Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

ĐBQH NGUYỄN MINH HỒNG KIÊM THÊM NGHỀ VUỐT ĐUÔI

Trình Luật Nhà thơ:
ĐB Nguyễn Minh Hồng kiêm thêm nghề vuốt đuôi

Ông Nguyễn Minh Hồng, đại biểu Quốc hội khóa 13, thuộc đoàn đại biểu tỉnh Nghệ An. Ông Hồng có một phòng khám nằm trên đường Lý Thường Kiệt, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Phòng khám này liên tục quảng cáo trên báo Công an Nghệ An về biệt tài chữa hôi nách. Như vậy, ông Nguyễn Minh Hồng thuộc vào hàng ba trong một: đại biểu Quốc hội, nhà văn, bác sỹ. Và ông này cũng phát về đường ti vi lắm, hình như mỗi tuần một lần, ông lên hình ở Truyền hình Nghệ An (NTV) để tư vấn sức khỏe. Hồi đang còn vận động ứng cử vào Quốc hội khóa 12, các cựu chiến binh ở Nghệ An, mà nổi lên là Thiếu tướng Bùi Đức Tùng đã có rất nhiều đơn thư tố cáo ông Nguyễn Minh Hồng đã bỏ ra khỏi Đảng chứ không phải là người ngoài Đảng như nêu ở trích ngang. Ông Hồng thấy Đông Âu và Liên Xô sụp đổ thì bỏ Đảng luôn. Nghe các bác cựu chiến binh nói, ông này còn buộc vợ mình phải bỏ Đảng, nếu không sẽ bỏ vợ. Không biết có đúng không nhưng cuối cùng là ông bỏ vợ.

Hồi vận động bầu cử Quốc hội khóa 13, ông Hồng đã không trả lời được câu hỏi của một cử tri thành phố Vinh, rằng: “Theo tôi được biết, ông đã bỏ sinh hoạt Đảng vì không tin Đảng nữa. Vậy, nay ông vào Quốc hội để làm gì? Ông vào QH thì làm sao mà bảo vệ được quyền lợi cho chúng tôi?”.

Trên đã nói, ông Nguyễn Minh Hồng là ba trong một. Nay phát hiện thêm một nữa, là bốn trong một. Đó là, ngoài đại biểu QH, bác sỹ, nhà văn, ông này còn có thêm nghề vuốt đuôi. Ô hay, nghề vuốt đuôi là nghề gì, mà ông Minh Hồng vuốt đuôi cho ai vậy?

Liên tục quảng cáo trên báo CA Nghệ An
Khỏi cần phải dài dòng, ông Nguyễn Minh Hồng vuốt đuôi ông Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Ông nghị Minh Hồng là người phát kiến nên Luật Nhà thơ, chính ông đề nghị ra Luật chập cheng này đấy. Chính vị đại biểu khả kính này (Hôm đó tôi không bỏ phiếu cho ông Minh Hồng đâu, thề!) đã khẳng định: “Ý kiến của chúng tôi, với tư cách là thành viên của Hội nhà văn thì chúng tôi rất muốn đưa luật này lên….Luật biểu tình thì rất cần thiết là đòi hỏi bức xúc hiện nay. Là một đại biểu QH, nếu phải lựa chọn giữa luật biểu tình và luật nhà văn, tôi sẽ chọn luật nhà văn”. Thế là đã rõ tác giả, chính là đại biểu kiêm nhà văn, kiêm bác sỹ - Nguyễn Minh Hồng, quê quán Thanh Chương, Nghệ An. Có người bảo, có lẽ do bác này quê Nghệ An, mà ở Nghệ An thì cả tỉnh làm thơ nên đề nghị ra Luật nhà thơ cho nó...hoành! Nhà thơ Trần Mạnh Hảo chẳng đã từng viết: 

“Đến cỏ dại cũng trở thành chữ nghĩa 
Đồ Nghệ Sông Lam dạy biển cả học bài” 

Nhưng không. Báo chí truy vấn, và ông bốn trong một đã khai ngay: “Sáng kiến này không phải của tôi. Đó là trong một hội nghị của Hội Nhà văn, đồng chí Hữu Thỉnh đề xuất và tôi có hứa sẽ trình Quốc hội”. Té ra là vậy. Thế thì đích thực Minh Hồng vuốt đuôi Hữu Thỉnh. Vì ai đã cho Minh Hồng vào hội nhà văn? Văn Minh Hồng ai ngửi, chắc lại là bác Hữu Thỉnh như đã làm với Trần Gia Thái ấy mà. Vậy thì, Hữu Thỉnh nói, Minh Hồng nghe, rồi ve vãn ra Quốc hội. Nếu được thông qua thì, luật này phải gọi là luật trả ơn!

Đúng là ông Nguyễn Minh Hồng chuyền sang nghề vuốt đuôi thật rồi!


                                                                                Thắng Xòe

*Bài do tác giả gửi NXD-Blog.

Đọc thêm:
QUỐC HỘI SẮP BÀN LUẬT THƠ ?

I

Quốc hội sắp bàn luật thơ
Chuyện xưa chưa có bao giờ
Nước mình thi ca toàn quốc
Nên đành phải có luật thơ !

Mai này bà con nhớ nhé
Xin cái giấy phép làm thơ
Chớ vì cảm hứng bất chợt
Có ngày phạm luật, quay lơ !

II

Hay tin Quốc hội bàn luật thơ
Dân chúng khắp nơi bỗng sững sờ
Quốc gia đại sự không nghĩ đến
Sao lại đi bàn chuyện nhà thơ?

Nhà thơ có chi mà làm luật
Phận nghèo ngác ngác lại ngơ ngơ
Quốc hội có thương tăng nhuận bút
Để mọi thi nhân đỡ xác xờ.

                                    03-11-2011
                                Nguyễn Duy Xuân

GIÁO XỨ THÁI HÀ KHỞI KIỆN UBND QUẬN ĐỐNG ĐA

Nhà thờ Thái Hà vừa có Đơn khởi kiện UBND quận Đống Đa do Linh mục Giuse Nguyễn Văn Phượng ký, kiến nghị Tòa án buộc UBND Quận Đống Đa thu hồi, hủy bỏ Quyết định xử phạt số 5487 QĐ-XPHC do có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà thờ Thái Hà.

Dưới đây là toàn văn Đơn Khởi kiện:



Nguyễn Xuân Diện - Blog không có lời bình luận!
______________________

Ghi bên lề: 

Tôi là Phật tử, không có hiểu biết nhiều về Công giáo, mặc dù từ hồi còn là sinh viên, vẫn thường đến nhà thờ để xem Thánh lễ mỗi dịp Noel. 

Từ sau khi xảy ra một số vụ việc có liên quan đến nhà thờ thì có quan tâm xem các tin tức về nhà thờ. Tôi có cảm nhận rằng trong ứng xử, bên nhà thờ đã: Văn minh - Kiềm chế - Tự tin - Hiểu luật. Và bà con công giáo thì: Đoàn kết - Yêu thương - Chịu đựng - Kiên quyết. 

Từ sau khi chúng tôi bị Đài Phát thanh & Truyền hình Hà Nội, báo An Ninh Thủ đô, báo Hà Nội Mới, đứng đầu là các ông Trần Gia Thái, Đào Lê Bình, Tô Phán vu khống, bịa đặt, chụp mũ trắng trợn thì chúng tôi càng hiểu và cảm thông hơn với nhà thờ.

Chúng tôi là Phật tử, cũng cầu mong bà con công giáo An lành, Hạnh phúc!
________________________________________________________

MỘT CỰU ĐẠI TÁ CÔNG AN GỬI THƯ CHẤT VẤN CHÁNH ÁN TÒA ĐỐNG ĐA


Thưa chư vị,

Sáng qua 03.11.2011, Ông Nguyễn Đăng Quang, Đại tá công an đã nghỉ hưu, một trong 10 người khởi kiện Đài Phát thanh & Truyền hình Hà Nội đã gửi đến Ông Đào Bá Sơn, Chánh án Tòa án Nhân dân quận Đống Đa, Tp Hà Nội bức thư chất vấn.

Đây không phải là bức thư ngỏ, nhưng có đề cập đến một vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm, theo dõi. Được biết, bức thư này đã đến tay ông Chánh án Tòa Đống Đa. 

Được phép của Ông Nguyễn Đăng Quang, chúng tôi quyết định công bố bức thư này để chư vị được tường. Chúng tôi cũng chờ đợi để đăng tải Thư hồi âm của Ông Chánh án. 

Toàn văn Thư chất vấn, dưới đây:







Ô HÔ ! HÓA RA HỮU THỈNH LÀ THẰNG BÁN TƠ

Hóa ra Hữu Thỉnh làm nghề … bán tơ!

Gốc Sậy 

 

 

ĐB Nguyễn Minh Hồng (Nghệ An), hội viên Hội Nhà văn VN


Cả làng... văn, cả nước đang xôn xao vụ Luật  Nhà văn.
Nhà cháu may đã thoát kiếp thần đông nhưng nghe cũng GAI cả người.
Hôm qua
nhà cháu đọc được trên nhà ANH BA SÀM cái còm của bác Cà Dái dê (đã biên tập lỗi 'chú đánh máy') lúc 08:05 (http://anhbasam.wordpress.com/2011/11/03/tin-thu-nam-03-11-2011/#comment-65821)

LUẬT NHÀ THƠ.

CHƯƠNG 1. NHÀ THƠ
Điều 1. Quy định chung
1. Những người được Hội Nhà Thơ Việt Nam cấp chứng nhận ” NHÀ THƠ” mới được gọi là Nhà Thơ.
2. Người không có "bằng NHÀ THƠ” mà xưng là nhà thơ, thi sĩ, thi nhân, thi hào …. thì bị phạt phải làm đầy tớ cho một nhà thơ có bằng cấp từ 01 đến 07 ngày.

Điều 2. Trách nhiệm Nhà Thơ
Nhà thơ phải sáng tác thơ, trong 01 (một) năm phải sáng tác ít nhất một bài thơ ca ngợi đất nước, ca ngợi đảng.

Điều 3. Quyền lợi Nhà Thơ.
Nhà thơ được Nhà Nước tạo điều kiện tốt nhất để có cảm hứng sáng tác thơ.
- Lấy tiền ngân sách tổ chức đưa Nhà Thơ ra ngoài nước du hí tìm cảm giác mới lạ phục vụ sáng tác.
- Nhà Thơ đựơc mua rượu với giá rẻ bằng một nửa giá thị trường.
- Nhà Thơ được hút thuốc lá, thuốc lào nơi công cộng.

Điều 4. Trách nhiệm của Hội Nhà Thơ Việt Nam.
- Phát hiện và nhân giống các tài năng thơ, phân đấu đến năm 2020 có một Nhà Thơ đoạt giải Nô-ben.
- Phát triển phong trào toàn dân làm thơ
- Tổ chức các lễ hội: đọc thơ, ngâm thơ, bình thơ,………

CHƯƠNG 2. THƠ.
Điều 1. Lấy bài thơ CON CÓC là quốc thơ.

…………………………………………………………..

Ngạc nhiên vì sao QH là thừa thì giờ quá thể thê, nhà cháu tìm được THỦ PHẠM là ĐBQH bác sĨ kiêm nhà văn Nguyễn Minh Hồng.

 

Ông này từng bảo: phải tập phát biểu ở nhà không dưới 10 lần, nói một mình trong phòng, bấm đồng hồ, thấy quá 7 phút thì cắt bớt, chọn lựa từng câu, từng chữ… 

 

mà sao nay lại HÀM HỒ quá:
Hiện nay, tất cả các lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội đều được luật hóa trong khi văn học là lĩnh vực quan trọng như vậy trong tiến trình phát triển xã hội mà lại không có luật là không phù hợp. Ý kiến của CHÚNG TÔI VớI TƯ CÁCH LÀ THÀNH VIÊN CủA HộI NHÀ VĂN THÌ CHÚNG TÔI RấT MUốN ĐƯA LUậT NÀY LÊN, còn quyết định như thế nào thì QH còn xem xét, nghiên cứu. LUẬT BIỂU TÌNH THÌ RẤT CẦN THIẾT, LÀ ĐÒI HỎI BỨC XÚC HIỆN NAY. LÀ MộT ĐạI BIểU QH, NẾU PHẢI LỰA CHỌN GIỮA LUẬT BIỂU TÌNH VÀ LUẬT NHÀ VĂN THÌ TÔI VẪN CHỌN LUẬT NHÀ VĂN.
 

 

Nhà cháu xin ‘BẬP BÊNH’ rằng: Chắc ông sợ không ai biết ông là nhà văn nên PR.
Chứ nói luật nhà văn CẦN THIẾT, LÀ ĐÒI HỎI BỨC XÚC HIỆN NAY, HƠN CẢ LUẬT BIỂU TÌNH thì đúng là… ‘đầu toàn mủ’.

 

Xin cung cấp thêm 1 câu LỔI TIẾNG của ông: Tôi cũng coi vào QH như một đợt đi chiến trường vào miền Nam, đi về phải nghỉ để cho người khác đi.” 

 

Hóa ra ông ta coi đi B chiến đấu là “Hoa thơm mỗi người ngửi tý”.
Xin lỗi ông! SỢ CHẾT THÌ NÓI MỊA NÓ RA CÒN VĂN VỞ !

 

Khi bị báo chí TRUY là “người đề xuất Luật nhà văn”, ông KHAI ngay ‘đồng chí’ của mình:
Ông là người kiến nghị làm luật này, vậy ông có sẵn sàng trình dự án luật ra Quốc hội không?
- Sáng kiến này không phải của tôi. Đó là trong một hội nghị của Hội Nhà văn, ĐồNG CHÍ HữU THỉNH Đề XUấT và tôi có hứa sẽ trình trước Quốc hội. Vì vậy TÔI CHỉ LÀ NGƯờI LÀM CầU NốI Để TRÌNH ý tưởng của Hội Nhà văn thôi.

. 

Ô hô, “Hóa ra Hữu Thỉnh làm nghề … bán tơ !”

 

Bà Nghị HÉ HÉ Đặng Thị Hoàng Yến bị khui chuyên ly hôn bầy hầy, lập tức "sẵn-sàng-bỏ-tiền-túi-" để làm và đòi QH duyệt Luật Bảo vệ quyền riêng tư.


Ông Hữu Thỉnh và ông bác sĩ Hồng thì ĐỨNG TRÊN MẶT CÁC NHÀ VĂN
để đòi duyệt Luật Nhà văn.

 

Cứ đà này thì mai một dân Việt Nam sẽ phải sống giữa 1 RỪNG LUẬT.

 BONUS:
- Rảnh
- Hoan hô Quốc hội sắp ban hành luật nhà thơ
- THỬ HÌNH DUNG LUẬT NHÀ THƠ

- Tố cáo về đại biểu Đặng Thị Hoàng Yến có nội dung đúng

 

*Bài do bác Gốc Sậy gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin tán thán công đức của bác Gốc Sậy!


TRẦN MẠNH HẢO: SỰ MẶC KHẢI CỦA THI CA

Sự mặc khải của thi ca
Trần Mạnh Hảo

I. Thi ca - giấc mơ về tuổi thơ nhân loại: 

Kinh Thánh không chép được lời của Eva xui Adam ăn trái cấm. Chỉ biết rằng khi đôi môi ma túy của nàng ghé sát vào tai chàng, chợt cơn thèm ăn trái cấm bùng vỡ trong cuống họng chàng, bất chấp lời răn đe chết người của thần linh. Mắt Adam chỉ nhìn thấy trái cấm trong y phục lõa thể của tòa thiên nhiên tuyệt mỹ. Chàng đã hành động chiều theo ý người đẹp, để chia tay sự bất tử, đồng thời nhận lấy tình yêu và cái  chết. Có lẽ, lời thì thầm của Eva khuyên Adam ăn trái cấm hôm đó là bài thơ đẹp nhất  của nhân loại? Vì vậy người đời đã gọi thi ca bằng cái tên diễm lệ: Nàng Thơ.

Thi ca và tình yêu do đó đã được sinh ra đồng thời với niềm xúc cảm tuyệt vời của ngôn từ, thông qua tiếng nói linh thiêng  của Eva, đánh thức trái tim gỗ đá Adam, khiến nó phát lộ đam mê cùng tận. Nếu phẩm hạnh của triết học là hoài nghi, của tôn giáo là đức tin, thì phẩm hạnh của thi ca là rung cảm và mơ mộng. Thi ca và tình yêu đều được phát nguyên từ cội nguồn trái tim con người, thông qua hình tượng và ngôn ngữ. Chừng như sự xuất hiện tiếng nói trong vườn Eden còn quan trọng hơn sự hiện diện của Thượng Đế.

Bởi vì trong buổi bình minh của nhân lọai, tiếng nói cũng được đồng nghĩa với thần linh. Eva và Adam cùng dắt tay nhau, một bàn tay nàng vịn vào tình yêu, một bàn tay chàng vịn vào thi ca, trả lại Thượng Đế sự bất tử để đi về phía mồ hôi, nỗi thống khổ, khoái lạc và cái chết có tên là trần thế. Từ đó, thi ca là giấc mơ của con người luôn luôn khao khát tìm về thời ấu thơ của mình trong vườn địa đàng ký ức. Nơi đó, con người sống chung với thần linh trong gia đình vũ trụ. Nơi đó, như kinh Veda mô tả, con người không thể và không muốn phân biệt mình với một đám mây, con bò hay thần thánh. Tất cả là nhất nguyên đơn sơ mà kỳ lạ, lắng đọng mà riêng rẽ, hài hòa mà phân thân .

Kinh Cựu Ước nói rằng Thượng Đế đã sáng tạo ra con người theo hình ảnh của mình. Điều này phải nói ngược lại mới chính xác. Sự sáng tạo ra khái niệm Thượng Đế là sự sáng tạo vĩ đại nhất của con người để tháo bỏ cái lốt cuối cùng của dã thú, sau khi tiếng nói và tư duy xuất hiện. Chính ý thức đã ném con người vào vũ trụ cô đơn, khiến nó sợ hãi vô cùng trước hư vô và cõi chết.

Để có một cứu cánh, một nơi bấu víu cuối cùng vào thế giới trơn tuột này, con người đã rất thông minh khi sáng tạo ra người bạn vĩ đại toàn năng theo hình ảnh của mình, như cái phao trên biển cả để vượt thoát nỗi cô đơn và cái chết. Người bạn đó, cái phao cứu hộ đó có tên là thần linh. Thiêng liêng hóa hình ảnh của mình là bước tiến nhân bản nhất của khởi nguồn nhân loại. Có thể nói, thần linh đã được sinh ra trong cảm hứng thi ca, trong rung cảm cô đơn tột cùng của con người. Ngay cả khi con người đã thoát khỏi đa thần giáo, Thượng Đế của các tôn giáo hầu như đều là đứa con sinh đôi đồng thời với thi ca .

Apollon, vị thần thi ca uy quyền vào loại bậc nhất trong thần thoại Hi Lạp là hứng khởi của chiến thắng trừ cha mình là thần Zeus. Apollon có mặt trong hầu hết sự sáng tạo nơi đỉnh Olempo, tham dự vào mọi xúc cảm của vũ trụ và con người. Chừng như chính Apollon đã hóa thân vào Homère để sáng tạo ra thiên anh hùng ca Iliade và Odyssée ? Thi ca hay là sự huyền ảo của tuổi thơ nhân loại, một lần nữa, đã được một người trần mắt thịt là Homère đưa trở lại vườn Eden Hi lạp.

Ở đó, nhờ thi ca, thần linh được sống kiếp con người với tất cả bản năng nguyên thủy, với vẻ đẹp của đam mê, khoái lạc và tội lỗi. Có thể ngày nay thần linh đã rời bỏ đỉnh Olempo huyền thoại, nhưng thi ca đã không rời bỏ con người. Thi ca đã hóa thân thành nàng Pelenop,luôn luôn biết cách đợi chờ niềm thi hứng của con người, như đã từng đợi chờ chàng Odyssée trở về từ cuộc lãng du thần thoại. Từ độ con người chia tay với Thượng Đế, đi theo tiếng gọi của tình yêu và nỗi chết trong cuộc trưởng thành thống khổ của nhân loại, nó luôn tìm cách trở lại tuổi thơ của mình, trở lại vườn địa đàng tìm lại trái cấm thuở ban đầu ngon ngọt. Cuộc hành hương mơ mộng ấy có tên là Thi Ca . 

II.Thi ca hay là sự cứu rỗi của cái Đẹp. 

Trong cuốn “Thi Pháp”, Aristote đã gọi khoa học, nghệ thuật, trong đó hàm chứa cả khái niệm nguyên thủy linh hồn và Thượng Đế bằng một cái tên rất khải thị là Thi Ca. Chừng như khái niệm Thi Ca của Aristote có nét gì đó hao hao với khái niệm Đạo của Lão Tử, mặc  dù chữ Đạo của Lão có phần căn nguyên và rốt ráo hơn. Triết học, nói cho cùng đã được giáng sinh trong máng cỏ ấm nồng của niềm hứng khởi thi ca. Vũ trụ được gói trong một chữ Dịch của Khổng Tử hay một chữ Đạo của Lão chỉ có thể đi vào tâm trí con người bằng niềm xao xuyến thi ca. Ngay cả thế giới ý niệm duy tâm của Platon cũng phải thông qua hình ảnh ngôn từ,trong nỗi xúc cảm dù thoáng gợn lăn tăn của thi ca. Có thể mượn lời của Socrate nói về mình để nói về thi ca: “Mẹ tôi đỡ đẻ cho những sản phụ,tôi đỡ đẻ cho những bộ óc .”

Thi ca – bà đỡ kỳ diệu của triết học, đã tìm ra phép cắt rốn cho niềm siêu hình tăm tối, khiến cái tưởng như già cỗi nhất, khô cằn nhất biết cất lên tiếng khóc non tơ chào đời trong ánh sáng của suy tưởng và xúc cảm. Vì vậy, chúng ta dễ giải thích vì sao nền văn minh Trung Hoa được khởi nguồn bằng bộ Kinh Thi vĩ đại. Hầu hết các nền văn minh đều được sinh thành từ nguồn sữa Thi Ca. Văn mimh Hi Lạp bắt đầu từ thần thoại của thần thi ca Apollon và nữ thần Athena, vị thần của văn học và điêu khắc. Văn minh Do Thái khởi phát từ các chương Thi Thiên trong Cựu Ước. Trường ca Veda là nền tảng cho nền văn minh bí ẩn Ấn Độ .

Đức Phật, Chúa Jésus hay tiên tri Mahomet… nói cho cùng đều là những nhà thơ lớn vào bậc nhất nhân loại. Khởi nguồn, thông qua sự mặc khải thi ca, tôn giáo đã tìm đến con người với đôi tay bè bạn, với tiếng nói của tình nhân, với niềm an ủi sẻ chia hơn là niềm cứu rỗi. Tôn giáo mượn con đường thi ca để con người tìm ra đối trọng trước hư vô, đặng hoá giải cái chết, mang đến cho cái chết xiêm y trần gian xúng xính và một bộ mặt đầy thiên giới, do đó cũng đầy nhân tính hơn. Tôn giáo đã dùng thi ca làm đôi cánh để đưa con người bay qua vực thẳm cô đơn, giúp con người có thêm người bạn đồng hành Thượng Đế. Người bạn siêu phàm kia cũng chính là sự hoá thân của con người thông qua xúc cảm thi ca đầy mộng mơ và lãng mạn.

Nếu triết học đi tìm sự khôn ngoan, tôn giáo đi tìm thần linh thì thi ca đi tìm cái Đẹp. Chiến tranh, cuồng tín, dịch bệnh, thiên tai…hàng mấy nghìn năm qua đã đe dọa cái Đẹp của con người bằng sự dung tục hóa, bằng lòng tham và thù hận, nhưng không tước đọat được niềm mộng mơ đầy thi vị của nhân loại.

Bởi vì thi ca chính là hài nhi trong máng cỏ loài người, là sự hồn nhiên nhất của tuổi thơ nhân loại còn sót lại. Nếu đứa trẻ con ấy không còn, thì đôi mắt ngây thơ của loài người cũng biến mất, đồng thời cái Đẹp cũng biến mất. Nếu triết học là sự già giặn, là ông lão của con người thì thi ca càng cần phải giữ lấy tính trẻ con của nhân loại. Người Trung Hoa đã nhìn ra điều đó nên gọi Tạo Hóa là hóa nhi. Vì mãi giữ được sự trẻ con như vậy, nên Tạo Hóa chính là nhà thơ vĩ đại nhất đã sáng tạo ra vũ trụ và con người trong niềm thi hứng vĩnh cửu, rồi truyền cho con  người xúc cảm thi ca khởi nguồn mọi sáng tạo ấy. Chính vì vậy, cái Đẹp đã được thi ca cứu chuộc trên cây thập tự của xúc cảm ngôn từ . 

III. Thi Ca trong đời sống tâm linh người Việt. 

Trong lịch sử thi ca thế giới, hiếm thấy tác phẩm nào đi sâu vào đời sống tâm linh con người như Truyện Kiều của Nguyễn Du đối với dân tộc Việt Nam. Hiện tượng bói Kiều của người bình dân đã chứng tỏ vai trò của thi ca trong đời sống xã hội thật to lớn, mặc dù Truyện Kiều mới xuất hiện trên hai trăm năm nay. Chừng như Thi Ca đã mượn Nguyễn Du để cài vào mỗi câu, mỗi trang Kiều toàn bộ bí ẩn của đời sống với sự mặc khải về một tôn giáo mới-tôn giáo của cái đẹp. Trong hố thẳm tuyệt vọng, thi ca đã để sẵn một bàn tay dìu dắt.

Trong trái cây đau khổ, thi ca là cái nhân cựa quậy một niềm vui rón rén nảy mầm. Bằng hai bàn tay may rủi, con người tìm cách bấu víu vào mỗi câu Kiều như bấu víu vào ánh lửa le lói trong chính tâm hồn mình, đặng nhờ thi ca mách bảo những điều mà thần linh không thể mách bảo. Thi ca tìm đến với con người không phải bằng nỗi sợ hãi thần thánh của tôn giáo mà bằng niềm tri âm tri kỷ rất tình nhân, an ủi mà không thương hại, trìu mến mà không ban phát, say đắm mà không cuồng dại. Cái đẹp nơi Truyện Kiều không chỉ cần được giải mã bằng tiếng kêu thương, bằng niềm khắc khoải, mà còn cần được giải mã bằng đức tin và niềm hi vọng .

Người ta chắp tay để: “Lạy ông Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều…” như là để lạy chính nỗi thống khổ của kiếp người, lạy sự chịu đựng, sự hi sinh, thậm chí yếu đuối thiệt thòi của cái thiện, lạy cái phần bị đày ải nhất của nhân sinh. Ở nơi đó là “thập loại chúng sinh”, cái gốc của cái đẹp nâu sồng mà mimh triết,giản dị mà bền vững. Do vậy, chúng ta hiểu vì sao thi ca có lúc đã biến thành kinh kệ trong đền chùa miếu mạo như trường hợp “văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du và của một số nhà thơ khác.

Trước khi tam giáo được truyền vào Việt Nam,thi ca đã xuất hiện cùng với tuổi bình minh của dân tộc. Nền văn chương truyền miệng với ca dao tục ngữ đã làm nên dấu ấn tâm hồn Việt Nam, tạo nên bản sắc thẩm mỹ của đời sống tinh thần dân tộc. Trong chừng mực nào đó, thi ca với gương mặt ca dao tục ngữ là nơi ký gởi ký ức và kinh nghiệm nhân sinh của cộng đồng, đồng thời thi ca còn đóng vai trò như những câu kinh trong tôn giáo, giúp con người có cơ hội tìm lại hình ảnh mình trong đời sống tâm linh, thông qua nỗi xúc cảm và vẻ đẹp của thế giới trong tư duy , trong ngôn từ. Sự sáng tạo ra thể thơ lục bát trong ca dao phải chăng là sự sáng tạo kỳ vĩ nhất của thi ca dân tộc, là nhịp đưa nôi của tuổi thơ Lạc Việt, là tiếng ầu ơ của của mẹ Âu Cơ, của biển ru bờ.

Nhịp thơ sáu tám dường như cũng đưa đẩy, gập ghềnh, trầm bổng theo vận nước nổi trôi, theo dáng hình tia chớp của một đất nước mà lịch sử luôn giành cho những con đường khúc khuỷu, cam go. Cái hồn nước đã được thi ca gởi gắm trong lục bát ca dao, may mắn thay thế hệ chúng ta vẫn còn giữ được, mặc những hò hét hiện đại chủ nghĩa, mặc những dòng thơ lai căng tây hoá giả cầy. Cái hồn lục bát ca dao mới mẻ mãi mãi kia chính là của ăn đường, là vốn liếng của hành trình thi ca dân tộc. Nó được lời thêm, giàu thêm bởi Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Huy Cận…Nó rung động ngay cả niềm tin tôn giáo của dân chúng trong điệu hát chầu văn nơi đình chùa lễ hội, khơi dậy niềm vui sống trong làn điệu chèo, quan họ, ví dặm hoặc hát đúm. Lục bát như sợi dây lạt buộc lời giao duyên, buộc liền anh vào liền chị, buộc bộ tộc Lạc Việt vào mảnh đất hình chữ S này trong niềm đa cảm của nền văn minh lúa nước .

Dân tộc chúng ta đã tiếp nhận Phật giáo, Nho giáo,Đạo giáo thông qua đôi mắt hồn nhiên, mơ mộng, thông qua một tâm hồn thi sĩ. Tôn giáo được truyền vào nước ta không chỉ có niềm tin siêu hình, mà còn cả nét tinh hoa của văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ . Phật giáo được kết hợp với triết học đầy thi hứng của Lão Trang truyền qua nước ta sau khi đã được truyền trực tiếp từ Ấn Độ. Từ thiền phái của nhà sư Tây Trúc Ti-ni-đa-lưu-chi đến thiền phái của nhà sư Trung Hoa Vô Ngôn Thông đã tạo ra thiền tông Trúc Lâm Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ chính là công cuộc Việt hoá thiền tông trong cảm xúc thi ca bí ẩn của đời sống tâm linh dân tộc. Thiền,hay chính là thi ca được cô tịch trong tột cùng im lặng ? Cuộc đi tìm Niết Bàn trong mỗi tâm hồn con người hoá ra lại thông qua niềm hứng khởi thi ca, thông qua xúc cảm về cái đẹp hằng sống trần gian hơn là đi tìm chỗ bấu víu trong hư không thăm thẳm. Hầu hết các nhà sư thời Lý đều là những nhà thơ thiền như Không Lộ thiền sư, Mãn Giác thiền sư…Phật giáo thông qua đôi mắt ngơ ngác huyền ảo Lão Trang tạo tiền đề cho Thiền xuất hiện, được truyền qua Việt Nam trong tinh thần thực tiễn thâm sâu Nho giáo, kết hợp với cái mộc mạc hồn nhiên, dân dã, giản dị và chân thành Giao Châu, tạo ra hàng loạt nhà thơ, những người hướng dẫn tinh thần dân tộc như: Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn, Lã Đinh Hương, Lý Phật Mã…Thi ca đã biết cách cư trú nơi chùa chiền miếu mạo không phải trong vai trò tín đồ hay sư sãi, mà là biểu hiện của cái Đẹp, là nét xao xuyến trần gian ngay trong lòng siêu hình hư tưởng .

Thi ca – con đường sương khói dẫn đến đời sống tâm linh con người, là con thuyền chở Đạo, đồng thời cũng biết cách biến mình thành phương tiện tự vệ khi cộng đồng lâm nguy. Huyền thoại về bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt trên phòng tuyến sông Như Nguyệt đã chứng tỏ vai trò, sức mạnh của thi ca trong cuộc đánh bại quân xâm lược qủa là to lớn. Suốt hành trình lịch sử, khi có giặc, thi ca đã thành vũ khí, thành tiếng kèn xung trận. Khi hòa bình, thi ca tham gia vào đời sống đạo hạnh, gìn giữ thuần phong mỹ tục khi Nguyễn Trãi soạn “Gia huấn ca”, Lê Thánh Tông tức cảnh sinh tình, mượn thi ca mà an dân trị quốc …Thi ca tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, gia đình và cá thể. Cuộc sống dù cực nhọc chừng nào cũng phải giữ lấy chất thơ của nó, như giữ lấy cốt cách mộng mơ dân tộc .

Cũng như bao đất nước khác trên hành tinh, đất nước chúng ta bao giờ cũng vẫn là một đất nước thi sỹ. Thi ca đã xuất hiện đồng thời với tiếng Việt, đã song hành với mọi thăng trầm lịch sử, đã góp phần to lớn trong sự hình thành bản sắc văn hóa và nền tảng tinh thần dân tộc. Nhiều người lo sợ cho sự tồn tại của thi ca trước sự xâm lăng toàn diện của chủ nghĩa thực dụng thời kinh tế thị trường khắc nghiệt này. Không, thi ca vẫn là dòng nước ngầm nuôi dưỡng sự xanh tươi trong đôi mắt hồn nhiên ngơ ngác của dân tộc. Thiếu đôi mắt hồn nhiên kia, thi ca có thể sẽ ra đi cùng với sự ra đi của ngôn ngữ. Nhưng thảm hoạ ấy sẽ không bao giờ xảy ra, khi thi ca mãi mãi giữ lại cho chúng ta cái tuổi thơ huyền nhiệm của dân tộc và nhân loại. Ở đó, trong đời sống tâm linh con người, thi ca bao giờ cũng là niềm mặc khải của Chân Thiện Mỹ, hoài niệm và tiên cảm cho chúng ta về một thế giới mãi mãi tồn tại trong nỗi xúc động ban đầu…

——————————————————————————————————————
Nguồn: Văn học – Phê bình – Tranh luận, NXB Lao Động, Hà Nội, 10/2004

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011

CẦN KHÁM BỆNH KHẨN CẤP CHO MỘT SỐ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

 Luật cần không có, lại thò ra luật nhà thơ

Đại biểu không thể hiểu nổi tại sao lại đưa Luật Nhà thơ vào dự kiến chương trình xây dựng pháp luật của QH khóa XIII!

Ngày 2-11, thảo luận tổ về Dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội (QH) nhiệm kỳ khóa XIII, nhiều đại biểu (ĐB) cho rằng chương trình này còn nhiều vấn đề bất hợp lý cần phải điều chỉnh. Chẳng hạn, dự thảo chương trình đưa vào những dự án luật chưa cần thiết (như Luật Nhà thơ, Luật Thư viện) nhưng lại thiếu vắng những luật để điều chỉnh những vấn đề cấp bách hiện nay. Những dự án luật liên quan đến những quyền cơ bản của công dân lại bị bỏ ra ngoài.

Hành xử theo luật rừng giữa một rừng luật

Theo ĐB Đỗ Văn Đương (TP.HCM), cử tri kiến nghị rằng mấy năm gần đây Nhà nước ban hành một rừng pháp luật nhưng rất nhiều cá nhân, tổ chức lại hành xử theo luật rừng. Thậm chí, một số người còn khinh nhờn, ngang nhiên không thực hiện những quy định đã đặt ra do pháp luật không chặt chẽ, không phù hợp với thực tế. Nguyên nhân là do luật thì nhiều nhưng chất lượng xây dựng lại quá thấp. Trưởng ban soạn thảo các dự án luật đa phần là người đứng đầu các bộ ngành nên không đủ thời gian để nghiên cứu, các chuyên viên giúp việc thì thiếu chuyên môn và kinh nghiệm. 

ĐB Nguyễn Sơn Hà (Hà Nội) cho rằng hiện nay còn có tình trạng tách nhỏ các  lĩnh vực ra để xây dựng các dự án luật. “Luật Khiếu nại thông qua trong kỳ này đã có một chương quy định về việc tiếp công dân nhưng trong chương trình khóa XIII lại đề nghị xây dựng Luật Tiếp công dân. Điều này khiến việc thực hiện pháp luật sau này sẽ rất chồng chéo và không hiệu quả” - ông Hà nói.


ĐB Đỗ Văn Đương (TP.HCM) phát biểu tại phiên thảo luận tổ ngày 2-11. Ảnh: THANH LƯU

Tương tự, ĐB Nguyễn Thị Kim Tiến (TP.HCM), ĐB Nguyễn Đức Chung (Hà Nội) và một số ĐB khác đều cho rằng một số dự án luật hiện nay có chất lượng rất thấp, chỉ ban hành 1-2 năm, thậm chí vừa có hiệu lực đã phải sửa. Cạnh đó, các ĐBQH được tiếp cận các tài liệu quá sát nên không thể nghiên cứu kịp. “Hai tuần vừa qua chúng tôi nhận được khoảng 20 kg tài liệu. Với thời gian và số lượng tài liệu như thế này thì làm sao các ĐB đóng góp ý kiến một cách hiệu quả được. Theo tôi, cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định nên cung cấp thông tin công khai về các tài liệu liên quan đến dự án luật để các ĐB có thể tham gia góp ý ngay từ đầu” - ông Chung kiến nghị.

“Đưa Luật Nhà thơ vào làm gì?”

“Tôi không hiểu dự án Luật Nhà thơ nó chế định cái gì mà lại được đưa vào chương trình. Chẳng nhẽ lại bắt ông kia phải làm thơ, ông này không được làm. Trong khi những cái rất cần như Luật Quản lý vốn kinh doanh nhà nước, đã được đề nghị đưa vào từ khóa trước đến nay nhưng đến bây giờ chúng ta vẫn còn nợ cử tri” - ĐB Trần Du Lịch (TP.HCM) bức xúc. 

Đồng tình, ĐB Võ Thị Dung (TP.HCM) nói thời buổi này chẳng có mấy người vào thư viện thì xây dựng Luật Thư viện liệu có cần thiết? Trong khi đó, những luật liên quan đến quyền cơ bản của công dân, phát huy quyền làm chủ của người dân như Luật Trưng cầu dân ý lại chưa được xem xét. “Đề nghị đưa Luật Trưng cầu dân ý vào chương trình chính thức và đẩy nhanh tiến độ sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng. Đồng thời nên xây dựng dự án Luật Đạo đức cán bộ, công chức vì đây là vấn đề rất bức xúc hiện nay” - bà Dung kiến nghị. 

Bổ sung, ĐB Đinh Xuân Thảo (Hà Nội) nói tại nhiệm kỳ trước, nhiều dự án luật đưa vào rồi đưa ra đều dễ dàng như nhau. Nguyên nhân do khâu chuẩn bị quá dễ dãi. “Đưa vào cũng không phân tích rõ, tới lúc thấy khó một chút thì xin rút, trong đó có nhiều dự án luật rất quan trọng như Luật Đầu tư công, Luật Đất đai sửa đổi… Rồi Luật Xuất bản, QH khóa XI đã sửa, khóa XII cũng sửa rồi đến khóa XIII làm lại thì tôi cũng không hiểu nổi” - ông Thảo băn khoăn.

Luật Biển vẫn chờ 
Về Luật Biển, suốt từ năm 1994 tới giờ, lúc thì nói cho ý kiến tại một kỳ, lúc thì nói cho ý kiến tại hai kỳ, rốt cuộc đến bây giờ vẫn chưa thông qua được. Cạnh đó, UBTVQH cần báo cáo rõ các đạo luật đã được QH khóa XII thông qua và có hiệu lực thì bao nhiêu luật có đầy đủ các văn bản hướng dẫn. Thực tế có những luật sau năm năm vẫn chưa có văn bản hướng dẫn.
ĐB NGUYỄN SƠN HÀ (Hà Nội)

QH nên lập cơ quan xây dựng luật độc lập 

Nếu lật lại tờ trình của khóa XII thì thấy các giải pháp cũng không khác mấy so với khóa này. UBTVQH cũng như QH cần có sự đổi mới trong việc xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. QH cần quy định rõ ràng hơn trách nhiệm của cơ quan thẩm định dự án luật. UBTVQH cũng nên tính đến giải pháp lập một cơ quan xây dựng luật độc lập của QH. Điều này để tránh việc mang lợi ích nhóm (của các bộ, ngành) trong việc xây dựng các đạo luật.
ĐB NGUYỄN THỊ HỒNG HÀ(Hà Nội)

Soạn luật cũng mắc bệnh thành tích 

Việc xây dựng pháp luật gặp rất nhiều khó khăn vì nhiều người cứ giữ khư khư cái cũ, cản trở cái mới. Bệnh thành tích trong việc xây dựng pháp luật còn rất phổ biến. Khi có một luật mới lại kéo theo một bộ máy ra đời như khi có Luật Nuôi con nuôi thì thành lập thêm Vụ Nuôi con nuôi, có Luật Giám định tư pháp thì thành lập thêm Trung tâm Giám định tư pháp Quốc gia… Nếu chúng ta không thay đổi mạnh mẽ thì không thể khắc phục được những vấn đề này.
ĐB ĐỖ VĂN ĐƯƠNG (TP.HCM)

THANH LƯU - ĐỨC MINH

Nguyễn Xuân Diện:
Ối giời đất ơi! Lúc đầu tôi cứ tưởng bọn blogger rác rưởi vô công rồi nghề nó giễu các đại biểu Quốc hội cho vui thôi! Làm gì có Luật Nhà thơ?!! Ai ngờ nó là thật!
Chúng tôi không thể hiểu nổi được điều này, thưa Ngài Chủ tịch QH. Vì vậy, xin Ngài khẩn cấp lên danh sách để đưa một số đại biểu đi khám kiểm tra sức khỏe tâm thần ngay, nếu cần thì cho nội trú để điều trị.
Đọc thêm:

Quốc hội bàn Luật Nhà thơ 

 

Đọc báo, thấy lần này Quốc hội bàn về Luật Nhà thơ. Nếu luật này thông qua, chắc chắn nhà thơ sẽ bị bó chặt thơ trong mồm, khó để xuất khẩu thành thơ, và dân gian cũng khó mà làm thơ trào phúng, thơ kiểu bút tre. 

 

Nếu luật đưa ra các quy định về niêm vần, bằng trắc cho các thể thơ tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát, thơ tự do, quy định số câu trong một bài thơ…thì chắc chắn chẳng ai nghe điều luật tệ hại này. Bởi đây là điều mà thơ cà và nhà thơ ai cũng hiểu, và hiểu hơn các nhà làm luật bởi đó là nghệ thuật ngôn từ, nhà thơ thông thái hơn những vị vẽ luật này. 

 

Nếu luật đưa ra các định chế về việc thơ là phải chính xác, không suy diễn, không ẩn dụ, phải theo luật thì đó không thể là thơ được. 

 

Nếu luật quy định thời gian sáng tác một bài thơ, một trường ca thì triệt tiêu cảm hứng. 

 

Nếu luật quy định các nhà thơ của chúng ta phải sáng tác trong các điều luật của Luật Nhà thơ, chắc chắn đất nước Việt Nam e không còn ai dám làm thơ, hay nói đúng hơn là nhà thơ mất hết. 

 

Không biết các nhà làm luật lấy cơm từ thuế dân có hiểu về địa hạt thơ ca hay không mà dám đưa ra một bộ Luật nhà thơ để bàn trước quốc dân? 

 

Từ lúc có con người, thơ ca cũng xuất hiện một cách tự nhiên và thăng hoa cho đến hôm nay và con người sở hữu những kiệt tác vĩ đại được truyền nối qua nhiều thế hệ bằng nhiều cách. 

 

Không triều đại nào của thời phong kiến dại dột soạn luật cho nhà thơ làm thơ, cũng không nhà vua nào dám luật hoá các nghệ thuật ẩn dụ, chơi chữ trong thơ ca cả. 

 

Không biết Luật nhà thơ làm được gì cho quốc kế dân sinh mà đưa vào bàn trong khi các luật Trưng cầu dân ý, Luật biển, Luật quản lý vốn kinh doanh nhà nước thì chưa thấy đã động.

 

          Ôi thôi, một đời lọ thơ
          Cu Làng Cát

Thật là :

Trời sinh vua để làm vua
Và thi sĩ để làm thơ ru đời
Một ông vua trái luật trời
Việc vua thì nhác, lại đòi… làm thơ.

(Trên đây là đoạn mở đầu của bài thơ Nhà vua và nhà thơ của Tú Mỡ, in trên báo Ngày nay ở Hà Nội năm 1939). 

Đọc thêm nữa, chùm đàm tiếu của giang hồ, do Ba Sàm điểm:

Luật chập cheng (Quê choa). “Ngồi nghĩ mãi không ra tại sao lại có cái luật dở hơi này. Hay bởi vì dạo này thơ chống Tàu, thơ Hoàng Sa, thơ Biên giới, thơ biểu tình, thơ “đạp mặt”… nổi lên nhiều quá, chính quyền phải bày ra cái luật này để đối phó?”.  – Đỗ Trung Quân: Tranh thủ trước khi có Luật nhà thơ (Quê choa).  – Hãy nghe nhà thơ, nhà báo, blogger, ĐBQH nói về Luật Nhà thơ  (Hãy dành thời gian).  – Bùi Văn Bồng: Ô HÔ CÁI LUẬT NHÀ THƠ (Lê Thiếu Nhơn).  – Thơ: cái họa của người Việt (Trương Duy Nhất).  – Nhà thơ Trần Mạnh Hảo nói về “luật nhà thơ”.  – LUẬT NHÀ THƠ   —  (Faxuca).  – CẦN KHÁM BỆNH KHẨN CẤP CHO MỘT SỐ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI   —  (Nguyễn Xuân Diện).
Nguyễn Xuân Diện tổng hợp

HAI CUỐN SÁCH VỀ VÕ NGHỆ LƯU TRỮ Ở VIỆN HÁN NÔM

 

HAI CUỐN SÁCH VỀ VÕ NGHỆ

1. VÕ KINH DIỄN NGHĨA CA 武經演義歌 [VÕ KINH TRỰC GIẢI DIỄN NGHĨA CA] 武經直解演義歌
2 bản viết (bộ: 6Q), 32 x 22, có chữ Hán.
AB.138/1 – 2: 516 tr.
AB.310: Vũ kinh trực giải diễn nghĩa ca, 438 tr.

Diễn Nôm các sách về quân sự của Trung Quốc sau đây:
Mỗi trang sách chia làm 2 phần: trên là nguyên văn chữ Hán, dưới là diễn dịch ra thơ Nôm thể 6 – 8.

2. VÕ NGHỆ QUỐC NGỮ CA 武藝國語歌
1 bản viết, 146 tr., 28 x 15, có hình vẽ minh họa, có chữ Hán.AB.577.
MF.1678.
Bài hát về cách đánh roi, gậy, côn, quyền, đao, kiếm, trường côn…
Cả hai cuốn sách này đều đang được lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Nguồn: Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu. Nxb. KHXH, Hà Nội, 1993.

DANH SÁCH 199 TẠO SĨ (TIẾN SĨ NGẠCH VÕ) TRIỀU LÊ


Lời dẫn của macbupda:
Thời phong kiến, sĩ tử Nho gia đều có chí hướng thi cử chiếm công danh rồi cống hiến cho nước nhà. Ấy là bên văn. 

Còn bên võ, nhà nước cũng tổ chức một số khoa thi, chọn lấy những người có tài, và ban cho phẩm vị. 

Tạo sĩ khoa thi võ cũng tương đường tiến sĩ (tức ông Nghè) bên văn.
Em có kiếm được quyển "Võ cử và các võ tiến sĩ ở nước ta" (tác giả Nguyễn Thúy Nga, Nxb. Thế Giới), trong đó có danh sách các vị đỗ võ khoa cao cấp của Việt Nam thời Lê và thời Nguyễn. 

Xin giới thiệu để mọi người cùng tham khảo.

Các Tạo sĩ đời Lê
1. Phạm Công Tự
Người xã Cự Khánh, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Làm quan trải các chức: Cai cơ, Thiêm Sai, Trấn thủ.

2. Phạm Hữu Tuấn

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Em Phạm Hữu Nhậm, anh em đỗ cùng khoa; anh Phạm Hữu Tá, ông nội Phạm Hữu Vĩ.

3. Phạm Hữu Nhậm

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Anh Phạm Hữu Tá, Phạm Hữu Tuấn, anh em đỗ cùng khoa; ông bác Phạm Hữu Vĩ.

4. Mai Châu Điểm

Người xã Liên Cừ, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

5. Văn Đình Dận (1703-1754)

Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
22 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan đến chức Trấn thủ Tuyên Quang năm Vĩnh Hựu 6 (1740), tước Điều Trung hầu; năm Vĩnh Hựu 5 (1739) thăng Điều quận công. Thọ 51 tuổi. Sau khi mất được truy phong làm phúc thần.
Cha Văn Đình Ức, ông nội Văn Đình Cung.

6. Nguyễn Đức Luận

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

7. Nguyễn Thì Lỵ (1702-1787)

Người xã Đình Vĩ, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. 23 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.  Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan chức Cai cơ. Được về trí sĩ, thọ 85 tuổi, trải việc 4 triều.

8. Đặng Đình Truyền

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

9. Hoàng Nghĩa Bá (1696-1743)

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, Hưng yên.
29 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan chức Thống lĩnh, tước Bích Quận công. Thọ 47 tuổi. Sau khi mất được truy phong làm phúc thần.

10. Bùi Thế Tước

Người xã Thạch Thán, huyện Yên Sơn, nay thuộc xã Thạch Thán, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

11. Trịnh Điền

Họ Tôn thất. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

12. Đặng Đình Đạt

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

13. Phạm Hữu Tá

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông. Em Phạm Hữu Nhậm, Phạm Hữu Tuấn, ông chú Phạm Hữu Vĩ.

14. Nguyễn Duy Diệu

Người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

15. Nguyễn Phúc Nhuận

Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông. Làm quan chức kiêm Trấn thủ, tước quận công. Cha Nguyễn Phúc Hán.

16. Vũ Khúc Lâm.

Người xã Vượng Xã, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

17. Võ Tá Đức (1711-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biên sinh hợp thức, 21 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức Đốc trấn, Quyền phủ. Sau khi mất được tặng tước quận công. Cháu họ Võ Tá Tông, chú cháu cùng khoa; chú Võ Tá Thạc.

18. Võ Tá Tông

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. 21 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức Cai cơ. Mất tại trận, sau khi mất được tặng tước quận công. Chú Võ Tá Đức, chú cháu cùng khoa; ông họ Võ Tá Thạc.

19. Nguyễn Đức Uông

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, nay là huyện Quế Ổ, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quân trải các chức Cai cơ, Thống lĩnh. Mất tại trận. Sau khi mất được tặng tước quận công, bao phong phúc thần.

20. Lê  Công Phụ

Người xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, nay là xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.

21. Tống Đức Hải

Người xã Bùi Xá, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.

22. Hoàng Công Tuấn

Người xã Trung Vũ, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.
23. Hoàng Nghĩa Thông
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Chú Hoàng Nghĩa Đương, chú cháu cùng khoa.

24. Nguyễn Đống

Người xã Hạ Bồng, huyện la Sơn, nay thuộc xã Đức Lĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Tước quận công

25. Hoàng Nghĩa Đương.

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Cháu Hoàng Nghĩa Thông, chú cháu cùng khoa.

26. Hoàng Công Phái

Người xã Đang Dương Hạ, huyện Bạch Hạc. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức cai cơ.

27. Võ Tá Trung

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo ssĩ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Thiêm sai, Cai cơ. Mất tại trận. Sau khi mất được tặng tước quận công. Anh Võ Tá Thụy, cha Võ Tá Lệ, bác Võ Tá Dao.

28. Phạm Công Thiếp

Người xã Lãng Điền, huyện Thượng Nuyên, nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

29. Lê Cảnh.

Người hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, nay thủo thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

30. Hoàng Đỉnh Thản

Người xã Lê Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Anh Hoàng Đình Huyên, anh em đỗ cùng khoa.

31. Nguyễn Địch Côn

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Cai cơ, Đốc trấn trấn Kinh Bắc, kèm dạy ở nhà Võ học. Em Nguyễn Địch Tăng, anh em đỗ cùng khoa, ông nội của Nguyễn Địch Chủng, Nguyễn Địch Quỳnh, Nguyễn Địch Trọng.

32. Nguyễn Đình Thạch

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Quyền phủ, tước Tào quận công, quốc sư kiêm quốc lão, Phụng thị ngũ lão. Sau lại được mời ra làm quan. Thọ 78 tuổi. Sau khi mất được bao phong phúc thần. Anh Nguyễn Đình Chử, Nguyễn Đình Quyền.

33. Đặng Đình Trụ.

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

34. Hoàng Đình Huyên

Người xã Lê Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đứ 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Em Hoàng Đình Thản. Anh em đỗ cùng khoa.

35. Hoàng Nghĩa Nhương.

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hững Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan Cai cơ. Cha của Hoàng Nghĩa Yến, ông nội của Hoàng Nghĩa Trụ.

36. Phạm Phượng Nhac

Người xã Cự Khánh, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

37. Nguyễn Địch Tăng

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. 21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Anh của Nguyễn Địch Côn, ông bác của Nguyễn Địch Chủng, Nguyễn Địch Quỳnh, Nguyễn Địch Trọng.

38. Võ Tá Tín

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông.

39. Nguyễn Đình Danh

Người xã Đặng Xá, huyện Lương Tài, nay thuộc xã Trùng Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan Cai cơ. Em Nguyễn Đình Khội, chú Nguyễn Đình Can.

40. Hoàng Đình Tá

Người xã Quế Trạo, huyện Hiệp Hòa, nay thuộc xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đỗ Đồng tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông.

41. Võ Tá Thụy

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Hựu 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan chức Cai cơ, Tham lĩnh xứ Nghệ An. Cha Võ Tá Dao, em Võ Tá Trung, chú Võ Tá Lệ.

42. Võ Tá Cơ (1725-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan chức Cai cơ, Đô đốc, tước Vượng Cơ Hầu. Anh Võ Tá Kiên, Võ Tá Bật, Võ Tá Thì; cha Võ Tá Dự. (sinh năm 1725 thì năm 1739 mới 15 tuổi, vậy có lẽ ông sinh năm 1915 mới đúng)

43. Nguyễn Đình Chử (1715-?)

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cảm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Em Nguyễn Đình Thạch, Nguyễn Đình Quyền.

44. Phạm Đình Lân

Người xã Hạ Liệt, huyện Đông Sơn, nay thuộc Thanh Hóa. Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông.

45. Nguyễn Phúc Hán

Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Làm quan Cai cơ quản hải đạo. Con Nguyễn Phúc Nhuận.
46. Đặng Đình Viện
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Trước đỗ Toát thủ, sau đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vùa Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan đến Thiêm sai.
47. Ngô Phúc Hoành.
Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc, (thị trấn Nghèn), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan đến Quyền phủ, Trấn thủcác xứ Sơn Tây, Hải Dương; Kinh lược sứ đạo Thanh Hoa. Tước Hoành Phúc hầu, sau thăng tước quận công. Thọ 97 tuổi. Cha của Ngô Phúc Chủng.
48. Nguyễn Đình Khôi.
Người xã Đặng Xá, huyện Lang Tài, nay thuộc xã Trừng Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ An Quảng. Anh của Nguyễn Đình Danh; cha của Nguyễn Đình Can.
49. Nguyễn Đình Quyền
Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cảm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Quảng cơ Hậu Tiệp, tước Bàn Trung hầu. Em Nguyễn Đình Thạch, anh Nguyễn Đình Chử.
50. Lê Đình Giảng
Người xã An Quảng, huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Cai cơ.
51. Trịnh Hoành
Họ Tôn thất. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.
52. Vũ Quốc Cán
Người xã Đôn Thư, huyện Thanh Oai, nay thuộc xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.
53. Lê Thế Quýnh
Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phương Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm sai quản đường biển. Cha Lê Thế Định.
54. Mai Doãn Nhã
Người xã Đông Bình, huyện Gia Định, nay thuộc xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm sai quản đường biển.
55. Đỗ Thế Dụng
Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, nay là xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội. Chính quán xã Lai Cách, nay là thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.

56. Hoàng Đình Thể

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Đại tư mã, Trấn thủ các xứ Nghệ An, Hưng Hóa, kiêm dạy ở nhà võ học đạo Quảng Nam - Thuận Hóa, phó tướng quân. Tước quận công. Chết vì việc nước, được phong làm phúc thần. Cha của Hoàng Đình Đức, Hoàng Đình Duệ và Hoàng Đình Khuê. (Hoàng Đình Thể và hai con là Hoàng Định Duệ, Hoàng Đình Khuê tử trận trong cuộc tiến công ra Phú Xuân của quân Tây Sơn năm Bính Ngọ 1786).

57. Phạm Ngô Trác (1724-?)

Người xã Da Cầu, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
29 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm Sai, Trấn Thủ, Đốc chiến, Đốc lĩnh. Chú họ của Phạm Ngô Thạch.

58. Võ Tá Kiên

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Hiệp mưu đạo Quảng Nam - Thuận Hóa, Cai cơ Tả Thắng. Tước Kiện Kim hầu. Chết vì việc nước.
Em Võ Tá Cơ, anh Võ Tá Bật, Võ Tá Thì. Chú Võ Tá Dự.
(ông cùng tử trận với Hoàng Đình Thể trong trận Phú Xuân năm Bính Ngọ 1786)

59. Vũ Đăng Khoa

Người xã Kim Lan, huyện Cẩm Giang, nay thuộc xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. 28 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.

60. Trịnh Tự Đĩnh.

Tự Quý Quyền 貴 權
Người xã Phù Lỗ Đông, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Cai đội, Thái Bảo, Trấn thủ Hải Dương. Cha của Trịnh Tự Hiển, Trịnh Tự Thuần và Trịnh Tự Thức.

61. Đàm Đắc Chẩm

Người xã Tương Trúc, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Đề lĩnh.

62. Nguyễn Đình Triêm

Người xã Thiết Thượng, huyện Yên Dũng, nay thuộc tỉnh Bắc Giang. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Thủ hiệu.

63. Trịnh Châu

Họ Tôn thất. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông.

64. Biện Vũ Duệ.

Người xã Diên Lữ, huyện Nam Đường, nay thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

65. Võ Tá Thạc.

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Cháu Võ Tá Tổng.

66. Lê Bùi Chiểu

Người xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đặng Xá, huyện Giam Lâm, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
66. Lê Bùi Chiểu
Người xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đặng Xá, huyện Giam Lâm, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

67. Phạm Như Toại

Người xã Phúc Dương, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ Tuyên Quang.

68. Nguyễn Địch Bàn

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ các xứ Hải Dương, An Quảng và Sơn Tây, chỉ huy đồng tri. Tước Điện Lĩnh hầu. Cha của Nguyễn Địch Bàn, anh họ Nguyễn Địch Liên, Nguyễn Địch Vượng; ông họ nguyễn Địch Khuê.

69. Trương Tuân

Người xã Như Kinh, huyện Gia Lâm, nay thuộc thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. 22 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ Tuyên Quang. Cháu Trương Thuyên. Chú cháu đỗ cùng khoa.

70. Nguyễn Hữu Diễn

Người phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, any thuộc quân Hoàn Kiếm, TP Hà Nội.
Quê trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

71. Lê Đỗ Tích

Người xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, 50 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

72. Nguyễn Đình Khanh

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.

73. Trịnh Tông

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lên Hiển Tông.

74. Hoàng Sĩ Bá

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lên Hiển Tông.

75. Đinh Kỳ Trân

Người xã Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Phương Dục, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

76. Lê Trọng Hải

Người xã Hoằng Liệt, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quản đường biển.

77. Trương Thuyên

Người xã Như Kinh, huyện Gia Lâm, nay thuộc thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Chú Trương Tuân. Chú cháu đỗ cùng khoa.
(Hai chú cháu họ Trương này thấy có hai cách ghi họ Trương khác nhau, nhưng có lẽ ghi theo họ Trương của Trương Thuyên (77) là đúng, nghi là sách có sai sót).

78. Nguyễn Hữu Nhậm

Người xã Hạ Bồng, huyện La Sơn, nay thuộc xã Đức Lĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

79. Trần Danh Nhạc

Người xã Thiêm Lộc, huyện Ý Yên, nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

80. Văn Đình Lượng

Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Canh Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Con Văn Đình Dận, chú Văn Đình Cung.

81. Hoàng Nghĩa Yến

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Con của Hoàng Nghĩa Nhượng, cha của Hoàng Nghĩa Trụ.

82. Lương Như Cán

Người xã Cốc Lương, huyện Tiên Phúc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.

83. Bùi Duy Thì

Người xã ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Cha Bùi Danh Lân.

84. Trịnh Liêm

Họ Tôn thất, hàng thứ 2 thân với chúa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

85. Trịnh Chung

Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Thủ hiệu.
Em của Trịnh Thuyên, anh của Trịnh Tư, Trịnh Tiêm.

86. Trịnh Chân Trí

Người xã Thận Vị, huyện Thượng Nguyên, nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.

87. Lê Tự

Người hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

88. Văn Đình Cung

Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ ưu trúng hạng kho Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Lấy quận chúa em gái chúa Trịnh Sâm. Sau bị khép vào tội ngầm thông mưu phản nghịch, bị giam vào ngục, chúa Trịnh miễn cho khỏi tội chết.
Cháu nội Văn Đình Dận, con Quản quận công Văn Đình Ức, cháu họ Văn Đình Lượng.

89. Trịnh Thự
Họ Tôn thất.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.

90. Phạm Đình Phan

Người làng Kim Đôi, huyện Võ Giàng, nay thuộc xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.

91. Võ Tá Bật

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan thủ hiệu thiêm sai phủ liêu, Trấn thủ trấn Sơn Nam Hạ.
Em Võ Tá Cơ, Võ Tá Kiên; anh Võ Tá Thì; chú Võ Tá Dự.

92. Lê Thế Trâm (1743-?)

Người làng Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Thiêm sai, Cai cơ.

93. Đỗ Thế Dận

Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Năm Cảnh Hưng 35 (1774) làm quan Trấn thủ các trấn Thanh Hoa, Sơn Nam; năm Cảnh Hưng 38 (1777) lĩnh Trấn thủ sơn Tây, Kinh Bắc. Tước Trương Trung hầu. Sau bị cách chức vì không đương nổi việc.

94. Nguyễn Danh Đát

Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã phú Phương, huyện Ba Vị, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.

95. Vũ Tất Nhậm (1735-?)

Người xã Mỹ Thự, huyện Đường An, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
29 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

96. Nguyễn Địch Vượng

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quản hải đạo.
Cha của Nguyễn Địch Khuê; em họ Nguyễn Địch Liên, Nguyễn Địch Bàn; chú họ Nguyễn Địch Bân.

97. Trịnh Thuyên (1724-?)

Họ Tốn thất
37 tuổi đoõ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ. Chết vì việc nước.
Anh của Trịnh Chung, Trịnh Tư và Trịnh Tiêm.

98. Nguyễn Trọng Mại (1736-?)

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
28 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.

99. Hoàng Đình Bảo (1743-1782)

Trước tên là Hoàng Đăng Bảo. Sau đổi tên là Tố Lý.
Người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Trước đã đỗ Hương tiến khoa Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng 26 (1765), 24 tuổi lại đỗ Tạo sĩ ưu phân hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Có tài cả văn lẫn võ, được Ân Vương Trịnh Doanh gả con gái, làm Phò mã.
Làm quan quảnh binh, Trấn thủ các xứ: Thuận Hóa, Sơn Nam; sau làm Tham tụng. Tước Điển Thọ hầu, sau thăng Huy quận công. Bị loạn quân giết năm Canh Hưng 43 (1782).
Cháu họ Hoàng Ngũ Phúc, được Hoàng Ngũ Phúc nuôi làm con.

100. Phạm Hữu Vĩ (1739-?)

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 28 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua lê Hiển Tông.
Làm quan Cai Cơ.
Cháu nội Phạm Hữu tuấn; cháu họ Phạm Hữu Nhậm, Phạm Hữu Tá.

101. Võ Tá Thì (1745-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 22 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu thiêm sai phủ liêu.
Em Võ Tá Cơ, Võ Tá Kiên và Võ Tá Bật; chú Võ Tá Dự.

102. Lê Thì Hoan (1746-?)

Người xã Phú Hào, huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

103. Trần Danh Siêu (1743-?)

Người làng Vạn Phần, huyện Đông Thành, nay là xã Điền Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Biền sinh hợp thức, 24 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Trần Danh Thự.

104. Nguyễn Địch Liên

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quân Thủ hiệu. Năm Bính Ngọ chết vì việc nước.
Em họ Nguyễn Địch Bàn, anh họ Nguyễn Địch Vượng, chú họ Nguyễn Địch Bân, bác họ Nguyên Địch Khuê.

105. Trịnh Chử (1743-?)

Họ Tôn thất.
24 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Anh Trịnh Bích, Trình Thì.

106. Nguyễn Tông Hải

Người xã Yên Khê, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Yên Trường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Trước thi hương đỗ Hương cống, sau chuyển sang ngạch võ. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

107. Nguyễn Đình Khoan

Người xã Thượng Trì, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Trước thi hương đỗ Hương cống, sau chuyển sang ngạch võ. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan đến chức Cai cơ.

108. Nguyễn Đức Trung

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đức Hiệp, chú Nguyễn Trọng Mại.

109. Nguyễn Đình Tuân

Người xã yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Em Nguyễn Đình Xuyến, anh Nguyễn Đình Bát.

110. Nguyễn Mậu Phác

Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ, chết vì việc nước.
111. Dương Đình Hài
Người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
 

112. Nguyễn Đình Hòe
Người xã Câu Tử, huyện Duy Tiên, any thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

113. Phạm Huy Dật

Người xã Cao Mỗ, huyện Thần Khê, nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ sưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu

114. Nguyễn Hữu Diệm

Người xã Mỹ Dụ, huyện Hưng Nguyên, nay thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

115. Nguyễn Danh Thái

Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã Phú Phương, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

116. Nguyễn Gia Bàn (1745-?)

Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
25 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

117. Hoàng Nghĩa Nhị

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Trấn thủ đạo An Quảng.
Cháu Hoàng Nghĩa Bá.

118. Võ Tá Lệ

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Võ Tá Trung, cháu gọi Võ Tá Thụy là chú, anh họ Võ Tá Dao.

119. Võ Tá Dao (1746-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
27 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Trấn thủ Nghệ An.
Con Võ Tá Thụy, cháu gọi Võ Tá Trung là bác, em họ Võ Tá Lệ.

120. Võ Tá Dự (1748-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Cai cơ, Thủ hiệu, Thiêm sai phủ liêu.
Sau đổi sang họ Dương (Dương Vũ Dự).
Con Võ Tá Cơ, cháu họ Võ Tá Kiên, Võ Tá Bật, Võ Tá Thì.

131. Trịnh Tiêm

Họ Tôn thất.
Biền sinh hơp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Em Trịnh Thuyên, Trịnh Chung, Trịnh Tư, anh em đỗ cùng khoa.

123. Nguyễn Hữu Lý

Người xã Mậu Lâm, huyện Nga Sơn, nay thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

124. Trịnh Nhuận (1748-?)

Họ Tôn thất.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
(Các tài liệu chữ Hán đều ghi là chữ nhuận 潤 có bộ thủy, nhưng tác giả Nguyễn Thúy Nga cho rằng người họ chúa Trịnh đều có bộ mộc nên đã đổi lại thành chữ nhuận có bộ mộc, xem hình kèm theo).

125. Ngô Hữu Khoát (1748-?)

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

126. Trần Danh Chấn

Không rõ quê quán.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

127. Trịnh Liêm

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

128. Trần Danh Thự.

Người xã Vạn Phần, huyện Đông Thành, nay là xã Điền Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trần Danh Siêu.

129. Phan Đình Cung

Người xã Nam Ngạn, huyện La Sơn, nay thuộc Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

130. Hoàng Đình Đức (1750-?)

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, 23 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Con của Hoàng Đình Thể; anh Hoàng Đình Duệ, Hoàng Đình Khuê.
Làm quan đến Trấn thủ xứ Hưng Hóa.

131. Nguyễn Đình Trụ

Người xã Linh Đường, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

132. Trịnh Quyền

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
133. Trịnh Thì
Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trịnh Chử, Trịnh Bích.

134. Nguyễn Ngô Khanh

Người xã Văn Trinh, huyện Ngọc Sơn, nay thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

135. Nguyễn Đức Hiệp

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuọc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Nguyễn Đức Trung, chú Nguyễn Đức Mai.

136. Trịnh Bích

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trịnh Chử, anh Trịnh Thì.

137. Trịnh Bàn

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

138. Lê Trọng Phan (1748-?)

Người xã Bùi Xá, huyện La Sơn, nay thuộc xã Bùi Xã, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

139. Nguyễn Đình Xuyến (1743-?)

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 30 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu, Tham đốc.
Anh Nguyễn Đình Trân, Nguyễn Đình Bát.

140. Nguyễn Gia Quan

Người xã Phương Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quyền phủ Hiển lĩnh kiêm Trấn thủ Thái Nguyên.

141. Bùi Thế Toại.

Người xã Tiên Lý, huyện Đông Thành, nay thuộc tỉnh Nghệ An.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Hiến lĩnh Trấn thủ Nghệ An.
142. Lê Thế Siêu
Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thiêm sai.

143. Lê Thế Định

Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
25 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thiêm sai.
Con Lê Thế Quýnh.

144. Nguyễn Huy Chiểu

Người xã Nhân Môn, , huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

145. Vũ Đình Khanh

Người xã Tiên Cầu, huyện Kim Động, nay thuộc xã Hiệp Cường, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
(Sách Đại Việt sử ký tục biên ghi: “Tạo sĩ mới đỗ khoa Ất Mùi Vũ Đình Khanh trong ngày phúc duyệt có mang sách vào trường, bị bắt, phải xóa tên).

146. Ngô Trọng Định

Người xã Phương Quế, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Liên Phương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

147. Nguyễn Thế Dao

Người xã Nghi Khê, huyện Tứ Kỳ, nay thuộc xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

148. Nguyễn Đăng Nhương

Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

149. Đoàn Bá Sướng

Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuọc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Đoàn Bá Trọng

150. Nguyễn Quốc Quý

Người xã Lộng Đình, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

151. Nguyễn Địch Chủng (1746-?)

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, 29 thuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Cháu nội Nguyễn Địch Côn; cháu gọi Nguyễn Địch Tăng là ông bác; em Nguyễn Địch Trọng, Nguyễn Địch Quỳnh.

152. Nguyễn Danh Triêm
Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã Phù Phương, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan thủ hiệu. Chết vì việc nước, được phong Tráng liệt đại vương.
(Có lẽ ông chính là Chiêm Vũ Hầu chết vì loạn kiêu binh năm 1784. Xin tham khảo nguồn sau: http://dulichvietnam.asia/vn/?product.item.2856)

153. Lê Đình Cẩn (1726-?)

Người xã Nhân Mục Cựu, huyên Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 51 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

154. Trịnh Đĩnh

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước năm Bính Ngọ.
155. Nguyễn Địch Bân
Ngời xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Hiển lĩnh, thiêm sai, Trấn thủ Hải Dương. Chết vì việc nước.
Con Nguyễn Địch Bân; cháu họ Nguyễn Địch Liêm, Nguyễn Địch Vượng; anh họ Nguyễn Địch Khuê.

156. Đỗ Đình Diệm

Người xã Tiểu Lan, huyện Đông Yên, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Anh Đỗ Đình Liễn.

157. Nguyễn Danh Lan

Người xã Ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay tuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.

158. Trần Vũ Định

Người xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, nay thuộc xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

159. Tạ Đăng Liêm

Người xã Đại Phùng, huyện Đan Phượng, nay thuộc thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Cố nội là Tạ Đăng Vọng, ông nội là Tạ Đăng Huân, cha là Tạ Đăng Đạo đều đỗ Tiến sĩ ngạch văn.

160. Trịnh Tự Hiển

Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ quản thủ hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Trịnh Tự Đĩnh, anh Trịnh Tự Thuần, Trịnh Tự Thức.

161. Hoàng Nghĩa Trụ.

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, thi một lần đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ Hiệu.
Con Hoàng Nghĩa Yến, cháu nội Hoàng Nghĩa Nhượng.

162. Trịnh Thiều

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.

163. Vũ Tá Ngạnh

Người xã Hoa Đường, huyện Đường An, nay thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

164. Nguyễn Đình Cẩn

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.

165. Võ Tá Siêu.

Ngưỡi xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Làmquan Thủ hiệu.

166. Võ Tá Diệm

Ngưỡi xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.

167. Hoàng Đình Duệ

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
 Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, anh Hoàng Đình Khuê, anh em đỗ cùng khoa.

168. Hoàng Đình Khuê

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
 Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, em Hoàng Đình Duệ, anh em đỗ cùng khoa.

169. Khúc Đăng Liêm

Người xã Lãng Khuê huyện Ngự Thiên, nay thuộc huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

170. Nguyễn Gia Huyên

Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.

171. Đoàn Bá Trọng

Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Đoàn Bá Sưởng.

172. Ngô Phúc Chúng

Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc (thị trấn Nghèn), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Con Ngô Phúc Hoành.

173. Hoàng Phùng Gia

Người xã Vân Cốc, huyện Bạch Hạc.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Đô đốc triều Tây Sơn.
Tục gọi là Tạo Ba Bầu. Con thứ 3 Dục quận công.

174. Nguyễn Đăng Nhượng.

Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đăng Nhưỡng, chú Nguyễn Đăng Đệ.

175. Bùi Đăng Huân

Người xã Đoàn Đào, huyện Phù Dung, nay thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

176. Trịnh Giai

Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
177. Nguyễn Đăng Đệ
Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu họ Nguyễn Đăng Nhưỡng, Nguyễn Đăng Nhượng.

178. Dương Vị

Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em họ Dương Dận, Dương Thiều.

179. Nguyễn Đình Bát

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hn.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đình Xuyến, Nguyễn Đình Tuân.

180. Ngô Trọng Thọ

Người xã Mỹ Thự, huyện Đường An, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

181. Phạm Ngô Thạch (1765-?)

Người xã Da Cầu, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu họ Phạm Ngô Trác.

182. Lê Xuân Trác

Người xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

183. Nguyễn Trọng Nhẫn

Người xã Mỹ Điền, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

184. Đỗ Đình Liễn

Người xã Tiển Lan, huyện Đông Yên, nay thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Đỗ Đình Diệm.

185. Nguyễn Địch Khuê

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hơp thức, đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễ Địch Vương, cháu họ Nguyễn Địch Bàn, Nguyễn Địch Liên em học Nguyễn Địch Bân.

186. Nguyễn Đình Can

Người xã Đặng Xá, huyện Lang Tài, nay thuộc xã Trung Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễn Đình Khôi, cháu họ Nguyễn Đình Danh.

187. Dương Dận

Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Dương Thiều, anh em cùng khoa; anh họ Dương Vị.

188. Dương Thiều

Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Dương Dận, anh em cùng khoa; anh họ Dương Vị.

189. Lê Hữu Đạm

Người xã An Tĩnh, huyện Quảng Xương, nay thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

190. Ngô Phúc Thưởng

Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc (thị trấn Nghèn), huyên Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

191. Nguyễn Thọ Doãn

Người xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

192. Phạm Trọng Trạc

Người xã An Luật, huyện Gia Lộc, nay thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

193. Hoàng Đình Thực (1765-?)

Người xã Linh Đường, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Tả tiệp.

194. Trịnh Tự Thuần (1765-?)

Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễn (?) Tự Đĩnh, em Nguyễn Tự Hiển, anh Nguyễn Tự Thức, anh em đỗ cùng khoa.

195. Trịnh Tự Thức (1769-?)

Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
17 tuổi thi một lần đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Trịnh Tự Đĩnh; em Trịnh Tự Hiển, Trịnh Tự Thuần.

196. Nguyễn Hữu Ích

Người xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

197. Nguyễn Đức Bồi

Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơ, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

198. Nguyễn Địch Quỳnh (1765-?)

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu nội Nguyễn Địch Côn; cháu gọi Nguyễn Địch Tăng là ông bác; em của Nguyễn Địch Chủng, anh của Nguyễn Địch Trọng.

199. Trương Đình Vệ

Người xã Vương Xá, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.