Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thị Từ Huy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thị Từ Huy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2019

DI CHÚC HỒ CHÍ MINH: NHỮNG NGHI VẤN ĐẶT RA TỪ VĂN BẢN

Di chúc Hồ Chí Minh: 
những nghi vấn đặt ra từ văn bản 
Nguyễn Thị Từ Huy 
23-04-2015
Trước hết, xin quý độc giả lưu ý rằng tôi không đánh giá về Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử. Đánh giá về các nhân vật lịch, về đóng góp và sai lầm của họ, là công việc của các sử gia chân chính.

Ở đây, tôi chỉ làm một việc duy nhất : khảo sát các văn bản di chúc của Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó chỉ ra một số điều mà văn bản cho phép nhìn thấy. Đúng hơn là các văn bản của Hồ Chí Minh cho phép đặt ra một số nghi vấn mà tôi không có câu trả lời. Tôi cũng không có tham vọng trả lời, tôi chỉ làm công việc đặt ra các câu hỏi.

Trong bài này, để tiến hành khảo sát các bản di chúc, tôi sử dụng các bản gốc đánh máy năm 1965 và bản gốc viết tay các năm 1968-1969, của Hồ Chí Minh, được công bố trong cuốn «Toàn văn di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh», NXB Trẻ, 1999.

Bản di chúc đầu tiên được đánh máy và ký ngày 15/5/1965, với sự chứng kiến của Lê Duẩn, lúc bấy giờ là Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương, có chữ ký của Lê Duẩn trong văn bản đánh máy.

Đọc tiếp...

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2016

Nguyễn Thị Từ Huy: OBAMA VÀ CHÚNG TA

TT Obama trong buổi trò chuyện với các thành viên YSEALI sáng 25/5/2016 

Obama và chúng ta



Chúng ta phải hiểu rằng đó là vấn đề của chúng ta, của người Việt Nam, và người Việt Nam cần phải đứng ra tự mình giải quyết. Tôi thực sự cảm thấy buồn khi thấy Obama qua Việt Nam chỉ có ba ngày mà có hàng bao nhiêu đơn thư của người Việt gửi đến nhờ ông ấy giải quyết hàng loạt các vấn đề của mình. Làm sao Obama có thể giải quyết tất cả những vấn đề ấy thay cho chúng ta? Và phải đặt câu hỏi theo một cách khác nữa: Vì sao Obama phải giải quyết tất cả những vấn đề ấy thay cho chín mươi triệu người chúng ta?  Không, Obama, hay bất kỳ ai khác, không có nghĩa vụ phải giải quyết các vấn nạn của Việt Nam thay cho người Việt Nam.

Đọc tiếp...

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

HỒ CHÍ MINH VÀ PHÁP LỆNH "TRỪNG TRỊ CÁC TỘI PHẢN CÁCH MẠNG"

Nguyễn Thị Từ Huy
21-06-2015
 
 
Các điều luật 78, 79, 88, 258 của bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành đang được chính quyền sử dụng làm cơ sở pháp lý để, trong một số trường hợp, biến những người vô tội thành có tội; đó là trường hợp của những người yêu nước và những người đấu tranh cho dân chủ bị biến thành tội phạm.

Mục đích của tôi ở bài này không phải là nhằm chỉ ra sự vô lý hay tính chất phản dân chủ của các điều luật nêu trên đây. Mục đích của tôi ở đây là giới thiệu với quý độc giả văn bản pháp lý đầu tiên, cơ sở cho các điều luật ấy.

Văn bản đó là pháp lệnh « Trừng trị các tội phản cách mạng” do Hồ Chí Minh ký và ban hành tháng 11 năm 1967. Mặc dù pháp lệnh này do Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua, và do Trường Chinh ký trước khi trình lên chủ tịch nước, nhưng Hồ Chí Minh là người ký và ban hành trên toàn quốc, nên Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm về mọi nội dung trong văn bản.

Có thể tìm thấy văn bản này trên website của chính phủ. Tuy nhiên, văn bản trên website của chính phủ là văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do Trường Chinh ký ngày 30/10/1967. Văn bản này được đệ trình lên Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành ngày 10/11/1967. Pháp lệnh này được công bố trên báo Nhân dân ngày 21/3/1968. Những thông tin này dẫn theo nguồn của Céline Marangé, trong cuốn “Le communisme vietnamien (1919-1991) ». Vì sao website của chính phủ đăng bản đệ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mà không đăng Pháp lệnh chính thức do Hồ Chí Minh ban hành ? Điều này có lẽ chỉ có Bộ Chính trị mới trả lời được.
Đọc tiếp...

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Đào Tiến Thi: NỖI BUỒN HẠ CHÍ


NỖI BUỒN HẠ CHÍ  
(Tặng Khánh Trâm, Từ Huy, Thuý Hạnh, Xuân Diện)
Đào Tiến Thi 
Chúng tôi tất cả chỉ có bốn người: Nguyễn Thị Khánh Trâm, Nguyễn Thị Từ Huy, Nguyễn Xuân Diện và tôi, ngồi âm thầm trong góc một quán cà phê.

Đây là thịnh tình của Khánh Trâm. Chị muốn có một cuộc hàn huyên để chia tay Từ Huy, người sắp lên đường sang Pháp học tiến sỹ triết học.

Đọc tiếp...

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

14h HÔM NAY: TS. NGUYỄN THỊ TỪ HUY TRÒ CHUYỆN VỀ NGHỀ VIẾT


TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VIẾT VĂN – BÁO CHÍ

***
THƯ MỜI THAM DỰ CUỘC TRÒ CHUYỆN
“VIẾT – CÔ ĐƠN & SỨC MẠNH”

Nguyễn Thị Từ Huy, tác giả của tập thơ Chữ cái (2007), tiểu thuyết Gửi người tin và yêu (2014), chuyên khảo Alain Robbe-Grillet: sự thật và diễn giải (2009), dịch giả của Nietzsche và triết học (2010), Kafka – Vì một nền văn học thiểu số (2013), vừa xuất bản tập tiểu luận phê bình Viết – cô đơn & sức mạnh (Nxb HNV, quí II/2014). Cuốn sách tập hợp 10 tiểu luận thoạt tiên tưởng như không liền mạch này, thực ra,  lại tập trung  suy tư và bàn luận về một chủ đề không dễ dàng đi đến tận cùng: cô đơn của viết, sức mạnh của viết. Từ kinh nghiệm cá nhân, từ vốn hiểu biết văn chương đa nguồn, Từ Huy đã cho thấy cô đơn cũng là vẻ đẹp, giá trị khác của viết, hành động sáng tạo chứng tỏ mình của nhà văn, điều đôi khi đã được nhắc qua nhưng không phải bao giờ cũng quyết liệt như Từ Huy đang thực hành và chờ đợi. 

Khoa Viết văn - Báo chí trân trọng kính mời các nhà nghiên cứu - phê bình, các nhà văn nhà thơ, các quí vị quan tâm đến tham dự, phát biểu ý kiến, chia sẻ quan điểm cùng tác giả Từ Huy xoay quanh cuốn sách của chị. Buổi trò chuyện này cũng là lời chúc tốt lành của Khoa Viết văn - Báo chí, những người tin - yêu gửi đến Từ Huy trước khi chị sang Pháp thực hiện dự án nghiên cứu mới. 

Thời gian: 14h ngày 25 tháng 6 năm 2014
Địa điểm: phòng Hội đồng, tầng 1 nhà A, Trường ĐH Văn hóa Hà Nội, 418 La Thành, Đống Đa, HN
T/M BAN CHỦ NHIỆM KHOA
Nhà văn Văn Giá
Đọc tiếp...

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014

BAN TUYÊN GIÁO TW BỊT MỒM BÁO CHÍ VỤ NHÃ THUYÊN BỊ TƯỚC BẰNG THẠC SĨ

Tư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương

 

Dưới đây là trích đoạn từ một công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương. Sau này, nếu ai có hứng thú nghiên cứu, xin mách một đề tài hay, xứng đáng tầm luận án tiến sĩ: Tự do ngôn luận nhìn từ công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Quả là Ban Tuyên giáo Trung ương có “con mắt nhìn sáu cõi”, quán xuyến từ nhỏ đến to, từ trong nước đến quốc tế. 

Chuyện luận văn của Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên) ba năm sau khi bảo vệ với đánh giá xuất sắc, bị “phê bình tập thể” và nay bị “hội đồng thẩm định” ra quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học hàm [sic!] thạc sĩ, Ban Tuyên giáo chỉ thị “báo chí không đăng tải ý kiến, đơn thư trái chiều”, nghĩa là bịt miệng dân. Nhân tiện, xin hỏi: Có công khai được danh sách các nhà “khoa học” tham gia cái “hội đồng thẩm định” đó không ạ? Ý kiến cụ thể của từng vị ra sao ạ? (Và cũng xin nhắc để mọi người nhớ rằng, PGS TS Nguyễn Thị Bình vì ‘tội” hướng dẫn cho cô Đỗ Thị Thoan, đã bị cho về hưu sớm đấy – xin xem ở đây). Chuyện nhỏ mà, chứ có to như chuyện máy bay trở [sic!] khách MH370 của Malaysia bị mất tích đâu, xin cứ công khai để bàn dân thiên hạ biết “hội đồng” đã làm việc một cách đầy lương tâm chức nghiệp như thế nào.

Chuyện Ucraina cách Việt Nam mấy ngàn cây số cũng được Ban Tuyên giáo quan tâm sâu sát. Không phải vì Việt Nam có quyền lợi gì ở xứ Ucraina xa xôi, như EU hay Mỹ, mà hẳn là vì Ban lo xa, sợ dân Việt liên hệ với tình hình trong nước, thì bất lợi cho việc “trị an”. Chứ không sao?!

Báo chí Việt Nam bị “cầm tay chỉ việc” như thế, mà Việt Nam vẫn tự hào là đảm bảo quyền tự do ngôn luận, vẫn đường đường là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cơ đấy! 

Hình như một nhân vật của Nam Cao, để tán thưởng, thường hay vỗ đùi kêu lên: “Tài thật! Tài thật! […]”.

Bauxite Việt Nam

 
Nguồn ảnh: FB Nhị Linh
Đọc tiếp...

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

TS. NGUYỄN THỊ TỪ HUY GÓP Ý DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992

GÓP Ý CHO DỰ THẢO SỬA ĐỐI HIẾN PHÁP 1992


CÔNG DÂN NGUYỄN THỊ TỪ HUY

Văn bản này được soạn thảo nhằm đáp ứng lời kêu gọi của Quốc hội về việc đóng góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 (từ đây được viết tắt là Dự thảo). Ở đây chúng tôi phát triển các ý căn bản đã trình bày tại Hội thảo phụ nữ trí thức và doanh nhân góp ý dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992, do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tổ chức ngày 1/2/2013 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Chúng tôi xuất phát từ quan niệm chung về hiến pháp:
Đọc tiếp...

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

Nguyễn Thị Từ Huy: TÂM VÀ TÀI

TÂM VÀ TÀI
Nguyễn Thị Từ Huy
“… không phải người Việt Nam không đủ tài để nhận ra hậu quả, không phải không đủ tài để đề xuất các giải pháp. Nhưng các giải pháp được lựa chọn, các quyết định được đưa ra, không phải xuất phát từ chữ Tâm. Do đó mà cái tài cũng bị triệt tiêu, bất chấp những nỗ lực tuyệt vọng của một số người.”
Cuối năm là thời điểm người ta nghĩ nhiều về tương lai. Vì năm mới thường mang theo những viễn tưởng về cuộc sống ở phía trước, về những gì mới mẻ và tốt đẹp. Tôi cũng không thoát khỏi tâm trạng chung đó. Và tôi thấy tương lai phụ thuộc vào hai chữ mà dường như Nguyễn Du đã đặt cạnh nhau trong thế đối lập: Tâm/Tài, trong câu thơ mà có lẽ tất cả những ai đã trải qua ghế nhà trường, và thậm chí không đến trường, cũng đều biết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Tuy nhiên, hai chữ đó có thực sự là bị đặt vào thế đối lập không ?

Trước hết cần ý thức được rằng, trong một thế giới rất phát triển như thế giới của chúng ta ở thời điểm hiện nay, nếu chúng ta không có tài, tức là không có các năng lực trí tuệ, không có khả năng vươn tới sự bình đẳng với các nước khác, thì chắc chắn tương lai sẽ chẳng có gì đảm bảo. Vậy trong thế giới ngày nay cái tâm có ít quan trọng hơn cái tài không?

Trong câu thơ Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài, ý tưởng của Nguyễn Du khá rõ ràng: cần phải hiểu rằng cái tâm quan trọng hơn cái tài.

Tôi lấy một ví dụ ở lĩnh vực giáo dục để nói rằng nếu thiếu cái tâm thì cái tài cũng chẳng thể giúp người giáo viên thực hiện được trách nhiệm giáo dục.

Làm sao người thầy còn thực hiện được chức năng giáo dục khi bản thân ông ta không hành động đúng theo các “mệnh lệnh”1 của đạo đức? Một giáo sư gây khó dễ để buộc sinh viên phải mang tiền đến nhà mình rồi mới chịu đọc luận án của người sinh viên, cái luận án do chính mình hướng dẫn, thật khó hình dung giáo sư đó sẽ thực hiện bổn phận giáo dục của người giáo viên như thế nào, cho dù rằng trên lớp hay thậm chí trong những đối thoại hằng ngày ông ấy có ý thức dùng bài giảng hay những câu chuyện với mục đích giáo dục sinh viên. Hay thậm chí cả khi ông ấy lên án các hiện tượng cần phê phán trong xã hội, thì đối với những sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh mà ông đã nhận tiền, những lời phê phán ấy có giá trị ra sao ? Thậm chí nữa, cả khi ông ấy ca ngợi những điều tốt đẹp thì liệu những điều tốt đẹp ấy có bị sinh viên phán xét lại qua cái lăng kính nơi phản chiếu hành vi nhận tiền của ông, hay là họ dẹp những điều tốt đẹp ấy sang một bên, hay họ xem đó như là những món đồ trang sức ? Hay họ không còn có phản ứng gì nữa ? Họ tiếp tục nghe những điều tốt đẹp và tiếp tục đem tiền đến nhà thầy để cảm ơn thầy đã nói với họ những điều tốt đẹp ấy, và hơn thế, còn cho họ những con điểm đẹp.  Rồi đến lượt họ, họ sẽ nhận phong bì của học trò để lại tiếp tục rao giảng những điều tốt đẹp và lên án những điều xấu xa. Đây chính là tình huống tệ nhất. Các hành vi phản giáo dục của người thầy đã lãnh trọn hậu quả của chúng, đã thực thi những hiệu lực tồi tệ của chúng, cho dù ông có nói giỏi bao nhiêu chăng nữa. Nói giỏi là cái tài của người giáo viên, nhưng cái tâm thể hiện ở hành động nhận hối lộ từ học trò của ông ấy.

Tuy nhiên, hai chữ Tâm và Tài của Nguyễn Du có thể được diễn giải theo một cách khác. Có lẽ cần phải hiểu rằng chính cái tâm quyết định cái tài có phát triển được hay không. Cái tài sẽ không phát huy hiệu lực của nó khi không có cái tâm.

Nếu hiểu cái tâm tách biệt khỏi cái tài và quan trọng hơn cái tài, thì có thể giả định tình huống: nghèo cũng được, khủng hoảng cũng được nhưng chỉ cần giữ cái tâm là được. Nếu hiểu cái tâm quyết định cái tài, thì có thể giả định tình huống: sự nghèo hèn trên diện rộng, sự khủng hoảng, tình trạng tồi tệ, bất công, tội ác là do thiếu cái tâm mà ra. Vì cái tâm quyết định sự lựa chọn và hành động. Cái tâm sẽ quyết định rằng các giải pháp hữu hiệu (vốn là kết quả của cái tài) được thực hiện hay bị chối từ. Hãy nhìn sự xuống cấp của nền kinh tế, của nền giáo dục, của văn hóa, sự xuống cấp và khủng hoảng không thể chối cãi được của xã hội chúng ta hiện nay, nguyên nhân, theo tôi, không phải vì người Việt Nam bất tài. Giáo dục suy vi không hẳn vì giáo viên bất tài, và nếu giáo viên trở nên bất tài thì không hẳn vốn dĩ từ đầu đã bất tài. Giáo dục suy vi vì có những điều ai cũng biết là đúng và cần phải thực hiện, nhưng lại từ chối không thực hiện. Động cơ thúc đẩy sự từ chối đó không phải là vì thiếu tài, và không phải là vì thiếu người tài.

Các vấn đề về kinh tế không được giải quyết, hay sản xuất (điện, than, khoáng sản) bị thua lỗ, không phải vì không có các giải pháp hiệu quả. Mà các giải pháp hiệu quả hoặc đã không được đề xuất (do nghĩ rằng có đề xuất cũng chẳng ai nghe), hoặc đã đề xuất mà không được sử dụng. Hoặc các giải pháp hiệu quả bị loại trừ, các giải pháp tồi tệ thì được lựa chọn một cách cương quyết. Thực tế cho thấy rằng không ít những giải pháp thua lỗ đã được lựa chọn với một quyết tâm cao độ, bất chấp mọi sự phân tích hợp lý. Như vậy không phải người Việt Nam không đủ tài để nhận ra hậu quả, không phải không đủ tài để đề xuất các giải pháp. Nhưng các giải pháp được lựa chọn, các quyết định được đưa ra, không phải xuất phát từ chữ Tâm. Do đó mà cái tài cũng bị triệt tiêu, bất chấp những nỗ lực tuyệt vọng của một số người.

Nguyên nhân khiến cho cái tài của chúng ta hoặc không được sử dụng, hoặc bị cùn mòn, bị lãng phí đi, một phần (một phần thôi, dĩ nhiên) nằm trong câu trả lời mà Nguyễn Du đã đưa ra từ hai trăm năm trước. Và tại sao ông hỏi “Không biết ba trăm năm lẻ nữa/Thiên hạ ai người khóc Tố Như?”? Nếu chúng ta tiếp tục duy trì tình trạng như hiện nay, nếu mỗi cá nhân đem cái tâm của mình bán dần như bán vàng (tôi mượn một ý thơ của Nguyễn Duy), hay là bán dần như bán đất, cốt chỉ để đảm bảo cho sự tồn tại mang tính vật chất, hay sự tồn tại của chính vật chất (bởi vì nhà cửa, ô tô, tiền bạc trong tài khoản dĩ nhiên tồn tại lâu hơn con người, chúng đâu có chết, rút cục khi thân xác trở lại thành hư không thì chỉ còn chúng tồn tại mà thôi), thì ba trăm năm lẻ nữa (tính từ thời điểm câu thơ Nguyễn Du ra đời) còn có cái tâm nào nữa để khóc Tố Như đây? Khóc thực sự chứ không phải khóc theo kiểu ông giáo nói giỏi nhưng nhận phong bì cũng giỏi ở ví dụ trên đây.

Năm tới là năm Rồng, có khả năng cho chúng ta cất cánh không? Có lẽ chẳng có vận may nào ngoại trừ những cố gắng thay đổi thực trạng của xã hội hiện nay được mỗi người thực hiện một cách có ý thức và ủng hộ ý thức của những người khác.
————-
1. Hai khái niệm đạo đức của Kant: mệnh lệnh nhất quyết và mệnh lệnh giả thuyết.
Nguồn: Tia Sáng.
Đọc tiếp...