Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

4h14: HÀ NỘI MƯA TO, NHỚ BÀI THƠ MỪNG MƯA CỦA VUA MINH MỆNH

Lăng Hoàng đế Minh Mạng. Huế. Ảnh: Internet.

Thưa chư vị, 

 

Đêm qua trời đổ mưa rào. Và người xưa thường viết những bài thơ mừng mưa (hỷ vũ) để tạ ơn trời đất về những trận mưa rào trong đêm ấy. Cách đây 178 năm, sau một trận mưa rào giữa đêm, Hoàng đế Minh Mạng của nước Đại Nam đã thức dậy rất sớm (nhà vua thường dậy vào giờ Dần, tức là 3h sáng) và viết một bài thơ, trong đó có những câu thơ: Y ôn niệm chức tồn dư ý. Thực bão tư nông động ngã tâm 衣 溫 念 織 存 余 意, 食 飽 思 農 動 我 心 (Mặc ấm nhớ người dệt vải, đó là điều còn mãi trong ý ta. Ăn no, nhớ người cày ruộng, điều đó còn lay động tâm can ta). Từ đó, ông tiến hành cải cách hành chính và cai trị đất nước bằng cả tài trí, tâm lực của mình, đưa nước Đại Nam thành một quốc gia hùng mạnh lúc bấy giờ! 

 

Xem thế, biết vua ngày xưa thương dân, yêu dân và có trách nhiệm với dân với nước, có trách nhiệm với chính cái ngôi vị của mình lắm!

.
ĐỌC VÀI BÀI THƠ TRỌNG NÔNG CỦA CÁC VUA NGUYỄN.
Phan Thuận An 

Suốt mấy ngàn năm kể từ ngày lập quốc, trong bất cứ triều đại quân chủ nào, các vua chúa Việt Nam cũng lấy nghề nông làm mũi nhọn số một trong chính sách kinh tế nước nhà. Lý do rất dễ hiểu: đó là sinh lộ của cả dân tộc.

Chính sách trọng nông truyền thống ấy đã được triều đình nhà Nguyễn (1802-1945) chẳng những tiếp tục thực hiện mà còn đẩy mạnh và phát triển hết năng lực sẵn có bằng rất nhiều phương thức thích hợp và biện pháp hữu hiệu.

Với những tư liệu phong phú hiện nay có được, người ta có thể viết nhiều luận án về chính sách khuyến nông của triều Nguyễn và hiệu quả tốt đẹp của nó.

Ở đây chỉ xin giới thiệu vài bài thơ chữ Hán và chữ Nôm của ba vị vua nhà Nguyễn là Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức; trong đó nói lên quan điểm trọng thị và tấm lòng ưu ái của mình đối với nông dân. Thật là hiếm có và khó tìm đối với các vị hoàng đế hay thơ, nhưng chúng tôi may mắn sưu tầm được, nay xin cung cấp để tham khảo..

Bài thơ đầu tiên là Vị nông ngâm của vua Minh Mệnh, làm theo thể thơ Đường luật, thất ngôn bát cú bằng chữ Hán vào năm Nhâm Thìn (1832). Một điều thú vị hiện nay chúng ta có thể thấy được bản thủ bút của tác giả với nét chữ nhẹ nhàng bay bướm. Vào khỏang năm 1942, Paul Boudet, một học giả Pháp đã có dịp vào trong Hoàng cung Huế để khảo sát các tư liệu lịch sử, và đã chụp được ảnh bản thủ bút này. Ông liền cho đem đăng tấm ảnh ấy kèm theo bài viết của ông trên Bulletin des Amis du Vieux Hué, số 3, tháng 7-9 năm 1942, planche LVIII. Nay xin phiên âm, dịch nghĩa bằng văn xuôi và văn vần như sau:

VỊ NÔNG NGÂM.

Tiền tiêu hàm hỷ tế thời lâm,
Kế thử liên liên tế tế châm.
Lẫm liệt đông trung chi thuận hậu,
Tuấn tuần điền thượng khủng hàn xâm
Y ôn niệm chức tồn dư ý,
Thực bão tư nông động ngã tâm.
Giá sắc gian nan tòng cổ trọng,
Vô thời bất dĩ cử vi ngâm.
Nhâm Thìn hoạt bút.

Dịch nghĩa:.

NGÂM NGỢI NHÀ NÔNG.

Đêm trước mọi người đều mừng trận mưa cứu mùa màng,
Tiếp đó hạt mưa nối nhau rơi rả rích.
Trong mùa đông lạnh lẽo mà mưa như thế thì biết là thời tiết thuận lợi,
Người nông dân lội bì bõm trên ruộng, sợ e bị nhiễm lạnh.
Mặc ấm phải nhớ đến người dệt vải, đó là điều còn mãi trong ý ta,
ăn no phải nghĩ đến người làm ruộng, đó là điều làm cảm động đến lòng ta.
Nỗi gian nan trong chuyện cấy gặt, từ xưa vốn được coi trọng.
Không lúc nào ta không đem nỗi gian nan ấy cất lên thành khúc ngâm.
Viết năm Nhâm Thìn (1832)

Dịch thơ:

Đêm qua mừng trận mưa rào,
Từng cơn rả rích rót vào canh thâu.
Rét đông mưa giúp hoa màu,
Sợ ai ì oạp ruộng sâu lạnh lùng.
Ấm người, thợ dệt góp công,
No lòng, ta nhớ nhà nông muôn phần.
Bao giờ tôn trọng nông dân,
Ngâm nga ta đã mấy lần vì ai.

Bài thơ thứ hai là của vua Triệu Trị, mang tựa đề NÔNG LẠC.

Chúng tôi bắt gặp bài thơ này ngay trên di tích Huế. Ở Điện Hoà Khiêm trong phạm vi lăng Tự Đức, hiện nay vẫn còn treo 16 bức tranh mầu, minh hoạ 16 bài thơ ngự chế mà cuối mỗi bài đều viết dòng lạc khoản “Thiệu Trị Ất Tỵ cung lục”. Năm Ất Tỵ thời Thiệu Trị là năm 1845. Với sự dè dặt thường lệ và cần thiết đối với ý nghĩa của hai chữ “cung lục” ở đây, chúng tôi nghĩ rằng vua Thiệu Trị là tác giả của những bài thơ này, mà đáng chú ý nhất là bài mang nội dung khuyến nông ấy:

NÔNG LẠC.

Chung tuế cần cù lực bá canh,
Thu thành vạn bửu toại tư sanh.
Nhương nhương lũng mẫu hoàng vân bố,
Ức úc thương sương ngọc lạp doanh.
Phủ ngưỡng hàm hân gia cấp túc,
Trưng khoa bất nhiễu pháp nghiêm minh.
Chiêu diên tửu thực hương thôn hội,
Tuý bảo mao nghê hỷ uỷ tình.

Dịch nghĩa:

NIỀM VUI CỦA NHÀ NÔNG.

Quanh năm làm việc cần cù, ra sức cày cấy khắp cả.
Mùa thu làm nên muôn vật quý báu, toại ý về của cải vật chất nuôi sống.
Lớp lớp trên ruộng đồng, lúa chín trải ra như đám mây vàng.
Ăm ắp bồ, kho, tràn đầy hạt ngọc (tức là lúa gạo).
Ngó xuống trông lên đều hớn hở, việc cung cấp cho gia đình được đầy đủ.
Trong việc trưng thu không bị sách nhiễu,
Phép nước được giữ gìn nghiêm minh.
Xóm làng mở hội mời nhau đến cùng ăn uống,
No say, già trẻ đều mừng rỡ thỏa lòng.

Dịch thơ:

Cần cù ruộng thấp đồng cao,
Sang thu cái sống được bao đền bù.
Mây vàng giăng hạt ruộng khô,
Ngọc làng ăm ắp đầy bồ chật kho.
Cảnh nhà giờ đỡ phải lo,
Làm theo phép nước trưng thu đàng hoàng.
Tiệc mừng tấp nập xóm làng,
No say ai cũng rộn ràng niềm vui.
(Vũ Bạch Ngô dịch)

Và bài thơ thứ ba là MỪNG ĐẶNG MƯA của vua Tự Đức, viết bằng chữ Nôm. Bài thơ đã từng được phiên âm ra chữ quốc ngữ và đăng trong mục Văn uyển của Thần kinh tạp chí, số 10, tháng 5 năm 1928, tr.914.

MỪNG ĐẶNG MƯA.

Tình cờ may gặp trận mưa rào,
Thiên hạ vui mừng hẳn biết bao.
Thần núi ứng mây thêm đậm đậm,
Ơn trời rước nước khắp ào ào.
Tràn đồng hột ngọc nhờ no đủ,
Một giọt cân vàng khó ước ao.
Hai tháng tưởng cầu nay mới đặng,
Rằng thanh minh võ tạc non cao.

Qua sử sách, chúng ta thấy nông nghiệp đã được các vua quan nhà Nguyễn gọi là “bản nghệ” (nghề gốc), khác với thương nghiệp thường được họ coi là “mạt nghệ” (nghề ngọn) (Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học, Hà Nội, Tập III, 1963, trang 9). Các tác giả của bộ Minh Mệnh chính yếu đã dành riêng hai quyển VIII và IX để ghi chép về sự nghiệp phát triển nghề nông của vua Minh Mệnh (Xem: Minh Mệnh chính yếu, phần Trọng nông, Tập 3, bản dịch của Võ Khắc Văn và Lê Phụ Thiện, Sài Gòn, 1974, tr.1-96).
Ba bài thơ ngự chế trên đây góp phần làm sáng tỏ hơn về chính sách kinh tế của nhà Nguyễn.

Bài viết nhỏ này được viết dưới dạng cung cấp tư liệu văn học và lịch sử liên quan đến chủ trương khuyến nông của các vua nói trên, chúng tôi xin miễn bàn thêm gì khác nữa ở đây./.

P.T.A
Tạp chí Hán Nôm số 2 (13) – 1992, trang 75-76

PHIILIPINES KÊU GỌI ASEAN LIÊN HIỆP LẠI

Philippines kêu gọi ASEAN đoàn kết để giải quyết tranh chấp Biển Đông

SGTT.VN - Hôm qua (16.6), thượng nghị sĩ Philippines, Edgardo Angara, phó chủ tịch uỷ ban về các vấn đề đối ngoại của thượng viện nước này, nhấn mạnh, trong tranh chấp ở Biển Đông, sự hỗ trợ của ASEAN chính là yếu tố căn bản và trước nhất.

Biểu tình phản đối các hành động của Trung Quốc trên vùng biển Tây Philippines. Ảnh: Reuters
Theo ông Angara, rõ ràng tranh chấp ở Biển Đông không chỉ liên quan mỗi Philippines và Trung Quốc, giải pháp cho vấn đề này không thể là hành động đơn phương. “Chúng ta cần phải tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nước trong khu vực, và từ ASEAN là điều chủ yếu, nhằm giải quyết vấn đề này một cách thấu đáo”, ông nói.

Đề xuất thành lập khối liên kết 

Thượng nghị sĩ khẳng định, rõ ràng Trung Quốc đang tiếp tục cách cư xử hung hăng ở nơi mà cả Philippines, Việt Nam và các nước có liên quan khác đều có lợi ích kinh tế lớn. Nhưng cách cư xử phô trương này của Trung Quốc là không đáng có. Từ đó, ông Angara cho rằng, “Chúng ta cần một diễn đàn nơi chúng ta có thể bày tỏ sự phản đối và giải quyết các khác biệt bằng con đường ngoại giao như thể đây là cách duy nhất chúng ta có”.

Đáng chú ý, ông Angara đề xuất Philippines nên có một đoàn ngoại giao chuyên trách để đàm phán với các nước ASEAN về việc thành lập một khối liên kết để giải quyết vấn đề ở Biển Đông. Đồng thời, nhóm công tác này cũng có trách nhiệm kết nối với Liên hiệp quốc để đàm phán, giải quyết hoà bình các tranh chấp lãnh thổ ở Trường Sa.

Trong khi đó, cựu chủ tịch hạ viện Philippines Jose de Venecia Jr nhận định, trong khi những lời nói bất hoà “bay qua bay lại” trên Biển Đông giữa các nước có liên quan, điểm mấu chốt là “vẫn chưa có gì thay thế cho đối thoại và một đàm phán chính trị”.

Trước đó, thượng nghị sĩ Loren Legarda, chủ tịch uỷ ban Đối ngoại của Thượng nghị viện Philippines, nhắc nhở các nước có quyền lợi ở Biển Đông nên tuân thủ với DOC mà Trung Quốc và ASEAN đã ký hồi 2002.

Đối thoại hoà bình

Hôm 16.6, người phát ngôn của tổng thống Philippines, ông Edwin Lacierda, đã bày tỏ sự hoan nghênh với phát biểu của Mỹ và Trung Quốc về sự cần thiết có một giải pháp hoà bình cho vấn đề Biển Đông.

“Chúng tôi nhắc lại rằng đối thoại hoà bình trên nền tảng đa phương là cách tốt nhất cho Philippines, ASEAN và tất cả các nước có liên quan. Chúng tôi sẵn sàng trở thành thành viên đáng tin cậy trong cộng đồng quốc tế, một quốc gia nghiêm túc về cam kết của mình và làm hài hoà lợi ích quốc gia với trách nhiệm quốc tế của mình”.

Tranh: Trần Nhương
Ông Lacierda nói, chính quyền của Tổng thống Aquino đã xác nhận cam kết thực hiện DOC qua những gì tổng thống Philippines phát biểu trong cuộc họp lãnh đạo ASEAN và Mỹ hồi tháng 9 năm ngoái. “Tôi tin tưởng điều này phù hợp với tuyên bố chính thức của ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton về Biển Đông hồi tháng 7.2010, ủng hộ quá trình ngoại giao hợp tác. Là một nước yêu chuộng hoà bình, Philippines ủng hộ bất kỳ nỗ lực nào để giải quyết các bất đồng tiềm ẩn theo cách hoà bình nhất có thể”, Lacierda dẫn lời Tổng thống Aquino.

Văn phòng tổng thống Philippines cũng hoan nghênh Trung Quốc có tuyên bố không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông của Trung Quốc. “Tuyên bố từ bộ Ngoại giao Trung Quốc là điều lạc quan. Điều tốt lành là chúng ta nghe họ nói rằng, họ không sử dụng vũ lực. Chúng tôi hoan nghênh điều đó”, Lacierda nói trong họp báo tại văn phòng tổng thống. “Nhờ thế, ít nhất chúng ta có một sự cam kết trong khu vực là không cần thiết phải sử dụng vũ lực để giải quyết tình hình”.

Cùng ngày 16.6, khi trao đổi với ngoại trưởng Úc, bộ trưởng Ngoại giao Philippines Albert del Rosario nhấn mạnh, Philippines rất quan ngại nếu Trung Quốc cắm các cột mốc ở khu vực có tranh chấp ở Trường Sa.

Ca Thy (Philstar, Sunstar, Reuters)
Nguồn: SGTT.

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

TIN KHẨN: TIỀN GIẢ VNĐ TỪ TRUNG QUỐC TUỒN VÀO VIỆT NAM

Bản tin Thời sự 19 của VTV vừa đưa tin, công an Lạng Sơn vừa bắt giữ một vụ vận chuyển 200 triệu tiền VNĐ giả được người Tàu tuồn vào Việt Nam qua cửa khẩu Tân Thanh.

Trước hết, xin hoan nghênh công an Lạng Sơn. Sau, xin được hỏi: Đã có bao nhiêu vụ như thế này bị bắt giữ? Và ngoài 200 triệu tiền VNĐ này thì còn bao nhiêu chuyến tuồn tiền giả từ Trung Quốc vào hòng làm lũng đoạn tiền tệ Việt Nam.

Hoan nghênh VTV đưa tin, nhưng phê bình nghiêm khắc Ban Thời sự VTV đã không dám gọi là tiền được tuồn vào từ Trung Quốc, mà chỉ dám gọi là từ nước ngoài! VTV cố lên! Đừng hèn nữa!

Và bản tin trên báo VTV điện tử
Lạng Sơn: Bắt giữ 300 triệu đồng tiền Việt Nam giả

Vào 18h ngày 15/6/2011, Tổ công tác phòng PC 47 Công an tỉnh Lạng Sơn cùng Đội chống buôn lậu Chi cục Hải quan Tân Thanh làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Pò Cại, xã Tân Mỹ huyện Văn Lãng phát hiện một người đàn ông đi xe máy có biểu hiện nghi vấn. 

Lạng Sơn: Bắt giữ 300 triệu đồng tiền Việt Nam giả
300 triệu tiền VN giả được đưa vào VN
Đội công tác đã tiếp cận kiểm tra và phát hiện đối tượng có mang theo một chiếc túi dứa, đựng 10 tệp tiền Việt Nam, mệnh giá 200.000 đồng/1 tờ, nghi là tiền giả.

Đấu tranh khai thác đối tượng tên là Ngô Văn Bình, sinh ngày 21/10/1964, tại Văn Lãng. Đăng ký thường trú tại thôn Háng Mới xã Tân Mỹ huyện Văn Lãng Lạng Sơn.

Bình khai: khoảng 16h ngày 15/6 có ông Minh là người quen cũ của Bình đến cửa khẩu Tân Thanh nhờ Bình đi gặp một người đàn ông Trung Quốc nhận hộ 200 triệu đồng tiền Việt Nam giả và vận chuyển về khu vực xã Tân Mỹ. Khi đang đi trên đường, Ngô Văn Bình bị phát hiện bắt giữ. Giám định số tiền Bình vận chuyển là tiền Việt Nam giả, nhiều tờ có số seri trùng nhau.

Trước đó ngày 7/6/2011, Đồn Biên phòng Hữu Nghị Lạng Sơn cũng đã thu giữ 100 triệu đồng tiền Việt Nam giả được vận chuyển từ Trung Quốc vào Việt Nam.
 

Thủy Tiên

NGƯỜI TRUNG QUỐC LÀM THẨM PHÁN TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN

Người TQ làm thẩm phán Tòa Quốc tế về Luật biển

Ông Cao Chi Quốc
Thẩm phán Cao Chi Quốc người Trung Quốc vừa tái đắc cử chức thẩm phán tại Tòa án Quốc tế về Luật biển (International Tribunal for the Law of the Sea - Itlos).

Itlos là cơ quan độc lập được thiết lập bởi Công ước Liên hiệp Quốc về Luật biển (Unclos) nhằm phân xử các tranh chấp xung quanh việc thực hiện công ước.

Hãng thông tấn Tân Hoa Xã cho hay ông Cao vừa được bầu chọn với số phiếu áp đảo tại hội nghị lần thứ 21 các quốc gia tham gia Unclos đang họp từ 13/06-17/06 tại New York.

Ông Cao, 56 tuổi, nhận 141/149 phiếu trong vòng bỏ phiếu kín, vượt quá yêu cầu hai phần ba để tái đắc cử.

Hiện ông là Giám đốc điều hành Viện Hàng hải thuộc Cục Quản lý Hải dương Nhà nước Trung Quốc và có bằng tiến sỹ về luật.

Ông đã được bầu chọn làm thẩm phán Itlos từ 30/01/2008 để tiếp tục công việc của người tiền nhiệm cũng là một thẩm phán Trung Quốc.

Nhiệm kỳ mới của ông Cao sẽ là chín năm.

Trong cuộc phỏng vấn ngay sau khi tái đắc cử, ông Cao nói thành công của ông là nhờ sự giúp đỡ và nỗ lực của chính phủ Trung Quốc.

Ông nói với các nhà báo: "Tôi có một người ủng hộ mạnh mẽ phía sau - đó là Tổ quốc Trung Hoa của tôi, một quốc gia đang lên và có trách nhiệm".

"Không có sự hỗ trợ của Trung Quốc thì tôi không thể nào thắng cử."

Itlos có 21 thành viên, trong đó có 19 thẩm phán, với 5 vị thuộc khu vực Á châu là từ các quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, Nga và Ấn Độ.

Việt Nam chưa bao giờ đặt chân được vào tổ chức này, nhưng Trung Quốc trước ông Cao đã có hai vị ngồi ghế thẩm phán Itlos.

Công bằng và không thiên vị

Ông Cao tuyên thệ sẽ làm tròn bổn phận một cách "công bằng và không thiên vị".

Trung Quốc, với tư cách là nước lớn, có mặt tại hầu hết các thể chế luật pháp và tổ chức quốc tế; và thường có tiếng nói trọng lượng.

Nước này là một trong 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ với quyền phủ quyết.

Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 được cho như hệ thống pháp lý toàn diện về biển và đại dương trên thế giới, với các quy định về khai thác biển và nguồn lợi biển.

Hiện có 162 quốc gia, trong có Việt Nam, tham gia Unclos.

Tòa án Quốc tế Luật biển được lập ra tại Hamburg, Đức, vào năm 1994.

Trong bối cảnh gia tăng căng thẳng tại Biển Đông, hiện đang có kêu gọi rằng Việt Nam phải mang các vấn đề nảy sinh ra giải quyết theo luật pháp quốc tế, và trước Tòa án Quốc tế về Luật biển.