Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2011

CÁO PHÓ

.
.
.

CÁO PHÓ
GIA ĐÌNH CHÚNG TÔI ĐAU ĐỚN BÁO TIN 

Chồng, Cha, Ông chúng tôi là:
Ông NGUYỄN VĂN DIỆM

sinh ngày 20 tháng 2 năm 1940,
Huy chương Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước Hạng Nhất,

Sau thời gian lâm trọng bệnh, mặc dù đã được các Bác sĩ Quân y Viện 105 và gia đình hết lòng cứu chữa, nhưng do tuổi cao, bệnh nặng, sức yếu, đã từ trần hồi 11h15 phút, ngày Chủ Nhật, 6 tháng 11 năm 2011 (nhằm ngày 11 tháng 10 năm Tân Mão) hưởng thọ 72 tuổi.

Lễ viếng từ 13h00 ngày Thứ Hai, 07 tháng 11 năm 2011.
Lễ truy điệu: 07h30 ngày Thứ Ba, 08 tháng 11 năm 2011,
An táng cùng ngày tại nghĩa trang thôn Phụ Khang, xã Đường Lâm
thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội

Kính báo!
Bà quả phụ: Phan Thị Lách
Trưởng nam: Lâm Khang Nguyễn Xuân Diện
và các con cháu
  .
______________________

Ghi chú: Theo lệ của cơ quan, gia đình chúng tôi có tổ chức xe đón các thân hữu và đồng nghiệp, bạn bè...lên với gia đình chúng tôi. Chư vị nào có thể bớt chút thời giờ vàng ngọc lên với chúng tôi, xin có mặt tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với thời gian và địa điểm như sau:

Thời gian: 13h30 ngày hôm nay, Thứ Hai, 07 tháng 11 năm 2011.
Địa điểm: Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 183 Đặng Tiến Đông - Quận Đống Đa, Hà Nội.

Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2011

NHỚ VỀ HÀ NỘI - Thơ Trần Mạnh Hảo

 

Chùm thơ Nhớ Hà Nội của Trần Mạnh Hảo:
Hà Nội - thu này

cây bàng lề trái
trút linh hồn
dâng máu trải đường thu

cây hoa sữa lề phải
giọt giọt hoa
nhỏ lệ khóc sương mù

bổ đề em Hà Nội
mùa thu
nhà toán học Ngô Bảo Châu
thấy toàn cừu đi lề phải

cấm lề trái
gió heo may không dám ra đường
gió heo may mang hồn Lý Công Uẩn
gió heo may mồ côi ông cha

Hà Nội vào đại lễ
hồn cha ông không dám về nhà
giặc đang chiếm bờ cõi
sao cháu con mở lễ hội ăn mừng ?
hàng cây cơm nguội rưng rưng

đám mây màu cháo loãng
cấm ăn mày vào phố
Hà Nội buồn
biết bố thí cho ai ?

bố thí Hồ Gươm lưỡi kiếm
bố thí Hồ Tây chim sâm cầm
bố thí cốm cho sen
bố thí sự tử tế cho người ?

Hà Nội giàu hơn Mỹ
chi bốn tỷ đô la ăn chơi
gió cồn cào thương bụng đói
nước sông Hồng nhoi nhói bỏ đi

Hà Nội
nghìn năm Thăng Long
gió thu nghèn nghẹn nấc

đêm của những vì sao mù
những hàng bàng chết giấc
những vỉa hè đỡ lấy cả mùa thu…
Hà Nội – Sài Gòn mùa thu 2010
T.M.H.

Sông Hồng

Khi vừa rời lòng mẹ
Con đỏ hoe như một cục bùn non
Có phải mẹ vừa nhặt con lên từ đáy sông Hồng
Mà hạt phù sa bật khóc?

Con mới hiểu biển vì sao khát nước
Triệu năm còn ừng ực uống dòng sông
Vì sao Lạc Long Quân lấy sông Hồng làm đuốc
Soi nước Văn Lang từng bước Tiên Rồng
Con mới hiểu vì sao hạt thóc
Lại mang hình con mắt mỏi mòn trông

Mẹ ru hạt phù sa khó nhọc
Ngủ đi mà hoá cánh đồng
Mẹ đi mót lúa, lúa không hạt nào
Sông Hồng lụt cả ca dao
Con cò bị bão giạt vào lời ru

Tuổi thơ nằm cạnh sông Hồng tôi ngủ
Cỏ chân đê làm gió cứ ong ong
Trong mơ tôi thành Chử Đồng Tử
Thức dậy ra bờ sông vùi người trong cát
Không thấy nàng Tiên Dung
Nhưng tôi đã lấy được sông Hồng
Lấy lại tình yêu chàng Trương Chi đánh mất
Lấy được tiếng đàn có nước mắt cha ông

Đêm tôi học sử trong nhà
Nghe sóng sông Hồng như tay lật sách
Như thể Hai Bà Trưng
Nhảy từ đê tuẫn tiết
Đến nay còn chưa rơi xuống lòng sông…

Hà Nội 1982
T.M.H.


Tùy bút TRẦN MẠNH HẢO: MẶC ÁO DÀI ĐI...YÊU NƯỚC

Mặc áo dài đi....yêu nước
Tùy bút của Trần Mạnh Hảo

Thân mến tặng các hoa hậu áo dài biểu tình yêu nước: 
Minh Hằng, Phương Bích, Kim Tiến

Khi chảy qua Hà Nội, sông Hồng mặc áo dài hồng đào đi tết biển Đông. Nước ta trên bản đồ thon dài, nửa như cánh võng mắc trên bờ Thái Bình Dương, nửa như một tia chớp trên bầu trời nhân loại. Nước ta dài như thế nên các sông cũng rất dài. Thời gian một nghìn năm bị mất nước của dân tộc ta cũng rất dài. Các cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược của nhân dân ta từ chống Hán,  Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh , bành trướng Bắc Kinh…cũng là trường kỳ kháng chiến, nghĩa là rất dài. Con chim Lạc trên trống đồng biểu tượng dân tộc Việt có cái cổ kiêu sa đầy thẩm mỹ rất dài. Bên cạnh tứ tuyệt thất ngôn bát cú, cha ông ta xưa kia còn sáng tác nhiều truyện thơ Nôm rất dài, vũ khí là nỏ thần và ngọn giáo dài, những cọc nhọn cắm sông của Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo rất dài. Người Việt ra biển đi cà kheo làm chân rất dài. Những điệu hò đêm trên sông nước như mái nhì, ví dặm, hò khoan thường cũng rất dài; với tâm thức của triết lý nhân sinh : "Thức lâu mới biết đêm dài"... Nếu phải ngồi điểm danh về các món "dài học", thì kẻ học trò dài lưng tốn vải này có thể kể ra hàng nghìn dẫn chứng. Chừng như hồn vía của thẩm mỹ dài đất nước nghìn năm cùng dồn tụ trong mùa xuân mưa bụi thả vạt áo đài đi tết trời xanh ?...

Tùy bút áo dài của tôi xin mở đầu với khởi nguồn văn hóa dai ấy. Áo dài làm phụ nữ Việt Nam kéo dài sự trẻ trung, duyên dáng, kéo dài sắc đẹp ra tới vô cùng trời đất. Áo dài làm người phụ nữ đi mà như bay, đứng mà như liệng, vừa kín đáo lại phô bày, vừa đoan trang vừa quyến rũ... Nhìn hàng trăm nữ sinh trong áo dài trắng đến trường buổi sáng, tôi hình dung ra mây trắng bay là là trên đường phố: Mây trắng trôi vào lớp học, mây trắng quần tụ những sân trường, mây trắng ngồi trên xe đạp, phóng trên honda, mây trắng về nhà hiện thành những cô Tiên, cô Tấm. Biết đâu người đầu tiên biến đổi chiếc áo tứ thân thành áo dài đã lấy mây trắng làm cảm hứng thời trang. Những chiếc áo dài trắng mắc trên đỉnh trời, vắt qua đèo, vắt qua sườn núi, khiến núi non trời đất cũng diện áo dài trắng mùa xuân. 

Nhưng có khi chính là dòng sông chảy qua làng uốn lượn mềm mại... có thể đã khiến cho người đầu tiên nào đó muốn cắt thế tung bay của đòng sông ra làm hại vạt áo mà thiết kế ra chiếc áo dài Việt Nam chăng ? Cũng có thể chiếc áo dài đẩu tiên ấy lại hồng hào ửng đỏ phù sa pha giữa các gam màu đỏ hoa đào và nâu đất ? Người Việt mình bao giờ cũng mang hình ảnh dòng sông trên người trong hai vạt áo dài tung bay sau trước, phỏng không thi vị và giàu ý nghĩa triết lý lắm sao ? Hai khúc sông hòa theo nhịp bước trên đường thiên lý của lịch sử, hai vạt áo tiền hô hậu ủng tạo thế âm dương hài hòa cân bằng, khiến con người như được chắp thêm đôi cánh của hư và thực, quả là nét đẹp vô cùng của văn hóa Việt Nam. Khi người bước đi, vạt áo dài trước đã bay về phía tương lai, khi đôi chân đang thì hiện tại và vạt áo dài sau vừa trở thành quá khứ mất rồi. Mặc chiếc áo dài trắng bước đi, người Việt Nam đã đồng thời mang theo mình ba thì của thực tại, thì tương lai và quá khứ tung bay trước sau, nâng đỡ đôi chân hiện tại một cách hào hoa làm nên triết lý áo dài Việt Nam thâm thúy và lãng mạn biết chừng nào ? Ẩn mình trong chiếc áo dài đầy ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc ấy, người Việt Nam tìm lại gốc gác mình, tìm lại những vật tổ lông của mình là con chim bay trên trời kết hợp với giao long bay dưới nước. Chiếc áo dài làm con người vừa là mình, vừa giống như chim bay trên mặt đất và giống cá bơi trên cạn, lại vừa là mây bay, vừa là gió thổi, là hài hòa kết hợp văn hóa núi và văn hóa nước, văn hóa trời và văn hóa đất, văn hóa chim và văn hóa rồng, thành văn hóa áo dài muôn năm Việt Nam.


Ngay từ thời thơ ấu, tôi đã nhìn thấy mẹ mình mặc chiếc áo dài mà quê tôi gọi là áo chùng đến nhà thờ đi lễ. Chiếc áo dài mẹ mặc chỉ chút xíu là chạm đất, tôn dáng mẹ lên cao gầy uyển chuyển. Đồng thời thi thoảng đi chợ hay đi giỗ chạp ma chay, mẹ tôi vẫn mặc chiếc áo tứ thân nghìn xưa dân tộc. Chiếc áo tứ thân cũng là một kiểu áo dài xưa với hai vạt trước đều nhau, thường buộc chéo nhau theo tinh thần thắt lưng buộc bụng của dân tộc Việt Nam bao đời chịu thương, chịu khó. Cái nết buộc chéo của hai vạt áo tứ thân ngoài biểu trưng của chiếc thắt lưng, của sự nén lại, ấn xuống theo tinh thần hướng nội nghĩ bằng bụng Việt Nam. Nó còn nhắc nhở người phụ nữ luôn nhớ tới bổn phận, giới tính mình với bao nhiêu ràng buộc, bao nhiêu cấm kỵ của xã hội phong kiến, của nếp gia đình, chồng chúa vợ tôi. Và cái nút buộc phận số trước eo thon của thân hình "dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên" kia còn có ý che đi cái đẹp thân xác, giấu đi nét nở nang taọ hóa của thẩm mỹ người đàn bà. Hai vạt trước buộc chéo vào nhau của áo tứ thân đã buộc người phụ nữ vào chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ, vào bổn phận thấp hèn, đầu hè xó bếp của thân phận đàn bà xưa như chiếc lạt buộc đóm mạ mà Nguyễn Du đã phải kéo lên: "Đau đớn thay phận dàn bà". Chiếc áo dài hôm nay thoát từ chiếc áo tứ thân dân tộc nhưng đã biết các phá tan hai nút buộc của hai vạt trước, nối chúng lại thành một vạt dài lênh đênh theo thân hình uốn lượn "Đứt thôi lại nối thấp đà lại cao" của thân thể người đàn bà Việt Nam mà tung bay với tinh thần đề cao, tụng ca phụ nữ. Chiếc áo dài thon thả hôm nay chính là phản ánh tinh thần giải phóng phụ nữ, đưa vẻ đẹp người đàn bà Việt Nam lên đỉnh điểm mây trời, khoe dáng vẻ và tâm hồn phái đẹp cho cỏ hoa còn phải mê man, ghen ty.

Ngay từ thủa một mình biết tự đi nhà thờ mẹ tôi đã may cho tôi một chiếc áo chùng trắng (áo dài). Ở xứ đạo chúng tôi thời ấy, đàn ông con trai cũng mặc áo chùng đi nhà thờ như phái nữ. Tất nhiên áo dài con gái thì phải may ẻo lả và duyên dáng hơn áo dài con trai. Nhưng đàn ông lớn tuổi mặc áo dài the thì gọi là áo lương, áo thụng, với đầu đội khăn xếp (khăn đóng). Tôi đã mặc áo chùng đi nhà thờ khi sáng sớm và buổi tối mỗi ngày. Cho tới ngày sống trong rừng, rồi suốt những năm ở rừng tôi không có dịp được ngắm chiếc áo dài tung bay trước gió. Trong tôi những ngày nằm hầm tránh bom đạn trong rừng, ngoài bưng biền, hình ảnh chiếc áo dài bao giờ cũng đồng nghĩa với hình ảnh hạnh phúc, sum họp của hòa bình. Có lúc, nhớ áo dài đến dài cổ, tôi ngồỉ một mình ngắm con suối tung bay muôn tà áo dài trắng của rừng xanh núi thẳm. Tôi nhìn thấy những vực núi mặc áo dài trắng ào ạt đổ thác xuống thời gịan vĩnh cửu mây ngàn. Tôi đã thấy đôi chim công mặc áo dài vũ hội xòe vạt thiên nhiên ra hình quạt phía đuối với những hoa văn mà Sỹ Hoàng, Minh Hạnh thời nay dù có phép tiên cũng không thêu dệt nổi, nhảy múa bài ca tình ái cực kỳ quyến rũ của loài công. Tôi đã nhìn thấy cây gùi, một loài cây leo khá lớn trong rừng trang trí chiếc áo dài của mình bằng màu chín đỏ của trái chín rừng rực đổ từ ngọn cây cổ thụ xuống như mưa gló... Tôi mang chiếc áo dài của rừng xanh trên lưng mình trong hình ảnh chiếc dù bông màu cỏ úa ngụy trang về thành phố Sài Gòn giữa ngày 30-04-1975. Những ngày đầu thống nhất đất nước ấy, tôi bị biển áo dài trên các giảng đường đại học vây bủa trong những lần đến đọc thơ, áo dài miền Nam, áo dài Sài Gòn với tôi lúc ấy thật lạ lùng khêu gợi.

Áo dài thủa trước gần chấm đất đã được cuộc cách mạng lưng lửng Sài Gòn kéo lên dưới đầu gối chừng mười lăm hai mươi phân, làm cho vẻ áo dài chợt chông chênh, lắt lẻo như cầu tre gập ghềnh khó đi của thon thả, của đứt đoạn mây trời pha chút buông thả hớ hênh. Chiếc áo dài lưng lửng xuân, lưng lửng gió, lưng lửng kín, lưng lửng hở Sài Gòn đã chinh phục cả nước gần hai mươi năm, tạo ra nét thẩm mỹ chông chênh chìm nổi của bồng bềnh tung hứng gió bay và mắt nhìn cũng theo gió, theo vết đứt đoạn của cách tân áo dài bay đi cùng cảm hứng xuân xanh. Những ngày đầu giải phóng, cơn lũ lụt áo dài trắng sinh viên cuốn tôi đi tý nữa chìm nghỉm, tý nữa chết đuối trong vạt áo dài văn khoa đầy hoa bướm của khung trời Duy Tân đại học.

Hai mươi năm qua áo dài lưng lửng phủ đầu gối chừng như nhớ thuở ngày xưa gần chấm đất nên nó đột ngột quay về nẻo Diễm xưa, nẻo gái tân thời 32-45 cùng tân thời thơ mới, tân thời thư tình và tân thời lưu bút của văn chương mực tím xa xôi thời Đồng Khanh, Trưng Vương, Gia Long... lồng lộng tà áo dài tung bay cùng buổi tan trường. Người ta lại kéo áo dài xuống gần chấm đất để đôi chân hay đôi giò cao chân sếu nữ sinh viên được tham dự vào dòng chảy thẩm mỹ áo dài mà thêm yêu kiều nữ tính. Áo dài lưng lửng lãng mạn sau khi trôi dạt trong đứt đoạn khoe chân, theo thẩm mỹ hơ hớ nay bỗng nhuần nhụy quay về nét cổ điển xưa mà mộng mơ trong ẩn dụ đa tình, trong vỏ bọc của mây bay gió thổi. Áo dài như sông chảy qua mùa khô của thời gian cạn nước, nay lại quay về mang hồn vía mùa mưa mà tràn đầy hai vạt mến yêu. Tôi đã viết bài thơ tặng người đẹp càng đẹp hơn trong chiếc áo dài thi ca, áo dài hội họa, và áo dài của sông nước chiêm bao :

Dòng đời con nước vào qua
Trái tim mắc cạn trong tà áo bay !
Cỏn con một sợi lông mày
Mà đem cột trái đất này vào anh


Chiếc áo dài như dòng sông thời gian, dòng sông của cái đẹp chảy qua người đàn bà làm trái tim nàng bị mắc cạn hay chính vì có dòng sông tuyệt vời kia làm cánh đàn ông phải chết đuối trong tà áo dài, để trái tim đa tình mình muôn năm bị mắc cạn trên đó ? Xem cuộc biểu diễn thời trang của mùa xuân đi tết, tôi biết thêm rằng áo dài đang hóa thân vào cuộc sống hôm nay, như niềm tự hào cho cái đẹp vĩnh cửu của một đất nước mặc áo dài với hai vạt Trường Sơn, Biển Đông làm nên lịch sử Việt Nam. Chiếc áo dài ấy không chỉ là triết học sống mà còn là văn hóa, là lịch sử thẩm mỹ Việt Nam trôi chảy trên thân hình con cháu bà mẹ Âu Cơ kiều diễm. Chiếc áo dài ấy là tâm hồn tôi vừa hoá mây trời, hóa mùa xuân gió thổi lênh đênh đi tết cùng sông Hồng yêu dấu... 

Sông Hồng đang mặc chiếc áo dài dân tộc mà đi…yêu nước ngoài biển Đông, giữ nước ngoài biển Đông, giữ lấy Hoàng sa, Trường Sa như giữ lấy những gì mà Minh Hằng, Phương Bích, Kim Tiến …đang dấu yêu và gìn giữ.,.

TRẦN MẠNH HẢO


*Bài do tác giả gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!


NHỮNG CUỐN SÁCH MỚI NHẤT TRÊN GIÁ

Lâm Khang thư viện vừa tiếp nhận các ấn phẩm do bạn bè gửi tặng. Chúng tôi chân thành cám ơn và xin trân trọng giới thiệu với chư vị 









Nguyễn Xuân Diện-Blog hân hoan giới thiệu cùng chư vị

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

ĐBQH NGUYỄN MINH HỒNG KIÊM THÊM NGHỀ VUỐT ĐUÔI

Trình Luật Nhà thơ:
ĐB Nguyễn Minh Hồng kiêm thêm nghề vuốt đuôi

Ông Nguyễn Minh Hồng, đại biểu Quốc hội khóa 13, thuộc đoàn đại biểu tỉnh Nghệ An. Ông Hồng có một phòng khám nằm trên đường Lý Thường Kiệt, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Phòng khám này liên tục quảng cáo trên báo Công an Nghệ An về biệt tài chữa hôi nách. Như vậy, ông Nguyễn Minh Hồng thuộc vào hàng ba trong một: đại biểu Quốc hội, nhà văn, bác sỹ. Và ông này cũng phát về đường ti vi lắm, hình như mỗi tuần một lần, ông lên hình ở Truyền hình Nghệ An (NTV) để tư vấn sức khỏe. Hồi đang còn vận động ứng cử vào Quốc hội khóa 12, các cựu chiến binh ở Nghệ An, mà nổi lên là Thiếu tướng Bùi Đức Tùng đã có rất nhiều đơn thư tố cáo ông Nguyễn Minh Hồng đã bỏ ra khỏi Đảng chứ không phải là người ngoài Đảng như nêu ở trích ngang. Ông Hồng thấy Đông Âu và Liên Xô sụp đổ thì bỏ Đảng luôn. Nghe các bác cựu chiến binh nói, ông này còn buộc vợ mình phải bỏ Đảng, nếu không sẽ bỏ vợ. Không biết có đúng không nhưng cuối cùng là ông bỏ vợ.

Hồi vận động bầu cử Quốc hội khóa 13, ông Hồng đã không trả lời được câu hỏi của một cử tri thành phố Vinh, rằng: “Theo tôi được biết, ông đã bỏ sinh hoạt Đảng vì không tin Đảng nữa. Vậy, nay ông vào Quốc hội để làm gì? Ông vào QH thì làm sao mà bảo vệ được quyền lợi cho chúng tôi?”.

Trên đã nói, ông Nguyễn Minh Hồng là ba trong một. Nay phát hiện thêm một nữa, là bốn trong một. Đó là, ngoài đại biểu QH, bác sỹ, nhà văn, ông này còn có thêm nghề vuốt đuôi. Ô hay, nghề vuốt đuôi là nghề gì, mà ông Minh Hồng vuốt đuôi cho ai vậy?

Liên tục quảng cáo trên báo CA Nghệ An
Khỏi cần phải dài dòng, ông Nguyễn Minh Hồng vuốt đuôi ông Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Ông nghị Minh Hồng là người phát kiến nên Luật Nhà thơ, chính ông đề nghị ra Luật chập cheng này đấy. Chính vị đại biểu khả kính này (Hôm đó tôi không bỏ phiếu cho ông Minh Hồng đâu, thề!) đã khẳng định: “Ý kiến của chúng tôi, với tư cách là thành viên của Hội nhà văn thì chúng tôi rất muốn đưa luật này lên….Luật biểu tình thì rất cần thiết là đòi hỏi bức xúc hiện nay. Là một đại biểu QH, nếu phải lựa chọn giữa luật biểu tình và luật nhà văn, tôi sẽ chọn luật nhà văn”. Thế là đã rõ tác giả, chính là đại biểu kiêm nhà văn, kiêm bác sỹ - Nguyễn Minh Hồng, quê quán Thanh Chương, Nghệ An. Có người bảo, có lẽ do bác này quê Nghệ An, mà ở Nghệ An thì cả tỉnh làm thơ nên đề nghị ra Luật nhà thơ cho nó...hoành! Nhà thơ Trần Mạnh Hảo chẳng đã từng viết: 

“Đến cỏ dại cũng trở thành chữ nghĩa 
Đồ Nghệ Sông Lam dạy biển cả học bài” 

Nhưng không. Báo chí truy vấn, và ông bốn trong một đã khai ngay: “Sáng kiến này không phải của tôi. Đó là trong một hội nghị của Hội Nhà văn, đồng chí Hữu Thỉnh đề xuất và tôi có hứa sẽ trình Quốc hội”. Té ra là vậy. Thế thì đích thực Minh Hồng vuốt đuôi Hữu Thỉnh. Vì ai đã cho Minh Hồng vào hội nhà văn? Văn Minh Hồng ai ngửi, chắc lại là bác Hữu Thỉnh như đã làm với Trần Gia Thái ấy mà. Vậy thì, Hữu Thỉnh nói, Minh Hồng nghe, rồi ve vãn ra Quốc hội. Nếu được thông qua thì, luật này phải gọi là luật trả ơn!

Đúng là ông Nguyễn Minh Hồng chuyền sang nghề vuốt đuôi thật rồi!


                                                                                Thắng Xòe

*Bài do tác giả gửi NXD-Blog.

Đọc thêm:
QUỐC HỘI SẮP BÀN LUẬT THƠ ?

I

Quốc hội sắp bàn luật thơ
Chuyện xưa chưa có bao giờ
Nước mình thi ca toàn quốc
Nên đành phải có luật thơ !

Mai này bà con nhớ nhé
Xin cái giấy phép làm thơ
Chớ vì cảm hứng bất chợt
Có ngày phạm luật, quay lơ !

II

Hay tin Quốc hội bàn luật thơ
Dân chúng khắp nơi bỗng sững sờ
Quốc gia đại sự không nghĩ đến
Sao lại đi bàn chuyện nhà thơ?

Nhà thơ có chi mà làm luật
Phận nghèo ngác ngác lại ngơ ngơ
Quốc hội có thương tăng nhuận bút
Để mọi thi nhân đỡ xác xờ.

                                    03-11-2011
                                Nguyễn Duy Xuân

GIÁO XỨ THÁI HÀ KHỞI KIỆN UBND QUẬN ĐỐNG ĐA

Nhà thờ Thái Hà vừa có Đơn khởi kiện UBND quận Đống Đa do Linh mục Giuse Nguyễn Văn Phượng ký, kiến nghị Tòa án buộc UBND Quận Đống Đa thu hồi, hủy bỏ Quyết định xử phạt số 5487 QĐ-XPHC do có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà thờ Thái Hà.

Dưới đây là toàn văn Đơn Khởi kiện:



Nguyễn Xuân Diện - Blog không có lời bình luận!
______________________

Ghi bên lề: 

Tôi là Phật tử, không có hiểu biết nhiều về Công giáo, mặc dù từ hồi còn là sinh viên, vẫn thường đến nhà thờ để xem Thánh lễ mỗi dịp Noel. 

Từ sau khi xảy ra một số vụ việc có liên quan đến nhà thờ thì có quan tâm xem các tin tức về nhà thờ. Tôi có cảm nhận rằng trong ứng xử, bên nhà thờ đã: Văn minh - Kiềm chế - Tự tin - Hiểu luật. Và bà con công giáo thì: Đoàn kết - Yêu thương - Chịu đựng - Kiên quyết. 

Từ sau khi chúng tôi bị Đài Phát thanh & Truyền hình Hà Nội, báo An Ninh Thủ đô, báo Hà Nội Mới, đứng đầu là các ông Trần Gia Thái, Đào Lê Bình, Tô Phán vu khống, bịa đặt, chụp mũ trắng trợn thì chúng tôi càng hiểu và cảm thông hơn với nhà thờ.

Chúng tôi là Phật tử, cũng cầu mong bà con công giáo An lành, Hạnh phúc!
________________________________________________________

MỘT CỰU ĐẠI TÁ CÔNG AN GỬI THƯ CHẤT VẤN CHÁNH ÁN TÒA ĐỐNG ĐA


Thưa chư vị,

Sáng qua 03.11.2011, Ông Nguyễn Đăng Quang, Đại tá công an đã nghỉ hưu, một trong 10 người khởi kiện Đài Phát thanh & Truyền hình Hà Nội đã gửi đến Ông Đào Bá Sơn, Chánh án Tòa án Nhân dân quận Đống Đa, Tp Hà Nội bức thư chất vấn.

Đây không phải là bức thư ngỏ, nhưng có đề cập đến một vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm, theo dõi. Được biết, bức thư này đã đến tay ông Chánh án Tòa Đống Đa. 

Được phép của Ông Nguyễn Đăng Quang, chúng tôi quyết định công bố bức thư này để chư vị được tường. Chúng tôi cũng chờ đợi để đăng tải Thư hồi âm của Ông Chánh án. 

Toàn văn Thư chất vấn, dưới đây:







Ô HÔ ! HÓA RA HỮU THỈNH LÀ THẰNG BÁN TƠ

Hóa ra Hữu Thỉnh làm nghề … bán tơ!

Gốc Sậy 

 

 

ĐB Nguyễn Minh Hồng (Nghệ An), hội viên Hội Nhà văn VN


Cả làng... văn, cả nước đang xôn xao vụ Luật  Nhà văn.
Nhà cháu may đã thoát kiếp thần đông nhưng nghe cũng GAI cả người.
Hôm qua
nhà cháu đọc được trên nhà ANH BA SÀM cái còm của bác Cà Dái dê (đã biên tập lỗi 'chú đánh máy') lúc 08:05 (http://anhbasam.wordpress.com/2011/11/03/tin-thu-nam-03-11-2011/#comment-65821)

LUẬT NHÀ THƠ.

CHƯƠNG 1. NHÀ THƠ
Điều 1. Quy định chung
1. Những người được Hội Nhà Thơ Việt Nam cấp chứng nhận ” NHÀ THƠ” mới được gọi là Nhà Thơ.
2. Người không có "bằng NHÀ THƠ” mà xưng là nhà thơ, thi sĩ, thi nhân, thi hào …. thì bị phạt phải làm đầy tớ cho một nhà thơ có bằng cấp từ 01 đến 07 ngày.

Điều 2. Trách nhiệm Nhà Thơ
Nhà thơ phải sáng tác thơ, trong 01 (một) năm phải sáng tác ít nhất một bài thơ ca ngợi đất nước, ca ngợi đảng.

Điều 3. Quyền lợi Nhà Thơ.
Nhà thơ được Nhà Nước tạo điều kiện tốt nhất để có cảm hứng sáng tác thơ.
- Lấy tiền ngân sách tổ chức đưa Nhà Thơ ra ngoài nước du hí tìm cảm giác mới lạ phục vụ sáng tác.
- Nhà Thơ đựơc mua rượu với giá rẻ bằng một nửa giá thị trường.
- Nhà Thơ được hút thuốc lá, thuốc lào nơi công cộng.

Điều 4. Trách nhiệm của Hội Nhà Thơ Việt Nam.
- Phát hiện và nhân giống các tài năng thơ, phân đấu đến năm 2020 có một Nhà Thơ đoạt giải Nô-ben.
- Phát triển phong trào toàn dân làm thơ
- Tổ chức các lễ hội: đọc thơ, ngâm thơ, bình thơ,………

CHƯƠNG 2. THƠ.
Điều 1. Lấy bài thơ CON CÓC là quốc thơ.

…………………………………………………………..

Ngạc nhiên vì sao QH là thừa thì giờ quá thể thê, nhà cháu tìm được THỦ PHẠM là ĐBQH bác sĨ kiêm nhà văn Nguyễn Minh Hồng.

 

Ông này từng bảo: phải tập phát biểu ở nhà không dưới 10 lần, nói một mình trong phòng, bấm đồng hồ, thấy quá 7 phút thì cắt bớt, chọn lựa từng câu, từng chữ… 

 

mà sao nay lại HÀM HỒ quá:
Hiện nay, tất cả các lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội đều được luật hóa trong khi văn học là lĩnh vực quan trọng như vậy trong tiến trình phát triển xã hội mà lại không có luật là không phù hợp. Ý kiến của CHÚNG TÔI VớI TƯ CÁCH LÀ THÀNH VIÊN CủA HộI NHÀ VĂN THÌ CHÚNG TÔI RấT MUốN ĐƯA LUậT NÀY LÊN, còn quyết định như thế nào thì QH còn xem xét, nghiên cứu. LUẬT BIỂU TÌNH THÌ RẤT CẦN THIẾT, LÀ ĐÒI HỎI BỨC XÚC HIỆN NAY. LÀ MộT ĐạI BIểU QH, NẾU PHẢI LỰA CHỌN GIỮA LUẬT BIỂU TÌNH VÀ LUẬT NHÀ VĂN THÌ TÔI VẪN CHỌN LUẬT NHÀ VĂN.
 

 

Nhà cháu xin ‘BẬP BÊNH’ rằng: Chắc ông sợ không ai biết ông là nhà văn nên PR.
Chứ nói luật nhà văn CẦN THIẾT, LÀ ĐÒI HỎI BỨC XÚC HIỆN NAY, HƠN CẢ LUẬT BIỂU TÌNH thì đúng là… ‘đầu toàn mủ’.

 

Xin cung cấp thêm 1 câu LỔI TIẾNG của ông: Tôi cũng coi vào QH như một đợt đi chiến trường vào miền Nam, đi về phải nghỉ để cho người khác đi.” 

 

Hóa ra ông ta coi đi B chiến đấu là “Hoa thơm mỗi người ngửi tý”.
Xin lỗi ông! SỢ CHẾT THÌ NÓI MỊA NÓ RA CÒN VĂN VỞ !

 

Khi bị báo chí TRUY là “người đề xuất Luật nhà văn”, ông KHAI ngay ‘đồng chí’ của mình:
Ông là người kiến nghị làm luật này, vậy ông có sẵn sàng trình dự án luật ra Quốc hội không?
- Sáng kiến này không phải của tôi. Đó là trong một hội nghị của Hội Nhà văn, ĐồNG CHÍ HữU THỉNH Đề XUấT và tôi có hứa sẽ trình trước Quốc hội. Vì vậy TÔI CHỉ LÀ NGƯờI LÀM CầU NốI Để TRÌNH ý tưởng của Hội Nhà văn thôi.

. 

Ô hô, “Hóa ra Hữu Thỉnh làm nghề … bán tơ !”

 

Bà Nghị HÉ HÉ Đặng Thị Hoàng Yến bị khui chuyên ly hôn bầy hầy, lập tức "sẵn-sàng-bỏ-tiền-túi-" để làm và đòi QH duyệt Luật Bảo vệ quyền riêng tư.


Ông Hữu Thỉnh và ông bác sĩ Hồng thì ĐỨNG TRÊN MẶT CÁC NHÀ VĂN
để đòi duyệt Luật Nhà văn.

 

Cứ đà này thì mai một dân Việt Nam sẽ phải sống giữa 1 RỪNG LUẬT.

 BONUS:
- Rảnh
- Hoan hô Quốc hội sắp ban hành luật nhà thơ
- THỬ HÌNH DUNG LUẬT NHÀ THƠ

- Tố cáo về đại biểu Đặng Thị Hoàng Yến có nội dung đúng

 

*Bài do bác Gốc Sậy gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin tán thán công đức của bác Gốc Sậy!


TRẦN MẠNH HẢO: SỰ MẶC KHẢI CỦA THI CA

Sự mặc khải của thi ca
Trần Mạnh Hảo

I. Thi ca - giấc mơ về tuổi thơ nhân loại: 

Kinh Thánh không chép được lời của Eva xui Adam ăn trái cấm. Chỉ biết rằng khi đôi môi ma túy của nàng ghé sát vào tai chàng, chợt cơn thèm ăn trái cấm bùng vỡ trong cuống họng chàng, bất chấp lời răn đe chết người của thần linh. Mắt Adam chỉ nhìn thấy trái cấm trong y phục lõa thể của tòa thiên nhiên tuyệt mỹ. Chàng đã hành động chiều theo ý người đẹp, để chia tay sự bất tử, đồng thời nhận lấy tình yêu và cái  chết. Có lẽ, lời thì thầm của Eva khuyên Adam ăn trái cấm hôm đó là bài thơ đẹp nhất  của nhân loại? Vì vậy người đời đã gọi thi ca bằng cái tên diễm lệ: Nàng Thơ.

Thi ca và tình yêu do đó đã được sinh ra đồng thời với niềm xúc cảm tuyệt vời của ngôn từ, thông qua tiếng nói linh thiêng  của Eva, đánh thức trái tim gỗ đá Adam, khiến nó phát lộ đam mê cùng tận. Nếu phẩm hạnh của triết học là hoài nghi, của tôn giáo là đức tin, thì phẩm hạnh của thi ca là rung cảm và mơ mộng. Thi ca và tình yêu đều được phát nguyên từ cội nguồn trái tim con người, thông qua hình tượng và ngôn ngữ. Chừng như sự xuất hiện tiếng nói trong vườn Eden còn quan trọng hơn sự hiện diện của Thượng Đế.

Bởi vì trong buổi bình minh của nhân lọai, tiếng nói cũng được đồng nghĩa với thần linh. Eva và Adam cùng dắt tay nhau, một bàn tay nàng vịn vào tình yêu, một bàn tay chàng vịn vào thi ca, trả lại Thượng Đế sự bất tử để đi về phía mồ hôi, nỗi thống khổ, khoái lạc và cái chết có tên là trần thế. Từ đó, thi ca là giấc mơ của con người luôn luôn khao khát tìm về thời ấu thơ của mình trong vườn địa đàng ký ức. Nơi đó, con người sống chung với thần linh trong gia đình vũ trụ. Nơi đó, như kinh Veda mô tả, con người không thể và không muốn phân biệt mình với một đám mây, con bò hay thần thánh. Tất cả là nhất nguyên đơn sơ mà kỳ lạ, lắng đọng mà riêng rẽ, hài hòa mà phân thân .

Kinh Cựu Ước nói rằng Thượng Đế đã sáng tạo ra con người theo hình ảnh của mình. Điều này phải nói ngược lại mới chính xác. Sự sáng tạo ra khái niệm Thượng Đế là sự sáng tạo vĩ đại nhất của con người để tháo bỏ cái lốt cuối cùng của dã thú, sau khi tiếng nói và tư duy xuất hiện. Chính ý thức đã ném con người vào vũ trụ cô đơn, khiến nó sợ hãi vô cùng trước hư vô và cõi chết.

Để có một cứu cánh, một nơi bấu víu cuối cùng vào thế giới trơn tuột này, con người đã rất thông minh khi sáng tạo ra người bạn vĩ đại toàn năng theo hình ảnh của mình, như cái phao trên biển cả để vượt thoát nỗi cô đơn và cái chết. Người bạn đó, cái phao cứu hộ đó có tên là thần linh. Thiêng liêng hóa hình ảnh của mình là bước tiến nhân bản nhất của khởi nguồn nhân loại. Có thể nói, thần linh đã được sinh ra trong cảm hứng thi ca, trong rung cảm cô đơn tột cùng của con người. Ngay cả khi con người đã thoát khỏi đa thần giáo, Thượng Đế của các tôn giáo hầu như đều là đứa con sinh đôi đồng thời với thi ca .

Apollon, vị thần thi ca uy quyền vào loại bậc nhất trong thần thoại Hi Lạp là hứng khởi của chiến thắng trừ cha mình là thần Zeus. Apollon có mặt trong hầu hết sự sáng tạo nơi đỉnh Olempo, tham dự vào mọi xúc cảm của vũ trụ và con người. Chừng như chính Apollon đã hóa thân vào Homère để sáng tạo ra thiên anh hùng ca Iliade và Odyssée ? Thi ca hay là sự huyền ảo của tuổi thơ nhân loại, một lần nữa, đã được một người trần mắt thịt là Homère đưa trở lại vườn Eden Hi lạp.

Ở đó, nhờ thi ca, thần linh được sống kiếp con người với tất cả bản năng nguyên thủy, với vẻ đẹp của đam mê, khoái lạc và tội lỗi. Có thể ngày nay thần linh đã rời bỏ đỉnh Olempo huyền thoại, nhưng thi ca đã không rời bỏ con người. Thi ca đã hóa thân thành nàng Pelenop,luôn luôn biết cách đợi chờ niềm thi hứng của con người, như đã từng đợi chờ chàng Odyssée trở về từ cuộc lãng du thần thoại. Từ độ con người chia tay với Thượng Đế, đi theo tiếng gọi của tình yêu và nỗi chết trong cuộc trưởng thành thống khổ của nhân loại, nó luôn tìm cách trở lại tuổi thơ của mình, trở lại vườn địa đàng tìm lại trái cấm thuở ban đầu ngon ngọt. Cuộc hành hương mơ mộng ấy có tên là Thi Ca . 

II.Thi ca hay là sự cứu rỗi của cái Đẹp. 

Trong cuốn “Thi Pháp”, Aristote đã gọi khoa học, nghệ thuật, trong đó hàm chứa cả khái niệm nguyên thủy linh hồn và Thượng Đế bằng một cái tên rất khải thị là Thi Ca. Chừng như khái niệm Thi Ca của Aristote có nét gì đó hao hao với khái niệm Đạo của Lão Tử, mặc  dù chữ Đạo của Lão có phần căn nguyên và rốt ráo hơn. Triết học, nói cho cùng đã được giáng sinh trong máng cỏ ấm nồng của niềm hứng khởi thi ca. Vũ trụ được gói trong một chữ Dịch của Khổng Tử hay một chữ Đạo của Lão chỉ có thể đi vào tâm trí con người bằng niềm xao xuyến thi ca. Ngay cả thế giới ý niệm duy tâm của Platon cũng phải thông qua hình ảnh ngôn từ,trong nỗi xúc cảm dù thoáng gợn lăn tăn của thi ca. Có thể mượn lời của Socrate nói về mình để nói về thi ca: “Mẹ tôi đỡ đẻ cho những sản phụ,tôi đỡ đẻ cho những bộ óc .”

Thi ca – bà đỡ kỳ diệu của triết học, đã tìm ra phép cắt rốn cho niềm siêu hình tăm tối, khiến cái tưởng như già cỗi nhất, khô cằn nhất biết cất lên tiếng khóc non tơ chào đời trong ánh sáng của suy tưởng và xúc cảm. Vì vậy, chúng ta dễ giải thích vì sao nền văn minh Trung Hoa được khởi nguồn bằng bộ Kinh Thi vĩ đại. Hầu hết các nền văn minh đều được sinh thành từ nguồn sữa Thi Ca. Văn mimh Hi Lạp bắt đầu từ thần thoại của thần thi ca Apollon và nữ thần Athena, vị thần của văn học và điêu khắc. Văn minh Do Thái khởi phát từ các chương Thi Thiên trong Cựu Ước. Trường ca Veda là nền tảng cho nền văn minh bí ẩn Ấn Độ .

Đức Phật, Chúa Jésus hay tiên tri Mahomet… nói cho cùng đều là những nhà thơ lớn vào bậc nhất nhân loại. Khởi nguồn, thông qua sự mặc khải thi ca, tôn giáo đã tìm đến con người với đôi tay bè bạn, với tiếng nói của tình nhân, với niềm an ủi sẻ chia hơn là niềm cứu rỗi. Tôn giáo mượn con đường thi ca để con người tìm ra đối trọng trước hư vô, đặng hoá giải cái chết, mang đến cho cái chết xiêm y trần gian xúng xính và một bộ mặt đầy thiên giới, do đó cũng đầy nhân tính hơn. Tôn giáo đã dùng thi ca làm đôi cánh để đưa con người bay qua vực thẳm cô đơn, giúp con người có thêm người bạn đồng hành Thượng Đế. Người bạn siêu phàm kia cũng chính là sự hoá thân của con người thông qua xúc cảm thi ca đầy mộng mơ và lãng mạn.

Nếu triết học đi tìm sự khôn ngoan, tôn giáo đi tìm thần linh thì thi ca đi tìm cái Đẹp. Chiến tranh, cuồng tín, dịch bệnh, thiên tai…hàng mấy nghìn năm qua đã đe dọa cái Đẹp của con người bằng sự dung tục hóa, bằng lòng tham và thù hận, nhưng không tước đọat được niềm mộng mơ đầy thi vị của nhân loại.

Bởi vì thi ca chính là hài nhi trong máng cỏ loài người, là sự hồn nhiên nhất của tuổi thơ nhân loại còn sót lại. Nếu đứa trẻ con ấy không còn, thì đôi mắt ngây thơ của loài người cũng biến mất, đồng thời cái Đẹp cũng biến mất. Nếu triết học là sự già giặn, là ông lão của con người thì thi ca càng cần phải giữ lấy tính trẻ con của nhân loại. Người Trung Hoa đã nhìn ra điều đó nên gọi Tạo Hóa là hóa nhi. Vì mãi giữ được sự trẻ con như vậy, nên Tạo Hóa chính là nhà thơ vĩ đại nhất đã sáng tạo ra vũ trụ và con người trong niềm thi hứng vĩnh cửu, rồi truyền cho con  người xúc cảm thi ca khởi nguồn mọi sáng tạo ấy. Chính vì vậy, cái Đẹp đã được thi ca cứu chuộc trên cây thập tự của xúc cảm ngôn từ . 

III. Thi Ca trong đời sống tâm linh người Việt. 

Trong lịch sử thi ca thế giới, hiếm thấy tác phẩm nào đi sâu vào đời sống tâm linh con người như Truyện Kiều của Nguyễn Du đối với dân tộc Việt Nam. Hiện tượng bói Kiều của người bình dân đã chứng tỏ vai trò của thi ca trong đời sống xã hội thật to lớn, mặc dù Truyện Kiều mới xuất hiện trên hai trăm năm nay. Chừng như Thi Ca đã mượn Nguyễn Du để cài vào mỗi câu, mỗi trang Kiều toàn bộ bí ẩn của đời sống với sự mặc khải về một tôn giáo mới-tôn giáo của cái đẹp. Trong hố thẳm tuyệt vọng, thi ca đã để sẵn một bàn tay dìu dắt.

Trong trái cây đau khổ, thi ca là cái nhân cựa quậy một niềm vui rón rén nảy mầm. Bằng hai bàn tay may rủi, con người tìm cách bấu víu vào mỗi câu Kiều như bấu víu vào ánh lửa le lói trong chính tâm hồn mình, đặng nhờ thi ca mách bảo những điều mà thần linh không thể mách bảo. Thi ca tìm đến với con người không phải bằng nỗi sợ hãi thần thánh của tôn giáo mà bằng niềm tri âm tri kỷ rất tình nhân, an ủi mà không thương hại, trìu mến mà không ban phát, say đắm mà không cuồng dại. Cái đẹp nơi Truyện Kiều không chỉ cần được giải mã bằng tiếng kêu thương, bằng niềm khắc khoải, mà còn cần được giải mã bằng đức tin và niềm hi vọng .

Người ta chắp tay để: “Lạy ông Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều…” như là để lạy chính nỗi thống khổ của kiếp người, lạy sự chịu đựng, sự hi sinh, thậm chí yếu đuối thiệt thòi của cái thiện, lạy cái phần bị đày ải nhất của nhân sinh. Ở nơi đó là “thập loại chúng sinh”, cái gốc của cái đẹp nâu sồng mà mimh triết,giản dị mà bền vững. Do vậy, chúng ta hiểu vì sao thi ca có lúc đã biến thành kinh kệ trong đền chùa miếu mạo như trường hợp “văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du và của một số nhà thơ khác.

Trước khi tam giáo được truyền vào Việt Nam,thi ca đã xuất hiện cùng với tuổi bình minh của dân tộc. Nền văn chương truyền miệng với ca dao tục ngữ đã làm nên dấu ấn tâm hồn Việt Nam, tạo nên bản sắc thẩm mỹ của đời sống tinh thần dân tộc. Trong chừng mực nào đó, thi ca với gương mặt ca dao tục ngữ là nơi ký gởi ký ức và kinh nghiệm nhân sinh của cộng đồng, đồng thời thi ca còn đóng vai trò như những câu kinh trong tôn giáo, giúp con người có cơ hội tìm lại hình ảnh mình trong đời sống tâm linh, thông qua nỗi xúc cảm và vẻ đẹp của thế giới trong tư duy , trong ngôn từ. Sự sáng tạo ra thể thơ lục bát trong ca dao phải chăng là sự sáng tạo kỳ vĩ nhất của thi ca dân tộc, là nhịp đưa nôi của tuổi thơ Lạc Việt, là tiếng ầu ơ của của mẹ Âu Cơ, của biển ru bờ.

Nhịp thơ sáu tám dường như cũng đưa đẩy, gập ghềnh, trầm bổng theo vận nước nổi trôi, theo dáng hình tia chớp của một đất nước mà lịch sử luôn giành cho những con đường khúc khuỷu, cam go. Cái hồn nước đã được thi ca gởi gắm trong lục bát ca dao, may mắn thay thế hệ chúng ta vẫn còn giữ được, mặc những hò hét hiện đại chủ nghĩa, mặc những dòng thơ lai căng tây hoá giả cầy. Cái hồn lục bát ca dao mới mẻ mãi mãi kia chính là của ăn đường, là vốn liếng của hành trình thi ca dân tộc. Nó được lời thêm, giàu thêm bởi Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Huy Cận…Nó rung động ngay cả niềm tin tôn giáo của dân chúng trong điệu hát chầu văn nơi đình chùa lễ hội, khơi dậy niềm vui sống trong làn điệu chèo, quan họ, ví dặm hoặc hát đúm. Lục bát như sợi dây lạt buộc lời giao duyên, buộc liền anh vào liền chị, buộc bộ tộc Lạc Việt vào mảnh đất hình chữ S này trong niềm đa cảm của nền văn minh lúa nước .

Dân tộc chúng ta đã tiếp nhận Phật giáo, Nho giáo,Đạo giáo thông qua đôi mắt hồn nhiên, mơ mộng, thông qua một tâm hồn thi sĩ. Tôn giáo được truyền vào nước ta không chỉ có niềm tin siêu hình, mà còn cả nét tinh hoa của văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ . Phật giáo được kết hợp với triết học đầy thi hứng của Lão Trang truyền qua nước ta sau khi đã được truyền trực tiếp từ Ấn Độ. Từ thiền phái của nhà sư Tây Trúc Ti-ni-đa-lưu-chi đến thiền phái của nhà sư Trung Hoa Vô Ngôn Thông đã tạo ra thiền tông Trúc Lâm Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ chính là công cuộc Việt hoá thiền tông trong cảm xúc thi ca bí ẩn của đời sống tâm linh dân tộc. Thiền,hay chính là thi ca được cô tịch trong tột cùng im lặng ? Cuộc đi tìm Niết Bàn trong mỗi tâm hồn con người hoá ra lại thông qua niềm hứng khởi thi ca, thông qua xúc cảm về cái đẹp hằng sống trần gian hơn là đi tìm chỗ bấu víu trong hư không thăm thẳm. Hầu hết các nhà sư thời Lý đều là những nhà thơ thiền như Không Lộ thiền sư, Mãn Giác thiền sư…Phật giáo thông qua đôi mắt ngơ ngác huyền ảo Lão Trang tạo tiền đề cho Thiền xuất hiện, được truyền qua Việt Nam trong tinh thần thực tiễn thâm sâu Nho giáo, kết hợp với cái mộc mạc hồn nhiên, dân dã, giản dị và chân thành Giao Châu, tạo ra hàng loạt nhà thơ, những người hướng dẫn tinh thần dân tộc như: Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn, Lã Đinh Hương, Lý Phật Mã…Thi ca đã biết cách cư trú nơi chùa chiền miếu mạo không phải trong vai trò tín đồ hay sư sãi, mà là biểu hiện của cái Đẹp, là nét xao xuyến trần gian ngay trong lòng siêu hình hư tưởng .

Thi ca – con đường sương khói dẫn đến đời sống tâm linh con người, là con thuyền chở Đạo, đồng thời cũng biết cách biến mình thành phương tiện tự vệ khi cộng đồng lâm nguy. Huyền thoại về bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt trên phòng tuyến sông Như Nguyệt đã chứng tỏ vai trò, sức mạnh của thi ca trong cuộc đánh bại quân xâm lược qủa là to lớn. Suốt hành trình lịch sử, khi có giặc, thi ca đã thành vũ khí, thành tiếng kèn xung trận. Khi hòa bình, thi ca tham gia vào đời sống đạo hạnh, gìn giữ thuần phong mỹ tục khi Nguyễn Trãi soạn “Gia huấn ca”, Lê Thánh Tông tức cảnh sinh tình, mượn thi ca mà an dân trị quốc …Thi ca tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, gia đình và cá thể. Cuộc sống dù cực nhọc chừng nào cũng phải giữ lấy chất thơ của nó, như giữ lấy cốt cách mộng mơ dân tộc .

Cũng như bao đất nước khác trên hành tinh, đất nước chúng ta bao giờ cũng vẫn là một đất nước thi sỹ. Thi ca đã xuất hiện đồng thời với tiếng Việt, đã song hành với mọi thăng trầm lịch sử, đã góp phần to lớn trong sự hình thành bản sắc văn hóa và nền tảng tinh thần dân tộc. Nhiều người lo sợ cho sự tồn tại của thi ca trước sự xâm lăng toàn diện của chủ nghĩa thực dụng thời kinh tế thị trường khắc nghiệt này. Không, thi ca vẫn là dòng nước ngầm nuôi dưỡng sự xanh tươi trong đôi mắt hồn nhiên ngơ ngác của dân tộc. Thiếu đôi mắt hồn nhiên kia, thi ca có thể sẽ ra đi cùng với sự ra đi của ngôn ngữ. Nhưng thảm hoạ ấy sẽ không bao giờ xảy ra, khi thi ca mãi mãi giữ lại cho chúng ta cái tuổi thơ huyền nhiệm của dân tộc và nhân loại. Ở đó, trong đời sống tâm linh con người, thi ca bao giờ cũng là niềm mặc khải của Chân Thiện Mỹ, hoài niệm và tiên cảm cho chúng ta về một thế giới mãi mãi tồn tại trong nỗi xúc động ban đầu…

——————————————————————————————————————
Nguồn: Văn học – Phê bình – Tranh luận, NXB Lao Động, Hà Nội, 10/2004