Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Nguyên Ngọc: CON RỒNG ĐÁ KỲ LẠ Ở CHI NHỊ

Con rồng đá kỳ lạ ở Chi Nhị
Nhà văn Nguyên Ngọc

Năm 1993, trước ngôi nghè Chi Nhị, nơi thờ thái sư Lê Văn Thịnh triều Lý, ở thôn Bảo Tháp, làng Thị Xá, xã Cách Bi, huyện Quế Võ, Bắc Ninh, cách cổng nghè chừng vài chục mét, chắc là do mưa gió (thậm chí mới đó mà đã thành truyền thuyết: qua một đêm mưa to gió lớn chưa từng có …) bà con lối xóm bổng thấy nhô lên một mõm đá, moi ra đôi chút thì đoán có thể là bộ phận của một khối hay một tượng đá lớn. Người ta đã rất cẩn thận đào đất chung quanh, thậm chí không dùng đến cuốc xẻng, chỉ lấy tay moi từng chút một. Cuối cùng, lộ ra một tượng rồng khổng lồ. Có lẽ là pho tượng rồng kỳ lạ nhất, chưa từng thấy kiểu tượng rồng nào giống thế, đẹp nhất, không chỉ ở nước ta. Làng liền cho đốn tre, lấy toàn cật tre già tết thành thừng to như cổ tay, 18 trai tráng lực lưỡng khiêng làm 9 đòn, hè lớn một tiếng mới nhấc được khối đá khổng lồ lên khỏi mặt đất, nhưng bà con bảo, thật lạ, sau đó lại thấy nhẹ bâng, cứ thế trân trọng và thong thả rước “Ngài” vào nghè, và lập miếu thờ. Tượng rồng vừa phát lộ ắt liên quan trực tiếp đến vị thành hoàng được thờ trong chính nghè này, thái sư Lê Văn Thịnh.

Lê Văn Thịnh, ai có quan tâm đến sử đôi chút hẳn đều biết, là nhân vật có lẽ có số phận cũng kỳ lạ nhất ở nước ta, qua gần một nghìn năm mà sự đánh giá của người đời vẫn chưa xong, vụ kỳ án của ông gần suốt một thiên niên kỷ vẫn còn được phán xét theo hai cách hoàn toàn đối lập. Ông sống âm thầm trong lòng kính trọng và thương yêu của nhân dân, “dân đen”. Nhưng không chỉ những bộ lịch sử trịnh trọng của các sử gia bệ vệ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam sử lược đều nhất loạt lên án ông nặng nề, mà đến một tác giả sân khấu hiện đại tài ba và nghiêm túc là Tào Mạt cũng liệt ông vào hàng phản diện xấu xa trong các vỡ chèo lịch sử nổi tiếng và rất phổ biến của mình. Còn ông, gần một thiên niên kỷ, thì vẫn nằm đó, dấu mình sâu dưới lòng đất quê hương, cho đến sau khi Tào Mạt đã mất được mấy năm mới chịu hiện lên cho trai tráng làng Bảo Tháp moi đất tìm ra và đưa trở lại với đời. Tôi nói vậy bởi pho tượng rồng kỳ lạ nọ chính là tượng Lê Văn Thịnh. Tượng chân dung của ông, quả vậy.

Vậy Lê Văn Thịnh là ai và vụ kỳ án của ông là thế nào?

Năm Canh Tuất 1070, vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu, trường đại học đầu tiên của nước ta ở Thăng Long. Năm năm sau, Ất Mão 1075, vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Minh Kinh Bác Sĩ và Nho Học Tam Trường. Lê Văn Thịnh, sinh năm 1050 ở làng Đông Cữu, huyện Gia Lương, Bắc Giang, đi thi và đổ đầu, là vị trang nguyên đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, được tôn là “Trạng khai khoa”. Ông được vời vào cung dạy vua, vị vua đó chính là Lý Nhân Tông. Rồi thăng chức Thị lang Bộ Binh. Con người ấy không chỉ văn võ toàn tài, còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất. Năm Canh Tuất 1076, nhà Tống sai Quách Quỳ “đem quân 9 tướng”, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp, xâm lấn nước ta để trả thù việc Lý Thường Kiệt đã từng tấn công các châu Ung, Liêm, Khâm của nhà Tống, như một đòn đánh phủ đầu chặn trước mưu đồ tiến binh của đối phương. Lần này, trên chiến tuyến sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt lại đánh tan Quách Quỳ. Quân Tống tháo chạy nhưng lại chiếm lấy châu Quảng Nguyên, tức Cao Bằng, Lạng Sơn ngày nay. Năm 1078, vua sai Đào Tống Nguyên sang đòi, nhà Tống đồng ý trả lại phần lớn đất đai, nhưng ngoan cố giữ những vùng đất đai mà thổ dân địa phương đã dâng cho họ, gồm cả hai động Vật Dương và Vật Ác. Lần này, năm 1084 đến lượt thị lang Bộ Binh Lê Văn Thịnh đi đòi. Ông đến tận trại Vĩnh Bình, cùng bàn việc cương giới với người Tống. Họ bám lấy đất đã cướp, lấy cớ là của thổ dân tự ý đem nộp chứ không phải do họ chiếm. Lê Văn Thịnh dõng dạc biện luận cùng Thành Trạc, sứ giả nhà Tống: “ Đất thì có chủ, các quan viên giữ đất ấy đem nộp cho người khác và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Sự chủ giao mà lấy  trộm đã không tha được, mà trộm của hay “tàng trữ” thì luật pháp cũng không cho phép, huống chi nay lại mang đất lấy trộm dâng để làm dơ bẩn sổ sách nhà vua”.  Lý lẽ ràng buộc chặt chẽ khúc chiết, đến luật pháp hiện đại hẳn cũng chỉ rành rọt được đến thế, mà lại còn mắng thẳng vào mặt sứ thần một nước lớn, cay đến gan ruột mà khéo léo vô cùng. Quả khoa thi đại học đầu tiên của nước Việt đã chọn thật đúng một vị trang nguyên khai khoa! Nhà Tống buộc phải trả 6 huyện 3 động, mà còn lấy làm rất xấu hổ …

Về sau, Lê Văn Thịnh được thăng làm thái sư, ở chức đến 12 năm, cho đến khi nổ ra vụ án hồ Dâm Đàm. Dâm Đàm tức Hồ Tây ngày nay. Tháng 3 năm Bính Tý 1096, vua Trần Nhân Tông cùng thái sư đi thuyền chơi hồ, xem đánh cá. Bổng nhiên sương mù nổi lên dày đặc, rồi có tiếng chèo rào rào của một chiếc thuyền xáp đến. Vua cầm giáo phóng, thì sương tan, trên chiếc thuyền xáp đến nọ thấy một con hổ chực vồ vua. Có người chài lưới là Mục Thận quăng lưới chụp lấy, thì trong lưới hoá ra lại chính là … Lê Văn Thịnh! Ông bị bắt ngay, lẽ ra phải tội tru di, nhưng vua xét người có công, “thương tình” cho đi đày biệt xứ, đến tận ngày qua đời …

Lịch sử đôi khi cũng rất buồn cười, nếu không là xàm bậy. Ngay tác giả Khâm định Việt sử thông giám cũng không hề ngần ngại giải thích vụ án hồ Dâm Đàm: “Văn Thịnh có tên gia nô người nước Đại Lý (một địa phương đâu đó ở bên Tàu). Tên này có pháp thuật lạ, nhân đó Văn Thịnh manh tâm mưu sự khác …”. Gần một nghìn năm trước, một vụ dựng chuyện bỉ ổi trắng trợn đến thế để hại một người tài ba lỗi lạc kể cũng chẳng phải lạ. Nhưng vẫn còn câu hỏi: Vì sao chính Lý Nhân Tông, học trò của Lê Văn Thịnh, lại manh tâm trừ khử ngay người thầy của mình? Trong nhiều cách giải thích, tôi đặc biệt chú ý một lý giải: Thời đó bên Trung Quốc có phái biến pháp, gọi là Tân pháp, do Vương An Thạch đứng đầu, đề xuất chủ trương cải cách toàn diện chế độ kinh tế - xã hội – quân sự. Cuộc vận động lớn này thất bại do phần đông các đại thần trong triều bị động chạm lợi ích kịch liệt chống lại. Vương An Thạch rốt cuộc phải về vườn sớm. Có phải thái sư Lê Văn Thịnh, con người kinh bang tế thế, có hiểu biết rộng xa, có tầm nhìn lớn, từng biết đến cuộc cải cách ở nước láng giềng, và cũng đã nung nấu những ý tưởng nào đó về một con đường đi mới cho dân tộc mình? Nghĩa là, gần một nghìn năm trước, từng có một cuộc đổi mới lớn đã bị nhấn chìm tàn nhẫn ở Hồ Tây, một người anh hùng kiệt xuất của dân tộc, một con rồng Việt anh minh đã từng bị chết đứng tại đây, nơi nay hằng ngày ta vẫn dửng dưng đi qua mà nào có hay? …

Có một người nghệ sĩ vô danh, không biết tự bao giờ - có người bảo là ngay vào thời Lý, có người lại bảo ấy là vào thời Hậu Lê - đã quyết định thể hiện hình tượng con rồng vĩ đại ôm mối hờn oan ngàn năm ấy, để lại cho muôn đời. Hôm tôi đến nghè Chi Nhị, có cả nhà sử học nổi tiếng Lê Thành Khôi cùng đi. Ông bảo suốt cuộc đời nghiên cứu và sưu tầm của ông, chưa bao giờ được thấy một pho tượng rồng độc đáo đến thế. Ấy là một con rồng lớn, khoanh mình thành hình tròn, đường kính đến hơn một mét, thân hình vạm vỡ, lớp lớp vảy dày và lớn, đầu rồng nhô lên cao mà lại cúi xuống, miệng rồng răng rất sắc tự cắn sâu vào chính thân mình, sâu ngoắm, đến chừng có thể toé máu, chân rồng móng vuốt nhọn hoắc tự bấu vào da thịt chính mình, như muốn tự xé nát chính thân mình, sâu đến tận ruột gan. Có lẽ trong lịch sử nghệ thuật Đông Tây, chưa bao giờ nổi oan câm lặng nghìn năm của con người lại được thể hiện quyết liệt, dữ dội đến thế. Vậy mà vẫn còn chưa thôi. Hai tai rồng, được tạc rất rõ, bên tai phải rổng, thông, tai trái lại bịt kín. Dường như từ nghìn năm trước, con người tài ba xuất chúng mà số phận đau thương đó đã dự liệu được bao tiếng thị phi của các thế hệ nối tiếp người đời, ông muốn chỉ nghe một nửa, một nửa khinh bỉ gạt ra ngoài tai. Kể cả những phán quyết đầy quyền uy của những kẻ được thời thế đưa lên làm chủ lịch sử, cho đến tận ngày nay.

Người nghệ sĩ vô danh đã tạc nên pho tượng kỳ lạ này là ai vậy? Đương nhiên hẳn ông vô cùng ngưỡng mộ người anh hùng Lê Văn Thịnh và đồng cảm vô cùng sâu sắc với nổi oan muốn xé tung trời đất của người xưa. Nhưng có phải chỉ có vậy? Nghệ thuật bao giờ cũng thế, nó cần những nguyên mẫu, nhưng là để nói về cả cái nhân quần rộng lớn, những nổi đau lớn của con người chân chính suốt lịch sử trường tồn của giống loài. Con rồng đá Chi Nhị là một tác phẩm như vậy. Đấy là bức tượng chân dung kỳ lạ của một con người, vị thái sư tài ba và hàm oan Lê Văn Thịnh. Mà cũng là chân dung của Con Người. Con Người tự cắn xé đến muốn nát chính thân mình, trong quá trình đau khổ biết bao để có được một cuộc sống làm người cho ra Người.

*Bài do tác giả gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn nhà văn Nguyên Ngọc.

CHÙM THƠ KHAI BÚT XUÂN NHÂM THÌN CỦA ĐỘC GIẢ BỐN PHƯƠNG

Nguyễn Xuân Diện-Blog trân trọng giới thiệu:
Chùm thơ Khai bút đầu Xuân Nhâm Thìn:

Hạ Thái Trần Quốc Phiệt:
KHAI BÚT NĂM NHÂM THÌN

Khai bút tân niên quyết vẽ rồng
Vươn mình bay lượn giữa tầng không
Phun châu nhả ngọc trời trong sáng
Thâu gió đùn mây cảnh hạnh thông
Tiễn bước sơn hà qua khổ nạn
Tháo chân hiền sĩ khỏi oan còng
Bức tranh thi họa càng tao nhã
Treo khắp muôn phương mới thỏa lòng.
Jan- 23-2012.
Mồng một Tết Nhâm Thìn
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt

Ưng Sơn Hạ:
Ngoái về quá khứ - Hướng tương lai
Phải có "TẦM NHÌN" suốt cả hai
Ôn cố tri tân xây dựng NƯỚC
Huy hoàng sẽ đến với ngày mai
Chùm thơ nữ sĩ Trần Lệ Khánh gửi từ bến Ninh Kiều:
GIÓ XUÂN

Cây trái cựa mình bật sắc xanh
Muôn hoa đón gió nở tươi cành
Bừng lên vạn vật trào hương sắc
Ngàn tía muôn hồng họa bức tranh.

MƯA XUÂN
Mưa theo cùng nắng gió vào xuân
Ấm áp muôn lòng khắp thế nhân
Tổ quốc quê hương tràn sức sống
Cỏ cây hòa quyện tiếng chim ngân.

NẮNG XUÂN
Nắng chiếu cờ hồng bay ngất ngây
Công – Nông –Binh – Trí nối vòng tay
Nhâm Thìn vận hội phong vân tiếp
Chim Việt vươn tầm sải cánh bay.

Trần Lệ Khánh
Chùm thơ Kính họa thơ cụ Nguyễn Trọng Vĩnh:
XUÂN KHÍ
Cao tuổi lại càng chí khí cao
Lão già tỏa sáng một ngôi sao
Tấm thân muôn dặm còn nguyên vẹn
Cốt cách mười phân đáng tự hào
Ích Nước mưu cầu nền độc lập
Vì dân gánh vác việc binh đao
Sơn Hà Xã Tắc xuân chưa trọn
Còn phải xông pha bút ngại nào
Ưng Sơn Hạ


Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Chín sáu tuổi đời, kể đã cao,
Đau lưng, mỏi gối cũng không sao.
Thương dân, mắt sáng xua tăm tối,
Yêu nước, lòng son đáng tự hào.
Sông núi nguy nan, cầm vũ khí,
Quê hương yên ổn, cất gươm đao.
Nhìn ra xã hội, còn trăn trở,
Ngọn bút xông pha, chẳng ngại nào.
23-1-2012 (1 tết Nhâm Thìn)
Phan Liên Khê (Thượng tá Cựu chiến binh, thành phố Hồ Chí Minh)

Kính tặng lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Mười năm đi sứ ở bên Tàu,
Biết rõ ngọn ngành cuộc bể dâu.
Cố đế bá quyền nghìn kế hiểm,
Thâm căn bành trướng vạn mưu sâu.
Miệng hô “đồng chí” tươi trên mặt
Tay đấm “anh em” vỡ cả đầu.
Dân Việt xưa nay không khuất phục
Đã từng giáng trả những đòn đau.
Trọng Nghĩa (Tp Hồ Chí Minh)

THƠ VIẾT TRƯỚC GIAO THỪA - thơ Trần Trương

Thơ viết trước giao thừa…
Trần Trương

Gió đổ rét về làng, về phố những ngày cuối năm
Biển đổ sóng dìm con tàu Vinaline Qeen xuống biển
Ở Tiên Lãng có một ngày hắc ám
Cuộc mưu sinh bình dân mà hóa nỗi kinh hoàng…

Trong “cung điện” người ta đang nói biết bao điều tâm huyết
Những “cung chúc tân xuân” nặng trĩu lá phong bì
Những cuộc cờ cá cược cả đời mình vào một cô bán cám
Nhà chất ngất tầng mà dân nghèo vẫn thiếu chỗ nương thân

Đấy là năm CON MÈO mải mê rình chuột
Nhưng chuột bây giờ lại nghễu nghện rung râu
Có phải lỗi “hệ thống”  mà bao con đường tắc nghẽn
Tại ở đường ray, hay tại phía đầu tàu?

Tôi lại nghĩ về cái cống ngầm của Giăng-van Giăng ngày trước
Giữa muôn nỗi bần cùng ,ông vẫn sống vị tha
Lòng thành thật để cứu đời thành thật
Thì dưới cống ngầm ông vẫn có đường ra…

Ta nói đời để nói lòng ta
Không phù phiếm ,không sa hoa lời hứa
Hãy mang đến hòn than để hồng thêm bếp lửa
Hay lại chờ mùa đổi kíp thay ca…?

                                       23g tháng chạp Tân mão-2g ngày 1 tháng giêng Nhâm Dần

BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG ĐÓ SAO? - thơ Nguyễn Vũ Tiềm


Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm

Bước đường cùng đó sao?

Đắp đê, ngăn biển, khơi đầm
Mồ hôi nước mắt mấy tầng đất sâu
Khi mờ sáng, lúc đêm thâu
Ngập trong bùn đất dãi dầu nắng mưa
Dầm trong nước mặn đồng chua
Bao năm vật lộn thắng thua với trời.

Chỉ mong góp với cuộc đời
Con tôm hạt thóc nổi trôi nhọc nhằn
Chỉ mong góp với đồng bằng
Một trang chua mặn thành trang mỡ màu.
Chỉ mong thoát cảnh cơ cầu
Đẹp giàu Tiên Lãng là điều ước ao.

Vậy mà không hiểu vì sao
Người nông dân phải lao đao cùng đường
Bàn tay cày cuốc khơi mương
Phải tìm thuốc nổ làm phương cứu mình
Chế lấy súng, tạo ra mìn
Hỡi ôi cốt nhục chi tình hại nhau.

Ai thả lưới, ai giăng câu
Để gây nên cảnh thương đau tù đầy?
 
TP. Hồ Chí Minh giáp Tết Nhâm Thìn

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Nguyễn Trung: KHAI BÚT XUÂN NHÂM THÌN

“Khép lại quá khứ, Không ngoái lại quá khứ”[1]
(Khai bút xuân Nhâm Thìn)

Nguyễn Trung

Bước vào năm mới, khép lại chuyện cũ, hướng vào những việc phải làm phía trước. Suy nghĩ này đến với tôi gần như một bản năng.

Gạn đục khơi trong, trân trọng từng hy sinh mất mát dân tộc ta đã phải chịu đựng, chắt chiu mọi thành quả - kể từ  từng giọt mồ hôi, nước mắt đất nước đã bỏ ra, từng đồng tiền bát gạo có trong tay.., lựa lọc giữ lại mọi điều thiện điều lành…  – kể từ những điều dù là nhỏ nhất mỗi người dân chúng ta đã làm nên được hay còn gìn giữ, bảo vệ được.., hùn lại tất cả những gì con người nước Việt này đang ấp ủ trong tâm huyết mình, để từ đây tất cả cùng nhau tạo ra những nỗ lực mới - cho thành đạt những công việc dân ta, nước ta bắt buộc phải làm phía trước!..

Đó là điều ước ao sâu thẳm trong tim, khi tôi thắp hương dâng lên bàn thờ đúng giờ giao thừa để mở đầu năm mới.

Nén hương trong tay, đứng lặng hồi lâu, nhưng không sao khấn nổi thành lời trước tổ tiên, tôi chỉ tâm tâm niệm niệm được trong đầu những điều mình mong ước… Cầu mong hồn thiêng sông núi hãy dấy lên trong tâm hồn từng người trong toàn thể cộng đồng dân tộc ta khát vọng cháy bỏng hướng về phía trước

-         Con người tự do;
-         Thể chế chính trị dân chủ;
-         Đất nước có hòa bình ổn định;
-         Tất cả dựa trên căn bản của một nền giáo dục chân chính.

Đấy là những điều tôi ước mong cho đất nước mình, cho dân tộc mình.

Khát vọng như vậy, bởi tôi tin rằng đấy là những yếu tố quyết định nhất làm nên một quốc gia thịnh vượng, hạnh phúc. Nhân phẩm từng người trong một quốc gia có những yếu tố này sẽ nảy nở. Một đất nước như vậy sẽ có chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng nhân loại tiến bộ ngày nay.

Khát vọng như vậy, vì bốn yếu tố nêu trên là nguồn lực bất tận và giầu sức sáng tạo, sẽ làm nên mọi giá trị chân chính và tạo ra nguồn của cải phong phú đất nước ta nhất thiết phải có – để đất nước ta có thể khẳng định không gì tác động được ta là chính ta trong thế giới quyết liệt ngày nay, để dân tộc ta có thể dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ cho hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, hợp tác và phát triển, gìn giữ môi trường.

Nếu cùng nhau chia sẻ khát vọng như vậy, nhân dân ta có mọi điều kiện cho phép tạo dựng nên bốn yếu tố quan trọng này, chặt đứt vĩnh viễn cái vòng luẩn quẩn của quán tính lịch sử đến nay vẫn không chịu buông tha đất nước ta, mở ra cho nước ta con đường đi lên một quốc gia văn minh, hiện đại.

Uất ức đến mức đối kháng mất còn quyết liệt, tiếng “súng hoa cải” của Đoàn Văn Vươn cảnh báo sự tha hóa mọi mặt của đất nước đang đi vào thời đoạn tàn phá tột cùng. Nhất thiết chúng ta không thể để cho quá trình tha hóa này tiếp tục hủy hoại đất nước yêu dấu của chúng ta. Đấy chính là tiếng pháo hiệu nhắc nhở từng người và cả nước phải thức tỉnh được thực trạng cái dối trá, cái suy đồi, ức hiếp dân chúng đang lên ngôi, giục giã từng người và cả nước hãy tâm huyết và dũng cảm khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, để tất cả cùng nhau quyết tâm khóa sổ quá trình tha hóa đang tàn phá đời sống mọi mặt đất nước ta.  

Tình hình trong, ngoài đã đến lúc cả nước phải cùng nhau đóng lại ngả đường đang đưa đất nước ta lùi sâu mãi vào kiếp lạc hậu và nô dịch, phải cùng nhau dồn mọi ý chí và nghị lực mở ra cho đất nước ta ngả đường mới để vươn lên trở thành một nước phát triển[2].

Ngoại trừ tha hóa thành con (vật) vô tri vô giác, còn nếu còn là người, không một ai trong mỗi chúng ta có thể chạy trốn khỏi tòa án lương tâm của chính mình và sự phán xét của lịch sử. Không một quyền lực nào có thể xóa nhòa điều này. Cũng không một lượng tiền bạc hay của cải nào có thể mua được hay ru ngủ được sự thật này. Vì thế, tôi cầu mong mỗi chúng ta: Hãy khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, vứt bỏ lại phía sau xiềng xích của cái “tôi” vị kỷ hoặc sự nô dịch của thái độ cam chịu, để tĩnh tâm tỉnh ngộ và để lấy lại can đảm. Mỗi người và toàn thể cộng đồng dân tộc ta cùng nhau làm như vậy, tất cả chúng ta – người cai trị cũng như người bị cai trị, người trong đảng (ĐCSVN) cũng như ngoài đảng (ĐCSVN), người sống ở trong nước và ở nước ngoài – tất cả sẽ vượt qua được nỗi sợ riêng và những hèn kém của chính mình, để vươn lên thành con người tự do; mỗi người và cùng nhau cống hiến hết mình, cho hoài bão của chính mình và của đất nước.

Tôi cầu mong mỗi người con đất Việt chúng ta, hãy cùng nhau khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, để trong tâm khảm chúng ta chỉ còn một điều nung nấu duy nhất: Ý thức sâu sắc nỗi nhục về mọi hèn yếu, lạc hậu đất nước ta còn đang phải mang vác trên đầu trên vai mình trong thế giới hôm nay.

Khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, để trong mỗi chúng ta chỉ còn duy nhất sự thôi thúc thiêng liêng: Với tất cả trí óc và trái tim mình, bằng sự lựa chọn và quyết định riêng của chính mình, bền bỉ chung tay cùng với toàn dân tộc, quyết nắm lấy thời cơ chưa từng có đang mở ra cho tổ quốc Việt nam ta trên con đường vươn lên thành một nước phát triển.

Khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, để có thể dồn hết ý chí và nghị lực cho hiện tại và tương lai, để cho tâm hồn mỗi chúng ta ngời lên một khát khao chung trong sáng: vun đắp cho nhân phẩm của chính mình và vinh quang của đất nước; và để cho niềm tự hào dân tộc – ngọn lửa thiêng gìn giữ non song gấm vóc  - mãi mãi thắp sáng tâm hồn chúng ta..

Dân chủ và công khai minh bạch sẽ mở đường dẫn lối, sẽ hậu thuẫn mạnh mẽ những nỗ lực của toàn thể cộng đồng dân tộc ta cùng nhau khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ. Chúng ta để lại phía sau tất cả những gì đã từng chia rẽ và làm suy yếu dân tộc ta, để tất cả cùng nhau hướng về phía trước: Đoàn kết chấn hưng đất nước! 

Tất cả không phân biệt một ai, hãy khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, cùng nhau dũng cảm đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, cùng nhau nỗ lực thông qua con đường dân chủ và hòa giải dân tộc tạo ra bốn yếu tố xây dựng nên một nước Việt Nam mới mà tất cả chúng ta hằng khao khát.

Khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, để từ nay chỉ có tình yêu và sự thật liên kết chúng ta, dẫn dắt và thôi thúc chúng ta làm chủ bản thân mình, làm chủ vận mệnh đất nước.

Khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, mỗi người Việt Nam chúng ta hãy tự mở ra trang sử mới của chính mình và của dân tộc mình.

Chúc mừng năm mới Nhâm Thìn!

Võng Thị, Giao thừa sang xuân Nhâm Thìn
 (23-01-2012),
Nguyễn Trung



[1] Xem loạt bài Viễn tưởng – bài 3. - http://viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_VienTuong_3.htm
[2] Tham khảo thêm loạt bài “Viễn tưởng”, Bài 1. –

* Ảnh: Kỷ niệm ngày tròn 1 năm Viện IDS tự giải thể. 

Thư Sài Gòn: THƯ XUÂN CHÚC TẾT BẠN YÊU NƯỚC Ở XA

Thư Sài Gòn:

Cháu xin kính chào chú Diện,

Nhân dịp tết đến, xuân về cháu xin chúc chú và gia đình được an khang, thịnh vượng, sức khỏe dồi dào, gia đình êm ấm. Xin kính chúc chú mọi điều thuận lợi, tinh thần minh mẫn, nhiệt huyết dồi dào và tâm hồn luôn được bình yêu để tiếp tục đóng góp những gì mà quê hương đất nước đang cần.

Cháu định tết này sẽ ra Hà Nội chơi để thăm chú với mọi người 1 lần nhưng do việc đi lại khó khăn cũng như các nguyên nhân khách quan, nhạy cảm nên không thực hiện được mong muốn trên, cũng thấy hơi buồn.

Cháu vừa viết 1 lá thư, để hồi tưởng về kỉ niệm những ngày hè vừa qua cũng như chúc tết tất cả bạn bè anh em yêu nước. Xin nhờ chú nhắn gửi với mọi người, cháu rất quý mến, rất nhớ mọi người và luôn muốn có dịp được gặp để ôm từng người thật chặt. Những người bạn chưa bao giờ gặp gỡ nhưng đã thân thiết như cùng chung sống mỗi ngày.

Cháu cũng xin nhờ chú Diện, chuyển giúp lời chúc mừng năm mới trực tiếp đến các bác, các chú, các cô, các anh chị và bạn hữu mà chú sẽ gặp gỡ được trực tiếp trong dịp tết này. Cháu xin chúc mọi người tất cả những gì tốt đẹp nhất và tâm hồn luôn được bình yên cho riêng mỗi người và cho chung đất nước nhân dịp xuân về.

Cháu
N.Đ.T
____________________

Thư Xuân chúc Tết bạn yêu nước ở xa
Đầu xuân xin chúc Nước nhà
Vẹn toàn bờ cõi San Hà tổ tiên
Nam Quan ải sẽ bình yên
Hoàng – Trường hai đảo nối liền yêu thương.

23/01/2012, đúng 06 tháng từ ngày thứ Bảy 23/07/2011 – ngày mà những biểu ngữ vinh danh các chiến sỹ Việt Nam đã chiến đấu và hi sinh tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang được mọi người ráo riết thực hiện nhằm chuẩn bị cho ngày Chủ Nhật hôm sau 24/07/2011. Lần biểu tình yêu nước thứ 8 của chúng ta chống lại âm mưu xâm lược của bá quyền phương Bắc (dĩ nhiên là của các bạn Hà Nội thôi, vì ở Sài Gòn mọi việc diễn ra không được tốt đẹp như ngoài ấy). Mình đã chọn đúng giây phút Giao Thừa, khi bên ngoài đang vang lên những tiếng pháo bông đón chào năm mới của thành phố, để bắt đầu những dòng này, để xem nó như một sự khởi đầu mới cho năm mới của chúng ta và đất nước.

Hi vọng sẽ không chỉ là 1 cái tết về phong tục, mà cũng sẽ là một cái tết của quê hương Việt Nam mình, một bước chuyển mình trỗi dậy để hóa Rồng. Chúng ta, những người dường như xa lạ trước đó, bỗng trở nên thân thiết lạ thường khi cung bậc tình yêu đồng điệu cùng nhau. Trẻ, già, trai, gái cho đến nay có thể nhiều người vẫn chưa 1 lần gặp mặt, nhưng chúng ta thực sự đã nhìn hình ảnh của nhau và nghĩ về nhau gần gũi, thân thiết đến lạ thường. Năm mới đến, ngoài những lời chúc Xuân yên vui, hạnh phúc cho mỗi người, cho gia đình, cũng xin gửi lời chúc tốt đẹp đến mọi người, đến quê hương. Hòa cùng không khí ấm áp, gần gũi và hạnh phúc bên gia đình của mỗi chúng ta lúc này, cũng xin gửi lòng kính trọng tưởng nhớ đến những bậc tổ tiên đã khai sinh và giữ gìn bờ cõi, xin gửi lòng tri ân đến những người đã chiến đấu, ngã xuống để bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước, đặc biệt là những người đã chiến đấu và hi sinh nơi hải đảo xa xôi. Cũng xin cảm ơn những người mà giây phút này đây đang miệt mài nơi chốn địa đầu, bám trụ trên những đảo xa để gìn giữ quê hương đất nước.

Sáu tháng tròn kỉ niệm ngày mà trong mỗi chúng ta, mọi người Việt Nam đã hi sinh vì tổ quốc đều được tưởng nhớ, vinh danh. Sáu tháng cho kỉ niệm về ngày Chủ Nhật đầu tiên mà những nỗ lực hàn gắn vết thương, hòa giải và hòa hợp đã thực sự được biểu hiện với tất cả lòng chân thành, tình thương yêu và nhiệt huyết. Sáu tháng cho ngày chúng ta không cần che giấu mà dõng dạc nhắc lại quá khứ, không phải để hận thù mà là để tha thứ và yêu thương. Sáu tháng cho ngày Chủ Nhật thứ 8, mọi con người không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị sát cánh bên nhau thể hiện lòng yêu nước. Thời gia đã trôi đi, nhưng ký ức và cảm giác thì bất tử. Một tình người lớn lao và gần gũi, ngày tất cả chúng ta là bạn.

Đầu Xuân, tết đến xin chúc phúc và nhắn gửi mọi người mấy điều thôi. Trước tiên là xin cho cháu gửi đến các bậc trưởng bối như Gs Ngô Đức Thọ, Gs Nguyễn Huệ Chi, Gs Hoàng Xuân Phú, bác Phạm Chuyên, chú Nguyễn Xuân Diện, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc cũng như nhiều người khác lời chúc sức khỏe, an khang, sáng suốt, kiên định và nhiệt huyết không suy giảm theo thời gian và tuổi tác. Xin kính chúc các bác, các chú, các cô… luôn được bình yên cả thể chất lẫn tinh thần bên gia đình, người thân, con cháu nhân dịp xuân về.

Sau là xin chúc các bậc huynh trưởng, các bạn bè đồng trang lứa, các lớp đàn em tuổi nhỏ mà ý chí yêu nước và tâm hồn không nhỏ được nhiều thuận lợi, vui vẻ trong cuộc sống, những ngày xuân này được sảng khoái tinh thần, đầm ấm bên gia đình, bạn hữu. Chúc mọi người bản lĩnh và kiên định, tỉnh táo và sáng suốt, dấn thân và biết lắng nghe để sống tốt cho mình và hữu ích cho đất nước.

Chúc mọi người luôn nhớ về kỷ niệm những ngày hè vừa qua của chúng ta, để đoàn kết với nhau chân thành bảo vệ nước non nhà. Chúng ta đã không làm gì sai, chúng ta đã dám dấn thân khi quê hương cần tới thì cũng chúc chúng ta luôn bền bỉ, sáng suốt để những chọn lựa của chúng ta, dù có thể khác nhau và khác biệt so với những suy nghĩ và chọn lựa của người khác, nhưng sẽ luôn đạt được những kết quả tốt đẹp mà mọi người cùng mong muốn.

Xã tắc lâm nguy cũng là cơ hội để chúng ta sát lại bên nhau, dung hòa những bất đồng trong tư tưởng và tha thứ cho những sự việc đã qua, hàn gắn lại những vết thương buốt giá trong lòng người. Càng khó khăn, gian khổ, chông gai, thì việc ta làm lại càng thêm ý nghĩa và thiết yếu. Lửa thử vàng, gian nan thử sức, chúc tất cả chúng ta đều thực sự là vàng.

Tết đến và kỷ niệm 6 tháng ngày hôm ấy, xin chúc cho tinh thần chúng ta mãi luôn như vậy, xóa bỏ mọi đau thương, hận thù và ranh giới để mọi người Việt Nam sẽ cùng chung sống với nhau: gần gũi, chân thành, hòa bình và thịnh vượng. Gửi đến những bè bạn ở xa, sẽ rất khó để gặp được nhau, nhưng chẳng hề gì khi trái tim chúng ta cùng nhịp đập, thì hãy tin tưởng rằng mỗi bước đi, chúng ta luôn luôn sẽ đồng hành.

Chúng ta sẽ sống, như tổ tiên, cha anh chúng ta đã sống. Hiên ngang, bất khuất, rắn rỏi nhưng cũng thật dịu dàng, hòa nhã, thương yêu. Xin kính chúc mọi người vạn điều tốt đẹp, chúc quê hương giàu mạnh, thái bình.

Sài Gòn, 01:25 AM Mùng Một tết Nhâm Thìn
Kính Chúc
Một Người Việt Nam
 

Trần Mạnh Hảo: KHAI BÚT SÁNG MÙNG MỘT TẾT NHÂM THÌN


Chùm thơ Khai bút của Trần Mạnh Hảo:
Hoa cho Minh Hằng

Hoa đào đỏ sắc phù sa
Máu sông Hồng gửi quê nhà vào đây
Trăng còn trong ngục đọa đầy
Mà hoa vẫn nở hồn cây vô tình ?

Áo dài trốn rét
Sông Hồng cắt mình ra tặng ai ?
Từng vạt bay bay nét áo dài
Áo dài trốn tết Hồ Gươm rét
Mưa bụi đi tìm thương mắt nai
T.M.H

TIN XUÂN TỪ NƠI ĐẦU SÓNG TIÊN LÃNG


Thưa chư vị,

Sáng nay, có cánh én nhỏ từ Nơi Đầu Sóng Tiên Lãng báo cho Lâm Khang biết một tin xuân: Sáng nay, bà cụ Mẹ Anh Đoàn Văn Vươn và các cô con dâu đã dắt nhau ra mảnh đất, nơi có ngôi nhà của họ bị chính quyền địa phương đập nát để dựng một túp lều nhỏ. Trong sáng nay, túp lều đã dựng xong. Mẹ con bà cháu con dâu họ Đoàn Tết này cúng tổ tiên và tiếp khách ở đó. Ban tối, họ sẽ về lại trong làng vì hiện nay ở đó cũng không an toàn. Tin cũng cho biết, ngoài 8 chiếc bánh chưng mà Nguyễn Xuân Diện mang đến biếu, gia đình cũng không gói thêm chiếc bánh nào, nhưng bà con làng xóm đã mang đến cho gia đình họ Đoàn rất nhiều bánh chưng để ăn Tết. 

Tin cũng cho biết, lực lượng công an viên địa phương đã hoàn toàn rút khỏi mảnh đất "cưỡng chế".

Nguyễn Xuân Diện - Blog kính báo!

Còn đây là Tin Xuân từ Sài Gòn:

Dear bác Diện,
Đầu năm, gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến gia đình bác.
Mình thức gần trắng đêm để “chụp” lại con số 9999999.
Cũng muốn chụp thêm 10000000 và 10000001 nhưng đồng hồ bị “Y2K”.
 
Trần Trung 


HỒNG PHÚC VIỆT NAM



HỒNG PHÚC VIỆT NAM
BÙI CÔNG TỰ 
Chúng ta đang sống những giờ phút đầu tiên của năm mới Nhâm Thìn, năm con Rồng. Rồng là giống linh thiêng kỳ lạ, mạnh mẽ mà uyển chuyển, tứ hải tung hoành, chứ có đâu như con mèo của năm ngoái Tân Mão nằm co ro trong xó bếp.
Có phải vì thế chăng mà tổ tiên chúng ta từ xưa kia đã tự nhận là con của Rồng?

Cũng có phải vì thế chăng mà khát vọng hóa Rồng đã cháy bỏng bao nhiêu con tim Việt suốt mấy thập kỷ nay?

Chúng ta đúng là một dân tộc lãng mạn!

Tôi luôn muốn nhìn nhận thế giới bằng con mắt lãng mạn, lãng mạn tiểu tư sản hay lãng mạn cách mạng thì càng tốt.

Năm Tân Mão vừa qua nước Nhật Bản đã rung chuyển vì động đất sóng thần. Khắp nơi trên thế giới cũng rung chuyển nhưng không phải do thiên tai mà là do nhịp bước chân của những đoàn người biểu tình rùng rùng chuyển động.

Ở Trung Đông – Bắc Phi biểu tình lật đổ các thể chế độc tài hà khắc, tham nhũng, bất công (Tunisia, Ai Cập, Libya).

Ở Mỹ biểu tình “chiếm phố Wall” phản đối các ngài tư bản tài phiệt tội đồ gây ra khủng hoảng tài chính.

Châu Âu do các quan chức “vung tay quá trán” làm cho nhiều nước lâm vào khủng hoảng nợ công. Dân biểu tình vì đời sống khó khăn và phúc lợi xã hội bị cắt giảm.

Dân Nga la tư thì biểu tình phản đối bầu cử gian dối.

Ở Á châu “người to xác xấu tính” Trung Quốc trắng trợn bộc lộ tham vọng lãnh thổ, khiến cho dân Việt Nam và Philipin biểu tình phản kháng ở nhiều nơi trên thế giới. Và chính ở Trung Quốc động loạn cũng bùng nổ suốt năm.

Vì thế “người biểu tình” đã được tạp chí Time bình chọn là “Nhân vật của năm 2011”.

Làn sóng biểu tình diễn ra khắp nơi cho thấy tiếng nói phản kháng của nhân dân đã tạo nên áp lực nhằm thay đổi thế giới. Đồng thời quyền biểu tình là một quyền quan trọng, tất yếu của dân, không ai có thể ngăn cản.

Trong một thế giới sóng gió như thế, tình hình Việt Nam cũng bất ổn nhưng theo một chiều hướng khác.

Tác giả: Bùi Công Tự bên chậu mai. 10h. 29 Tết
Với Việt Nam năm Tân Mão (2011) là năm thứ tư (2008-2011) loay hoay trong vòng suy thoái. Sự suy thoái có thể nói đã ở cấp độ trầm trọng từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, kéo theo nhiều vấn nạn không thể kiểm soát. Người lao động phải vật lộn với cơm áo, với chi phí học hành, chữa bệnh, hiếu hỉ… trong cơn lạm phát. Nguy cơ mất độc lập tự chủ dưới nhiều hình thức khác nhau và nguy cơ băng hoại dân tộc khi cái gốc bị mất, cái xấu, cái ác hoành hành là có thật.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng nói trên được các nhà nghiên cứu gọi tên là “lỗi hệ thống”. Mặc dù chưa ai nói huỵch toẹt ra “lỗi hệ thống” là như thế nào nhưng với những người am hiểu thì ai cũng hiểu: “Lỗi hệ thống” là hệ thống hỏng. Hay đơn giản như một nhà văn tếu táo: “lỗi hệ thống” là hệ thống của chúng ta bị … lỗi thời!

Tuy nhiên có rất nhiều cái ghế đã bắt chặt bu lông, ê cu vào cái lỗi thời ấy để trục lợi, mạo nhận là bảo vệ cái nọ, xây dựng cái kia. Trong mấy năm qua để giúp đất nước thoát ra khỏi suy thoái, nhiều học giả trong và ngoài nước đã chân thành góp ý, kiến nghị nhiều giải pháp có tính khoa học cao nhưng tất cả đều như ném đá ao bèo.

Năm Tân Mão 2011 ở Việt Nam như thế, tuy nhiên trong cái rủi lại có cái may nên còn an toàn. Đó là nhờ nền nông nghiệp đã sản xuất dư thừa lương thực thực phẩm bảo đảm cái ăn cho cả nước. Xin biết ơn bà con nông dân.

Năm Nhâm Thìn 2012 đang đến liệu có thể kỳ vọng gì chăng?

Chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan cho biết bà vẫn nặng trĩu lo âu, đến nổi hổng dám kỳ vọng gì vào năm con Rồng này.

Đảng CSVN vừa ban hành nghị quyết TW 4 (khóa 11) đề cập khá thẳng thắn, có vẻ kiên quyết về những tiêu cực, thoái hóa, biến chất trong Đảng và biện pháp “chống” cộng với biện pháp “xây”.

Chính phủ cũng vừa có nghị quyết 01/NQ-CP về những giải pháp cho năm 2012. Nội dụng nghị quyết này bao quát toàn diện từ “kềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô”… cho đến “chăm sóc sức khỏe đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân”. Nhân khỏi cần phải lo gì nữa nhé.

Tuy nhiên chúng ta không thể căn cứ vào những nghị quyết quan trọng ấy để mà kỳ vọng. Bởi vì từ lời nói đến việc làm, từ việc làm đến kết quả xa như từ Trái Đất đến Sao Kim. Vả lại việc đại sự quốc gia hiện thời là của Đảng và chính phủ.

Vậy trách nhiệm công dân của chúng ta ở đâu?

Thưa bạn đọc, chúng ta không hài lòng, thậm chí thật sự buồn khi phải chứng kiến dân tộc ta, một dân tộc “vốn xưng nền văn hiến từ lâu” mà phải chịu cảnh lẽo đẽo xếp hàng sau lưng với khoảng cách khá xa nhiều quốc gia trong khu vực, cho dù họ không có thuận lợi như mình.

Vì sao? Vì sao? Vì sao?

Nếu tình trạng này còn kéo dài (và rất có thể còn kéo dài) thì đất nước xuống dốc không phanh là cái chắc.

Tôi muốn đắt câu hỏi với các vị lãnh đạo quốc gia: Cái mặt hàng kém phẩm chất, độc hại mà nhiều nước văn minh đã vứt bỏ, tại sao nước ta vẫn xài?

Trong kháng chiến chống Pháp, có lần chủ tịch Hồ Chí Minh nói với GS Tôn Thất Tùng: “Làm thầy thuốc chỉ cứu được ít người còn làm cách mạng thì cứu được cả dân tộc.”

Thưa các bạn, tình hình đất nước ta đang đòi hỏi phải có một cuộc cách mạng để cứu đất nước thoát khỏi tình trạng kinh tế, văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ đều suy thoái, nền tảng đạo đức xã hội lung lay, có nguy cơ đất nước bị mất tự chủ.

Nhân dân ta, trước tiên là giới trí thức, cần mạnh mẽ nói lên chính kiến, nguyện vọng và nỗi bức xúc của mình để tạo thành áp lực thúc đẩy tình hình chuyển biến có tính chất cách mạng. Nói cách mạng là nói sự thay đổi tận gốc.

Theo tôi bản kiến nghị “cải cách toàn diện để phát triển đất nước” của 14 vị học giả Việt Nam gửi lãnh đạo Đảng, Quốc hội, chính phủ năm 2011 đã vạch ra chiến lược, sách lược cho cuộc cách mạng mà chúng ta mong đợi.

Cuộc cách mạng ấy phải bắt đầu từ trên xuống. Dân có quyền trực tiếp bầu nguyên thủ. Tòa án được độc lập, chánh án toàn án tối cao và tòa án các cấp cần là người không đảng phái. Nhân tài có quyền tranh cử vào các cương vị lãnh đạo quốc gia.

Nước ta không thiếu nhân tài. Tôi ví dụ như các ông Nguyễn Quang A, Nguyễn Trần Bạt, Trần Văn Thọ (GS Kinh tế học ĐH Waseda, Nhật Bản) đều có thể xứng đáng làm Thủ tướng.

Tóm lại cuộc cách mạng mà chúng ta mong đợi, không phải là nhằm lật đổ ai cả, mà là tiến trình thay cái lạc hậu bằng cái văn minh, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, đòi hỏi của lịch sử và phù hợp với thời đị.

Một cuộc cách mạng như thế nếu đến sớm là hồng phúc cho dân tộc ta.

B.C.T
TP Hồ Chí Minh, Xuân Nhâm Thìn.
*Bài viết riêng cho NXD-Blog số Tết Nhâm Thìn.
*Ảnh: Vân Đình Hùng gửi tặng bạn đọc Nguyễn Xuân Diện-Blog.

NGUYỄN XUÂN DIỆN-BLOG CHÚC MỪNG NĂM MỚI NHÂM THÌN


Thưa chư vị,

Chúng ta vừa trải qua giây phút giao thừa linh thiêng. Vũ trụ giao hòa trong cuộc chuyển giao huyền bí. Và khí ấm dương hòa đã bắt đầu lan tỏa. Bên bàn thờ, trong khói trầm thơm ngát, tổ tiên về chứng giám. Trong mỗi ngọn chùa, nhà thờ, đền đài, miếu điện...các vị thần linh đã hiển linh giữa nhân gian, dõi theo mỗi việc ta làm, mỗi lời ta  nói, để rồi âm phù cho chúng ta. Có hạnh phúc nào hơn, khi ta được làm con người giữa thế gian!

365 ngày qua, chúng ta đã đi qua biết bao sướng khổ của kiếp người, đã từng khóc cười cùng nhau, không hò hẹn mà đã thành tri âm tri ngộ. Xin cảm tạ đất nước ông bà tổ tiên đã cho chúng ta hạnh ngộ bên hiên trà này, để rồi thành ra "khó gặp nhau mà cũng khó xa"(Lý Thương Ẩn).

Trong giờ phút tưởng vọng tổ tiên, chúng ta cùng nhớ lại mùa hè rực lửa vừa qua, chúng ta đã có cùng nhau mối quan tâm đến vận mệnh đất nước, đã hồi hộp dõi theo mỗi bước chân đi, mỗi lời hô ứng.

Chúng ta cùng nhớ lại những giây phút lo lắng cho nhau như anh em ruột thịt, mỗi khi biết tin ai đó đang găp chuyện chẳng lành. Rồi sẻ chia với nhau qua từng con chữ, từng hình ảnh. Đã nếm trải những cay - đắng - ngọt - bùi cùng nhau, tương thân tương ái, tương kính tương lân.

Bây giờ, Xuân mới đã bước lên thềm nhà, đã vào trong từng mái nhà. Ta nắm tay nhau, nắm tay Xuân để cùng hò hẹn, cùng yêu thương và sẻ chia.

Hiên trà nhỏ bé này, đã là nơi gặp gỡ của chúng ta, tự nhiên như là như thế! Trong giây phút mới mẻ, tinh khôi của những thời khắc đầu năm, Lâm Khang chủ nhân xin nghiêng mình cảm tạ chư vị đã ghé thăm trong suốt năm qua, kể cả ở ngôi nhà cũ (nguyenxuandien.blogspot.com) và ngôi nhà các vị đang ghé thăm đây. Trong giây phút bối rối này, xin nắm tay chư vị và nói lời cảm ơn chân thành, cùng lời chúc tốt lành nhất!

Nhân ngày đầu năm, xin cầu nguyện để tất cả những ai đã từng dù chỉ một lần ghé thăm hiên trà này luôn được bằng an, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống và công việc. Xin cảm tạ chư vị đã dành cho hiên trà này tình cảm ấm áp, chia sẻ động viên trong thời gian qua và cả thời gian tới. 

Mùa Xuân đã về trên đất nước Việt Nam! Xin cầu nguyện tổ tiên ban tặng hồng phúc cho tất cả chúng ta!
Lâm Khang Nguyễn Xuân Diện bái đề!

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

ĐÊM GIAO THỪA: LẠI NÓI VỀ CHUYỆN CHỮ TÂM CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC

LẠI NÓI VỀ CHUYỆN CHỮ TÂM CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC
Đào Tiến Thi
Nhân chủ đề TÀI và TÂM mà TS. Nguyễn Thị Từ Huy nêu ra (Blog Nguyễn Xuân Diện ngày 21-1-2012 (28 Tết), tôi muốn góp thêm một chút. Trong bài của chị Từ Huy (T.H), chữ “tài” và chữ “tâm” thực tế không phải là “tài” và “tâm” nói chung mà là “tài” và “tâm” của người TRÍ THỨC. Còn bài này chỉ bàn về chữ TÂM của người trí thức mà thôi.
Nhân chị T.H nhắc đến bài thơ Bán vàng của Nguyễn Duy, nên thay cho mở bài, tôi xin chép hầu quý độc giả một đoạn. (Tôi thuộc bài thơ này ngay khi nó đăng lần đầu ở báo Văn nghệ khoảng 1987 - 1988):
Tâm hồn ta là một khối vàng ròng
Đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ
Mảnh này vì con, mảnh này vì vợ
Mảnh này vì cha mẹ, em ta
Giữ ngọc gìn vàng biết mấy công phu
Ta giàu lắm mà con ta đói lắm
Ta vương giả mà vợ ta lận đận
Cha mẹ ta trong lụt bão trắng trời
Ta mơ màng, ta uốn éo, ta lả lơi
Để mặc kệ mái nhà xưa dột nát
Mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác
Mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao
Ta rất gần bể rộng với trời cao
Để xa cách những gì thân thuộc nhất
Nồi gạo hết lúc nào ta chả biết
Thăm thẳm nỗi lo, mắt vợ u sầu
Viên thuốc nào dành để lúc con đau
Vợ nằm đó xoay sở mần răng nhỉ ?
Cơn hoạn nạn bỗng làm ta tĩnh trí
Ngọn gió tha hương lạnh toát da gà
Cái ác biến hình còn lởn vởn quanh ta
Tai ách đến bất thần không báo trước
Tờ giấy mong manh che trở làm sao được
Một câu thơ chống đỡ mấy mạng người…
Nhân vật trữ tình ở đây là một nhà thơ, tức là người trí thức. Anh ta tự nhận “Tâm hồn ta là một khối vàng ròng” nhưng mà rồi “Đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ/ Mảnh này vì con, mảnh này vì vợ/ Mảnh này vì cha mẹ, em ta…”
Thế mới biết cuộc mưu sinh nó ác lắm. Xuân Diệu cũng từng viết:
Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ
Bởi vậy, tuy tôi chia sẻ với nỗi bức xúc của chị T.H về lối sống thực dụng “sát sạt” của nhiều trí thức hiện nay, nhưng tôi vẫn nhìn ở sự thông cảm nhiều hơn.
Một ông giáo sư dù tài giỏi đến mấy thì cũng phải sống cuộc đời thường như tất cả mọi người, không phải là thánh. Cho nên, cái ông giáo sư mà chị T.H nói đến, theo tôi, cũng chưa chắc (chưa chắc thôi) đã là người xấu. Bởi vì tuy việc đọc nhận xét luận văn của ông có chế độ của nhà nước nhưng cái giá này quá bèo. Nếu đọc cho kĩ thì rõ ràng nó chẳng tương xứng tí nào. Cho nên theo lệ thường đã từ rất lâu rồi, bất cứ ai đưa đọc luận văn, dù luận văn cao học (thạc sỹ) hay nghiên cứu sinh (tiến sỹ) đều có khoản thù lao thêm cho thầy. Và tôi nghĩ thế cũng là chính đáng. Vấn đề là nhận thế nào cho phải chăng. Theo tôi, ông thầy không đòi hỏi, mà nếu trò có đưa nhiều thì nên trả bớt lại, nhất là với trò nghèo, và nhất là với trò nghèo mà lại giỏi. Càng không nên vì tiền nhiều tiền ít mà nhận xét sai lạc luận văn. Lương tâm là ở chỗ ấy, chứ không phải cứ nhận tiền là mất lương tâm. Tôi có mấy giáo sư dạy mình hồi làm thạc sỹ, sau này luôn động viên tôi đi làm tiếp tiến sỹ, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên tôi ngại đi. Có lần trong bàn tiệc có nhiều giáo sư bậc thầy, một giáo sư bảo tôi: “Nếu chú mày đi làm tiến sỹ, các thầy ở đây đều hết sức giúp đỡ, không ai lấy tiền của mày đâu”. Tôi nghĩ đó là một thái độ thành thực, sòng phẳng và tốt bụng. Tôi có một anh bạn là phó giáo sư ở một viện nghiên cứu nọ, một lần nhân đề cập chủ đề này, anh bảo: “Mình vẫn thường nhận tiền thù lao đọc phản biện. Nhận tiền thù lao này không những không xấu mà còn chính đáng. Còn ông nào không thích nhận thì tùy, thì cũng tốt thôi. Nhưng mình không chấp nhận có một ông nọ không nhận nhưng lại cầm phong bì đến cơ quan để bêu riếu người học trò đó trước mọi người”.
Đối với các bác sỹ, tầng lớp mà bây giờ dư luận xã hội hay chê trách, nhưng tôi không thấy họ xấu đến như thế. Lương họ còn thấp hơn cả lương giáo viên, việc thì lại vất vả hơn giáo viên. Và cũng chẳng dễ có việc làm thêm như giáo viên. Vậy thì lấy lý do gì để đòi hỏi quá nhiều ở họ? Lấy lý do gì để áp đặt vào họ cái gọi là Y ĐỨC, trong khi lại chẳng áp đặt những cái khác, cần thiết hơn, thực thi hơn, như QUAN ĐỨC, LẠI ĐỨC, CẢNH SÁT ĐỨC,… Mỗi lần đến bệnh viện, tuy cũng không ít những việc làm tôi bực mình, nhưng tôi thấy thương các thầy thuốc nhiều hơn là sự khó chịu. Hai mươi chín Tết năm ngoái, tôi đến bệnh viện Hòe Nhai (Hà Nội) để hỏi về tình trạng bệnh của vợ tôi (đang điều trị tại nhà), bác sỹ Đ.N.L vẫn rất chu đáo giải thích tình trạng bệnh của vợ tôi, hướng dẫn cách dùng thuốc, cách ăn uống hợp lý,… Và tôi thấy xung quanh các bác sỹ, các y tá vẫn làm việc tất bật như ngày thường (trong khi hầu hết các cơ quan đã nghỉ Tết), khiến tôi rất cảm động.
Trên kia là phần cảm thông của tôi. Cảm thông về những người làm khoa học nhưng đồng lương không đủ sống, vẫn phải lo toan kiếm sống bằng cách khác để con cái không đến nỗi tủi thân thua thiệt, nhưng chính họ lại chịu sự xét đoán cao hơn mọi người.
Tuy nhiên, tôi cũng xét đoán người trí thức khắt khe hơn TS. Nguyễn Thị Từ Huy ở chỗ khác. Cái TÂM của người trí thức theo tôi không thể chỉ trong ứng xử đời thường, trong những việc thuộc về VI MÔ như chị T.H nêu. Cái TÂM của người trí thức còn phải hướng tới những vấn đề VĨ MÔ, tức những vấn đề của đất nước, của nhân dân, và của thời đại nữa.
Theo tiêu chí đó, theo tôi hiện nay nước ta có 4 hạng trí thức:
1. Hạng đau đáu với vận mệnh đất nước và nhân dân. Xin lấy mấy câu của nhà văn Phạm Ngọc Luật viết về hạng trí thức này thay cho nhận xét của tôi: “Họ không mũ ni che tai. Không lạnh tanh máu cá. Không chép miệng triết lý vặt. Họ là những trí thức dấn thân. Họ nói và làm có thể không theo một khuôn phép thông lệ. Có thể nó đắng hơn mướp đắng, cay hơn ớt, xốc hơn mù tạt, nhưng không giả”.
Hạng thứ nhất này hiện nay chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (không biết có nổi một phần nghìn hay không) và hiện nay đánh giá về họ có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Thông thường, trong cộng đồng, họ bị chê là “hâm”, là “ngu”, là “điếc không sợ súng”, nhưng đấy chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. Trong thâm tâm sâu thẳm, mỗi công dân vẫn nhìn họ với thái độ kính phục (tuy rằng đa số chỉ “kính nhi viễn chi” mà thôi), cho nên theo tôi họ là linh hồn của đất nước, nhân dân nhìn vào họ để lấy chút niềm tin vào cuộc sống. Vì những hoạt động của họ là vì đất nước và nhân dân, cho nên mặc dù nhà cầm quyền nhiều khi không ưa họ nhưng có lẽ vẫn thấy sự có mặt của họ là cần thiết, nhất là trong một số vấn đề “nhạy cảm” mà nhà nước thì không tiện hiện diện. Thử hỏi nếu không có họ thì làm sao hồi năm 2010, Hội Địa lý Hoa Kỳ sửa tên địa danh Hoàng Sa, Trường Sa vốn lúc đầu mang tên Trung Quốc? Nếu không có họ thì làm sao mới đây tạp chí Nature và tạp chí Science tuyên bố không cho đăng bản đồ Biển Đông có hình lưỡi bò?
2. Hạng có quan tâm, có “biết cả”, cũng đau khổ, cũng bức xúc ít hoặc nhiều nhưng nhìn chung không động tay động chân một việc gì cho sự nghiệp chung cả. Lý lẽ của họ là “chả làm gì được đâu”, và họ quay sang giữ lấy sự an toàn và hạnh phúc cho riêng mình, không chấp nhận bất cứ thứ hệ lụy nào do “hành động cao cả” mang lại. Hạng thứ hai này có lẽ là đông đảo nhất trong giới trí thức hiện nay. Điều đáng chú ý là họ còn lương tâm, thậm chí nhiều người rất tốt, nhưng họ chỉ dùng một nửa lương tâm thôi, tức là chỉ dành cho những việc thuộc phạm vi gia đình, anh em, bè bạn,... Tuy nhiên, ngay cả những đối tượng đó, sự tương trợ cũng chỉ khi nào nó không gây hệ lụy cho họ. Trong trường hợp một đồng nghiệp cùng đơn vị, cơ quan bị đánh, dù đúng mười mươi, nhưng nếu sếp quyết tâm đánh thì họ cũng không dám bảo vệ. Vì vậy, yêu nước thương dân đối với họ là khái niệm quá xa xỉ, không thể với tới, không dám với tới. Với cách định nghĩa tuyệt đối “trí thức là những người làm những việc không liên quan gì đến mình” thì thực chất họ cũng không còn là trí thức nữa, mà chỉ là công chức, viên chức thôi. Nhưng ngay cả với tư cách công chức, viên chức, thì họ cũng chỉ đáng ghi nhận ở bản chất lương thiện. Nhưng nếu người lương thiện xét một cách đầy đủ, không phải là người ngồi nhìn cái ác hoành hành thì họ cũng không hẳn là lương thiện nữa. Cho nên dễ thấy một điều trên cả xã hội hiện nay: người tốt thì còn nhiều nhưng việc tốt thì quá ít.
3. Hạng không quan tâm các vấn đề xã hội, chỉ mải làm ăn, rất giỏi thu vén lợi ích cá nhân. Nếu có ai nói đến những vấn đề “bức xúc”, “nhạy cảm” thì họ tránh ngay, bảo “quan tâm đến nó làm gì, nhức đầu lắm”. Thực ra bảo họ không quan tâm đến chính trị hay bảo họ “vô cảm” thì chỉ đúng một nửa. Họ có thể không biết ông chủ tịch nước bây giờ là ai, hay có biết thì chỉ biết cái tên là cùng, chứ chẳng biết con người, học vấn, đạo đức, xu hướng tư tưởng,… của vị nguyên thủ quốc gia của mình thế nào, nhưng họ lại biết rất rõ về các sếp của mình, từ sếp trực tiếp cho đến sếp của sếp, từ sếp ông đến sếp bà: sếp ông thích cà vạt màu gì, sếp bà thích nước hoa gì, sinh nhật của con gái sếp là ngày nào, v.v.. Hạng thứ ba này theo tôi chiếm một tỷ lệ khá lớn, chỉ sau hạng thứ hai. Điều đáng buồn cho họ chưa phải là thái độ bàng quan, vô cảm hay thực dụng mà cái đáng buồn là ở chỗ: họ đã đổ vỡ hoàn toàn niềm tin. Nhiều người có địa vị, có học hàm học vị sáng choang, có cả nhiều tiền của nữa nhưng chả còn chút niềm tin gì. Họ sống trong sự trống rỗng, buồn tẻ nhưng đôi khi để khỏa lấp cái trống rỗng, buồn tẻ đó, họ vênh váo với thiên hạ bằng những thứ họ có (địa vị, học hàm học vị, tiền của chẳng hạn)
4. Hạng thứ tư, hạng trí thức thoái hóa hoàn toàn, dùng chất xám để buôn chính trị, hạng người mà một nhà thơ đã gọi là “điếm cấp cao”:
Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
Điếm cấp cao bán miệng nuôi…thân (hay trôn)
Họ thường là những người thông minh, họ có một cái đầu nhạy cảm với mọi vấn đề của cuộc sống, cho nên đón ý quyền lực cũng rất tinh. Chỉ có điều họ dùng cái bẩm chất thông minh, nhạy cảm ấy hoàn toàn cho lợi ích cá nhân. Nếu hạng thứ ba phải mua địa vị, học hàm, danh hiệu bằng tiền thì hạng thứ tư này hoàn toàn bằng cái lưỡi rắn. Ví dụ, để tiến thân, cái lưỡi rắn dám phun nọc độc vào những người chân chính đang “có vấn đề”.
Hạng này cho đến nay chỉ là thiểu số nhưng có xu hướng đang phát triển.
Vẫn biết cuộc sống muôn màu muôn vẻ, trí thức thì cũng là người, có tốt có xấu, nhưng tôi vẫn cảm thấy buồn, nếu so sánh tầng lớp trí thức hiện nay với tầng lớp trí thức trước Cách mạng tháng Tám (chứ chưa dám so với trí thức các nước khác). Tầng lớp trí thức hiện nay về số lượng đông gấp hàng trăm lần so với tầng lớp trí thức trước Cách mạng. Học hàm, học vị thì rực rỡ mà trí thức thời trước không thể nào dám đọ. Nhưng so sánh về tính độc lập tư tưởng, về khả năng tác động vào đời sống xã hội, về tính tự chủ tự lập trong đời sống mưu sinh thì trí thức ngày nay thật khó sánh với cha ông cách đây chưa lâu. Chỉ cần để ý sự kiện đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925), để tang Phan Châu Trinh (1926), phong trào đón tiếp Bùi Quang Chiêu và đòi thả Nguyễn An Ninh (1926) cũng đủ thấy vai trò to lớn của trí thức trong các phong trào xã hội thời ấy như thế nào.
Đ.T.T.
Đêm Giao thừa Tân Mão sắp sang Nhâm Thìn