Blogger Widgets

Thứ tư, ngày 15 tháng sáu năm 2011

CÔNG HÀM CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG VÀ QUAN HỆ VIỆT - TRUNG

CÓ PHẢI BỨC CÔNG HÀM CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG 
LÀ LÁ BÀI TẨY TRONG TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT-TRUNG?

Đinh Kim Phúc

Theo tờ Xinhua ngày 14-6-2011, dẫn theo tờ Quân Giải phóng hàng ngày cho biết chính phủ Trung Quốc phản đối nỗ lực để quốc tế hóa vấn đề biển Đông,  chỉ nên giải quyết song phương thông qua hiệp thương hữu nghị giữa các bên tham gia.

Trong bài báo này có đoạn viết:

“Trong một tuyên bố chính thức vào năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố rõ ràng các đảo ở biển Nam Trung Hoa như là một phần của lãnh thổ chủ quyền của Trung Quốc, và sau đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng cũng bày tỏ sự thỏa thuận”.(1)

Những luận cứ và luận chứng của chính phủ Trung Quốc không có gì mới.

Ngày 17-11-2000, Bộ Ngoại giao Trung Quốc phát đi bản tin với cái gọi là “Sự thừa nhận của quốc tế về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa”:

“ 5. Việt Nam

a) Thứ trưởng ngoại giao Dung văn Khiêm [Ung Văn Khiêm] của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi tiếp ông Li Zhimin, xử lý thường vụ Toà Ðại sứ Trung Quốc tại Việt Nam đã nói rằng “theo những dữ kiện của Việt Nam, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là môt bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung Quốc”. Ông Le Doc [Lê Lộc], quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam, cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng “xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung Quốc từ thời nhà Ðường”.

b) Báo Nhân Dân của Việt Nam đã tường thuật rất chi tiết trong số xuất bản ngày 6/9/1958 về Bản Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Nhà nước Trung Quốc, rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của phía Trung Quốc, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa. Ngày 14/9 cùng năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng của phía nhà nước Việt Nam, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam “nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên bố của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải”.

c) Bài học về nước CHND Trung Hoa trong giáo trình cơ bản của môn địa lý của Việt Nam xuất bản năm 1974, đã ghi nhận rằng các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Ðài Loan hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa”(2).

Ở đây chúng ta phải hiểu vấn đề này như thế nào?

Cần nhắc lại rằng ngày 4 tháng 9 năm 1958, trong bối cảnh của thời kỳ chiến tranh lạnh, lúc bấy giờ đang xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan. Đài Loan lúc đó còn giữ hai đảo nằm giáp lãnh thổ Trung Quốc là Kim Môn và Mã Tổ. Hải quân Mỹ đến vùng eo biển Đài Loan, khiến Trung Quốc lo sợ rằng Mỹ có thể tấn công xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc phải lập tức ra tuyên bố lãnh hải của mình là 12 hải lý.
Sau đây là toàn văn tuyên bố:

“Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải (Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc ngày 4 tháng 9 năm 1958)

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nay tuyên bố:

(1) Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Ðài Loan và Bành Hồ hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ðài Loan và Bành Hồ đang chờ được chiếm lại. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoài không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc”.


Phê chuẩn của hội nghị lần thứ 100 của Ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc ngày 4-9-1958
(Nguồn: http://law.hku.hk)

Đáp lại tuyên bố này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi bức công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai nguyên văn như sau:

“Thưa đồng chí Tổng lý

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.(3)

Theo Tiến sĩ Balazs Szalontai, một nhà nghiên cứu về châu Á đang sống ở Hungary đã giải thích: “Trong các năm 1955-1958, ban lãnh đạo Bắc Việt chưa đạt tới mục tiêu thống nhất đất nước vì phải đối phó với khó khăn nội bộ và thiếu ủng hộ của quốc tế. Đồng minh chính của họ lúc này là Trung Quốc. Trong hoàn cảnh này, Hà Nội không thể hy vọng xác lập quyền kiểm soát đối với Hoàng Sa và Trường Sa trong tương lai gần, và vì vậy họ không thể có sự bất đồng lớn với Trung Quốc về các hòn đảo. Lúc này, chính phủ Bắc Việt tìm cách có được giúp đỡ của Trung Quốc, và họ chỉ cố gắng tránh đưa ra tuyên bố công khai ủng hộ những tuyên bố chủ quyền cụ thể của Trung Quốc hay ký vào một văn kiện bắt buộc mà sẽ công khai từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo này.

Sang năm 1974, tình hình hoàn toàn khác. Việc thống nhất Việt Nam không còn là khả năng xa vời. Giả sử Trung Quốc có không can thiệp, Hà Nội có thể dễ dàng lấy các đảo cùng với phần còn lại của miền Nam. Từ 1968 đến 1974, quan hệ Việt - Trung đã xuống rất thấp, trong khi Liên Xô tăng cường ủng hộ cho miền Bắc. Trong tình hình đó, quan điểm của Bắc Việt dĩ nhiên trở nên cứng cỏi hơn trước Trung Quốc so với thập niên 1950.

Vì những lý do tương tự, thái độ của Trung Quốc cũng trở nên cứng rắn hơn. Đến năm 1974, Bắc Kinh không còn hy vọng Hà Nội sẽ theo họ để chống Moscow. Thực sự vào cuối 1973 và đầu 1974, Liên Xô lại cảm thấy sự hòa hoãn Mỹ - Trung đã không đem lại kết quả như người ta nghĩ. Washington không từ bỏ quan hệ ngoại giao với Đài Loan cũng không bỏ đi ý định tìm kiếm hòa hoãn với Liên Xô. Ngược lại, quan hệ Xô - Mỹ lại tiến triển tốt. Vì thế trong năm 1974, lãnh đạo Trung Quốc lại một lần nữa cảm thấy bị bao vây. Vì vậy họ muốn cải thiện vị trí chiến lược ở Đông Nam Á bằng hành động chiếm Hoàng Sa, và tăng cường ủng hộ cho Khmer Đỏ và du kích cộng sản ở Miến Điện.

Tiến sĩ Balazs Szalontai phân tích tiếp hoàn cảnh ra đời của bức công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi cho Chu Ân Lai: “Trước tiên, ta nói về tuyên bố của Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng 9 năm 1958.

Như tôi nói ở trên, trong những năm này, Bắc Việt không thể làm phật ý Trung Quốc. Liên Xô không cung cấp đủ hỗ trợ cho công cuộc thống nhất, trong khi Ngô Đình Diệm ở miền Nam và chính phủ Mỹ không sẵn sàng đồng ý tổ chức bầu cử như đã ghi trong Hiệp định Geneva. Phạm Văn Đồng vì thế cảm thấy cần ngả theo Trung Quốc.

Dẫu vậy, ông ấy có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này.

Dù sao trong tranh chấp lãnh thổ song phương này giữa các quyền lợi của Việt Nam và Trung Quốc, quan điểm của Bắc Việt, theo nghĩa ngoại giao hơn là pháp lý, gần với quan điểm của Trung Quốc hơn là với quan điểm của miền Nam Việt Nam.

Còn lời phát biểu của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm đưa ra năm 1956, Tiến sĩ Balazs Szalontai đã có ý kiến: “Theo trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, vào giữa năm 1956, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của Trung Quốc rằng Hoàng Sa và Trường Sa về mặt lịch sử đã thuộc về lãnh thổ Trung Quốc. Ban đầu tôi nghi ngờ sự chân thực của tuyên bố này. Năm 2004, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thậm chí xóa đi những chương tranh cãi của lịch sử Triều Tiên khỏi trang web của họ. Tức là họ sẵn sàng thay đổi quá khứ lịch sử để phục vụ cho mình.

Tôi cũng chấp nhận lý lẽ rằng nếu ông Khiêm quả thực đã nói như vậy, thì có nghĩa rằng ban lãnh đạo Bắc Việt thực sự có ý định từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng nay tôi nghĩ khác, mà một lý do là vì tôi xem lại các thỏa thuận biên giới của Mông Cổ với Liên Xô.

Tôi nhận ra rằng tuyên bố của Ung Văn Khiêm thực ra không có tác dụng ràng buộc. Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố của một quan chức như ông Khiêm được coi như đại diện cho quan điểm chính thức của ban lãnh đạo. Nhưng ban lãnh đạo cũng có thể bỏ qua ông ta và những tuyên bố của ông ta bằng việc sa thải theo những lý do có vẻ chả liên quan gì. Đó là số phận của Ngoại trưởng Mông Cổ Sodnomyn Averzed năm 1958. Trong lúc đàm phán về biên giới Liên Xô – Mông Cổ, ông ta có quan điểm khá cứng rắn, và rất có thể là vì ông ta làm theo chỉ thị của ban lãnh đạo. Nhưng khi Liên Xô không chịu nhả lại phần lãnh thổ mà Mông Cổ đòi, và chỉ trích “thái độ dân tộc chủ nghĩa” của Averzed, Mông Cổ cách chức ông ta.

“Trong trường hợp Ung Văn Khiêm, ông ta khi ấy chỉ là thứ trưởng, và chỉ có một tuyên bố miệng trong lúc nói riêng với đại biện lâm thời của Trung Quốc. Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố miệng không có cùng sức mạnh như một thông cáo viết sẵn đề cập đến các vấn đề lãnh thổ. Nó cũng không có sức nặng như một tuyên bố miệng của lãnh đạo cao cấp như thủ tướng, nguyên thủ quốc gia hay tổng bí thư. Rõ ràng các lãnh đạo Bắc Việt không ký hay nói ra một thỏa thuận nào như vậy, vì nếu không thì Trung Quốc đã công bố rồi.

Vậy thì, bức công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng có ý nghĩa pháp lý nào không?

Tiến sĩ Balazs Szalontai bày tỏ: “Nó khiến cho quan điểm của Việt Nam bị yếu đi một chút, nhưng tôi cho rằng nó không có sức nặng ràng buộc. Theo tôi, việc các tuyên bố của Trung Quốc nhấn mạnh nguyên tắc “im lặng là đồng ý” không có mấy sức nặng. Chính phủ miền Nam Việt Nam đã công khai phản đối các tuyên bố của Trung Quốc và cố gắng giữ các đảo, nhưng họ không ngăn được Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Trung Quốc đơn giản bỏ mặc sự phản đối của Sài Gòn. Nếu Hà Nội có phản đối lúc đó, kết quả cũng sẽ vậy thôi.

Tiến sĩ Balazs kết luận, do lá thư của Phạm Văn Đồng chỉ có giá trị pháp lý hạn chế, nên một sự thảo luận công khai về vấn đề sẽ không có hại cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng dĩ nhiên chính phủ hai nước có thể nhìn vấn đề này theo một cách khác.(4)

Còn theo Tiến sĩ Luật Từ Đặng Minh Thu của Đại học Sorbonne, Pháp Quốc, thì cho rằng những lời tuyên bố trên của Thủ tướng Phạm văn Đồng không có hiệu lực vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hòa; mà các chính phủ Việt Nam Cộng hòa luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Còn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng không tuyên bố điều gì có thể làm hại đến chủ quyền này cả. Tác giả Monique Chemillier-Gendreau đã viết như sau:

“Dans ce contexte, les declarations ou prise de position éventuelles des autorités du Nord Vietnam sont sans consequences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement competent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité…”

(Có thể dịch là: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không kiểm soát được…”).

Một lý lẽ thứ hai nữa là đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.

Nếu đặt giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết “estoppel” để khẳng định những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Điều 38 Quy chế Tòa án Quốc tế không liệt kê những lời tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn gốc của luật pháp quốc tế. Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Câu tục ngữ thường dùng để định nghĩa nó là “one cannot at the same time blow hot and cold.” Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó.

Thuyết estoppel bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh, được thâu nhập vào luật quốc tế. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:

1. Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch (clair et non equivoque).

2. Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh-Mỹ gọi là “reliance”.

3. Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.

4. Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…

Ngoài ra, nếu lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó.

Thuyết estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ quốc tế áp dụng rất nhiều. Trong bản án “Thềm lục địa vùng biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Đan Mạch, Hà Lan, Tòa án quốc tế đã phán quyết rằng estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong quá khứ nhằm công nhận nội dung của Công ước Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên bố đó.

Trong bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết như sau: “… ‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia, nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được phát biểu một cách rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động, và do đó phải chịu thiệt hại”.

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa rất thân thiện, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị Hoa-Việt.

Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.

Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì (declaration d’intention). Thật vậy, đây là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc, và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.

Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Tòa án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí” (intention de se lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances). Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thoả ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Tòa sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc.

Trong bản án “Những cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc, New Zealand và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ ngừng thí nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp bị ràng buộc bởi lời hứa vì Pháp thực sự có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó.

Trong trường hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên bố sẽ tôn trọng lãnh hải của Trung Quốc, không hề có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Ông đã phát biểu những lời tuyên bố trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Ông đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm gây một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của Mỹ.

Lời tuyên bố năm 1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là tình trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là những lời tuyên bố có tính chính trị, chứ không phải pháp lý.

Nếu xét yếu tố liên tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội đủ tiêu chuẩn này. Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời. Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng, vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp. Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay.

Tóm lại, những lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu nhiều yếu tố để có thể áp dụng thuyết estoppel. Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có dựa vào lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và yếu tố “ý chí” (tức là quốc gia phát biểu lời hứa có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan trọng. Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong việc hoạch định chính sách ngoại giao. Các quốc gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính sách ngoại giao lỗi thời.

Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách ngoại giao của quốc gia kia thay đổi, thì chính sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay đổi. Các quốc gia đổi bạn thành thù và đổi thù thành bạn là chuyện thường.

Còn những lời hứa đơn phương trong đó quốc gia không thật tình có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những lời hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các chính khách, các ứng cử viên trong cuộc tranh cử. Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ quyền quốc gia” (état souverain) rất quan trọng. Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều luật của Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc gia ngoài ý muốn của mình, khi mà quốc gia này không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác. Vì vậy ý chí của quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một lời hứa đơn phương.(5)

Ông Lưu Văn Lợi, cựu Chánh văn phòng-Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng ban Biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng (1978-1989) đã nhận xét: “Công hàm của ông Phạm Văn Đồng chỉ là một cử chỉ tốt đẹp về tình hữu nghị, ủng hộ Trung Quốc trong lúc Mỹ đưa hạm đội 7 tới eo biển Đài Loan mà thôi”.(6)  

 Từ những phân tích trên, theo chúng tôi là xác đáng nhưng cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm văn Đồng không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm và đã trả giá trong bàn đàm phán Geneve năm 1954, khi bàn về việc chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Nhưng kinh nghiệm ấy cũng không ngăn ông được khi giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ với Trung Quốc vì Việt Nam đã tạo nên ấn tượng rằng Việt Nam đã tự nguyện chấp nhận những hy sinh vì lợi ích của đường lối chung về “cùng tồn tại hòa bình” đang thịnh hành trong thế giới xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ.

Nhưng quan trọng hơn hết, từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nước Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt và hiện nay là là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa.

Tất cả những chứng cứ mà phía Trung Quốc đưa ra đều vô hiệu!

Chú Thích:

(1) Nguồn:
(2) www.fmprc.gov.cn, ngày 17/11/2000
(3) Lưu Văn Lợi, Cuộc tranh chấp Việt-Trung về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Công an, Hà Nội, 1995, trang 105.
(4) BBC ngày 24-1-2008 và tổng hợp ý kiến của Tiến sĩ Balazs
(5) Từ Đặng Minh Thu,Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa-Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc,Thời Đại Mới, Số 11/7/2007).
(6) BBC Vietnamese.com ngày 18/09/2008. Bài “Trung Quốc xuyên tạc cử chỉ hữu nghị”.

*Bài viết do nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!


Phụ lục:
clip_image004

-->đọc tiếp...

CHƯA NÊN UNESCO LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM!

Lập hồ sơ Di sản văn hóa thế giới với làng cổ Đường Lâm: Nên hay không?

Đường Lâm là ngôi làng đầu tiên được công nhận là di sản văn hoá cấp quốc gia năm 2005. Ngần ấy thời gian chưa đủ cho loại hình du lịch cộng đồng phát triển nhằm đem lại lợi ích cho người dân ở đây thì mâu thuẫn nội tại đã tăng trước cơn bão đô thị hoá. Thế nhưng, thay vì giải quyết bài toán giữa bảo tồn và phát triển, UBND thị xã Sơn Tây lại có dự kiến làm hồ sơ di sản trình UNESCO.


Danh hiệu chưa đi cùng lợi ích

Đường Lâm hiện còn lưu giữ hơn 100 ngôi nhà cổ loại 1 (niên đại trên 100 năm), có 10 nhà xếp hạng di tích cấp thành phố. Bên cạnh đó còn nhiều công trình tôn giáo, cổng làng, nhà thờ họ… giá trị về nghệ thuật kiến trúc, một số đã được xếp hạng như cổng làng Mông Phụ, chùa Mía, đình thôn Mông Phụ, đình Cam Thịnh, đình Đoài Giáp, đền Phùng Hưng, đền và lăng Ngô Quyền…

Với những giá trị văn hoá và cảnh quan kiến trúc nghệ thuật như vậy, nhẽ ra Đường Lâm phải "hút khách". Thế nhưng, từ khi trở thành di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia đến nay, đa phần các cư dân sống tại làng không được hưởng lợi gì nhiều từ du lịch.

Bà Phan Hải Linh (Đại học Quốc gia Hà Nội), tác giả của đề tài nghiên cứu "Giá trị phi vật thể ở làng cổ xã Đường Lâm", khi tiến hành khảo sát, cho biết: Mức sống của người dân nơi đây rất thấp, trung bình từ 14-15 triệu/người/năm. Điều này cho thấy du lịch vẫn chưa thực sự đến được với Đường Lâm. Ngoài ra, sự chênh lệch trong việc hưởng lợi từ du lịch khiến mâu thuẫn giữa người dân đang gia tăng, nguy cơ phá vỡ khối đoàn kết làng xã - điều làm nên hồn cốt làng cổ - rất lớn.

Ông Phạm Hùng Sơn, Trưởng ban quản lý Di tích làng cổ Đường Lâm, cho biết: "Có một bộ phận nhỏ người dân trong làng tỏ ra bất mãn và đề nghị trả lại danh hiệu làng cổ. Đó là do những mâu thuẫn từ sự chênh lệch trong việc hưởng lợi từ du lịch đem lại".
Mong muốn bảo tồn làng cổ, giữ một lối sống ngày xưa trong bối cảnh cuộc sống đang tiếp diễn là một bài toán hết sức phức tạp. Hiện chính quyền địa phương nghiêm cấm mua bán, chuyển nhượng (nhà cổ), cấm cơi nới, sửa chữa. Nếu xây mới thì không được xây nhà quá 1 tầng. Trong khi đó, áp lực dân cư ngày càng nặng nề. Các thế hệ cứ tiếp tục sinh sôi, nhưng quỹ đất… vẫn thế. Nhà cửa tiếp tục xuống cấp, hư hỏng, bảo tồn chậm (mới có 8 công trình cổ được tu bổ), còn quy hoạch đến giờ vẫn chưa hoàn thiện.

Hiện, thị xã Sơn Tây đã có dự án quy hoạch một khu tái định cư để giãn dân trong khu vực làng cổ. Tuy nhiên, nếu dự án được phê duyệt, làng cổ Đường Lâm lại đứng trước nguy cơ không còn là "bảo tàng sống".

Nên hay không?

Trong số 10 tiêu chí UNESCO đưa ra để công nhận một di sản thế giới, các chuyên gia nhận định hồ sơ làng cổ ở Đường Lâm có thể đáp ứng tiêu chí số năm (là một ví dụ nổi bật của một khu định cư của con người truyền thống). Chính vì vậy, đại diện phía UNESCO, bà Dương Bích Hạnh cho rằng, Sơn Tây cần cân nhắc kỹ lưỡng việc có nên hay không làm hồ sơ di tích, bởi "nếu cứ dựa vào tiêu chí đây là làng cổ thuần Việt thì chưa thoả đáng".

Bà Hạnh cũng cho biết: Sắp tới, UNESCO sẽ siết chặt việc công nhận di sản. Theo đó, một số tiêu chí và điều khoản sẽ thay đổi, đồng nghĩa với việc các hồ sơ sẽ được thẩm định gắt gao và khó khăn hơn. Trong khi đó, từ lúc làm một bộ hồ sơ đến lúc được công nhận là cả một quá trình gian nan, cần sự đồng thuận của toàn bộ người dân, chính quyền và xã hội.
UNESCO đánh giá giá trị di tích dựa vào giá trị nổi bật mức độ toàn cầu chứ không phải chỉ nổi bật của riêng Việt Nam. Bởi thế, quá trình nghiên cứu, khảo sát và đánh giá sẽ là một quá trình lâu dài. Chưa kể, quy mô 1.500 hộ dân với hơn 6.000 người đang sống tại đây, bảo tồn di tích nguyên trạng đã là một điều khó khăn.

Cho đến thời điểm này, khi vấn đề trình hồ sơ được đưa ra thảo luận, những người tham gia thực hiện đều chưa thể đưa ra một mốc thời gian cụ thể nào. Và như thế, việc nên hay không nên làm hồ sơ di sản cho làng cổ Đường Lâm, vẫn còn là câu hỏi lớn chưa lời giải đáp.

 Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng: Thay vì làm hồ sơ, các nhà quản lý nên dành công sức và tiền của đó vào việc giải bài toán làm sao để làng cổ Đường Lâm phát triển một cách bền vững. Hồ sơ di sản có thể đợi, danh hiệu không quá quan trọng. Quan trọng là trước mắt phải gìn giữ cho được những gì cha ông đã để lại.

-->đọc tiếp...

LETTRE OUVERTE A NOS FRERES DES CENTS PEUPLES VIETS

 Xin cảm ơn Ông Trần Nguyên đã dịch và gửi trực tiếp tới NXD-Blog bản dịch này:
.
Bản gốc Tiếng Việt: 
THƯ NGỎ GỬI NHỮNG NGƯỜI ANH EM BÁCH VIỆT
Phạm Quang Anh

Trong lúc những cái đầu đang rất nóng ở đâu đó muốn kích động người dân Trung Quốc để tạo bầu không khí Sô-vanh cho cuộc xâm chiếm toàn bộ Biển Đông, là một công dân từng thuộc gia đình Bách Việt tôi trộm nghĩ nước Việt Nam chúng tôi – quốc gia Việt cuối cùng còn giữ được nền độc lập sẽ chèo chống thế nào đây trước sức mạnh bạo tàn của chủ nghĩa nước lớn.


Bách Việt chúng ta từng là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước, vậy mà nay chỉ còn một nước Việt Nam , như thế phỏng có xót xa hay không!

Bách Việt có một biểu tượng văn hóa hiếm có trong lịch sử nhân loại là những chiếc trống đồng mà nước Việt nào cũng từng sở hữu. Vậy mà ngày nay chỉ còn Việt Nam đại diện cho nền văn hóa đó đưa trống đồng giới thiệu cho thế giới tại trụ sở Liên hiệp quốc, nghĩ cho kỹ mới thấy điều này cũng có những xót xa.

Hỡi những người anh em Bách Việt, một nước Việt đau thì cả tàu Bách Việt có thể ăn những ngọn cỏ mà tổ tiên của chúng ta đã từng phải ngậm đắng nuốt cay hay không ?



Toàn bộ đất trời phía Nam sông Dương Tử là của người Bách Việt chúng ta. Thế mà ngày nay chỉ còn có mỗi nước Việt Nam là vùng đất còn lại để thờ cúng ông bà tổ tiên Bách Việt .


Hỡi những người anh em Bách Việt, các bạn hãy có những hành động tùy vào khả năng của mình để giữ lấy một vùng đất hương hỏa còn lại của tổ tiên chúng ta.

Đã cả ngàn năm nay người dân Việt Nam trên dưới một lòng , dù có lúc phải nín nhịn để giữ lẽ hòa hiếu nhưng cũng rất ngoan cường, tự lực tự cường bảo vệ vững chắc vùng đất, vùng trời, vùng biển còn lại của Bách Việt.

Hỡi những người anh em cùng dòng máu Bách Việt, dù các bạn nghĩ gì, làm gì cho phần còn lại của tổ tiên, những người Việt Nam thời hiện đại đều rất biết ơn và quý trọng.

Theo truyền thống của cha, ông để lại chúng tôi luôn hòa hiếu, tôn trọng và học hỏi những điều tốt đẹp của nền văn minh Trung Hoa- một trong những cái nôi lớn của văn minh nhân loại. Nhưng chúng tôi đã sẵn sàng một lần nữa đương đầu với những bất trắc có thể xảy ra với người dân Việt nam.

Những người anh em Bách Việt, những người dân Trung Hoa tốt bụng và nhân loại tiến bộ, bạn bè gần xa nhất định sẽ đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam chúng tôi !

Từ mảnh đất cuối cùng còn lại của Bách Việt xin gửi một lời chào quý mến tới những người anh em.

Thăng Long - Hà Nội 10/6/2011
P.Q.A 

Traduction française

LETTRE OUVERTE A NOS FRERES DES CENTS PEUPLES VIETS
Pham Quang Anh

Alors que certaines têtes fanatiques voulaient agir par  provocation en créant un climat de haine chauvine en Chine dans l'intention de s'emparer entièrement Biển Đông (mer de  Chine),  en tant que citoyen du Vietnam, dernier pays indépendant des Peuples Viets (Bai Yue, Cent-Viet), je me pose des questions quant au moyen à faire face contre les forces brutales de l'expansionnisme moderne.

De nos peuples Viets (Bai Yue) constituant le berceau de la belle civilisation rizicole, il ne reste plus que le peuple du Vietnam.
C'est bien une triste situation.

Les peuples Viets possédaient tous chacun un tambour de bronze typique rare dans l'histoire de l'humanité, symbolisant chaque nation. Aujourd'hui, seul le peuple Vietnamien représente cette belle culture avec son merveilleux tambour de bronze exposé au siège des Nations Unies.
C'est bien une douloureuse histoire!

Nous faisons appel à vos sentiments, nos chers frères et sœurs des peuples Viets. Ayant les mêmes ancêtres que nous, accepteriez-vous que les vietnamiens connaîtront le même triste sort de l'ancienne histoire?

Le territoire des peuples Viets s'étendait à l'entière partie du sud du Yangzi Jiang. De nos jours,  il ne reste plus que le Vietnam qui a encore la possibilité du culte de nos ancêtres communs.


Chers frères et sœurs des peuples Viets, nous vous prions de faire votre possible pour nous aider à préserver le seul territoire de culte qui reste de nos ancêtres.

Depuis des millénaires, doués d'amour de paix et d'amitié, nous avions été unis sans faille au prix tant d'efforts et de sacrifices, parfois tant de concessions, pour survivre, pour défendre les parties qui restent des  terres, des ciels, des mers des peuples Viets.

Quoi qu 'il arrive, le peu que vous pourriez faire pour ce dernier territoire, chers frères et sœurs des peuples Viets, nous en sommes très reconnaissants.


Selon la tradition millénaire, nous chérissons la paix et l'amitié,  nous respectons notre voisin la Chine qui constitue une des plus belles civilisations de l'humanité. Toutefois, nous sommes prêts à faire face à l'éventualité d'une nouvelle invasion qui peut entraîner des souffrances et des destructions au peuple vietnamien.
Nous sommes convaincus que le valeureux peuple chinois et les peuples progressistes du monde seront à nos côtés face aux présentes épreuves.

Du territoire restant des peuples Viets, nous adressons nos bons vœux amicaux et respectueux  à tous nos frères et sœurs des peuples Viets.

Thang Long - Hanoi, 10/6/2011
P.Q.A

Trần Nguyên dịch


-->đọc tiếp...

PHILIPPINES NHỔ CỌC CỦA BỌN TÀU TRÊN BIỂN ĐÔNG

Philippines gỡ bỏ các cột trụ của TQ
ở vùng tranh chấp Biển Đông
Philippines hôm nay (15/6) cho hay, hải quân nước này đã gỡ bỏ những cột trụ “nước ngoài” lắp đặt tại ba bãi đá ngầm trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông.


Việc tháo dỡ các cột trụ gỗ diễn ra trong tháng 5, chỉ ngay trước lúc chính phủ Philippines chính thức phản đối các vụ xâm nhập của tàu Trung Quốc ở vùng biển chủ quyền Philippines, phát ngôn viên hải quân Omar Tonsay nói.

"Đó là các cột trụ nước ngoài vì không phải do quân đội hay chính phủ của chúng tôi dựng nên. Nên chúng tôi gỡ bỏ chúng vì đó là một phần lãnh thổ Philippines”, ông Tonsay nhấn mạnh.

Ảnh do Bộ Ngoại giao Philippines cung cấp về việc một tàu hải giám Trung Quốc bị phát hiện ở gần Reed Bank

Chính phủ Philippines gần đây đã cáo buộc Trung Quốc dựng cột trụ, thả phao ở vùng biển mà Manila tuyên bố chủ quyền. Tuy nhiên, Tonsay nói rằng, hải quân không thể xác định ai dựng nên các cột gỗ bị gỡ bỏ trong tháng 5. Các cột trụ này đã được dựng ở Boxall Reef thuộc quần đảo Trường Sa và ở gần Amy Douglas Bank, Reed Bank. Tất cả đều ở khu vực mà cả Philippines và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền.

Biển Đông, vùng biển giàu tài nguyên và có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng, là nơi diễn ra tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa Trung Quốc và bốn nước Đông Nam Á gồm Philippines, Brunei, Malaysia và Việt Nam.

Căng thẳng đang gia tăng ở khu vực này trong thời gian gần đây. Cả Philippines và Việt Nam đều cáo buộc Trung Quốc trở nên gây hấn hơn trong việc tuyên bố chủ quyền trong vùng biển. Trong tháng này, Philippines đã lên án Trung Quốc làm xói mòn hòa bình và ổn định tại châu Á bằng cách điều động các tàu hải quân tới gần Reed Bank để hăm dọa những bên tuyên bố chủ quyền khác, đồng thời lắp đặt cột trụ và thả phao ở vùng lân cận.

Philippines cũng không ngừng phản đối Trung Quốc về các vụ việc xảy ra từ tháng 2 – tháng 5, cáo buộc hải quân Trung Quốc bắn vào ngư dân của họ, quấy nhiễu một tàu thăm dò dầu khí Philippines.

Vì sao phải tranh chấp khi tuân thủ luật pháp quốc tế

Hôm qua (14/6), Tổng thống Philippines Benigno Aquino tuyên bố, nước ông cần sự giúp đỡ từ đồng minh lâu dài là Mỹ trong chuyện tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông. Ông nói: "Có lẽ, sự hiện diện của Mỹ sẽ đảm bảo rằng tất cả chúng ta sẽ được hưởng tự do hàng hải và sẽ tuân theo luật pháp quốc tế".

Trong khi đó, phát biểu nhân khởi động Chương trình Năng lượng Tái tạo Quốc gia (NREP) của Bộ Năng lượng Philippines, Đại sứ Mỹ tại Philippines Harry Thomas đã khẳng định rằng, Mỹ đảm bảo ủng hộ Philippines “trong mọi vấn đề” kể cả các vấn đề về Biển Đông. Ông khẳng định: "Tôi đảm bảo với các vị rằng Mỹ sẽ sát cánh với Philippines trong tất cả các vấn đề. Mỹ và Philippines là những đồng minh chiến lược. Chúng tôi sẽ tiếp tục tham vấn và hợp tác với nhau trong các vấn đề, bao gồm cả Biển Đông"

Ông Aquino tỏ ý vui mừng với phát biểu của ông Thomas. Tổng thống Philippines cũng khẳng định việc nước này có quyền tìm kiếm dầu khí trong phạm vi lãnh thổ của họ. Ông viện dẫn Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. 

UNCLOS quy định: "Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng này, quốc gia ven biển có quyền thuộc chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế… Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ngoài có quyền tự do hàng hải và đường không, tuân theo sự kiểm soát của quốc gia ven biển. Nước ngoài cũng có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm… nhưng phải thông báo và thỏa thuận với quốc gia ven biển".

Recto Bank cách Palawan 80 hải lý và cách Trung Quốc 576 hải lý. "Vì thế, con số 576 rõ ràng lớn hơn nhiều 200. Vậy tại sao phải có tranh chấp nếu chúng tôi tuân thủ luật pháp quốc tế”, ông Aquino nói. "Họ là một siêu cường, dân số của họ gấp 10 lần dân số chúng tôi, chúng tôi không muốn đối đầu xảy ra. Và có lẽ sự hiện diện của Mỹ sẽ đảm bảo rằng tất cả chúng ta sẽ được hưởng tự do hàng hải và sẽ tuân theo luật pháp quốc tế".
-->đọc tiếp...

TRUNG QUỐC SẼ KHÔNG SỬ DỤNG VŨ LỰC ?

Trung Quốc nói sẽ 'không sử dụng vũ lực'

Hải quân Việt Nam tập luyện
Người phát ngôn Trung Quốc nói Bắc Kinh cam kết sẽ không sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ.

Ông Hồng Lỗi nói với các nhà báo hôm thứ Ba 14/06: "Chúng tôi sẽ không tìm cách sử dụng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực".

Bắc Kinh cũng kêu gọi thêm đối thoại để tìm cách giải quyết các tranh chấp lâu nay một cách hòa bình.

Ông Hồng nói: "Chúng tôi hy vọng các nước liên quan sẽ nỗ lực hơn vì hòa bình và ổn định trong khu vực".

Trước các hành động ngày càng mạnh bạo của Trung Quốc tại Biển Đông, các quốc gia như Việt Nam và Philippines đã lên tiếng bày tỏ quan ngại.

Hà Nội đã phản đối mạnh mẽ trước việc mà Việt Nam cáo buộc là tàu Trung Quốc gây hấn và phá hoại thiết bị thăm dò dầu khí ngay trong vùng biển của Việt Nam.

Hải quân Việt Nam vừa có diễn tập bắn đạn thật ở ngoài khơi, và một nghị định về điều kiện nhập ngũ được đưa ra, cho thấy Việt Nam sẵn sàng phản ứng mạnh nếu bị uy hiếp.

Trong khi đó, một số tàu hải quân Hoa Kỳ được điều đến khu vực.

Có nhận định rằng các động thái không khoan nhượng nói trên đã khiến cho Trung Quốc phải "xuống thang" qua phát ngôn của ông Hồng Lỗi.

Tuy nhiên, người phát ngôn Trung Quốc hôm thứ Ba cũng không bỏ qua cơ hội cáo buộc Việt Nam "làm phức tạp thêm tình hình".

Ông Hồng nói với báo giới: "Một số nước đã có hành động đơn phương vi phạm chủ quyền, quyền hàng hải và lợi ích của Trung Quốc; đồng thời đưa ra các nhận xét thiếu cơ sở và thiếu trách nhiệm nhằm mở rộng và làm phức tạp thêm vấn đề Nam Hải (Biển Đông)".

"Đây chính là cội rễ các vấn đề."

Hãng thông tấn AFP có mặt tại cuộc họp báo nói tuy không nhắc tên Việt Nam, ai cũng biết ông Hồng ám chỉ quốc gia nào.

Nhổ cột mốc

Trong một diễn biến mới, hôm thứ Tư 15/06 Philippines cho hay đã dỡ bỏ hết các cột mốc mà "nước ngoài" dựng trái phép trên ba đảo và bãi cạn của nước này tại Biển Đông.

Người phát ngôn cho Hải quân Philippines Omar Tonsay nói việc dỡ các cột mộc này được thực hiện từ tháng Năm, trước khi Manila chính thức phản đối việc Trung Quốc xâm phạm hải phận của Philippines.

Ông nói: "Đây là các cột mốc nước ngoài dựng, không phải của quân đội hay chính phủ chúng tôi. Chúng tôi dỡ bỏ, vì đây là lãnh thổ Philippines".

Chính phủ Philippines mới đây đã cáo buộc Trung Quốc dựng cột sắt và thả phao ở bãi Amy Douglas.

Tuy nhiên các cột mốc mà ông Tonsay đề cập tới ở trên được biết là trong một vụ khác và dựng trên bãi đá Boxall cũng ở gần đó.

Philippines cũng từng cáo buộc tàu Trung Quốc gây hấn với tàu nước này gần Bãi Cỏ Rong (Reed Bank), nằm trong vùng Biển Đông mà Trung Quốc đang muốn tranh chấp chủ quyền.

Nguồn: BBC Việt ngữ

Tác phẩm của Trần Nhương





Nguyễn Xuân Diện:
1- TQ nói VN vi phạm chủ quyền của họ.
2- Philippines đã dỡ cọc của TQ. Bao giờ VN sẽ làm việc này?
3- Tin lời TQ sẽ mất nước.

-->đọc tiếp...

CHÁU ÔNG KIM NGỌC ĐI BIỂU TÌNH BỊ BẮT

Không có gì đặc biệt


Chàng trai mặc áo Quốc kỳ ảnh bên tên là Duy,  sinh năm 1984, cựu sinh viên trường Kiến Trúc, con trai một người lính từng đánh sân bay Tân Sơn Nhất tết Mậu Thân (1968). Không có gì đặc biệt, trong số hàng ngàn sinh viên tham gia biểu tình ngày 5/6 và 12/6 có lẽ có có hơn một nửa là con cái của những cựu chiến binh chống Mỹ. Bảo rằng anh là người yêu nước lại càng không có gì đặc biệt, dân mình ai lại không yêu nước.

So với lòng yêu nước của cô bé này có lẽ Duy còn kém xa. Trong ngày 12 tháng 6 Duy luôn luôn đi sau cô bé này. Duy biết chắc người cầm đầu bé xíu này đi biểu tình chỉ vì muốn biểu thị lòng yêu nước: phản đối Trung Quốc xâm hại Biển Đông, ngoài ra không có “mục đích chính trị” nào khác, nghĩa là cũng như cô bé kia, Duy chỉ bị lòng yêu nước xúi giục.
.
Việc Duy bị bắt cũng không có gì đặc biệt,  những người bị bắt hôm 12/6 đều không hiểu vì sao mình bị bắt, đến khi được thả về nhà rồi vẫn không hiểu vì sao. Họ đều lên mạng tâm sự "Mình chỉ đi biểu tình phản đối Trung Quốc chứ có làm gì đâu".
.
Khi về đồn, người ta sẽ hỏi anh tên gì, anh sẽ nói anh tên là Kim Duy, họ Kim cũng chẳng có gì đặc biệt để người ta phải lưu ý. Và nếu hỏi kĩ thì người chỉ hỏi bố anh là ai, thế thôi. Ở Việt Nam, con một người lính không có gì đặc biệt.

Ông KIM NGỌC (1917 - 1979)
Không ai biết Duy là cháu ông Kim Ngọc (1917-1979), Kim Ngọc là ông trẻ của Duy.  Kim Ngọc  nguyên là bí thư tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phú,  cha đẻ "Khoán hộ” mà người ta quen gọi là “Khoán mười”, người chiến sĩ tiên phong đỏi mới nông nghiệp Việt Nam. Nhưng điều này cũng không có gì đặc biệt, có thể trong số những thanh niên bị bắt có nhiều thanh niên là con cháu những người có công với cách mạng như ông Kim Ngọc, nhiều hơn ông Kim Ngọc. Kim Ngọc là ai cũng chẳng có gì đặc biệt, một khi lòng yêu nước bị coi thường thì Kim Ngọc hay bất kì ai đã hết lòng vì đất nước, cũng chẳng làm người ta mảy may xúc động.

Nguồn: Quê Choa
-->đọc tiếp...

THÁCH THỨC BIỂN ĐÔNG VÀ "CHIẾC NỎ THẦN" VIỆT NAM

Thách thức Biển Đông và "chiếc nỏ thần" Việt Nam

TS Vũ Minh Khương (ĐHQG Singapore)

Dân tộc Việt Nam có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được.

 

Những biến động dồn dập gần đây ở Biển Đông với hành động phi đạo lý của Trung Quốc trong xâm phạm chủ quyền của Việt Nam chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm khổng lồ chứa đựng không chỉ tham vọng vô đáy của Trung Quốc trong vùng biển xung yếu này mà cả sự đánh giá rất thấp (nếu không nói là coi thường) khả năng ứng xử chiến lược của nhà nước và sức trỗi dậy của dân tộc Việt Nam.

Đây là một nước cờ sâu và táo bạo. Có lẽ những người đi nước cờ này đã trù tính kỹ tới ba phản ứng sau đây của Việt Nam. Thứ nhất, Việt Nam sẽ không tiếc tiền, vội vã mua sắm vũ khí, tăng cường phòng thủ. Điều này sẽ làm ngân sách quốc gia kiệt quệ, kinh tế vĩ mô chao đảo, kinh tế suy yếu.

Thứ hai, người dân Việt Nam sẽ rất bức xúc trong khi nhà nước bối rối lo ngại nên tăng cường kiểm soát và kìm chế. Kết quả là, người Việt Nam sẽ mất đi tính sáng suốt của sự đồng lòng; và do đó không còn tâm trí nào cho một nỗ lực cải cách sâu rộng.

Thứ ba, giới doanh nhân Việt Nam sẽ mất đi quyết tâm và nhuệ khí  trong thâm nhập thị trường Trung Quốc, một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong chiến lược phát triển. Vì thế, Việt Nam sẽ tiếp tục là nước thua thiệt và yếu kém nhất trong các nước châu Á trong quan hệ thương mại với thị trường khổng lồ và tăng trưởng nhanh chóng này.

Thế nhưng, những người chơi nước cờ sâu và táo bạo nói trên có thể không lường hết sức trỗi dậy của dân tộc Việt Nam. Dân tộc này có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được. Thách thức Biển Đông có lẽ là một vận hội vô giá, nó buộc người Việt Nam chúng ta phải dùng đến chiếc "nỏ thần" kỳ diệu này.

Chúng ta cần hiểu Trung Quốc hơn

Để vượt qua thách thức nghiệt ngã hiện nay, Việt Nam cần hiểu rõ hơn Trung Quốc. Đây là một dân tộc có nền văn hóa lớn, lâu đời, với nhiều thành quả huy hoàng trong quá khứ nhưng đã bị kìm nén nặng nề trong hàng trăm năm qua do chính sách đóng cửa và não trạng mê muội. Từ khi có cải cách do ông Đặng Tiểu Bình khởi xướng họ đã đi được những bước khổng lồ, làm thế giới thán phục, với động lực chủ đạo là ý chí và tham vọng rất lớn, trọng dụng nhân tài, tầm nhìn rộng, và mưu kế sâu sắc. Xu thế này hiện còn rất mạnh mẽ và có thể còn kéo dài.


 
Đảo Đá Đông thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ảnh Chu Thanh Vân.

Việt Nam cũng như nhiều nước khác cần thấu hiểu cục diện này và chuẩn bị thật tốt để có thể sống bên một người láng giềng khổng lồ, hùng mạnh, tham vọng, mưu sâu, và có thể có những hành vi nhẫn tâm trong khẳng định quyền thế nhờ sự trỗi dậy của mình.

Đồng thời, Việt Nam cũng cần biết rõ những điểm yếu rất dễ tổn thương của Trung Quốc. Thứ nhất, đó là nội tình phức tạp với nhiều yếu tố bất ổn từ trong cốt lõi. Mức độ ổn định chính trị và kiểm soát tham nhũng của Trung Quốc rất thấp so với hầu hết các nước (theo khảo sát thường niên của Ngân hàng Thế giới). Trung quốc sẽ không thể rảnh tay làm mưa gió trên thế giới nếu người dân Trung Quốc thấy chính phủ mình thua kém Việt Nam và các nước láng giềng trong nỗ lực cải cách-phát triển. Khi đó Trung Quốc sẽ phải quay về giải quyết vấn đề nội bộ.

Thứ hai, hình ảnh nhân văn của Trung Quốc trên trường quốc tế còn rất thấp. Từ thực tế châu Phi đến Biển Đông, họ chưa chứng tỏ được mình là một quốc gia có trách nhiệm cao trong  kiến tạo hòa bình và phồn vinh cho thế giới.

Thứ ba, Trung Quốc để lại nhiều ấn tượng chưa đẹp về tính trung thực và sự nhất quán giữa hành động và lời nói, từ chất lượng sản phẩm đến đường lối kinh tế và chính sách ngoại giao.

Một mặt khác, Trung Quốc là một quốc gia có lãnh đạo giỏi, tầm nhìn xa. Trên thực tế, họ rất ngại và kiêng nể các quốc gia có hội đủ ba yếu tố: thượng tôn các qui luật của tạo hóa, trọng dụng nhân tài, và dốc sức khai phát sức mạnh dân tộc. Bởi họ biết dân tộc này sẽ là một quốc gia hùng cường. Hàn Quốc là một trường hợp điển hình. Trong khi đó, họ có thể hành xử rất ngạo mạn với những quốc gia mê muội, giáo điều, hắt hủi hiền tài, phân liệt nhân tâm. Bởi họ biết đất nước này đang ở vào thế suy vi.

Trung Quốc đã qua giai đoạn trỗi dậy hòa bình và bước vào giai đoạn khẳng định uy lực của mình. Họ sẽ không ngại đối đầu trên những điểm mạnh của họ, đặc biệt là về thực lực kinh tế và quân sự. Tuy nhiên họ sẽ phải chùn lại nếu sự đụng độ khoét sâu các điểm yếu nêu trên: ổn định chính trị thấp, hình ảnh nhân văn hạn chế, ấn tượng về hành xử thiếu văn minh và trách nhiệm.

Việt Nam: Chiếc "nỏ thần" và phương cách sử dụng

Từ bài học từ cha ông

Binh pháp cổ có tổng kết rằng, muốn làm nên một chiến thắng hiển hách, cần có khả năng làm kinh ngạc đối phương. Đây là chiếc "nỏ thần" kỳ diệu mà người Việt Nam qua bao thế hệ đã dùng đến mỗi khi đất nước bị lâm nguy hoặc ngoại xâm giày xéo. Ông cha ta đã để lại những bài học quí giá khi dùng đến vũ khí chiến lược này.

Bài học của Đức Trần Hưng Đạo chỉ ra rằng cách bảo vệ tổ quốc tốt nhất là chủ động tiến công vào những yếu kém của chính mình. Theo tư tưởng này, ngài thảo ra hịch tướng sĩ, khích lệ tướng sĩ thấy nỗi nhục quốc gia mà bỏ thói hư tật xấu, quyết chí một lòng, xả thân vì nước.

Ngài chỉ rõ, nếu để mất nước thì: "chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến ngàn năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận."

Và nếu giữ được nước thì: "trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền."

Nguyễn Trãi nêu ra những nguyên lý cao cả để dân tộc vượt lên mọi sự bạo ngược:

"Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo"

(Bình Ngô Đại cáo)

Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ trăn trở tìm kiếm người hiền tài ra giúp nước: "Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến... Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn - sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình - sức một người không thể đảm đương." (Chiếu cầu hiền)

Đến nỗ lực hôm nay

Sẽ cần những nghiên cứu sâu sắc và thảo luận rộng khắp trong nhân dân để tìm ra đủ phương cách để Việt Nam có thể vượt lên bằng những nỗ lực làm kinh ngạc thế giới, buộc đối phương phải rút về thế phòng thủ - hòa hoãn. Ba hướng đi lớn cho các nỗ lực có thể là:

1- Xác lập ý chí cải cách của lãnh đạo Đảng và Nhà nước;

2- Cả nước trên dưới một lòng toàn tâm toàn ý khai phát sức mạnh tiềm tàng của dân tộc; và

3- Toàn xã hội thành tâm coi giá trị nhân văn và lòng nhân bản làm nền tảng phát triển và hướng đích cho dân tộc đi đến phồn vinh.

Theo hướng đi này chúng ta có quyền đòi hỏi và kỳ vọng một số hành động sau đây.

+ Lãnh đạo Đảng và Nhà nước lắng nghe bàn luận để thấy hết nguy cơ, thậm chí thảm họa mà đất nước nhân dân sẽ phải gánh chịu trong tương lai không xa nếu đất nước tiếp tục tụt hậu, dân tộc phân tâm.

+ Lãnh đạo Đảng và Nhà nước quây quần cùng đại diện mọi tầng lớp nhân dân, ngày đêm họp bàn tìm phương kế cải cách, đưa nhanh đất nước đến hùng cường.

+ Lãnh đạo Đảng và Nhà nước có chính sách sử dụng hiền tài, đưa đất nước vượt lên trên mọi lĩnh vực, từ phát triển kinh tế đến củng cố quốc phòng, từ dân chủ hóa đất nước đến xây dựng thiết chế nền tảng cho phát triển bền vững, từ cải cách giáo dục đến nâng cấp tiềm lực khoa học công nghệ, từ hợp tác quốc tế đến gia cường vị thế và hình ảnh Việt Nam.

+ Có những bước đi đột phá táo bạo; đặc biệt là xây dựng một số đặc khu kinh tế nhằm huy động sức mạnh tổng lực của dân tộc, là hình mẫu của Việt Nam năm 2045, với sức đuổi vượt mạnh mẽ làm thế giới khâm phục và kính nể.

+ Mỗi người dân Việt Nam, dù ở đâu hãy tự giác góp phần tạo nên hình ảnh một dân tộc có phẩm chất cao quí: thành tâm trong hợp tác, cầu thị trong học hỏi, ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng. Việt Nam cần trở thành một điểm sáng, có sức tương phản và thu hút mạnh mẽ trong hun đúc những phẩm chất cao quí này.

Nguồn: Tuần Việt Nam (VNN)
-->đọc tiếp...