Bản nhạc buồn trên đồi Châu Ê
Vương Tâm
Tôi nghe như có tiếng u trầm vang lên. Hẳn là tiếng người đang than hoà trong làn gió? Hương nhang phảng phất toả lan. Tôi vội rảo chân qua những bậc đá bước lên, thì ra có một thanh niên đang quỳ trước mộ bà Điềm Phùng Thị. Anh ta chắp tay và miệng nói những gì đó mà tôi không thể nghe được. Những âm thanh nghẹn lại. Tôi đứng lặng trong một không gian chông chếnh nỗi u hoài.
Trước mặt tôi bức tượng người bằng đá ong đỏ au trong ánh nắng, tĩnh lặng phía sau hai ngôi mộ của vợ chồng bà. Thấy tôi đến, anh thanh niên dong dỏng cao đứng dậy cúi chào, rồi im lặng bước đi. Tôi vội tiến tới bắt tay, hỏi vài câu nhưng anh ta lấy khăn lau nước mắt rồi chỉ vào ngôi mộ bà Điềm Phùng Thị, miệng thốt ra vài tiếng u ơ như muốn nói điều gì đó, mà không thể diễn tả nổi. Tôi chợt nhớ ra có thể đây là một học trò của bà trong những lớp điêu khắc cho người câm điếc ngày nào.
Tất cả bỗng tĩnh lặng. Gió như cũng đứng im. Tôi cúi đầu, chắp tay trước mộ bà. Bức tượng người đá ong trên cao im lặng nhìn tôi. Dường như âm thanh câm lặng ấy muốn thét lên điều gì đó. Có thể là những nỗi niềm còn ẩn ức. Những suy tư cần chia sẻ. Những nỗi đau thầm kín đang sụt sùi trong mộng ước cần giải toả của con người. Phải chăng đó chính là tín hiệu phát ra từ ngôn ngữ điêu khắc của Điềm Phùng Thị. Sự trầm tĩnh của đá nhưng lại lung linh như lửa vậy…
Chả thế mà đa phần tượng của bà đều xoay quanh mô tuyp khối “Im lặng”, “Chắp tay”, “Cầu nguyện”, “Cổng hư vô cõi Phật”. Phải chăng mọi điều đều xuất phát từ 7 miếng ghép xoay chuyển đầy biến ảo, đó là 7 “mô đun” của bà liên quan đến cõi thiền đầy trầm luân. Phải chăng ngay từ khi bước chân vào làng hội hoạ, bà đã từng bảo vệ luận án tiến sĩ ở Pháp cùng với chồng về nha khoa, có cái tên “Tục ăn trầu”, cũng đã rất gần với tư duy của ngôn ngữ tạo hình trên đá. Cái màu đỏ nồng ấm của trầu cau khi hoà lẫn đá vôi đã hoà sắc trong từng bản nhạc trầm buồn trên từng thớ đá. Có người nói tượng của bà là ký hiệu, hay bí ẩn, hoặc vô ngôn cũng đều ánh từ màu đỏ thắm trên môi người ấy mà thôi.
.
Trước mặt tôi bức tượng người bằng đá ong đỏ au trong ánh nắng, tĩnh lặng phía sau hai ngôi mộ của vợ chồng bà. Thấy tôi đến, anh thanh niên dong dỏng cao đứng dậy cúi chào, rồi im lặng bước đi. Tôi vội tiến tới bắt tay, hỏi vài câu nhưng anh ta lấy khăn lau nước mắt rồi chỉ vào ngôi mộ bà Điềm Phùng Thị, miệng thốt ra vài tiếng u ơ như muốn nói điều gì đó, mà không thể diễn tả nổi. Tôi chợt nhớ ra có thể đây là một học trò của bà trong những lớp điêu khắc cho người câm điếc ngày nào.
Tất cả bỗng tĩnh lặng. Gió như cũng đứng im. Tôi cúi đầu, chắp tay trước mộ bà. Bức tượng người đá ong trên cao im lặng nhìn tôi. Dường như âm thanh câm lặng ấy muốn thét lên điều gì đó. Có thể là những nỗi niềm còn ẩn ức. Những suy tư cần chia sẻ. Những nỗi đau thầm kín đang sụt sùi trong mộng ước cần giải toả của con người. Phải chăng đó chính là tín hiệu phát ra từ ngôn ngữ điêu khắc của Điềm Phùng Thị. Sự trầm tĩnh của đá nhưng lại lung linh như lửa vậy…
Chả thế mà đa phần tượng của bà đều xoay quanh mô tuyp khối “Im lặng”, “Chắp tay”, “Cầu nguyện”, “Cổng hư vô cõi Phật”. Phải chăng mọi điều đều xuất phát từ 7 miếng ghép xoay chuyển đầy biến ảo, đó là 7 “mô đun” của bà liên quan đến cõi thiền đầy trầm luân. Phải chăng ngay từ khi bước chân vào làng hội hoạ, bà đã từng bảo vệ luận án tiến sĩ ở Pháp cùng với chồng về nha khoa, có cái tên “Tục ăn trầu”, cũng đã rất gần với tư duy của ngôn ngữ tạo hình trên đá. Cái màu đỏ nồng ấm của trầu cau khi hoà lẫn đá vôi đã hoà sắc trong từng bản nhạc trầm buồn trên từng thớ đá. Có người nói tượng của bà là ký hiệu, hay bí ẩn, hoặc vô ngôn cũng đều ánh từ màu đỏ thắm trên môi người ấy mà thôi.
.
Mộ bà Điềm Phùng Thị
Lại nữa có người nói 7 mô đun của bà là 7 mẫu tự, là 7 sắc cầu vồng, hay 7 nốt nhạc, đều đúng cả. Những sao lại u uẩn nỗi niềm là vậy, có thể hình dung, trong cõi vô thường của đạo Phật, con số 7 lại thể hiện vạn vật linh thiêng khi đức Phật vừa ra khỏi lòng mẹ. Ngài bước đi 4 hướng, mỗi hướng 7 bước. 7 bước là chỉ quyền lực sáng tạo của con người khám phá thế giới trí tuệ và tâm hồn con người khi hoà cùng vũ trụ…
Bà bước vào thế giới hội hoạ với nhiều điều lạ lùng, khi đã bước sang tuổi 40 (năm 1960). Bà từng tốt nghiệp đại học Y khoa ở Hà Nội năm 1946, rồi đi theo cách mạng làm việc cho đến năm 1948, thì sang Pháp chữa bệnh. Sau đó bà tiếp tục học và bảo vệ luận án Bác sĩ nha khoa (học hàm Tiến sĩ), năm 1954. Với những người thành danh như bà quả là khó lý giải câu chuyện vì sao bà dứt hẳn lĩnh vực y khoa để dấn thân vào hội hoạ, và bắt đầu ngay từ điêu khắc. Bà say mê đến nỗi, thời kỳ đầu bà còn tranh thủ đúc tượng ngay trong nhà bếp, mỗi khi rời dao kéo ở phòng khám trở về. Thậm chí có những đêm cảm hứng tuôn trào, để giữ giấc ngủ cho chồng, bà còn ôm tượng vào phòng tắm để chau chuốt cho đúng ý tưởng mình theo đuổi.







