HÁN NÔM MÃI ĐAU ĐÁU TRONG
TÔI
Nguyễn Văn Thịnh
Nguyễn Văn Thịnh
Lời
dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Thịnh - nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Hán Nôm, là người
Thầy cả khi đi học, khi công tác, lẫn khi đã nghỉ hưu, lúc nào cũng say mê,
nhiệt thành “đến một mức rất quá”. Tấm lòng của Thầy với Ngành được tất cả đồng
nghiệp trong ngoài Ngành ghi nhận và được tất cả thế hệ học trò ghi nhớ biết
ơn. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Ngành Hán Nôm (1972-2012), chúng tôi xin
giới thiệu những cảm xúc, những kỷ niệm của Thầy về Ngành, về những lĩnh vực
văn hóa Hán Nôm mà Thầy “mến yêu” và xả thân hết mình. Chúng tôi xin đặt lại
nhan đề bài viết của Thầy.
Đặt
bút viết Hồi cố và cảm xúc về ngành Hán Nôm, nhưng dòng hồi cố của tôi lại
chảy miên man về nhiều phương, cũng như công việc của tôi từ ngày nghỉ hưu chưa
lúc nào ngừng lắng. Có lẽ bởi tôi đã gắn với chữ Hán, chữ Nôm từ quá sớm. Tuy
không theo con đường khoa cử, nhưng dòng họ tôi cũng nhiều đời học để đủ vốn
chữ nghĩa tu tâm luyện tính, biết tới Hiên-Kỳ, nắm được chính yếu của
Trung y, đọc hiểu được Bản thảo cương mục, Thương hàn luận hay Nam
dược thần hiệu, Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh của y học nước
nhà nhằm mục đích trị bệnh cứu người. Suốt năm đời nối nhau làm thuốc (tính từ
ông nội tôi Lương y Nguyễn Văn Mai, mà nhà thờ họ lưu truyền đại tự Nho y kế
thế, Xuân phong tại, do Nội ngoại trường môn sinh dâng tặng), tôi đã
sớm có được vốn nhỏ chữ Hán do Cụ ngoại tôi - Cụ phó Nguyễn Duy Quảng (tất
nhiên là Phó lý mua) và ông trẻ tôi Lương y Nguyễn Văn Lan truyền lại; còn ông
nội tôi là Lương y Nguyễn Văn Mai thì lập nghiệp tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải
Dương; Đến thân phụ tôi thì có học chữ Hán, nhưng ở thời ông, nho học đã vào
cuối chầu, chữ Quốc ngữ đã thu hút giới trẻ. Ông chỉ khuyến khích tôi thôi chứ
ông không giúp gì trực tiếp bởi ông là người biết thế nào là “học hải mang
mang”, chữ nghĩa Thánh Hiền biết mấy mà dám làm thầy dạy. Sau này tôi được học Trung
văn ở phổ thông, rồi đại học, tại khoa lúc đó giáo trình Trung văn cũng có cả âm
Hán Việt. Việc đó giúp tôi duy trì thói quen và ham mê học chữ Hán, đọc theo âm
Hán Việt. Trong những năm học văn tại Khoa Khoa học Xã hội (Ký túc xá Láng),
chúng tôi vẫn được học thêm chữ Hán do Cụ Trần Lê Hữu - thân phụ PGS Trần Lê
Sáng dạy, còn học Cụ Đỗ Văn Hỷ chỉ được một số buổi, tôi còn nhớ nhiều bài Cụ
dạy nhưng không nhớ lớp học do cơ quan nào của Bộ Văn hóa tổ chức nữa, hình như
Vụ Bảo tồn Bảo tàng. Lớp bồi dưỡng chính quy chính là các lớp Hán Nôm sau đại
học do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam mở. Lớp học này, tôi thực sự
chờ đón, vì ra trường vào giữa thời chống Mỹ, giữa những năm ác liệt, nhưng lúc
này tôi lại có nhiều thời gian nơi sơ tán. Có lần nghe láng máng lớp chuẩn bị khai
giảng, tôi đã khăn gói lên huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, nơi Viện (Ban?) Hán
Nôm sơ tán. Nhưng lớp học này mãi dến năm 1973 mới chính thức khai giảng tại
Trần Xuân Soạn, Hà Nội. Lớp học này có các thầy dạy là các bậc túc Nho như Cụ
Đỗ Ngọc Toại, Cụ Trần Duy Vôn, Cụ Đào Phương Bình, đặc biệt là cụ Lê Thước bậc
đại khoa của triều Nguyễn, các giáo sư thân thuộc nổi tiếng của các viện các
trường như GS Đào Duy Anh, GS Cao Xuân Huy, GS Trương Đình Nguyên… Nhiều Giáo
sư của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc đó cũng tham gia dạy về sử học và văn
học như GS Phan Huy Lê, GS Đinh Xuân Lâm, GS Trần Đình Hượu…






