Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

VƯƠN DÀI LỘC BIẾC CHỒI XUÂN


Thưa chư vị,

Sáng nay, có rất nhiều người nhân ngày làm việc đầu năm, đã bớt chút thời gian đến Viện Hán Nôm để chuyển trực tiếp tiền giúp đỡ gia đình anh Đoàn Văn Vươn.

PGS. TS Hoàng Thị Thanh Nhàn, Viện Kinh tế và chính trị thế giới và Thượng tá Nguyễn Ánh Phương, Học viện Kỹ thuật Quân sự đã đến chuyển quà của các vị:

- Nguyễn Ánh Phương, Cựu chiến binh
- Hoàng Thị Thanh Nhàn, PGS.TS
- Trần Văn Hiếu, Tp Hồ Chí Minh
- Nguyễn Bảo Ngọc, doanh nhân, HN
- Cháu Nguyễn Tuyết Anh, học sinh Hà Nội
- Nguyễn Tố Châu, doanh nhân HN
số tiền: 2.100.000 đ giúp gia đình anh Đoàn Văn Vươn

đồng thời hai chị cũng gửi riêng 400.000 đ góp vào việc thăm nuôi chị Bùi Thị Minh Hằng, một người mà các chị ngưỡng mộ, với lời cầu chúc Chị Bùi Hằng sức khỏe, chân cứng đá mềm.

Chị Nguyễn Thị Vân Hà mang tới 500.000 đ gửi tới gia đình Anh Đoàn Văn Vươn.

Một cháu, qua chị Tô Lan, gửi 50.000 đ gửi tới gia đình Bác Đoàn Văn Vươn.

Nhóm Cựu chiến binh của Đại học Thủy Lợi và Đại học Bách Khoa Hà Nội cũng đã tới thăm Nguyễn Xuân Diện và cũng có mong muốn sẽ tìm một cách thích hợp để giúp các cháu con anh Vươn, anh Quý được học hành tốt nhất.

Hai khoản tiền mới gửi vào tài khoản của NXD:

30/01/2012D294 - 0000039+500,000.00 DAO MINH CHAU CHUYEN TIEN GIUP GIA DINH A.VUON GD TIEN MAT
30/01/2012J633 - 0006017+500,000.00 Sender:01202009.DD:300112.SHGD:10000006.BO: LE THI HONG HANH.CT PGD SO 4 NH NGOAI THUONG H A NOI LE THI HONG HANH UNG HO GIA DINH ANH DOAN VAN VUON TIEN LANG HAI PHONG

Lộc xuân đã dâng lên chồi biếc vươn dài trong những ngày đầu xuân. Chuyến ghé thăm của các vị nhân ngày đầu xuân khiến Lâm Khang rất cảm động. Xin cầu chúc chư vị và quý quyến dồi dào phúc lộc, may mắn tốt lành! 

Nhân ngày đầu xuân, xin gửi tặng các chị: Hoàng Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Ánh Phương, Nguyễn Thị Vân Hà tạp văn Chồi Xuân của Nguyễn Xuân Diện.

Chồi Xuân
tạp văn của Nguyễn Xuân Diện
.
Ngày xưa tôi được bà tôi kể rằng Phật Bà Quan Âm là người có nhiều phép mầu nhiệm. Người có một cái bình đựng thứ nước quý, gọi là nước cam lộ và một cành dương liễu. Và Người thường nhúng cành cây đó vào bình nước rồi vảy vào chúng sinh, cứu họ thoát khỏi phiền muộn. Khắp nhân gian ai cũng chờ đợi sự tế độ của Người. 

Rồi tôi lại được nghe một chuyện nữa. Đó là chuyện thần Thái Bạch Kim Tinh có cây gậy mầu nhiệm; chỉ gậy vào cây đã héo, cây lại xanh tươi. Giờ tôi đã lớn, chẳng biết là có nên tin nữa hay không (trước kia thì tin lắm). 

Nhưng tôi biết có một điều tôi đã tin: sự hồi sinh của vạn vật khi mùa xuân đến - sự nhiệm màu của mùa xuân.

Mùa đông, cây trút lá. Ba tháng là 90 ngày cây khẳng khiu gầy guộc, chịu đựng gió sương, rét mướt. Để rồi một sớm, xuân về. Mưa xuân cũng theo về. Như đã hẹn lâu rồi.

Vào cữ tháng 2, cây bắt đầu hồi sinh. Từ trong lớp vỏ già nua, khô cứng ấy lớn dần lên một cái mấu nhỏ. Một mầm xinh nhú ra. Một sự sinh thành. Có sự sinh thành nào mà chẳng trải qua đau đớn, khó nhọc? Cây bàng góc phố kia mồ côi suốt mùa đông, cành gân guốc như bàn tay giơ ra giữa gió sương tê tái, bỗng hôm nay cựa quậy đâm chồi. Cả cây đa nghìn tuổi nữa, cũng vội vàng thay áo cho kịp sang hè xòe bóng mát, chep rợp nhân gian.

Những chồi xuân xinh xắn nhú ra, tràn đầy nhựa sống. Chồi xuân bắt đầu từ mưa xuân. ‘Mùa xuân xanh’ và ‘mùa xuân chín’ bắt đầu từ chồi xuân. Này em, hãy để tâm đến những cái mầm nhu nhú kia. Chồi xuân đấy. Nếu em không chịu nhìn thì chỉ mai thôi, em sẽ rất bất ngờ trước màu xanh mênh mông của muôn loài thảo mộc. Và em sẽ lại hỏi tôi rằng: Cây bắt đầu từ đâu? Xanh bắt đầu từ đâu? Em đã buồn vì mùa đông cây trút lá. Em đã buồn vì mùa đông nghiệt ngã âm u, vắng màu diệp lục. Vậy thì hôm nay, hãy để ý màu xanh ấy khi còn chưa là xanh. Và tôi tin em cũng sẽ vô tình hiểu thêm về loài thảo mộc, cũng mang nặng đẻ đau, quặn mình sinh nở, cũng bắt đầu bằng những gì nhỏ bé nhất.

Chồi xuân. Đấy là nơi hy vọng của cây, hy vọng của người. Tôi tin chắc rằng, ngày ấy, trong cái năm mà chàng Kim Trọng gặp Thúy Kiều nhân tiết Thanh Minh, cánh đồng cỏ non xanh dợn chân trời ấy phải xanh hơn những mùa xuân trước đó. 

Nhà tôi ở gần cánh đồng, cuối cánh đồng là dãy núi mờ xanh như sắp lẫn vào mây khói. Tôi vẫn thường đi chân trần trên cánh đồng quê hương. Tôi nghe thấy dưới chân mình những mầm non cựa quậy. Tôi nghe thấy dưới chân mình sự hồi sinh của muôn vàn tia cỏ vô danh, dù nhỏ nhoi vẫn cứ vươn mình, như thách thức, như khẳng định những điều bất diệt.

Mưa xuân màu nhiệm làm nên cuộc hồi sinh tuyệt vời của cỏ. Có phải mưa xuân là thứ nước cam lộ của Phật Bà trong tích truyện cổ mà bà tôi đã kể ngày xưa? Có phải mưa xuân là phép nhiệm màu của cây gậy thần hấp dẫn tôi suốt một thời thơ bé?

Hà Nội Mới chủ nhật, số 162 (19.4.1992)

MỪNG THỌ CỤ HOÀNG THỊ TÚ TÂM 100 TUỔI



Thưa chư vị,
Hôm nay, ngày Chủ nhật, mùng 7 Tết Nhâm Thìn, gia đình chúng tôi cùng họp mặt để mừng Thọ Cụ chúng tôi tròn Một Trăm Tuổi. Cụ là Hoàng Thị Tú Tâm, nữ sinh Trường Đồng Khánh, Huế - bà quả phụ Cụ Trần Đình Bảo (nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức, Bộ Nội Vụ) và là Mẹ của: - Bác cả chúng tôi là Trần Đình Sử (giáo sư tiến sĩ văn học), - Mẹ chúng tôi Trần Hoàng Thảo (một trong những người vận động ra tờ báo Pháp Luật của Bộ Tư Pháp), - Cậu Trần Đình Khảng (kỹ sư), - Dì Trần Thị Nghĩa (nguyên Chánh án Tòa Dân sự, Tòa án Hà Nội). Cụ Hoàng Thị Tú Tâm là một trong những thư ký/ trợ lý nhiều năm của cố Giáo sư Tôn Thất Tùng. 

Trong ngày vui này, Bác Trần Đình Sử đã phát biểu trước các anh chị em, con cháu, dâu rể trong nhà về cuộc đời giản dị, nghị lực phi thường và công lao trời biển mà Cụ bà Hoàng Thị Tú Tâm dành cho con cháu và gia đình. Dì Trần Thị Nghĩa đọc một bài thơ mới viết  tặng Mẹ, trong xúc động nghẹn ngào....

Trang Thanh Hiền & Nguyễn Xuân Diện

Được phép của Bác Trần Đình Sử, chúng tôi xin trân trọng 
giới thiệu và chia sẻ bài nói của Bác Trần Đình Sử:
Mừng cụ Hoàng Thị Tú Tâm một trăm tuổi
Thưa Má,
Thưa bác Khánh, bác Nguyệt,
Cùng các em, các cháu, chắt thân quý,

Năm nay, 2012 má, bà và cụ Hoàng Thị Tú Tâm của chúng ta vừa tròn 100 tuổi.

Tuy tuổi cao trí nhớ giảm sút nhưng má vẫn còn sống với các con, cháu, đó là một niềm vui, hạnh phúc lớn của cả gia đình. Đó cũng là lí do để chúng ta họp mặt hôm nay trong không khí ấm cúng thân mật của tình ruột thịt.

Nhân dịp này con xin nói về má để các em, các cháu, chắt được biết về má để thêm yêu quý má hơn.

Má Hoàng Thị Tú Tâm, theo gia phả họ Hoàng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị ghi, sinh ngày 28 – 9 năm Quý Sửu, tức ngày 17 tháng 10 năm 1913 tại Quảng Trị. Lí lịch cán bộ ở bệnh viện Việt Đức Hà Nội thì ghi, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1915. Theo gia phả năm nay Má vừa tròn 100 tuổi, cái tuổi xưa nay hiếm mà người đời con cháu vẫn ao ước cho cha mẹ mình. Trong họ hàng nhà ta cũng có nhiều người sống đến trăm tuổi, má của chúng ta cũng không thua kém gì. Má sống được thế, ngoài nhờ phúc ấm của Tổ tiên, ngoài sức sống tự nhiên của má, còn có công sức chăm sóc của các con cháu, mà trực tiếp bên mình ngày đêm là công lao của con gái Trần Thị Thảo, một đứa con cũng bé nhỏ, yếu đuối mà dẻo dai không kém má mà lại rất hiếu thảo.

Thuở nhỏ má có tên là Hàm, thời đi học và công tác lấy tên là Tú Tâm.

Má là cháu nội của ngài Hoàng Hữu Xứng, Hiệp biện đại học sĩ triều Nguyễn, người đã từng vẽ bản đồ đầy đủ của nước Đại Nam. Má là con gái thứ tư trong sáu chị em của cụ Hoàng Hữu Kiệt, cử nhân Hán học năm Duy Tân thứ 9, tức năm 1915, năm cụ 30 tuổi. Cụ Hoàng Hữu Kiệt từng được bổ nhiệm làm tri huyện tại Sông Cầu tỉnh Phú Yêu, tri huyện Hướng Hoá, Quảng Trị, chuyển vào tri huyện Hoà Vang, Quảng Nam, nhưng do làm quan thanh liêm, bênh vực dân chúng, việc quan bị coi là “bất hợp thức”, buộc phải về hưu non khi mới bốn mươi sáu tuổi. Cụ mua đất hoang ở Khe Bội xã Triệu An, huyện Triệu Phong, Quảng Trị, lập ấp, thuê người làm ruộng, lấy tên là thôn Phúc Khê để duy trì cuộc sống và mong có người hương khói sau này. Hiện nay toàn bộ làng Phúc Khê của ông ngoại đã chìm trong hồ nước mới xây của tỉnh bên sông Thạch Hãn. Do nhà nghèo, trong sáu chị em chỉ có hai bà được đi học, đó là bà Diệu Phương và bà má nhà ta. Má nhà ta vóc người nhỏ bé, xương cốt  mảnh khảnh, yếu đuối nên được ông bà ưu tiên cho đi học nhiều hơn. Thời ấy người ta đi học muộn. Má học trường nữ học Đồng Khánh Huế, một trường nổi tiếng. Má thông minh, học giỏi, nhưng năm 18 tuổi vừa có bằng Tiểu học Pháp Việt (Primaire) thì năm ấy (năm 1931) ông ngoại Hoàng Hữu Kiệt bị mất chức, phải về vườn, má không có điều kiện học lên nửa, mà phải xin đi làm việc để giúp gia đình. Lúc đầu má làm nhân viên bán sách cho hiệu sách cụ Bùi Huy Tín ở thành nội, sau chuyển sang đi dạy tiểu học ở trường Sa-l Marie An Cựu. Ít lâu sau, năm 1936 má có dịp vay 50 đồng, mua lại trường tiểu học Thanh Dương, nhờ anh rể Nguyễn Đăng Khoa, thân phụ của bác Nguyễn Đăng Khánh đứng tên làm hiệu trưởng, tự mình làm chủ. Trường hoạt động được mấy năm, do thiếu kinh nghiệm quản lí, đến năm 1939 đóng cửa. Cuối năm 1939 má thành hôn với Ba Trần Đình Bảo, từ đó mới có tất cả anh em cháu chắt chúng ta như hôm nay.  

Từ năm 1939 đến 1945 cuộc mưu sinh tạm thong dong nhưng vất vả làm mẹ. Đó là năm má sinh ra các con Trần Đình Sử (1940), Trần Thị Thảo (1941), Trần Đình Bổng (1943) và chuẩn bị sinh Trần Đình Khảng (1946). Sáu năm trời nuôi bốn con nhỏ thật là vất vả. Từ sau ngày mặt trận Huế vỡ, cả gia đình rời bỏ thành phố Huế để chuyển ra Quảng Trị bằng thuyền. Trên đường đi  qua huyện Hải Lăng, bất ngờ bị dân quan trên bờ nghi oan là Việt gian, tràn xuống bao vây, bắt Ba và cả nhà giam vào ngục huyện Hải Lăng. Áp giải lên Thị xã Quảng Trị gặp toàn bà con: ông Nguyễn Đăng Khoa, ông Trần Hữu Dực, bà Hoàng Thị Ái (sau này là Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam - NXD chú)...nên được thả ngay. Nhưng toàn bộ tài sản trên thuyền đều bị tịch thu hết, ra tới Quảng Trị gia đình hoàn toàn tay trắng.

Từ năm 1946 đến năm 1954, ba đi công tác ở Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh, bắt đầu làm văn phòng uỷ ban, rồi chánh văn phòng uỷ ban tỉnh, sau làm chủ tịch huyện Vĩnh Linh năm 1947, rồi phó chủ tịch tỉnh Quảng Trị, ủy viên uỷ ban khu 4, luôn luôn xa nhà. Ở nhà chỉ có một mình má với năm đứa con nhỏ. Từ năm 1951 có thêm em Trần Thị Nghĩa. Lúc đầu nhà làm tạm ở Khe Bội, ăn uống luôn đói kém, thường chỉ có khoai sắn, rau lang. Khổ nhất là khi Tây đi càn. Mỗi lần nghe mõ báo động, má phải chờ đủ mấy anh em về mới dắt díu nhau chạy trốn. Sau khi nhà bị Tây lùng đốt đi cả nhà chuyển lên chiến khu Ba Lòng ở thôn Lương Hạ, má phải tự mình, có chị Trần Thị Lễ giúp sức, tự mình trồng lúa, trồng sắn, trồng khoai, trồng bí, bầu, nuôi gà, heo để tự túc. Mấy năm đầu chưa biết làm ruộng má phải kết hợp cắt may áo thuê, nấu cơm tháng cho một số cán bộ để có thêm tiền nuôi các con. Ba đi làm hoàn toàn không có lương. Thỉnh thoảng về, mua cho các con mấy thước vải nâu may áo, thỉnh thoảng tự anh, cậu bé mười tuổi, lặn lội một mình sang cơ quan uỷ ban ở bên kia sông Thạch Hãn ở sâu trong rừng xin mấy cân gạo. Từ nhà ra sông Thạch Hãn lấy nước khoảng trên 500 mét, nhưng đường rất dốc. Có lần má đi gánh nước trượt chân, ngã gẫy xương quai xanh phải điều trị lâu ngày. Có lần Tây lùng (càn) chiến khu, cả nhà dắt díu nhau chạy vào rừng, đi men theo dòng suối. Bất ngờ má đạp phải lưỡi dao của ai bỏ quên dưới nước, đứt gan bàn chân, màu chảy lênh láng. Cả nhà lại phải tạm lánh bên suối. Năm 1950 - 51 bà có mang em Nghĩa, biết không có sức đi gánh nước, má chuẩn bị cho mình mấy cái bầu bằng quả bầu để mang nước. Vì thương má anh giành đi mang nước, nhưng sức yếu bị ngã, làm vỡ mấy cái bầu, làm má khóc thảm thiết, vì lo một thân một mình khi sinh nở.

Những năm ở chiến khu má cũng tham gia chấp hành phụ nữ xã, chi hội phụ nữ Hoàng Ngân; dạy trường tiểu học xã Triệu Nguyên. Sau năm 1954 tập kết ra Nghệ An. Ở Nghệ An má có hai nỗi đau lớn. Một là em Trần Đình Bổng, 12 tuổi, bị thương hàn, điều trị sai đã mất, thứ hai là má có thai em bé, nhưng do sức yếu không nuôi được. Sau hai cái đau đó má suy sụp hẳn, phải nằm viện dài ngày tại bệnh viện dã chiến Cửa Hội. Ra viện má đi học ý tá rồi nhiều lần chuyển cơ quan, cuối cùng về làm ở Bệnh viện Việt Đức, phòng y vụ tại Hà Nội. Ở phòng Y vụ má từng làm thư kí cho giáo sư Tôn Thất Tùng, giữ tủ sách, tủ thuốc của giáo sư. Lúc này các con lần lượt được đi học các trường học sinh Miền Nam nên má cũng bớt vất vả.

Tổng kết những năm tháng công tác má cũng được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, huân chương kháng chiến chống Mĩ hạng hai.

Từ ngày về hưu bà lo việc chăm sóc sức khoẻ cho ông. Nhờ có bà mà ông được sống đến 90 tuổi. Bà về hưu đem tình thương yêu chăm sóc các cháu. Các cháu Trang Thanh Thuỷ, Trang Thanh Hiền, Nguyễn Hải Long, Nguyễn Hải Ngọc, Trần Trung Thành, Trần Thị Lan, Trần Đình Khải, Trần Đình Kiên ít nhiều đều được hưởng sự quan tâm chăm bẵm của bà.

Từ ngày về hưu má còn hăng hái tham gia sinh hoạt với các cụ hưu trí, cũng tham gia diễn kịch, làm thơ, viết bài, được tặng giải “Sợi tóc xanh” của Hội người cao tuổi Việt Nam. Bà vẫn đi lại vui chơi với các bạn học trường Đồng Khánh Huế năm xưa. Nhưng rồi các bạn bè của má cũng lần lượt qua đời, thưa vắng hết, má ít giao lưu, mắt mờ, trí nhớ sa sút, nhưng vẫn còn nhận biết con cháu.

Má là người phụ nữ nhỏ bé, yếu đuối mà đã dẻo dai chịu đựng không biết bao nhiều khó khăn, cực khổ, sinh hạ và nuối nấng chúng con nên người. Má kế thừa gia phong thật thà, liêm khiết của ông ngoại, giáo dục chúng con nên người. Nhà tuy nghèo nhưng sống trong sạch, lương tâm thanh thản. Chúng con biết ơn má, thương yêu má, phụng dưỡng má để má được như hôm nay chúng con cũng được an lòng. Mừng thọ má trăm tuổi, chúng con mong má còn ở với chúng con lâu hơn, để chúng con, cháu, chắt còn có dịp báo hiếu với má. Đó cũng là tâm nguyện của chúng con. Kính chúc Má sức khoẻ, an hưởng tuổi già.

Hà Nội, ngày 7 tháng giêng năm Nhâm Thìn (2012)
Thay mặt các con, cháu, chắt: Trưởng nam Trần Đình Sử


Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

DANH SÁCH CÁC VỊ GỬI TIỀN GIÚP GIA ĐÌNH ANH ĐOÀN VĂN VƯƠN - 2

THÔNG TIN ỦNG HỘ GIA ĐÌNH ANH ĐOÀN VĂN VƯƠN

Theo gợi ý của KTS Trần Thanh Vân và nhiều độc giả, tôi - Nguyễn Xuân Diện quyết định công bố tài khoản để tiếp nhận quà tặng bằng tiền của mọi người, như sau:
Tên tài khoản: NGUYỄN XUÂN DIỆN
Số tài khoản: 0021001727479
Tại: Phòng giao dịch số 4, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội (Vietcombank)
36 Hoàng Cầu, Hà Nội, Việt Nam.

(Thông tin đối với người gửi từ nước ngoài: CIF Number: 315801 – SWIFT Code: BFTVVNVX002)
Việc tiếp nhận vẫn tiếp tục để giúp đại gia đình họ Đoàn khôi phục cuộc sống, mua sắm đồ dùng vật dụng và trang trải cho các tổn phí cho việc ra tòa sắp tới.
_________________________
DANH SÁCH CHƯ VỊ GỬI QUÀ TẾT BIẾU ĐẠI GIA ĐÌNH ANH ĐOÀN VĂN VƯƠN
VÀ CÁC NẠN NHÂN CỦA QĐ CƯỠNG CHIẾM ĐẤT CỦA CHỦ TỊCH UBND H. TIÊN LÃNG
HẢI PHÒNG NGÀY 5.1.2012
&
DANH SÁCH CHƯ VỊ GỬI TIỀN GIÚP ĐẠI GIA ĐÌNH HỌ ĐOÀN
(Tính đến 28.1.2012)
DANH SÁCH BẠN ĐỌC GỬI TIỀN MẶT ỦNG HỘ GIA ĐÌNH ANH VƯƠN
TRAO TRỰC TIẾP




1.
GS Ngô Đức Thọ
200,000
Quà Tết tặng gia đình anh Vươn
2.
Đại tá Nguyễn Đăng Quang
300,000

3.
Chị Phạm Quỳnh Hương
200,000

4.
KTS. Trần Thanh Vân
1,000,000


5.
Một Blogger
500,000
Gửi riêng anh Vươn

6.
Mai Xuân Dũng
300,000
Ủng hộ Anh Vươn

7.
Trần Quốc Hiệp
200,000
Ủng hộ Anh Vươn

8.
Nguyễn Thế Trung
500,000
Ủng hộ Anh Vươn

9.
Một PV báo Lao Động
500,000
Ủng hộ Anh Vươn

10.
Phạm Văn Trường, x, Phụng Châu, h. Chương Mỹ, HN
300,000
Gửi gia đình bác Đoàn Văn Vươn
11.
Anh Đào Tiến Thi
200,000
Quà Tết gửi các nạn nhân của vụ cưỡng chiếm đất ngày 5.1.2012 do UBND huyện Tiên Lãng tiến hành
12.
Chị Phương Mai
200,000
Gia đình anh Vươn

13.
GS Nguyễn Minh Thuyết
1,000,000
Quà Tết tặng gia đình anh Vươn
14.
Một cô giáo ở Hà Nội
500,000
Quà Tết tặng gia đình anh Vươn
15.
Nữ sĩ Hiền Giang
300,000
Quà Tết tặng gia đình anh Vươn
16.
Nữ sĩ Phương Bích
200,000
Quà Tết tặng gia đình anh Vươn
17.
GS. Ngô Đức Thịnh
500,000

TT Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng VN

18.
Bà Tuyết A Jethawa (Úc)
1,000,000

19.
GS. Lê Đình Cúc (Viện KHXH VN)
500,000

20.
Chị Tô Lan
200,000

21.
Ông Trần Việt Thắng
500,000

22.
Một nữ PGS.TS của ĐH Sư phạm Tp HCM
500,000

23.
Nhà văn Phạm Ngọc Luật
300,000

và gia đình nhà báo, nhà thơ Liệt sĩ Thôi Hữu

24.
Ông Phạm Xuân Trung (quận Hoàng Mai, HN)
1,500,000
gia đình anh Vươn: 1 triệu
25.
Anh Trần Toàn (Cầu Giấy, HN)
500,000

26.
Độc giả QN của trang Anh Ba Sàm
4,500,000

27.
Ông Lê Quân (HN)
500,000

28.
Anh Hoàng Cường
200,000

29.
GS. TS Trần Xuân Hoài, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý ứng dụng, Viện Khoa học VN;
500,000
Quà Tết và hỗ trợ gia đình Anh Vươn
30.
TSKH. Trần Xuân Nam
500,000
nt
31.
Nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Xuân Định (Trần Định)
500,000
nt
32.
Ông Lương Tiến Hiển (Việt kiều Đức)
500,000
nt
33.
Ông Trần Hà Linh, cán bộ Cty thiết bị giáo dục
500,000
nt
34.
Anh Cường và bạn bè
100,000
nt
35.
Ông Vũ Mạnh Hùng
200,000
nt
GV ĐH Ngoại thương

36.
Chị Lê Thị Minh, GV về hưu
100,000
nt
37.
Cháu Đào Lê Tiến Sỹ, Sinh viên ĐH Sư phạm HN
200,000
nt
38.
TS. Tô Văn Trường
1,000,000
nt
39.
TS. Hoàng Quý Thân
400,000
nt

Tổng cộng
21,600,000


Và có 1.000.000 đ gửi tới để góp vào việc thăm chị Bùi Thị Minh Hằng. Trong đó, có 500.000 đ đã được chuyển cho Chị Phương Bích để mua đồ tiếp tế cho Người Phụ nữ yêu nước Bùi Thị Minh Hằng:

DANH SÁCH BẠN ĐỌC GỬI TIỀN MẶT ỦNG HỘ CHỊ BÙI THỊ MINH HẰNG
QUA TÀI KHOẢN CỦA NGUYỄN XUÂN DIỆN




1/26/2012
VNCK - 0018538
500,000
IBVCB.2601120595467002.Nho anh Dien giup mua qua tham chi Bui Thi Minh Hang_ 1 ban doc blog NXD
1/18/2012
4293 - 0000076
500,000
BAN DOC NXD VA BS NHO T/S DIEN GUI CHO QUY BUI THI BICH HANG HO CAM ON T/S GD TIEN MAT

Tổng cộng
1,000,000






Như vậy:
1- Tổng số tiền gửi qua TK là 202.071.009 đ (xem bản kê chi tiết và tên người gửi tại đây)
2. Tổng số tiền đưa tay NXD là 21.600.000 đ

Tổng cộng cả 1 và 2 là: 223.671.009 đ

Đã chi 71.790.000 đ
Số còn lại 151.881.009 đ

Và có 02 người gửi tiền để góp vào việc thăm nuôi Chị Bùi Thị Minh Hằng, mỗi người 500.000 đ.
Tổng cộng số tiền gửi vào việc thăm Chị Bùi Thị Minh Hằng là: 1.000.000 đ.
(Nguyễn Xuân Diện đã chuyển 500.000 đ tới chị Phương Bích để mua đồ tiếp tế vào đợt đầu Xuân Nhâm Thìn tới đây).

*Vài lời thưa lại:

- Đêm 19.1.2012, tôi đã công bố số tiền ủng hộ gia đình anh Đoàn Văn Vươn và các nạn nhân là: 278.585.271 đ (Hai trăm bảy mươi tám triệu, năm trăm tám mươi lăm ngàn, hai trăm bảy mươi mốt ngàn đồng);

- Tuy nhiên, ngay sáng 20.1.2012, chúng tôi phát hiện đã có sự sai sót trong bản kê chi tiết trên. Theo đó, đã có 4 lần giao dịch qua tài khoản là rút tiền gồm 55.756.600 đồng vẫn được ghi vào mục thu.

Nguyên do là vì mấy ngày đó, tôi về quê chịu tang bác họ tôi, vừa mất và an táng sáng ngày 20.1.2012. Lúc post bài này là đêm 19.1 (trong đêm đó, tôi có nhờ chú em cộng giúp các khoản, hình như đã có sai sót trong khi cộng nữa).

Nay, bằng việc công bố bản kê chi tiết trên, tôi thành thực xin lỗi chư vị xa gần, và mong được chư vị thể tất cho về việc sơ xuất rất đáng tiếc, đáng chê trách như đã loan báo hôm 19.1.2012. Lỗi này hoàn toàn thuộc về Nguyễn Xuân Diện.
Trần Thanh Vân & Nguyễn Xuân Diện kính trình!