Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

THÔNG BÁO VỀ LỄ KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP NGÀNH HÁN NÔM


Nhân dịp tròn 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm 1972 - 2012 (thuộc Khoa Văn học), Trường ĐH KHXH và Nhân văn HN, Khoa Văn học và Ngành Hán Nôm tổ chức Lễ Kỷ niệm 40 năm  thành lập Ngành Hán Nôm vào hai ngày 16 & 17 tháng 11 năm 2012. 

1.Các hoạt động kỷ niệm:
1.1.Hội thảo Khoa học : “40 năm đào tạo và nghiên cứu Hán Nôm 
tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”
Thời gian: 7h30-11h45, ngày 16/11/2012
Địa điểm: Phòng 701, Tầng 7, Nhà E (Số 336 – Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội).
Ghi chú: Địa điểm thây đổi, trước đó ghi trong Giấy mời là Phòng 506 Nhà E.
1.2.Hội trại – Trưng bày ảnh, thư pháp – Giao lưu thư pháp:
Thời gian: từ 13h00 ngày 16/11 đến 12h00 ngày 17/11/2012: ngoài trưng bày ảnh và tác phẩm thư pháp, còn có hoạt động viết tặng Quý khách tham dự Lễ kỷ niệm.
Địa điểm: tại sân trước Nhà E.
1.3.Giao lưu Văn nghệ:
Thời gian: từ 19hoo đến 21h45, ngày 16/11/2012.
Địa điểm: Hội trường Tầng 8 Nhà E.
Ghi chú: ngoài 8-10 tiết mục văn nghệ của hai ngành Văn học – Hán Nôm, phần giữa còn có giao lưu giữa cựu sinh viên và tân sinh viên ngành Hán Nôm.
2.Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm:
Thời gian: 8h00-11h00, ngày 17/11/2012.
Địa điểm: Hội trường Tầng 8 Nhà E.
  

Phụ trách các tiểu ban chuẩn bị cho lễ kỷ niệm gồm:
- Lễ Kỷ niệm: Phạm Ánh Sao, Phó Chủ nhiệm Khoa Văn học
- Hội trại: Lê Văn Cường (GV)
- Văn nghệ: Phạm Vân Dung (GV)
- Hội thảo: Nguyễn Tuấn Cường (GV)

HAI BÀI TRÊN TẠP CHÍ HÁN NÔM CỦA SV NGUYỄN XUÂN DIỆN - BÀI 2

Chụp ảnh cùng Thầy Đinh Trọng Thanh - Thầy hướng dẫn luận văn tốt nghiệp (đã mất) nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Ngành Hán Nôm (1972-2002).



 .
Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm (1972 - 2012), nhớ lại thời sinh viên hơn 20 năm trước, xin giới thiệu 02 bài viết của SV Nguyễn Xuân Diện đăng trên Tạp chí Hán Nôm (01 bài năm 1991 và 01 bài năm 1992 - là năm tốt nghiệp)
Bài đăng trên tạp chí Hán Nôm số 2-1991:
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 
CỦA KIỀU OÁNH MẬU
Nguyễn Xuân Diện

Trước nay, các nhà nghiên cứu Truyện Kiều và văn bản Truyện Kiều đều dành một sự chú ý đặc biệt và những đánh giá cao đối với bản Kiều do Kiều Oánh Mậu khảo đính, chú giải và đưa in năm Nhâm Dần, niên hiệu Thành Thái 14 (1902). Một số nhà nghiên cứu đã có viết về cuộc đời và tác phẩm của Kiều Oánh Mậu, song chúng tôi thấy cần phải bổ sung thêm một số tư liệu để giúp cho việc nghiên cứu được đầy đủ hơn. Bài viết này bước đầu cung cấp một số tư liệu mới về cuộc đời, tác phẩm và những đóng góp để bạn đọc tham khảo thêm.

Kiều Oánh Mậu (1854-1911)(1) người làng Đông Sàng, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Đương Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây). Lúc nhỏ Kiều Oánh Mậu tên là Kiều Dực (hoặc Kiều Hữu Dực), sau lại đổi là Kiều Cung, tự Tử Yến, hiệu Giá Sơn. Năm 1883, vua Tự Đức chết, đặt miếu hiệu là Dực Tông, ông mới đổi tên là Kiều Oánh Mậu. Theo Kiều thị gia phả (do chính Kiều Oánh Mậu biên soạn(2) thì cụ tổ của ông là Kiều Phúc, đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493). Tiếp sau đó là các cụ Kiều Văn Bá đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Tỵ, niên hiệu Hồng Thuận 1 (1509)(3); Kiều Bá Nghiễm, Kiều Trọng Dương đều đỗ Hương cống năm Ất Mùi (1775) đời Lê Cảnh Hưng.

Cha của Kiều Oánh Mậu là Kiều Huy Tùng (1834 - 1917), đỗ Tú tài khoa Đinh Mão (1867), đỗ Cử nhân Ân khoa Mậu Thìn (1868); thời Tự Đức, nhiều năm làm Tri huyện các huyện Chân Định, Quỳnh Côi, Phù Dực tỉnh Thái Bình.

HAI BÀI TRÊN TẠP CHÍ HÁN NÔM CỦA SINH VIÊN NGUYỄN XUÂN DIỆN - BÀI 1

Cùng Anh Phạm Ánh Sao K30 (hiện là Phó Chủ nhiệm Khoa Văn) trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập ngành



Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm (1972 - 2012), nhớ lại thời sinh viên hơn 20 năm trước, xin giới thiệu 02 bài viết của SV Nguyễn Xuân Diện đăng trên Tạp chí Hán Nôm (01 bài năm 1991 và 01 bài năm 1992 - là năm tốt nghiệp)

Bài đăng trên tạp chí Hán Nôm số 2-1991:
VỀ TIỂU SỬ CỦA LÊ ANH TUẤN THƯỢNG THƯ NHÀ THƠ ĐẦU THẾ KỶ XVIII
Nguyễn Xuân Diện

Trên Tạp chí Hán Nôm số 1 (8)-1990 có bài viết Lê Anh Tuấn Thượng thư nhà thơ đầu thế kỷ XVIII của Nguyễn Tuấn Lương. Bài viết đã cung cấp được những chi tiết quan trọng về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Anh Tuấn, đồng thời đưa ra nhiều nhận xét thú vị về giá trị nội dung và nghệ thuật thơ của vị quan Thượng thư họ Lê.

Với bài viết lần này, chúng tôi muốn trình bày thêm một vài vấn đề nhằm làm sáng rõ hơn về tiểu sử của Thượng thư - nhà thơ Lê Anh Tuấn.

Về Lê Anh Tuấn, Lược truyện các tác gia Việt Nam (LTCTGVN) của Trần Văn Giáp ghi: “Lê Anh Tuấn, hiệu Dịch Hiên, người làng Thanh Mai, huyện Tiên Phong (?). Không rõ ông sinh và mất năm nào. Năm 1704, ông đậu Tiến sĩ, sau được sang sứ Trung Quốc, làm đến Hộ bộ Thượng thư, tước Điện quận công” (1).

Trước hết, chúng tôi nói về cái dấu hỏi ở đằng sau chữ “huyện Tiên Phong” trong LTCTGVN. Nhiều thư tịch Hán Nôm, nhiều công trình nghiên cứu về địa danh hành chính và các vấn đề khác đã cho biết huyện Tiên Phong thuộc phủ Quảng Oai (có thời thuộc phủ Quốc Oai) trấn Sơn Tây. Chẳng hạn sách Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC) của Phan Huy Chú có chép: “Trấn Sơn Tây có 6 phủ, 24 huyện”. Sáu phủ đó là: “Quốc Oai, Tam Đới, Lâm Thao, Đoan Hùng, Quảng Oai và Đà Dương”(2).

Nguyễn Công Việt: BỐN MƯƠI NĂM NHỚ THẦY, NHỚ BẠN

PGS.TS Nguyễn Công Việt – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Cựu sinh viên Ngành Hán Nôm Khóa 1 (K17 – Khoa Ngữ Văn – Đại học Tổng hợp Hà Nội):
BỐN MƯƠI NĂM NHỚ THẦY, NHỚ BẠN
Nguyễn Công Việt
Đi bộ hết con đường đất đỏ, tôi leo lên đê lần đầu nhìn dòng sông Cầu trong xanh lặng lẽ trôi dòng xuôi về hướng biển. Bến đò chiều Đông vắng ngắt thấp thoáng những khóm tre mái rạ lờ mờ trong khói sương tà; Qua đò sang sông là đã đến được địa điểm tập trung thôn Ngọ Phúc, huyện Hiệp Hòa. Cái tên bến đò Đông Xuyên, thôn làng Ngọ Phúc, Ngọ Khổng, Sát Thượng, Chính Trung thuộc đất Kinh Bắc xưa là những địa danh đầu tiên lưu lại trong ký ức của tôi ngày tựu trường 40 năm trước.
Ngày ấy khóa 17 Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội của chúng tôi có hơn 100 người, được đăng ký phân vào ba chuyên ngành Văn, Ngữ và Hán Nôm. Văn, Ngữ đã có sẵn từ trước trước nên nhiều bạn không phải đắn đo, riêng Hán Nôm là khóa đầu nên các thầy phải bỏ công đi giới thuyết, chiêu mộ. Cuối cùng cũng được 13 trò, trong đó có tôi là kẻ chưa có một chút khái niệm nào về Hán Nôm mà chỉ làm theo sự hăng hái của mấy bạn mới quen. Duyên nghiệp định phận từ ngày ấy tới hôm nay, trước tiên phải kính cẩn nhắc đến quý danh của các thầy Nguyễn Đình Thảng, Lê Văn Quán, Đinh Gia Khánh, Trần Thuyết, Nguyễn Văn Tu… là những người thầy hướng đạo buổi đầu nhập môn cho lớp thiếu niên mới trưởng thành.
Buổi học đầu tiên của chúng tôi vào tiết Đông chí năm Nhâm Tý 1972, đúng đợt gió Bắc giá lạnh ở ngôi đình hoang xơ xác không cửa. Ghế ngồi của trò là những đệm rơm nắm rạ, bàn viết là đôi đầu gối chụm thành. Còn thầy chỉ có cách đứng, cấm chỉ ngồi vì nếu ngồi sẽ bệt xuống đất như trò. Người thầy khai tuệ cho tôi những nét chữ đầu tiên là thầy Nguyễn Đình Thảng. Những chữ nhập môn ấy là chữ Nhân, chữ Thiện trong Nhân chi sơ, tính bản thiện. Cái thiện lương bản căn con người như luôn nhắc nhở theo sát bên chúng tôi – những người theo nghiệp Hán Nôm suốt mấy chục năm ròng.
Những tháng ngày nơi sơ tán vất vả đào hầm trú ẩn, vận chuyển kho sách, lương thực, giúp dân trồng trọt thu hoạch… Rồi chứng kiến 12 ngày đêm máy bay Mỹ dội bom xuống Hà Nội, pháo ta bắn, bom đạn như mưa, lửa rực ngút trời đêm… Đến sự học phòng lớp chẳng có, những buổi học nơi đình hoang, lúc nhà kho, khi lều gianh vách đất. Lớp không ghế không bàn, cũng không cửa che gió mưa, song không bao giờ thiếu một trò nào. Ở tuổi mới lớn cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm, nhưng vẫn hồn nhiên hăng hái. Những ngày khói lửa, gian nan cơ cực thủa ấy chẳng bao giờ quên trong tâm trí mỗi người.

Nguyễn Văn Thịnh: HÁN NÔM MÃI ĐAU ĐÁU TRONG TÔI


HÁN NÔM MÃI ĐAU ĐÁU TRONG TÔI
Nguyễn Văn Thịnh
Lời dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Thịnh - nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Hán Nôm, là người Thầy cả khi đi học, khi công tác, lẫn khi đã nghỉ hưu, lúc nào cũng say mê, nhiệt thành “đến một mức rất quá”. Tấm lòng của Thầy với Ngành được tất cả đồng nghiệp trong ngoài Ngành ghi nhận và được tất cả thế hệ học trò ghi nhớ biết ơn. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm (1972-2012), chúng tôi xin giới thiệu những cảm xúc, những kỷ niệm của Thầy về Ngành, về những lĩnh vực văn hóa Hán Nôm mà Thầy “mến yêu” và xả thân hết mình. Chúng tôi xin đặt lại nhan đề bài viết của Thầy.
Đặt bút viết Hồi cố và cảm xúc về ngành Hán Nôm, nhưng dòng hồi cố của tôi lại chảy miên man về nhiều phương, cũng như công việc của tôi từ ngày nghỉ hưu chưa lúc nào ngừng lắng. Có lẽ bởi tôi đã gắn với chữ Hán, chữ Nôm từ quá sớm. Tuy không theo con đường khoa cử, nhưng dòng họ tôi cũng nhiều đời học để đủ vốn chữ nghĩa tu tâm luyện tính, biết tới Hiên-Kỳ, nắm được chính yếu của Trung y, đọc hiểu được Bản thảo cương mục, Thương hàn luận hay Nam dược thần hiệu, Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh của y học nước nhà nhằm mục đích trị bệnh cứu người. Suốt năm đời nối nhau làm thuốc (tính từ ông nội tôi Lương y Nguyễn Văn Mai, mà nhà thờ họ lưu truyền đại tự Nho y kế thế, Xuân phong tại, do Nội ngoại trường môn sinh dâng tặng), tôi đã sớm có được vốn nhỏ chữ Hán do Cụ ngoại tôi - Cụ phó Nguyễn Duy Quảng (tất nhiên là Phó lý mua) và ông trẻ tôi Lương y Nguyễn Văn Lan truyền lại; còn ông nội tôi là Lương y Nguyễn Văn Mai thì lập nghiệp tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; Đến thân phụ tôi thì có học chữ Hán, nhưng ở thời ông, nho học đã vào cuối chầu, chữ Quốc ngữ đã thu hút giới trẻ. Ông chỉ khuyến khích tôi thôi chứ ông không giúp gì trực tiếp bởi ông là người biết thế nào là “học hải mang mang”, chữ nghĩa Thánh Hiền biết mấy mà dám làm thầy dạy. Sau này tôi được học Trung văn ở phổ thông, rồi đại học, tại khoa lúc đó giáo trình Trung văn cũng có cả âm Hán Việt. Việc đó giúp tôi duy trì thói quen và ham mê học chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt. Trong những năm học văn tại Khoa Khoa học Xã hội (Ký túc xá Láng), chúng tôi vẫn được học thêm chữ Hán do Cụ Trần Lê Hữu - thân phụ PGS Trần Lê Sáng dạy, còn học Cụ Đỗ Văn Hỷ chỉ được một số buổi, tôi còn nhớ nhiều bài Cụ dạy nhưng không nhớ lớp học do cơ quan nào của Bộ Văn hóa tổ chức nữa, hình như Vụ Bảo tồn Bảo tàng. Lớp bồi dưỡng chính quy chính là các lớp Hán Nôm sau đại học do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam mở. Lớp học này, tôi thực sự chờ đón, vì ra trường vào giữa thời chống Mỹ, giữa những năm ác liệt, nhưng lúc này tôi lại có nhiều thời gian nơi sơ tán. Có lần nghe láng máng lớp chuẩn bị khai giảng, tôi đã khăn gói lên huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, nơi Viện (Ban?) Hán Nôm sơ tán. Nhưng lớp học này mãi dến năm 1973 mới chính thức khai giảng tại Trần Xuân Soạn, Hà Nội. Lớp học này có các thầy dạy là các bậc túc Nho như Cụ Đỗ Ngọc Toại, Cụ Trần Duy Vôn, Cụ Đào Phương Bình, đặc biệt là cụ Lê Thước bậc đại khoa của triều Nguyễn, các giáo sư thân thuộc nổi tiếng của các viện các trường như GS Đào Duy Anh, GS Cao Xuân Huy, GS Trương Đình Nguyên… Nhiều Giáo sư của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc đó cũng tham gia dạy về sử học và văn học như GS Phan Huy Lê, GS Đinh Xuân Lâm, GS Trần Đình Hượu…

LS. Nguyễn Anh Vân: Ý KIẾN VỀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT VỤ VĂN GIANG

Ý KIẾN VỀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT VỤ VĂN GIANG
Luật sư Nguyễn Anh Vân

Trong bài này tôi không nhắc lại nội dung vụ việc Văn Giang mà chỉ nói về hướng giải quyết theo quy định của luât pháp. Tôi cũng biết rằng, hướng giải quyết vụ việc là do các Luật sư tư vấn và bà con (Văn Giang) bị thu hồi đất lựa chọn. Dù vậy, tôi vẫn cứ mạo muội góp ý kiến về hướng giải quyết. Sự mạo muội có lẽ xuất phát từ sự khâm phục tinh thần bất khuất, dũng cảm và kiên cường của bà con. Sự mạo muội có lẽ cũng bắt nguồn từ mong muốn giúp được một điều gì đấy dù nhỏ nhoi cho những người dân bị oan ức Sự mạo muội có lẽ cũng bắt nguồn từ sự cảm thông của người cùng cảnh ngộ, cùng quê hương cũng đã phải sống mòn mỏi nhiều năm tháng để đi tìm công lý trong nỗi đau uất nghẹn..
Vụ việc này khá phức tạp. Nói như ông giáo sư, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường (BTNMT) Đặng Hùng Võ, “Vụ việc Văn Giang không đơn giản” là rất đúng. Nó không đơn giản, bởi vụ việc liên quan tới nhiều cấp, nhiều nghành và bởi quyền lợi của nhiều người cũng như sự vô trách nhiệm của những người có thẩm quyền đã không giải quyết dứt điểm, để khiếu kiện kéo dài 8 năm. Nó không đơn giản bởi chính ông Võ là người đã khơi mào cho sự rắc rối, phức tạp này bằng một tờ trình vi phạm pháp luật từ những năm 2004 mà ông đã thừa nhận tại buổi đối thoại với bà con tại hội trường BTNMT ngày 8/11/2012.
Nhưng dù vụ việc có phức tạp đến đâu đi chăng nữa thì nó vẫn có hướng giải quyết, nếu như những người có thẩm quyền công tâm và có tinh thần thượng tôn pháp luật, biết lấy các quy định của pháp luật làm cơ sở.
Dưới đây tôi đưa ra hướng giải quyết vụ việc dựa vào các quy định của pháp luật và dựa vào chút kinh nghiệm, chút hiểu biết về kiến thức luật pháp của mình để bà con bị thu hồi đất và các độc giả tham khảo. 

Phương Bích: CÓ MỘT VƯỜN HOA "BỊ TRÓI"

Có một vườn hoa "bị trói"

Phương Bích


Một người bạn đáng kính mới đi công tác xa về, nghe tin về cái chết của cụ bà xấu số Hà Thị Nhung, thì ngỏ ý muốn ra vườn hoa Lý Tự Trọng để thắp hương cho cụ.

Lâu lắm không có việc đi qua, thấy một sợi dây màu vàng chóe khá ấn tượng chăng từ gốc cây này sang gốc cây khác, quây hết cả vườn hoa Mai Xuân Thưởng. Tôi trỏ cho bác ấy xem thì bác bên cạnh thốt lên một câu nghe cứ như thơ: Vườn hoa bị trói!
Câu nói thật lạ tai, tựa như một tiếng than. Tôi kinh ngạc như thể vừa phát hiện ra được một tứ thơ hay, nghe sao mà đau đớn, mà ai oán thế.
Thật là hình tượng quá – Vườn hoa bị trói!
Chúng tôi dắt xe lên vườn hoa Lý Tự Trọng ở phía bên kia đường, nơi những nhóm dân oan đang nằm ngồi la liệt. Một điều đau buồn là phần lớn trong số họ đều là phụ nữ lớn tuổi. Những gương mặt dãi dầu mưa nắng ngước lên nhìn chúng tôi, đầy vẻ  hy vọng khi tôi giơ điện thoại lên chụp. Như người sắp chết đuối, thấy cái cọc nào là cứ vớ đại lấy - Họ tưởng đâu như các nhà báo đến quay phim, chụp ảnh để bá cáo lên lãnh đạo, giải quyết sơm sớm cho họ còn về quê. Hỏi thăm thì mỗi người một miền, xa thì Bình Định, gần thì Vĩnh Phúc, Sơn Tây, phần lớn chung cảnh ngộ bị mất đất, mất nhà...

QUYẾT ĐẤU TRUNG CỔ VÀ ĐỐI THOẠI VĂN GIANG - HÙNG VÕ

Quyết đấu Trung cổ và đối thoại Văn Giang – Hùng Võ

15/11/2012

Phạm Hồng Sơn

Quyết đấu tay đôi (duel), thường bằng kiếm hoặc súng, để tự giải quyết một hận thù, một khúc mắc, bất đồng giữa hai cá nhân, không cần viện tới phân xử của các thiết chế chính thống/nhà nước, là một tập tục xuất hiện từ thời Trung cổ ở châu Âu và trở nên thịnh hành trong giới có vị thế xã hội cao (hiệp sĩ, thượng lưu-gentlemen, chính trị gia,…) tại châu Âu trong thời Phục Hưng. Sau đó quyết đấu tiếp tục phát triển sang Bắc Mỹ và duy trì cho tới tận cuối thế kỷ XIX. Nguyên tắc của quyết đấu có nhiều điều khoản và biến thể và từng được lập thành các bộ qui tắc (code) có tính phổ quát trong dân chúng ở nhiều quốc gia châu Âu và thậm chí còn được nhà nước pháp điển hóa như ở Pháp trong thời Phục Hưng. Nhưng tựu trung, quyết đấu dựa trên ba nguyên tắc: bình đẳng, minh bạch và chính trực. Vũ khí và điều kiện thực hiện cho cả hai bên là hoàn toàn như nhau. Cuộc quyết đấu được thực hiện dưới chứng giám của thân hữu của cả hai bên. Cả hai đều coi sự chính trực – tuân thủ tuyệt đối các điều kiện đã được thỏa thuận, dù biết chắc nhiều phần sẽ phải bỏ mạng vì sự tuân thủ đó, làm cái đích phải đạt được. Tuy nhiên mục đích cao nhất của quyết đấu không phải là hạ sát đối thủ mà chỉ nhằm phục hồi danh dự hay chứng minh cho phẩm giá toàn vẹn của mình. Do đó bên thua (nhưng sống sót) của một cuộc quyết đấu không bao giờ ấm ức hay phàn nàn điều gì về bên thắng và sau một cuộc quyết đấu mọi khúc mắc, hận thù giữa hai bên đều coi như không còn. Không bên nào còn có thể coi thường bên kia. Đa phần xã hội đương thời khi đó không lên án người sống sót duy nhất trong quyết đấu là kẻ giết người và cũng không có ai phê phán người bỏ mạng là kẻ dại dột.

Tính chất cao thượng của quyết đấu chắc chắn đã nằm trong khối di sản đồ sộ và sáng rực của thời Phục Hưng châu Âu: đặt danh dự, nhân phẩm con người lên tất cả. Khi danh dự bị tổn thương hoặc bị nghi ngờ người ta sẵn sàng lấy tính mạng hoặc chấp nhận đối mặt với thử thách tính mạng để bảo tồn, phục hồi danh dự bất kể danh giá, chức tước to lớn, bổng lộc, hạnh phúc ngất trời đang tận hưởng hay sự nghiệp, tương lai rực rỡ đang nằm ngay trong tầm tay. Évariste Galois, thiên tài toán học Pháp đầu thế kỷ XIX, đã phóng vội những suy tư kiệt xuất về toán học ra lề bức thư tuyệt mệnh trong đêm cuối cùng trong tuổi 21 trước khi đi quyết đấu. Chính trị gia lập quốc, luật gia lập hiến, bộ trưởng tài chính đầu tiên của Mỹ Alexander Hamilton không ngần ngại nhận lời đấu súng từ đương kim phó tổng thống Mỹ Aaron Burr. Bốn thủ tướng Anh [i] trong thế kỷ XVIII, XIX, hai người vẫn đang trên ghế thủ tướng, đã tham gia quyết đấu. Tổng thống Abraham Lincoln  cũng là người đã từng vui vẻ đi thẳng tới một cuộc quyết đấu súng. Pushkin tài hoa và lãng mạn đã viết nhiều về quyết đấu và cuối cùng cũng từ giã cuộc đời bằng đấu súng chỉ vì không muốn danh dự phải dính chút đàm tiếu.

Cuộc đối thoại giữa những nông dân huyện Văn Giang – Hưng Yên với ông Đặng Hùng Võ cựu thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi Trường ngày 08/11 mới đây, ở một vài phương diện nào đó, có thể được coi là một cuộc “quyết đấu” nhằm giải quyết mâu thuẫn quan điểm giữa hai bên về tính pháp lý của một số văn bản do chính ông Đặng Hùng Võ đã ký khi tại chức và phục hồi lại phần nào danh dự cho những người nông dân bị nhiều cáo buộc bất công khi quyết giữ đất. Nhưng cuộc “quyết đấu” Văn Giang – Hùng Võ có vài điểm đặc biệt cần ghi nhận.

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

ỐI ĐẢNG ƠI! CƠ QUAN ĐẢNG LẠI CÒN NHẢY VÀO CHUYỆN NÀY NỮA Ư?

Buổi họp báo giới thiệu về hội nghị xúc tiến đầu tư vào Quảng Ninh năm 2012.

Văn phòng TW Đảng thẩm định dự án casino Vân Đồn

M. Chung

 

Văn phòng Trung ương Đảng vừa có buổi làm việc với lãnh đạo Quảng Ninh về các đề xuất liên quan tới dự án casino ở Vân Đồn...

Theo nguồn tin của VnEconomy, hôm 14/11, Văn phòng Trung ương Đảng đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh về các đề xuất, ý kiến của các bộ, ngành liên quan tới dự án casino ở Vân Đồn.

Ông Đặng Huy Hậu, Phó chủ tịch UBNN tỉnh Quảng Ninh cho biết, buổi làm việc này để Văn phòng Trung ương Đảng thẩm định lại các đề xuất, ý kiến từ các bộ ngành về dự án casino tại khu kinh tế Vân Đồn.

Theo ông Hậu, là một khu kinh tế, phát triển nhiều về du lịch thì nhất định phải có các sản phẩm về du lịch, trong đó có casino.

Ông nói, trước mắt, casino ở góc độ hành lang pháp luật thì chủ yếu vẫn dành cho người nước ngoài, vì thế nếu có mở casino cũng mới chỉ dành cho người nước ngoài, không cho người Việt Nam vào chơi. Theo ông, trong phát triển kinh tế không bao giờ có lợi 100%. Có cả lợi và hạn chế, tuy nhiên phải xem mặt tích cực là bao nhiêu.

“Dự án casino tại Vân Đồn tôi nghĩ tích cực là rất nhiều, còn hạn chế thì rất ít”, ông nói.

Và vì thế, “theo tôi casino ở Vân Đồn là nên làm, làm càng sớm càng tốt”, ông Hậu đưa quan điểm.

Trước đó, trong quá trình chuẩn bị cho hội nghị xúc tiến đầu tư, UBND tỉnh Quảng Ninh đã công bố danh mục 18 dự án kêu gọi đầu tư, trong đó dự án khu vui chơi giải trí phức hợp tại Vân Đồn với vốn đầu tư khoảng 4 tỷ USD và dự án sân bay quốc tế Vân Đồn với vốn đầu tư khoảng 1 tỷ USD là những dự án quan trọng nhất.

Tại hội nghị xúc tiến đầu tư vào Quảng Ninh hồi đầu năm nay, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu tỉnh này cần "hợp tác chặt chẽ với các bộ ngành của Trung ương và các địa phương liên quan" để triển khai hàng loạt công việc quan trọng. 

Nguồn: VNEconomy.

HOẢNG LOẠN! HÀNG NGÀN NGƯỜI THÁO CHẠY VÌ ĐỘNG ĐẤT

Hàng nghìn người tháo chạy vì động đất

14h25 chiều 15/11, trận động đất cực mạnh kèm theo tiếng nổ lớn lan trong bán kính hơn 200 km khiến người dân ở nhiều địa phương Quảng Nam, Quảng Ngãi hoảng loạn tháo chạy khỏi cơ quan, nhà ở.

> Động đất ngày càng lớn ở thủy điện Sông Tranh 2

Trận động đất xảy ra trong lúc nhiều phường xã ở huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) tổ chức ngày hội Đại đoàn kết toàn dân. "Tổ trưởng dân phố đang phát biểu khai mạc ngày hội thì từ lòng đất phát ra tiếng nổ đùng đùng, mặt đất chao đảo. Mọi người nháo nhào bỏ chạy khỏi nhà văn hóa", một người dân kể. 

Cùng lúc, tiếng khóc thét của học sinh ở các trường học, tiếng la hét thất thanh của người dân chạy khỏi nhà càng làm nỗi sợ hãi về động đất lên đến cực độ. Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My cho biết, động đất kèm theo tiếng nổ lớn không chỉ gây rung chuyển nhà cửa, cơ quan, trường học ở trên địa bàn mà còn lan xa hơn 60 km tới tận các huyện đồng bằng và TP Tam Kỳ.

"Đây là trận động đất có cường độ mạnh, tiếng nổ lớn, mặt đất rung chuyển dữ dội nhất so với các trận xảy ra từ trước đến nay ở khu vực thủy điện Sông Tranh 2", ông Tuấn khẳng định. 

Động đất mạnh 4,7 độ Richter khiến người dân Quảng Nam, Quảng Ngãi hoảng loạn bỏ chạy ra khỏi nhà. Ảnh: Trí Tín.
Động đất mạnh 4,7 độ richter khiến người dân Quảng Nam, Quảng Ngãi hoảng loạn bỏ chạy ra khỏi nhà. Ảnh: Trí Tín.

Trong khi đó tại Quảng Ngãi, người dân ở nhiều địa phương như Tây Trà, Trà Bồng, Ba Tơ, Mộ Đức, Tư Nghĩa và TP Quảng Ngãi cũng hoảng loạn chạy ra khỏi nhà, cơ quan vì mặt đất rung lắc mạnh.