa
 
VnMedia) - Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) mới đây đã ngang nhiên tiến hành một loạt cuộc tập trận tăng cường khả năng chiến đấu ở cái mà nước này gọi là “thành phố Tam Sa” nhưng thực chất là bao gồm một loạt quần đảo tranh chấp trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đây là động thái gây hấn mới nhất trong một loạt những hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam nghiêm trọng trong thời gian qua của Trung Quốc.

Theo tờ Bưu điện Buổi sáng Hoa Nam dẫn nguồn tin từ Nhật báo Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa cho biết, Trung Quốc đã thực hiện một loạt cuộc tập trận sẵn sàng chiến đấu ở Thẩm Dương (Shenyang), Tế Nam (Jinan) và ở cái gọi là “thành phố Tam Sa”.

Tờ Nhật báo Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa đưa tin, các cuộc tập trận trên được khởi động từ hôm thứ Tư (2/1), ngay trong những ngày đầu năm mới 2013. Loạt cuộc diễn tập này được Trung Quốc tuyên bố là nhằm để nâng cao tư thế sẵn sàng cũng như tăng cường năng lực chiến đấu của các binh lính.

BÙI NGỌC SƠN: LẠI BÀN VỀ BÀI HỌC TỪ HIẾN PHÁP 1946

Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946

Bùi Ngọc Sơn

22/09/2011 11:23

Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành sửa đổi hiến pháp, nhiều học giả và một số nhà hoạt động chính trị đề nghị kế thừa những giá trị của Hiến pháp năm 1946 của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bài viết này bàn về cơ sở của những giá trị đó và gợi mở một số điều cho tương lai sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam. 

1.Điều gì làm nên giá trị của Hiến pháp 1946?

Những giá trị nội dung của bản Hiến pháp 1946 có thể được tóm lược ở mấy điểm sau đây: nguyên tắc chủ quyền lập hiến thuộc về nhân dân; phân công quyền lực mạch lạc giữa ba cơ quan Nghị viện nhân dân, Chính phủ, và Tòa án; những hình thức kiểm soát quyền lực như chế độ bất tín nhiệm Nội các, chế độ phủ quyết tương đối các luật của ngành lập pháp; chế độ tư pháp độc lập; các dân quyền cơ bản.

Tại sao bản Hiến pháp 1946 lại có thể đạt được những giá trị như vậy? Một số ý kiến có thể cho rằng điều này bắt nguồn từ chỗ bản hiến pháp được soạn thảo bởi những con người ưu tú của dân tộc vào thời điểm đó dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh- Chủ tịch Ủy ban Dự Thảo Hiến pháp. Điều này có phần đúng, nhưng có những lý do có tính chất bản chất hơn.

Một bản hiến pháp thành văn, nếu thực sự chính đáng, không gì hơn là sự biểu đạt thành ngôn ngữ của luật cơ bản một trật tự, một trạng thái và những mong muốn thực tế của một cộng đồng chính trị. Hơn một trăm năm trước đây, GS Christopher Tiedeman (1857-1903), một nhà hiến pháp học kinh điển của nước Mỹ, đã cho rằng: “các hiến pháp chỉ hiệu quả khi các nguyên tắc của nó cắm rễ trong đặc tính của quốc gia, và do đó, là một sự phản ánh trung thành của ý chí quốc gia.”[1] Tiedeman gợi lại rằng lịch sử nhân loại không thiếu những trường hợp hiến pháp được áp đặt một cách tùy tiện lên người dân và do vậy không hiệu quả do không phản ánh những mong muốn thực sự của người dân. Để minh chứng, nhà hiến pháp học này đưa ra trường hợp Locke soạn thảo hiến pháp cho người Carolinas mà những nguyên tắc của nó không phù hợp với người bản địa và trường hợp Napoleon Bonaparte soạn thảo hiến pháp cho những vùng chiếm đóng[2].