Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

RFI: HỒI ỨC VỀ CHIẾN THẮNG ĐỐNG ĐA 1789

Hồi ức về Chiến thắng Đống Đa 1789 
 
Trọng Thành
 
Một trong những ngày hội sớm nhất trong năm tại Việt Nam là Hội Đống Đa, ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch. Đây là ngày hội kỷ niệm chiến thắng của Tây Sơn đối với quân đội nhà Thanh. Chiến thắng năm Kỷ Dậu 1789 ngày càng được tôn vinh là một thực tế. Tuy nhiên, rất nhiều khoảng tối của giai đoạn lịch sử này cần được được các nhà nghiên cứu giải đáp.

Năm Nhâm Thìn 2012 vừa bắt đầu. Những ngày đầu năm mới là dịp các gia đình sum họp, bạn bè gặp gỡ mừng Xuân. Mùa Xuân cũng là mùa hội. Một trong những ngày hội sớm nhất trong năm tại Việt Nam là Hội Đống Đa, ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch. Theo nhiều tư liệu lịch sử cũng như theo những lời truyền miệng, ngày mùng 5 Tết cách đây 223 năm, quân đội Tây Sơn do Nguyễn Huệ, tức hoàng đế Quang Trung chỉ huy, từ Nam thần tốc ra Bắc, tiến vào Thăng Long, kết thúc chiến dịch dẹp tan đội quân viễn chinh của nhà Thanh.

Trong sử sách chính thống ở Việt Nam hiện nay, Quang Trung được coi như là một biểu tượng kiệt xuất của tinh thần dân tộc Việt Nam, một trong những thần tượng mà rất nhiều người Việt Nam ngưỡng mộ.

Trong những năm gần đây, tại Việt Nam, nhiều hoạt động văn hóa lớn gắn liền với hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ và thời kỳ Tây Sơn lần đầu tiên được tổ chức, ví dụ như việc diễn lại cảnh Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế tại Festival Huế lần đầu tiên vào năm 2008, … Một trong những bộ phim lịch sử cổ trang hoành tráng nhất được thực hiện tại Việt Nam, gắn liền với thời kỳ Quang Trung, mang tên gọi « Tây Sơn hào kiệt », đã ra mắt khán giả năm 2010.

Chiến thắng năm Kỷ Dậu 1789 ngày càng được tôn vinh là một thực tế.

Các khách mời của Tạp chí Khoa học của RFI hôm nay là tiến sĩ Nguyễn Nhã từ Sài Gòn và nhà sử học Dương Trung Quốc từ Hà Nội. Một trong những câu hỏi chính mà chúng tôi mong muốn được hai ông giải đáp là hồi ức và những tưởng niệm về chiến thắng Đống Đa và thời kỳ Quang Trung. Bên cạnh thực tế của sự tôn vinh chiến thắng Đống Đa và hình tượng Quang Trung, còn rất nhiều khoảng tối của lịch sử trong giai đoạn này cần được bổ khuyết, đây cũng là điều mà chúng ta hy vọng sẽ được các nhà nghiên cứu dần dần khai mở.

Mãi mãi mùa Xuân Kỷ Dậu

Khách mời đầu tiên của chúng ta là nhà sử học Nguyễn Nhã. Ông là một trong những nhà nghiên cứu, ngay từ những năm 1960, đã dồn nhiều tâm sức cho việc phục dựng lại hình ảnh Nguyễn Huệ và thời kỳ Tây Sơn.

RFI : Xin kính chào nhà sử học Nguyễn Nhã, ngày đầu Xuân hôm nay, có một chủ đề chắc được nhiều người quan tâm là sự kiện mùng 5 tháng Giêng, tức là trận chiến của quân đội Quang Trung đẩy lùi quân Thanh, cách đây đã hơn 2 thế kỷ. Tuy diễn ra lâu rồi, nhưng đây là sự kiện rất đặc biệt, về mặt lịch sử, cũng như về mặt văn hóa. Sự kiện này để lại nhiều kỷ niệm, cũng như các suy nghĩ trong nhiều thế hệ. Nhân dịp sắp tới dịp kỷ niệm, xin ông cho biết đôi nét về sự kiện này. 

Nhà sử học Nguyễn Nhã : Nói đến Mùa Xuân Kỷ Dậu là nói đến chiến thắng Đống Đa, như chúng ta biết. Từ khi vua Lê Chiêu Thống sang cầu cứu nhà Thanh, thì vua nhà Thanh là Càn Long chắc là rất mừng, vì đó là một cơ hội tốt, cũng lấy cớ để phục hồi lại nhà Lê, nhưng thật ra là để thể hiện những sức mạnh của đế quốc Đại Thanh lúc đó. Chính hồi đó Tôn Sĩ Nghị cũng cho là sức mạnh của quân Thanh là vô địch, nên rất là ỷ y, mùa xuân Kỷ Dậu ấy thì cho quân sĩ nghỉ ngơi. Nhưng không ngờ rằng, Nguyễn Huệ đã thể hiện thiên tài quân sự : 20 vạn quân Thanh chỉ trong có 5 ngày là bị tiêu diệt và phần còn lại chạy về Trung Quốc.

Tôi nghĩ rằng, đây là một võ công oanh liệt vô tiền khoáng hậu, trong một thời gian quá nhanh, mà đánh dàn trận chính quy, chứ không phải chỉ đánh du kích mà thôi. Thành thử tôi nghĩ rằng, mọi người Việt Nam, kể cả những người đối thủ của Tây Sơn, của Quang Trung, cũng phải thừa nhận.

RFI : Xin được hỏi nhà sử học một câu cuối cùng, trong sự phát triển của Việt Nam và khu vực, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã để lại những giá trị gì ? 

Nhà sử học Nguyễn Nhã : Đây không phải chỉ là một cuộc đại thắng. Chiến công hiển hách đó mở đầu một triều đại rất ấn tượng. Bởi vì, lần đầu tiên, chữ nôm chính thức được Quang Trung cho sử dụng trong các văn bản, thay vì chữ Hán. Đây là điều thể hiện rất rõ nét bản sắc Việt Nam. Chúng ta thấy, từ thế kỷ thứ X, các vua ở Việt Nam đều có xưng là hoàng đế, đại hoàng đế, Đại Việt, Đại Cồ Việt, … nhưng về vấn đề văn hóa vẫn còn có sự nô lệ ở mức độ nào đó, nhất là khi mà sử dụng chữ Hán và dùng Nho học làm khoa cử. Theo tôi, đấy là một sự sai lầm. Bởi vì Nho học tức là học sách Tàu, lịch sử Tàu, và đặc biệt là trong các kỳ thi hương không có thi Nam sử, mà chỉ thi Bắc sử. Quang Trung chính là người mở đầu tinh thần độc lập về văn hóa như thế.
Thứ hai là Quang Trung rất trọng những hiền tài. Khi làm vua rồi, đối với ông La Sơn Phu Tử - Nguyễn Thiếp hết sức là trọng thị. Tôi nghĩ rằng, chỉ cần hai điều đó thôi đã để lại cho đời một tinh thần, một di sản rất quý giá.

Tôi là một người hồi còn trẻ, rất ngưỡng mộ sự nghiệp của Quang Trung. Khi lập sự nghiệp, Quang Trung chỉ mới là thanh niên thôi, và khi mất ông mới có 40 tuổi. Vì vậy, khi tôi chủ biên tập Văn Sử Địa, tôi đã ra số đặc khảo về Quang Trung (số 9-10), số 13 là về chiến thắng Đống Đa, số 21 là kỷ niệm phong trào Tây Sơn.

Tôi nghĩ là người Việt Nam, bất cứ ai, bất cứ ở đâu, cả già hay trẻ, chắc đều có chia sẻ cũng như tôi vậy. Theo tôi, phải thừa nhận là Quang Trung – Nguyễn Huệ không những là một thiên tài quân sự, mà còn là một Đại Hùng của dân tộc.

(…) Mong rằng mùa Xuân Kỷ Dậu sẽ mãi mãi đến với chúng ta.

Giỗ trận Đống Đa vốn của người Hoa

Tiếp theo đây là những lời kể của nhà sử học Dương Trung Quốc và những ghi nhận của ông về chiến thắng Đống Đa và một số thành quả mà triều đại Tây Sơn đã để lại. 

Nhà sử học Dương Trung Quốc : Đối với người Việt Nam, cái Tết gần như được kết thúc bằng một sự kiện, hay một lễ kỷ niệm đã trở thành một truyền thống, một tập quán, không chỉ riêng của người dân Hà Nội, mà còn của nhiều địa phương trên cả nước. Đó là cái giỗ trận. Giỗ trận là một cách nói một mạc, giản dị, nhắc lại trận chiến đánh thắng quân Mãn Thanh ở Đống Đa.

Cái quá trình diễn ra trận này chắc nhiều người được biết, nhưng ai cũng nhớ tới hình tượng đã được văn học hóa, như trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí có hình ảnh của hoàng đế Quang Trung cùng đại quân của mình, kéo vào Thăng Long, giữa một mùa xuân đầy xác pháo, khói súng và ánh sắc của hoa đào. Có thể nói đấy là biểu tượng của chiến thắng có thể nói lừng lẫy nhất trong lịch sử bảo vệ nền độc lập và chủ quyền của tổ quốc, trước các thế lực xâm lược từ phương Bắc tới. Nhưng chiến trận năm Kỷ Dậu không chỉ ghi nhận chiến thắng chống ngoại xâm, như nhiều thế hệ cha ông ta đã lập nên trước đây trong lịch sử.

Những đóng góp rất to lớn của nhà Tây Sơn, đặc biệt là hoàng đế Quang Trung nói riêng, đã chấm dứt tình trạng phân tranh Nam Bắc, tạo ra nền tảng cho sự thống nhất quốc gia và trên một lãnh thổ đã tương đối hoàn chỉnh, sau nhiều thế kỷ mở mang bờ cõi và cũng là tiến trình không ngừng đương đầu với các thế lực từ bên ngoài, cho dù triều đại Tây Sơn sau đó rất ngắn ngủi, vì thất bại trước Gia Long. Triều Nguyễn lên ngôi, kế thừa thành quả thống nhất quốc gia của Quang Trung. Về mặt chính trị, trong sử sách nhà Nguyễn vẫn gọi Tây Sơn là ngụy, là giặc, … cho nên rõ ràng về mặt kỷ niệm cái chiến thắng Đống Đa không được duy trì như một quốc lễ, trong bối cảnh chiến thắng này gắn với nhà Tây Sơn, là một địch thủ của nhà Nguyễn.

Phải nói là cho đến trước năm 1945, quanh khu vực Đống Đa, chỉ có diễn ra một lễ hội, cũng gọi là giỗ trận, nhưng theo sách vở để lại, chủ yếu là do những người Hoa tổ chức để nhớ lại tổ tiên của mình chăng ? Người Việt thì họ đến đấy, họ chiêm ngưỡng, họ quan sát lễ hội ấy, nhưng không phải là lễ hội để giỗ những chiến binh của Tây Sơn, mặc dù gần đấy, chúng ta thấy có những ngôi đền, ngôi chùa rất kín đáo, có tượng của Đức Ông, nhưng thực ra là hiện thân của hoàng đế Quang Trung.

Năm thứ 1 Việt Nam DCCH : Lần đầu tiên công khai kỷ niệm Quang Trung

Mặc dù hơn hai thế kỷ đã trôi qua, hồi ức về Chiến thắng Đống Đa 1789 dường như vẫn còn tươi rói trong ký ức của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, cũng như nhiều người Việt Nam ngày nay. Trên thực tế, chiến thắng lịch sử của thời kỳ Quang Trung – Nguyễn Huệ mới chỉ được các cộng đồng thuộc xã hội dân sự tại Việt Nam công khai tưởng niệm cách đây mới hơn nửa thế kỷ. Nhà sử học Dương Trung Quốc nhấn mạnh đến tính chất lịch sử của việc phục hồi ký ức về cuộc chiến 1789, mấy tháng sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập. Đây là một điều mà chắc còn ít người biết đến. 

Nhà sử học Dương Trung Quốc : Biên niên sử ghi nhận rằng, lần đầu tiên người Việt Nam tổ chức giỗ trận Đống Đa theo đúng nghĩa, tức là kỷ niệm chiến thắng của hoàng đế Quang Trung, diễn ra vào năm 1946, tức là mùa xuân độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dẫu sao, cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng là đỉnh cao của tinh thần dân tộc, chống đô hộ nước ngoài. Cho nên trong sử sách hiện nay vẫn còn lưu lại những hình ảnh, những bài báo cho thấy rõ là, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó đã khai thác rất là triệt để những yếu tố mang tinh thần dân tộc, để động viên lòng yêu nước của dân.

Mùa Xuân năm Bính Tuất, Tết độc lập đầu tiên, lần đầu tiên chúng ta giữ được hình ảnh người dân lũ lượt kéo đến gò Đống Đa để kỷ niệm ngày chiến thắng Đống Đa. Đấy có thể là một biểu trưng rất là tiêu biểu, và kể từ đó trở đi, ngay cả trong cái thời kỳ ta gọi là « tạm chiếm », thì cái nếp tổ chức giỗ trận Đống Đa, như là kỷ niệm chiến thắng Quang Trung vẫn được duy trì, và có thể nói từ sau 1954 đến nay, nó là ngày lễ trọng của Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung. Cách đây khoảng hơn 1 năm, tại ngôi chùa Kim Mã, nơi trước kia cơ quan văn hóa của Hà Nội đã làm một tấm bia ghi nhận nơi đây chính là nơi chôn cất các nghĩa sĩ Tây Sơn, đã diễn ra lễ tưởng niệm các nghĩa sĩ, cách không xa, nơi diễn ra giỗ trận Đống Đa.

Tôi nghĩ rằng, những giai đoạn lịch sử hiện đại về sau của Việt Nam rất phức tạp, với nhiều chế độ chính trị khác nhau, nhưng tôi nghĩ, chính thể nào cũng đều tôn vinh những người yêu nước cả, đều tự hào về truyền thống đánh giặc ngoại xâm.

Bài học xưa : Chiến tranh và Hòa bình

RFI : Thưa ông, xin được hỏi ông một câu dành cho những ai quan tâm sâu hơn về lịch sử, liên quan đến việc phục hồi hình ảnh Quang Trung – Nguyễn Huệ, mà ông vừa nói. Câu hỏi đặt ra ở đây là, không biết vì sao hình tượng Quang Trung và chiến thắng này không được chính thức (hay công khai) tôn vinh, mặc dù trong thời kỳ trước năm 1945, việc làm này không hẳn đã bị cản trở từ phía chính quyền thuộc địa ? Phải chăng điều này là do triều đại nhà Nguyễn vẫn tiếp tục có một ảnh hưởng nhất định đến tâm lý của xã hội ? 

Nhà sử học Dương Trung Quốc : Theo tôi được biết, trước năm 1945, chưa bao giờ có một hoạt động công khai mang tính quốc gia của nhà nước. Cho dù là nhà nước thuộc địa, vì đằng sau triều đại phong kiến vẫn còn tồn tại. Mà chúng ta biết, do những hệ lụy lịch sử, triều Nguyễn coi Quang Trung là nghịch tặc, và ngụy triều. Cho nên, chắc chắn là việc tổ chức công khai có tính quốc gia, sự tôn vinh đối với Quang Trung, với Tây Sơn là điều không thể xảy ra dưới triều Nguyễn được. Còn người dân có thể có cách biểu hiện của mình một cách kín đáo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, thì việc này có thể có.

RFI : Thưa ông, tại sao nhiều người lại cố gắng phục dựng lại niềm tự hào hoặc những kỷ niệm về thời đó vào thời điểm bây giờ ? 

Nhà sử học Dương Trung Quốc : Cũng như tôi nói, thời kỳ tồn tại nhà Nguyễn cho đến năm 1945 thì mới chấm dứt, do những hệ lụy lịch sử thì việc tôn vinh Quang Trung có thể nói thẳng là cấm kỵ, vì thế mà người dân thì phải kín đáo (tưởng nhớ), bên cạnh lễ hội của người Hoa, diễn ra tại khu vực Đống Đa, mà người Việt Nam cũng thừa nhận như một dấu tích của chiến thắng của cha ông xưa.

Chúng tôi biết sau này, Sở văn hóa Hà Nội, trên cơ sở các nghiên cứu sử học đã ghi nhận địa điểm Chùa Kim Mã lâu rồi. Đương nhiên, trong bối cảnh (…) diễn ra một số động thái đặc biệt liên quan đến Biển Đông, trong quan hệ Việt Nam với Trung Quốc, thì rõ ràng, như thế phần nào nó kích thích, nó nhắc nhở. Những hoạt động ấy chứa đựng phần nào không khí thời sự. Bên cạnh việc tiếp tục các lễ hội (liên quan đến thời Tây Sơn) gần như đã trở thành thường niên diễn ra ở Đống Đa, việc tu sửa và nâng cấp một số điểm tại chùa Kim Sơn cũng là để bổ sung thêm, làm cho lễ hội thêm phong phú, và cũng nhắc nhở người Việt Nam luôn nhớ đến bài học xưa.

Tôi cũng muốn nói là, riêng đối với triều đại Tây Sơn, lập được một chiến công vô cùng hiển hách như thế, nhưng chúng ta cũng phải thấy thêm một khía cạnh nữa là bản thân nhà Tây Sơn cũng luôn mong giữ được sự hòa hiếu với Phương Bắc, để bảo vệ sự tự chủ vững bền hơn, mặc dù ông là người chiến thắng. Và điều này cũng đáp ứng được mong muốn của người dân được sống trong hòa bình. Tôi nghĩ đây cũng là một bài học không nhỏ.

Thời Tây Sơn : Rất nhiều dấu hỏi !

RFI : Thưa ông, những điều ông trình bày có thể coi là các đóng góp để lại của Quang Trung – Nguyễn Huệ, đặc biệt là về mặt quân sự. Cũng xin được hỏi ông về những nghiên cứu trong thời gian gần đây có những điểm gì mới, và hiện có những điểm gì tồn nghi, hay những điều cần khai phá trong tương lai ? 

Nhà sử học Dương Trung Quốc : Tôi nghĩ lịch sử là quá trình nhận thức về khoa học, nhưng đồng thời nó cũng gắn rất liền với tâm thế của một quốc gia, tức là những yếu tố mang tính thời sự, mang tính chính trị luôn luôn tác động vào. Như tôi đã nói, kể từ sau khi triều đình nhà Nguyễn không còn nữa, có thể nói là việc nghiên cứu về Quang Trung – Nguyễn Huệ - Tây Sơn được giải phóng. Điều này diễn ra trong tất cả mọi thể chế chính trị ở Việt Nam tiếp theo đó, kể cả trong chế độ Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc, cũng như trong chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam.

Tôi cũng đã theo dõi các nghiên cứu của các sử gia miền Nam trước 1975, thấy được rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Còn ở miền Bắc, cũng có nhiều công trình. Có thể nói nhìn chung, mối quan tâm đầu tiên liên quan đến lịch sử quân sự. Chúng tôi cũng ghi nhận là, bên cạnh việc nghiên cứu, sự tôn vinh đối với hoàng đế Quang Trung và triều đại Tây Sơn tại Việt Nam, có thể nói rất được quan tâm.

Về việc nghiên cứu, dù cá nhân tôi không phải là chuyên gia, tôi cũng ghi nhận là bên cạnh nghiên cứu theo góc độ lịch sử quân sự, người ta cũng bắt đầu quan tâm lĩnh vực khác, các đóng góp khác, đặc biệt là lý giải vì sao triều đại Quang Trung được xây dựng trên một nền tảng rất hoành tráng của một cuộc khởi nghĩa nông dân, thực hiện được mục tiêu thống nhất quốc gia, rồi lại đánh bại quân xâm lăng, rồi lại ngắn ngủi như vậy ?

Ngay cả những « phát triển » trong nội bộ ba anh em Quang Trung cũng là một bài học lớn của lịch sử.
Có thể nói cho đến giờ, việc nghiên cứu những gì liên quan đến nhà Tây Sơn vẫn là một điều hấp dẫn nhiều nhà sử học, nó cũng đòi hỏi việc nghiên cứu ngày càng đi vào chiều sâu hơn, để có thể rút ra được các bài học lịch sử đối với một triều đại tuy ngắn ngủi, nhưng hết sức vẻ vang hoành tráng, và cũng để lại nhiều dấu hỏi không dễ dàng giải đáp được.

"Việt Thanh chiến dịch" - một đóng góp mới 

Thời kỳ Tây Sơn và các hoạt động của cá nhân nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ - Quang Trung, như nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét, đặt ra nhiều câu hỏi. 

Trong những năm gần đây, có một số nghiên cứu đã được đẩy mạnh theo hướng phục dựng lại hiện thực lịch sử rất phức tạp của giai đoạn này, bên cạnh cuốn "Lịch sử nội chiến Việt Nam (1771-1802)" của sử gia Tạ Chí Đại Trường (viết năm 1973 và được tái bản nhiều lần từ năm 1991 đến nay), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với quý thính độc giả nghiên cứu của tiến sĩ sử học Nguyễn Duy Chính (California - Hoa Kỳ), đặc biệt là cuốn biên khảo "Việt Thanh chiến dịch", mới hoàn tất vào đầu năm 2011. Trong cuốn sách này, nhà sử học Nguyễn Duy Chính đã đặc biệt dựa vào các văn bản trao đổi của triều đình nhà Thanh với quan lại địa phương trong thời kỳ này, được tập hợp trong bộ "Khâm định An Nam kỷ lược" (Nhà xuất bản Hải Nam ấn bản năm 2000), để đối chiếu với các tư liệu phía Việt Nam và quốc tế. Nhiều phát hiện và hướng nghiên cứu mới, thậm chí những cách nhìn rất khác, đã mở ra từ cuốn sách này. Theo đánh giá của một số chuyên gia, đây là một công trình tiếp nối truyền thống nghiên cứu sử học xuyên quốc gia, ở Việt Nam được mở ra đặc biệt với tác phẩm của Hoàng Xuân Hãn "Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý" (1949).

Nhân dịp đầu năm, xin kính gửi đến quý thính độc giả lời chúc hạnh phúc và thành công. 

Xin chân thành cảm ơn hai nhà nghiên cứu Nguyễn Nhã và Dương Trung Quốc đã vui lòng dành thời gian cho tạp chí hôm nay. 
 
Bài xem thêm:
Tại Việt Nam, « Sách giáo khoa hiện nay làm học sinh không tin cậy vào môn lịch sử »
Lễ Khai ấn đền Trần : Linh thiêng hay lừa lọc ?
Việc gán cho rùa Hồ Gươm tính cách « linh thiêng » cản trở việc làm sạch hồ và chữa bệnh cho rùa

 Nguồn: RFI Việt ngữ.

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2012

VỢ CON ANH VƯƠN, ANH QUÝ LÊN HÀ NỘI

Thưa chư vị,

Như chư vị đã biết qua trang của Cu Vinh, hôm nay, các chị con dâu họ Đoàn là vợ anh Vươn, anh Quý đã lên Hà Nội. Đoàn gồm 3 người phụ nữ là Chị Thương, chị Hiền và một chị gái của chị Hiền. Có 3 cháu trai cùng theo mẹ lên Hà Nội (2 cháu con anh Vươn và 1 cháu con anh Quý).

Chúng tôi gồm: Cụ Tạ Trí Hải, Lê Dũng, Phạm Chính đã đến đón các chị ngay từ khi họ đặt chân đến HN.


 Thằng cu nhà anh Vươn đã thích ngay các Glaxy của Lê Dũng

 Nguyễn Xuân Diện và chị Hiền (Vợ anh Quý)

 Phạm Chính và chị Hiền
Khi chúng tôi đang đi đón thì chị Tuyết gọi điện. Biết chúng tôi đi đón các chị Thương, Hiền
thì chị Tuyết lái xe vào ngay với họ.
 Chụp ảnh chung với các chị và các cháu trước khi đi đến chúc Tết cụ Lê Hiền Đức

 Cụ Lê Hiền Đức đón các chị vợ anh Vươn, anh Quý và mọi người vào nhà

 Cụ ôm lấy các cháu


 và mang một hộp bánh cho các cháu



 Cụ Lê Hiền Đức hỏi han ân cần  mọi diễn biến của vụ Đoàn Văn Vươn

 và gọi điện cho Đỗ Hữu Ca, GĐ Sở Công an Hải Phòng yêu cầu 
lệnh cho lính tuyệt đối không được đánh đập, lăng mạ anh Vươn anh Quý

Cụ Lê Hiền Đức nhờ Phạm Chính ghi lại toàn bộ cuộc trò chuyện giữa cụ và các cô con dâu họ Đoàn.

Được biết, hôm nay, Giáo xứ Thái Hà tổ chức chuyến đi về Nơi đầu sóng Tiên Lãng, thăm gia đình Phê rô Đoàn Văn Vươn. Rất tiếc, vì muốn dành sự bất ngờ cho gia đình nên không liên hệ trước, trong khi đó các chị Thương, Hiền (vợ anh Vươn, anh Quý) đã lên đến Hà Nội.


Nguyễn Đăng Hưng: NGÀY XUÂN KHAI BÚT

Nguyễn Đăng Hưng:
Ngày xuân khai bút
Xuân về từ chồi biếc
Xuân đến từ nụ xinh
Xuân là lộc trời đất
Xuân là hạnh thế gian
***
Xuân về từ nắng ấm
Xuân đến tự heo may
Xuân là lòng tin yêu
Xuân là niềm hy vọng
***
Xuân không chờ mà đến
Xuân không hẹn cũng sang
Xuân bao dung không bờ
Xuân trung thành tới bến
***
Xuân thở theo thời gian
Xuân nhìn qua thế hệ
Xuân không nề dâu bể
Xuân chẳng chấp gian nan
***
Xuân nhắc nhở người đi
Xuân ân cần kẻ ở
Xuân ngui niềm nhung nhớ
Xuân che nỗi cơ hàn
***
Xuân chào người chào đất
Xuân mừng nước mừng dân
Xuân đi vào lịch sử
Xuân gói lại thời cơ
***
Xuân dân tộc còn đây
Xuân dân tộc có ngày
Xuân dân tộc còn đây
Xuân dân tộc có ngày
Sài Gòn mồng hai Tết Nhâm Thìn

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2012

Nguyễn Trọng Vĩnh: TRĂN TRỞ ĐÊM GIAO THỪA

   Trăn trở đêm Giao thừa 
Nguyễn Trọng Vĩnh
Giao thừa suy ngẫm chuyện gần xa
Và cũng điểm qua chuyện nước nhà
Xuân tới chờ xem trời có hửng?
để xua tan mây xám, sương mờ.

Ba thập kỷ qua một cuộc đua
Xung quanh Rồng, Hổ, nước ta Rùa
Vì đâu nên nỗi thua người quá!
Dân tộc anh hùng, xấu hổ chưa?!

Phải đâu đất nước thiếu nhân tài
Đáng trách ai kia bỏ phí hoài
Sợ mất quyền, tiền – sinh đố kỵ
Hay không sáng suốt hóa dùng sai?

Nếu vì sai, hãy sửa đi mau!
Thức tỉnh lương tâm, thiện ý nào!
Rũ bỏ quyền uy, lợi ích nhóm
Bung ra, cho nước mạnh dân giàu!

Đêm 29 Tân Mão
N.T.V

RFI: CHUYỆN CON RỒNG XƯA VÀ NAY


Chuyện con Rồng xưa và nay
Thanh Phương
 
Rồng là con vật do con người tưởng tượng ra. Đó là một con vật không chỉ bò trên mặt đất mà còn có thể bay trên trời. Nếu rồng là con vật sinh ra từ trí tưởng tượng của con người, thì câu hỏi đặt ra là : rồng đã « xuất hiện » từ lúc nào và từ đâu ? Hầu như không thể nào trả lời cho câu hỏi này được, mà người ta chỉ có thể đoán rằng, rồng đã « ra đời » cùng thời với những quái vật tưởng tượng khác, như con nhân sư, người cá,  ...

Hình tượng con rồng không chỉ có ở Trung Quốc hay Việt Nam, mà còn ở nhiều quốc gia khác nữa. Ở Trung Quốc, rồng là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực, thể hiện uy quyền của nhà vua. Thời Hy Lạp cổ đại, rồng là người canh giữ các kho tàng. Trong những chuyện thời châu Âu Trung Cổ, rồng là tên hung ác, chuyên bắt cóc các nàng công chúa xinh đẹp. Nói chung, rồng phương Tây thường thuộc về « phe địch », trong khi ở phương Đông, rồng thường đóng vai « chính diện » hơn.

Trong các chuyện cổ tích châu Âu, rồng thường có ba, bốn đầu, biết phun ra lửa, chặt đầu nào, thì đầu đó tự mọc ra. Những con rồng này thường sống tại các nơi hẻo lánh, rừng thiêng nước độc, gan cùng mình mới dám đặt chân đến.

Hình tượng con rồng ở Việt Nam theo dòng lịch sử

Còn trong văn hóa châu Á, rồng cũng nguy hiểm, nhưng không hẳn là một « lực lượng thù địch », mà thường tượng trưng cho sức mạnh của thiên nhiên. Riêng đối với Việt Nam, hình tượng con rồng đã được thể hiện như thế nào qua các thời kỳ, đối với các vua chúa, cũng như trong dân gian, nhà nghiên cứu Nguyễn Dư ở Lyon tóm lược cho chúng ta :

« Con rồng đối với người Việt Nam rất đặc biệt vì chúng ta là « con Rồng cháu Tiên », nhưng rồng chỉ là con vật tưởng tượng và tiên cũng chỉ là nhân vật tưởng tượng, sống trên trời, trên núi. Có lẽ con rồng đặc biệt quá nên trong 12 con Giáp, 11 con là có thật, sống trên mặt đất, chỉ có rồng là con vật tưởng tượng, mà lại sống trên trời. Từ xưa đến nay, rồng luôn là biểu hiện của nhà vua, cái gì đụng đến vua đều có rồng bên cạnh cả. Ví dụ như thấy vua thì mình gọi là « long nhan », « long thể » là thân hình của vua, áo vua mặc được gọi là « long bào », chỗ vua ở mình gọi là « bệ rồng », thuyền vua đi cũng được gọi là « thuyền rồng ». Các đền đài ngày xưa cũng được trang trí bằng rồng rất nhiều. 

Dưới vua là hàng các quan lớn, tức là xuất thân từ giới sĩ tử. Khi sĩ tử đi học thì ai cũng mong thi đỗ để ra làm quan. Người nào thi đỗ thì ta gọi là « cá hóa rồng », xuất phát từ tích « Cá vượt vũ môn ». Đây là những con cá anh vũ, khi mà vượt qua được vũ môn, thì hóa thành con rồng. Các ông quan của mình ngày xưa thì ông nào cũng phải thơ văn cho thật hay, chữ viết cho thật đẹp. Dân gian mình qua bài « Ông Đồ » rất nổi tiếng của Vũ Đình Liên thì khen các ông là chữ viết như « rồng bay phượng múa ».

Dân gian của mình thì cũng chịu tác động của xã hội theo, cũng có nhiều người mơ lấy được những sĩ tử học hành thành đạt, làm quan lớn. Nên có một câu nghe không được « tiến bộ » cho lắm : « Một ngày dựa mạn thuyền rồng, còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài », tức là lấy được quan thì sướng hơn dân thường nhiều.

Tuy vậy, trong dân gian cũng có cái nhìn tiến bộ hơn, thấy được những bất công của xã hội, nên có câu : « Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu », tương đương với câu : « Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa », nghĩa là ông nào dòng dõi vua quan, thì con cái tiếp tục ăn trên ngồi chốc, còn dân đen thì muôn đời ở dưới. 

Còn đời sống hằng ngày của dân gian Việt Nam thì có nhiều hình ảnh con rồng. Nước ta có một trái cây rất ngon là long nhãn, có nghĩa là mắt rồng, vì hột quả nhãn rất đen. Nhưng long nhãn là tiếng Hán Vìệt, khi gọi qua tiếng Việt thì dân gian gọi là trái nhãn lồng. Chữ « lồng » là do chữ « long ». 

Thế rồi mình có cây xương rồng có nhiều gai, thường được trồng làm hàng rào, có hoa gọi là hoa móng rồng. Con rồng mình đã không thấy được, mà còn tưởng tượng ra cây xương rồng và hoa móng rồng ! Trong các loại rau mình có loại rau gọi là « long tu », người ta tưởng tượng những sợi rau giống như là râu con rồng. 

Khi bạn bè đến thăm nhau, người ta thường chào bằng câu : « Hôm nay rồng đến nhà tôm », mình tự hạ thành hàng « tôm tép », còn người đến thăm mình thuộc hàng cao quý như là rồng. 

Đối với trẻ con, con rồng chỉ là một đồ chơi. Trẻ con lâu lâu rủ nhau rõ chiên, gõ trống rồi đi múa rồng. Đặc biệt có một trò chơi gọi là « rồng rắn lên mây ». Trẻ con rất thực tế, xem ra chúng nhìn vấn đề đúng hơn là người lớn, tức là rồng cũng chỉ là cùng họ với con rắn, cũng đi và uốn éo như vậy, cho nên mới đặt ra trò chơi « rồng rắn lên mây, có cây lúc lắc, có nhà điểm danh, hỏi thăm thấy thuốc còn nhà hay không . . . Tóm lại, hình ảnh con rồng đã ăn sâu vào đời sống của người Việt. 

Nhiều người nói rằng năm Rồng là năm rất tốt. Rồng đương nhiên có thể là tốt hơn các con gà, heo, chó, mèo. Nhưng năm nào người ta cũng có những lý do để nói là năm đó tốt. Năm nay, chúng ta cứ bình tĩnh chờ hết năm, thì sẽ biết là nó tốt hay xấu. Hôm nay, là ngày đầu năm, nhân tiện tôi cũng xin chúc tất cả các thính giả của RFI và bạn bè gần xa, bây giờ rải rác khắp năm châu, một năm vui vẻ, khoẻ mạnh và nhiều thành công. »

Xin cám ơn ông Nguyễn Dư và cũng thay mặt ban Việt ngữ xin kính chúc ông một năm mới được nhiều sức khoẻ và may mắn trong năm Nhâm Thìn này.

Năm con Rồng với áp lực dân số

Vì con rồng thuộc loại động vật « quý hiếm » hơn nhiều so với 11 con giáp khác, mà lại được xem là tượng trưng cho giàu sang và quyền uy, nên nhiều cặp vợ chồng ở châu Á đợi đến năm Thìn để sinh con, và nếu sinh được con trai thì càng tốt. Cho nên, người ta đang sợ là dân số của châu lục này sẽ bùng nổ trong năm nay. Tân Hoa Xã vừa dự báo là trong năm 2012 này, tại Trung Quốc số trẻ em sinh ra sẽ tăng 5%.

Còn bên Hồng Kông thì năm con Rồng đang trở thành cơn ác mộng đối với một số bà mẹ. Lý do là vì mỗi năm vẫn có hàng chục ngàn bà mẹ từ Hoa lục để sinh con, để con mình được hưởng những quyền lợi như công dân Hồng Kông. Những bà mẹ này lấy gần hết số giường vốn rất hạn chế của các bệnh viện phụ sản ở vùng lãnh thổ này và khiến chi phí bệnh viện tăng vọt. Gần đây phụ nữ Hồng Kông đã xuống đường để phản đối tình trạng đó.

Năm nay sẽ lại càng có nhiều người tranh thủ năm Thìn để sản xuất thêm em bé, áp lực lên các bệnh viện phụ sản Hồng Kông sẽ tăng thêm nữa, khiến một số bà mẹ ở cựu thuộc địa Anh quốc không dám nghĩ đến chuyện sinh con năm nay. Thê thảm hơn nữa, một số phụ nữ đang có thai nay không tìm được chỗ trống ở bất kỳ bệnh viện nào, kể cả bệnh viện tư.

Để ngăn chận làn sóng từ Trung Quốc tràn sang, chính phủ Hồng Kông đã siết chặt các quy định nhập cảnh, tăng cường kiểm soát biên giới, thấy bà nào vác cái bụng bầu đi ngang là đuổi về ngay và hạn chế số giường dành cho các bà mẹ từ Hoa lục. Nhưng các bà Trung Quốc cũng chẳng vừa gì: nhiều bà mặc đồ thật rộng để che cái bụng bầu hoặc những ai có tiền thì thuê nhà ở Hồng Kông từ lúc có thai mới vài mấy tháng để tránh bị phát hiện. Một số bà thì liều lĩnh hơn, đợi đến giờ chót mới ôm bụng quằn quại, rên la buộc xe cứu thương cấp tốc đưa họ vào bệnh viện ở Hồng Kông.

Trong khi Trung Quốc đang sợ là dân số sẽ lại tăng vọt năm nay, thì bên Đài Loan, tổng thống Mã Anh Cửu hôm thứ năm tuần trước đã hối thúc các cặp vợ chồng ở nước này sinh thêm con nhân năm con Rồng, để giúp tăng tỷ lệ sinh đẻ, mà trong năm 2010 đã xuống thấp đến mức kỷ lục. Nói chung, từ năm con Rồng lần trước, tức là năm 2000, cho đến nay, sinh lệ sinh sản của Đài Loan đã giảm liên tục.

Để lời kêu gọi có thêm hiệu quả, ông Mã Anh Cửu đã dọa rằng, nếu không có đủ nhân công trong nước, Đài Loan sẽ buộc phải nhập thêm lao động nước ngoài và như vậy vấn đề sẽ thêm phức tạp.

Singapore cũng vậy, chính quyền nước cũng đang hy vọng là năm Nhâm Thìn sẽ giúp đảo ngược xu hướng sụt giảm tỷ lệ sinh sản. Trong hai năm con Rồng trước đó, tức là 2000 và 1988, số trẻ sinh ra ở Singapore đã tăng 10%. Năm nay, người ta dự đoán mức tăng đó sẽ là 8%.

Tại Singapore, tỷ lệ sinh đẻ hiện chỉ là 1,15 em bé/ phụ nữ, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 2,1 cần phải có để dân số có thể được duy trì đều đặn. Vì thiếu nhân công cho nên Singapore đã phải nhập rất nhiều lao động nước ngoài và hiện nay, trong tổng dân chỉ 5,2 triệu dân của nước này, có đến 1/4 là người ngoại quốc.

Những xa xỉ phẩm cho khách hàng Năm Rồng

Như đã nói ở trên, con rồng là tượng trưng cho quyền thế và giàu sang. Cho nên, những nhà giàu ở châu Á cũng thích thể hiện sự giàu sang ấy qua những chiếc xe hạng sang, những túi sách đắt tiền, ...

Các công ty chuyên sản xuất xa xỉ phẩm đã đua nhau chào mời khách nhà giàu, đặc biệt là ở Trung Quốc. Chẳng hạn như hãng Roll-Royce nhân dịp này đã tung ra một kiểu xe mang tên Dragon Phantoms, sản xuất với số lượng hạn chế, với những con rồng vàng vẽ bằng tay hai bên thân xe và rồng thêu trên đồ tựa đầu bằng da. Giá kiểu xe này lên tới hơn gần 1 triệu đôla một chiếc, nhưng chỉ trong tám tuần kể từ khi được tung ra thị trường vào mùa hè vừa qua ở Trung Quốc, tất cả đều được bán sạch, Rolls Royce có thể phải sản xuất thêm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Hãng Versace thì tung ra một kiểu túi sách tay cũng với những hình tượng rồng vàng, giá bán 31.800 đôla Hồng Kông ( 3.100 euro ), với số lượng giới hạn ( 210 chiếc ) với hy vọng sẽ chinh phục thêm khách nhà giàu ở châu Á trong năm Nhâm Thìn này.

Hãng ST Dupont thì chào mời những bật lửa và cây bút có chạm khắc hình con rồng và gắn 88 hột xoàn nhỏ, vì đối với người Hoa, số 8 là số hên. Còn công ty sản xuất đồng hồ của Thụy Sĩ Piaget thì tung ra kiểu đồng hồ Dragon để thu hút thêm khách Trung Quốc. Giới phân tích dự báo là thị trường xa xỉ phẩm ở Trung Quốc sẽ tăng mỗi năm 18%, lên đến 28 tỷ đôla năm 2015 và như vậy là Trung Quốc sẽ qua mặt Nhật Bản về tiêu thụ xa xỉ phẩm.

Nguồn: RFI Việt ngữ.

Lê Thiết Cương: RỒNG TRONG MỸ THUẬT CỔ

 
Kho Rồng
 
Thật là lạ trong thập nhị địa chi tương ứng vơi 12 con vật biểu tượng thì có mỗi rồng là không có ngoài đời thực. Thế nhưng rồng lại xuất hiện nhiều nhất trong lịch sử mỹ thuật Việt suốt từ thế kỷ thứ 10 đến cuối thế kỷ 19.

Giai đoạn 1000 năm Bắc thuộc và trước nữa là thời Đông Sơn thì không có hoặc tới nay vẫn chưa tìm thấy một hiện vật nào hình rồng. Na ná rồng như giun, cá sấu… thì có. Nhưng gần mười thế kỷ sau đó, cùng với sự lên ngôi của Lý‎ Công Uẩn, hình tượng rồng lại trở nên quen thuộc. Có phải là các thế hệ nghệ sĩ cha ông ta thích đề tài rồng, thích vẽ, nặn, khắc con vật này hơn 11 con khác trong 12 con giáp và những con khác hay không? Hay vì rồng là một con vật đặc biệt?
 
Hình r
Hình rồng mây lửa khắc gỗ, điêu khắc đình thế kỷ 17

Trọng trách của rồng


Điều đặc biệt trước tiên như đã nói, rồng là con vật của tưởng tượng. Quan trọng hơn, rồng là con vật cùng một lúc mang (bị mang) hai biểu tượng rất “nghiêm trọng”: biểu tượng quyền lực, từ Lý‎ đến Nguyễn đời nào cũng vậy. Không thấy một ông vua nào khi lên ngôi nghĩ hẳn ra một con vật hoàn toàn khác làm biểu tượng, cũng không thấy ông vua nào chọn một con vật có sẵn khác như trâu hay hươu nai làm biểu tượng. Biểu tượng thứ hai mà rồng phải mang vác là biểu tượng của tín ngưỡng vì rồng nằm trong bộ tứ long, ly, quy, phượng. Sự chọn lựa này chắc cũng ngẫu nhiên thôi bởi vì chẳng ai giải thích được thấu đáo và hợp lý  lý do của sự chọn lựa bốn con vật này tại sao lại linh hơn những con vật khác.


Ấy là còn chưa kể rồng còn phải mang biểu tượng của một trong 12 con giáp (tương đương dân chủ và bình đẳng với lợn gà dê bò…), biểu tượng này của rồng khá “dễ thở”, là tháng thổ đầu tiên trong năm đóng vai trò chuyển êm từ xuân sang hè.


Rồng một lúc phải đóng nhiều vai cho nên rồng xuất hiện nhiều, có thể nói là nhiều nhất so với các con vật khác cũng là dễ hiểu. Ngai vàng, quần áo, mũ mãng, dao kiếm của vua phải có hình rồng, cánh cửa chùa (chùa Phổ Minh), bệ đá chùa (chùa Bối Khê) cũng rồng, cho đến trán bia ở đình đền miếu (ví dụ bia Văn Miếu) cũng vẫn rồng.
 
Rnfg chầu
Rồng chầu mặt nguyệt, sơn son thiếp vàng thế kỷ 1

Nhưng trong đời sống làm gì có con rồng. Cái ga khởi hành trong hiện thực không có sẵn. Các nghệ sĩ cha ông chúng ta đã “làm thay công việc của Chúa”. Đó là sáng tạo ra hiện thực. Trên cơ sở những con vật như giun, rắn, cá sấu, giao long, chim muông, thú, cua cá, họ nhào nặn, cộng trừ nhân chia them bớt… tạo ra một con vật và gọi nó là con rồng rồi áp đặt cho nó vài ba đức tính nọ kia. Đó là công cuộc sáng tạo thứ nhất. Khó khăn, quan trọng nhưng chưa đủ. Cuộc sáng tạo lần hai hay hơn, tức là đưa cái hiện thực không có thực đó, cái hiện thực mình vừa tạo ra đó thành tác phẩm.

Có một kho rồng


1000 năm trải qua các thời kỳ (từ Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Lê Mạt, Nguyễn) hình tượng Rồng đã có nhiều thay đổi từ tạo hình, bố cục, chất liệu. Dễ nhận thấy những nét chính như sau: rồng Lý mượt mà, tinh tế, uốn lượn mềm mại. Rồng Trần nhìn bề mặt giống Lý nhưng tinh thần thì khác, thô và khỏe hơn. Rồng Mạc bỏ hẳn lối uốn khúc hình sin của Lý Trần, tuy ít uốn lượn nhưng vẫn mềm mại gây cảm giác mộc mạc, giản dị. Rồng Lê Trung Hưng và Lê Mạt có hai đột phá là phần thân ở đoạn giữa có thêm một nhịp võng xuống tạo thành hình yên ngựa và thứ hai là hình mây lửa ở đuôi, bờm hoặc kết hợp rồng và những đám mây lửa hòa cùng nhau. Rồng Nguyễn là vẻ đẹp của cầu kỳ, kỹ lưỡng, trau chuốt.
 
Hạ tết
Họa tiết rồng yên ngựa, phần dưới của chân đèn gốm thế kỷ 17

Cách thức thể hiện rồng qua các thời kỳ từ đục đẽo, chạm khắc cho đến đúc, gò, đắp nổi và chủ yếu ở dạng phù điêu. Rồng có mặt trên tất cả các chất liệu: đá, đất nung, gỗ, gốm, đồng, sơn mài. Rồng có ở nhiều dạng bố cục: chữ nhật, tròn, lá đề, bán nguyệt.

Phương pháp tạo hình rồng kết hợp với những đề tài khác làm hình tượng rồng càng trở nên phong phú.


Ví dụ: cá hóa rồng (tháp Đăng Minh đời Trần, đình Lỗ Hạnh đời Mạc).


Rồng hóa mây (lan can đá ở cổng vào Văn Miếu).


Tiên nữ cưỡi rồng (đình Lỗ Hạnh thời Mạc và ở chùa Keo thời Lê Trung Hưng)


Rồng ôm chữ phúc (chùa Bối Khê, thời Lê Trung Hưng)


Rồng ngậm chữ thọ (đền Phú Đa, thời Lê Mạt)


Rồng chầu chữ Phật (chùa Kim Liên, Tây Hồ thời Lê Sơ)


Trong giai đoạn hiện đại, rồng rất hiếm khi xuất hiện vì chức năng thể hiện thần quyền và pháp quyền của nó không còn nữa, chỉ là một đề tài như muôn đề tài khác. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến sự vắng bóng rồng trong hội họa và điêu khắc hiện đại.


Trong nghệ thuật trang trí và kiến truc hiện đại cũng vậy, rất ít đất cho rồng. Đình chùa miếu mạo đều có tu sửa cũng chỉ là bồi, đắp, tô, trát lại. Nếu xây mới thì cũng chép lại theo mẫu rồng cũ, không sáng tạo thêm được gì. Giả sử nếu muốn sáng tạo thì rất khó có thể vượt được cha ông – những người đã khai thác rất kĩ hình tượng rồng từ chất liệu, đề tài, bố cục, cách tạo hình để góp vào mĩ thuật truyền thống Việt Nam cả một… kho rồng qu‎ý báu.


Trong nghệ thuật có hai phần nội dung và hình thức. Đề tài thuộc nội dung là phạm trù ít thay đổi hơn so với hình thức. Những đề tài nào mất đi tức là nhu cầu cuộc sống không cần đến  nữa, đó là quy luật. Rồng là đề tài như vậy. Nhưng xem rồng, nghiên cứu học hỏi, thưởng thức rồng thì không thể có gì thay được vì đó đã là một tác phẩm tiêu biểu trong kho tàng nghệ thuật của dân tộc.


Theo
Lê Thiết Cương (Tuổi Trẻ số Xuân)

NHỮNG ĐỨA CON CỦA RỒNG


9 con của rồng

TTCT - Trong truyền thuyết dân gian phương Đông, rồng có chín con với hình dáng và sở thích hoàn toàn khác nhau. Các con của rồng được dân gian sử dụng làm linh vật trang trí ở những vị trí, những vật dụng với những ngụ ý đặc biệt khác nhau. 

1-Bị hí
(Tên khác là bá hạ, bát phúc, thạch long qui) là con trưởng của rồng - linh vật có hình dáng thân rùa, đầu rồng. Bị hí có sức mạnh vượt bậc, chịu được trọng lượng lớn nên thường được chạm khắc trang trí làm bệ đỡ cho các bệ đá, cột đá, bia đá...

2- Li vẫn
(Còn gọi là si vẫn) - con thứ hai của rồng, là linh vật có đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn. Tương truyền li vẫn thích ngắm cảnh và thường giúp dân diệt hỏa hoạn nên được chạm khắc làm vật trang trí trên nóc các cung điện cổ, chùa chiền, đền đài... ngụ ý cầu trấn hỏa, bảo vệ bình yên cho công trình.

3- Bồ lao
Con thứ ba của rồng, là linh vật thích âm thanh lớn, thường được đúc trên quai chuông với mong muốn chiếc chuông được đúc có âm thanh như ý muốn.

4- Bệ ngạn
(Còn gọi là bệ lao, hiến chương) là con thứ tư của rồng, có hình dáng giống hổ, răng nanh dài và sắc, có sức thị uy lớn. Theo truyền thuyết, bệ ngạn rất thích lý lẽ và có tài cãi lý đòi sự công bằng khi có bất công, nhờ vậy bệ ngạn thường được đặt ở cửa nhà ngục hay pháp đường, ngụ ý răn đe người phạm tội và nhắc nhở mọi người nên sống lương thiện.

5- Thao thiết
Con thứ năm của rồng, là linh vật có đôi mắt to, miệng rộng, dáng vẻ kỳ lạ. Thao thiết tham ăn vô độ, được đúc trên các đồ dùng trong ăn uống như ngụ ý nhắc nhở người ăn đừng háo ăn mà trở nên bất lịch sự.
6-Công phúc

Con thứ sáu của rồng, là linh vật thích nước nên được khắc làm vật trang trí ở các công trình hay phương tiện giao thông đường thủy như cầu, rãnh dẫn nước, đập nước, bến tàu, thuyền bè... với mong muốn công phúc luôn tiếp xúc, cai quản, trông coi lượng nước phục vụ muôn dân.
7-Nhai xế
Con thứ bảy của rồng - là linh vật có tính khí hung hăng, thường nổi cơn thịnh nộ và ham sát sinh, thường được chạm khắc trên các vũ khí như đao, búa, kiếm, xà... ngụ ý thị uy, làm tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm của các chiến binh nơi trận mạc.
8-Toan nghê
(Còn gọi là kim nghê) - con thứ tám của rồng - linh vật có mình sư tử, đầu rồng, thích sự tĩnh lặng và thường ngồi yên ngắm cảnh khói hương tỏa lên nghi ngút. Toan nghê được đúc làm vật trang trí trên các lò đốt trầm hương, ngụ ý mong muốn hương thơm của trầm hương luôn tỏa ngát.

9-Tiêu đồ
(Còn gọi là phô thủ) - con thứ chín của rồng - là linh vật có tính khí lười biếng, thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa của mình. Tiêu đồ được khắc trên cánh cửa ra vào, đúng vào vị trí tay cầm khi mở, ngụ ý răn đe kẻ lạ muốn xâm nhập nhằm bảo vệ sự an toàn cho chủ nhà.

* Ngoài chín con nói trên, gia đình rồng còn có một số linh vật khác như: Tù Ngưu - linh vật giỏi về âm nhạc; Trào Phong - linh vật được gắn trên nóc nhà ngụ ý chống cháy và thị uy kẻ xấu (giống li vẫn); Phụ Hí - linh vật bảo vệ bia mộ. 
Tù ngưu


Trào phong


Phụ hí

Th.S NGUYỄN NGỌC THƠ (Đại học KHXH&NV)
Nguồn: Tuổi Trẻ

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Nguyên Ngọc: CON RỒNG ĐÁ KỲ LẠ Ở CHI NHỊ

Con rồng đá kỳ lạ ở Chi Nhị
Nhà văn Nguyên Ngọc

Năm 1993, trước ngôi nghè Chi Nhị, nơi thờ thái sư Lê Văn Thịnh triều Lý, ở thôn Bảo Tháp, làng Thị Xá, xã Cách Bi, huyện Quế Võ, Bắc Ninh, cách cổng nghè chừng vài chục mét, chắc là do mưa gió (thậm chí mới đó mà đã thành truyền thuyết: qua một đêm mưa to gió lớn chưa từng có …) bà con lối xóm bổng thấy nhô lên một mõm đá, moi ra đôi chút thì đoán có thể là bộ phận của một khối hay một tượng đá lớn. Người ta đã rất cẩn thận đào đất chung quanh, thậm chí không dùng đến cuốc xẻng, chỉ lấy tay moi từng chút một. Cuối cùng, lộ ra một tượng rồng khổng lồ. Có lẽ là pho tượng rồng kỳ lạ nhất, chưa từng thấy kiểu tượng rồng nào giống thế, đẹp nhất, không chỉ ở nước ta. Làng liền cho đốn tre, lấy toàn cật tre già tết thành thừng to như cổ tay, 18 trai tráng lực lưỡng khiêng làm 9 đòn, hè lớn một tiếng mới nhấc được khối đá khổng lồ lên khỏi mặt đất, nhưng bà con bảo, thật lạ, sau đó lại thấy nhẹ bâng, cứ thế trân trọng và thong thả rước “Ngài” vào nghè, và lập miếu thờ. Tượng rồng vừa phát lộ ắt liên quan trực tiếp đến vị thành hoàng được thờ trong chính nghè này, thái sư Lê Văn Thịnh.

Lê Văn Thịnh, ai có quan tâm đến sử đôi chút hẳn đều biết, là nhân vật có lẽ có số phận cũng kỳ lạ nhất ở nước ta, qua gần một nghìn năm mà sự đánh giá của người đời vẫn chưa xong, vụ kỳ án của ông gần suốt một thiên niên kỷ vẫn còn được phán xét theo hai cách hoàn toàn đối lập. Ông sống âm thầm trong lòng kính trọng và thương yêu của nhân dân, “dân đen”. Nhưng không chỉ những bộ lịch sử trịnh trọng của các sử gia bệ vệ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam sử lược đều nhất loạt lên án ông nặng nề, mà đến một tác giả sân khấu hiện đại tài ba và nghiêm túc là Tào Mạt cũng liệt ông vào hàng phản diện xấu xa trong các vỡ chèo lịch sử nổi tiếng và rất phổ biến của mình. Còn ông, gần một thiên niên kỷ, thì vẫn nằm đó, dấu mình sâu dưới lòng đất quê hương, cho đến sau khi Tào Mạt đã mất được mấy năm mới chịu hiện lên cho trai tráng làng Bảo Tháp moi đất tìm ra và đưa trở lại với đời. Tôi nói vậy bởi pho tượng rồng kỳ lạ nọ chính là tượng Lê Văn Thịnh. Tượng chân dung của ông, quả vậy.

Vậy Lê Văn Thịnh là ai và vụ kỳ án của ông là thế nào?

Năm Canh Tuất 1070, vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu, trường đại học đầu tiên của nước ta ở Thăng Long. Năm năm sau, Ất Mão 1075, vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Minh Kinh Bác Sĩ và Nho Học Tam Trường. Lê Văn Thịnh, sinh năm 1050 ở làng Đông Cữu, huyện Gia Lương, Bắc Giang, đi thi và đổ đầu, là vị trang nguyên đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, được tôn là “Trạng khai khoa”. Ông được vời vào cung dạy vua, vị vua đó chính là Lý Nhân Tông. Rồi thăng chức Thị lang Bộ Binh. Con người ấy không chỉ văn võ toàn tài, còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất. Năm Canh Tuất 1076, nhà Tống sai Quách Quỳ “đem quân 9 tướng”, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp, xâm lấn nước ta để trả thù việc Lý Thường Kiệt đã từng tấn công các châu Ung, Liêm, Khâm của nhà Tống, như một đòn đánh phủ đầu chặn trước mưu đồ tiến binh của đối phương. Lần này, trên chiến tuyến sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt lại đánh tan Quách Quỳ. Quân Tống tháo chạy nhưng lại chiếm lấy châu Quảng Nguyên, tức Cao Bằng, Lạng Sơn ngày nay. Năm 1078, vua sai Đào Tống Nguyên sang đòi, nhà Tống đồng ý trả lại phần lớn đất đai, nhưng ngoan cố giữ những vùng đất đai mà thổ dân địa phương đã dâng cho họ, gồm cả hai động Vật Dương và Vật Ác. Lần này, năm 1084 đến lượt thị lang Bộ Binh Lê Văn Thịnh đi đòi. Ông đến tận trại Vĩnh Bình, cùng bàn việc cương giới với người Tống. Họ bám lấy đất đã cướp, lấy cớ là của thổ dân tự ý đem nộp chứ không phải do họ chiếm. Lê Văn Thịnh dõng dạc biện luận cùng Thành Trạc, sứ giả nhà Tống: “ Đất thì có chủ, các quan viên giữ đất ấy đem nộp cho người khác và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Sự chủ giao mà lấy  trộm đã không tha được, mà trộm của hay “tàng trữ” thì luật pháp cũng không cho phép, huống chi nay lại mang đất lấy trộm dâng để làm dơ bẩn sổ sách nhà vua”.  Lý lẽ ràng buộc chặt chẽ khúc chiết, đến luật pháp hiện đại hẳn cũng chỉ rành rọt được đến thế, mà lại còn mắng thẳng vào mặt sứ thần một nước lớn, cay đến gan ruột mà khéo léo vô cùng. Quả khoa thi đại học đầu tiên của nước Việt đã chọn thật đúng một vị trang nguyên khai khoa! Nhà Tống buộc phải trả 6 huyện 3 động, mà còn lấy làm rất xấu hổ …

Về sau, Lê Văn Thịnh được thăng làm thái sư, ở chức đến 12 năm, cho đến khi nổ ra vụ án hồ Dâm Đàm. Dâm Đàm tức Hồ Tây ngày nay. Tháng 3 năm Bính Tý 1096, vua Trần Nhân Tông cùng thái sư đi thuyền chơi hồ, xem đánh cá. Bổng nhiên sương mù nổi lên dày đặc, rồi có tiếng chèo rào rào của một chiếc thuyền xáp đến. Vua cầm giáo phóng, thì sương tan, trên chiếc thuyền xáp đến nọ thấy một con hổ chực vồ vua. Có người chài lưới là Mục Thận quăng lưới chụp lấy, thì trong lưới hoá ra lại chính là … Lê Văn Thịnh! Ông bị bắt ngay, lẽ ra phải tội tru di, nhưng vua xét người có công, “thương tình” cho đi đày biệt xứ, đến tận ngày qua đời …

Lịch sử đôi khi cũng rất buồn cười, nếu không là xàm bậy. Ngay tác giả Khâm định Việt sử thông giám cũng không hề ngần ngại giải thích vụ án hồ Dâm Đàm: “Văn Thịnh có tên gia nô người nước Đại Lý (một địa phương đâu đó ở bên Tàu). Tên này có pháp thuật lạ, nhân đó Văn Thịnh manh tâm mưu sự khác …”. Gần một nghìn năm trước, một vụ dựng chuyện bỉ ổi trắng trợn đến thế để hại một người tài ba lỗi lạc kể cũng chẳng phải lạ. Nhưng vẫn còn câu hỏi: Vì sao chính Lý Nhân Tông, học trò của Lê Văn Thịnh, lại manh tâm trừ khử ngay người thầy của mình? Trong nhiều cách giải thích, tôi đặc biệt chú ý một lý giải: Thời đó bên Trung Quốc có phái biến pháp, gọi là Tân pháp, do Vương An Thạch đứng đầu, đề xuất chủ trương cải cách toàn diện chế độ kinh tế - xã hội – quân sự. Cuộc vận động lớn này thất bại do phần đông các đại thần trong triều bị động chạm lợi ích kịch liệt chống lại. Vương An Thạch rốt cuộc phải về vườn sớm. Có phải thái sư Lê Văn Thịnh, con người kinh bang tế thế, có hiểu biết rộng xa, có tầm nhìn lớn, từng biết đến cuộc cải cách ở nước láng giềng, và cũng đã nung nấu những ý tưởng nào đó về một con đường đi mới cho dân tộc mình? Nghĩa là, gần một nghìn năm trước, từng có một cuộc đổi mới lớn đã bị nhấn chìm tàn nhẫn ở Hồ Tây, một người anh hùng kiệt xuất của dân tộc, một con rồng Việt anh minh đã từng bị chết đứng tại đây, nơi nay hằng ngày ta vẫn dửng dưng đi qua mà nào có hay? …

Có một người nghệ sĩ vô danh, không biết tự bao giờ - có người bảo là ngay vào thời Lý, có người lại bảo ấy là vào thời Hậu Lê - đã quyết định thể hiện hình tượng con rồng vĩ đại ôm mối hờn oan ngàn năm ấy, để lại cho muôn đời. Hôm tôi đến nghè Chi Nhị, có cả nhà sử học nổi tiếng Lê Thành Khôi cùng đi. Ông bảo suốt cuộc đời nghiên cứu và sưu tầm của ông, chưa bao giờ được thấy một pho tượng rồng độc đáo đến thế. Ấy là một con rồng lớn, khoanh mình thành hình tròn, đường kính đến hơn một mét, thân hình vạm vỡ, lớp lớp vảy dày và lớn, đầu rồng nhô lên cao mà lại cúi xuống, miệng rồng răng rất sắc tự cắn sâu vào chính thân mình, sâu ngoắm, đến chừng có thể toé máu, chân rồng móng vuốt nhọn hoắc tự bấu vào da thịt chính mình, như muốn tự xé nát chính thân mình, sâu đến tận ruột gan. Có lẽ trong lịch sử nghệ thuật Đông Tây, chưa bao giờ nổi oan câm lặng nghìn năm của con người lại được thể hiện quyết liệt, dữ dội đến thế. Vậy mà vẫn còn chưa thôi. Hai tai rồng, được tạc rất rõ, bên tai phải rổng, thông, tai trái lại bịt kín. Dường như từ nghìn năm trước, con người tài ba xuất chúng mà số phận đau thương đó đã dự liệu được bao tiếng thị phi của các thế hệ nối tiếp người đời, ông muốn chỉ nghe một nửa, một nửa khinh bỉ gạt ra ngoài tai. Kể cả những phán quyết đầy quyền uy của những kẻ được thời thế đưa lên làm chủ lịch sử, cho đến tận ngày nay.

Người nghệ sĩ vô danh đã tạc nên pho tượng kỳ lạ này là ai vậy? Đương nhiên hẳn ông vô cùng ngưỡng mộ người anh hùng Lê Văn Thịnh và đồng cảm vô cùng sâu sắc với nổi oan muốn xé tung trời đất của người xưa. Nhưng có phải chỉ có vậy? Nghệ thuật bao giờ cũng thế, nó cần những nguyên mẫu, nhưng là để nói về cả cái nhân quần rộng lớn, những nổi đau lớn của con người chân chính suốt lịch sử trường tồn của giống loài. Con rồng đá Chi Nhị là một tác phẩm như vậy. Đấy là bức tượng chân dung kỳ lạ của một con người, vị thái sư tài ba và hàm oan Lê Văn Thịnh. Mà cũng là chân dung của Con Người. Con Người tự cắn xé đến muốn nát chính thân mình, trong quá trình đau khổ biết bao để có được một cuộc sống làm người cho ra Người.

*Bài do tác giả gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn nhà văn Nguyên Ngọc.

CHÙM THƠ KHAI BÚT XUÂN NHÂM THÌN CỦA ĐỘC GIẢ BỐN PHƯƠNG

Nguyễn Xuân Diện-Blog trân trọng giới thiệu:
Chùm thơ Khai bút đầu Xuân Nhâm Thìn:

Hạ Thái Trần Quốc Phiệt:
KHAI BÚT NĂM NHÂM THÌN

Khai bút tân niên quyết vẽ rồng
Vươn mình bay lượn giữa tầng không
Phun châu nhả ngọc trời trong sáng
Thâu gió đùn mây cảnh hạnh thông
Tiễn bước sơn hà qua khổ nạn
Tháo chân hiền sĩ khỏi oan còng
Bức tranh thi họa càng tao nhã
Treo khắp muôn phương mới thỏa lòng.
Jan- 23-2012.
Mồng một Tết Nhâm Thìn
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt

Ưng Sơn Hạ:
Ngoái về quá khứ - Hướng tương lai
Phải có "TẦM NHÌN" suốt cả hai
Ôn cố tri tân xây dựng NƯỚC
Huy hoàng sẽ đến với ngày mai
Chùm thơ nữ sĩ Trần Lệ Khánh gửi từ bến Ninh Kiều:
GIÓ XUÂN

Cây trái cựa mình bật sắc xanh
Muôn hoa đón gió nở tươi cành
Bừng lên vạn vật trào hương sắc
Ngàn tía muôn hồng họa bức tranh.

MƯA XUÂN
Mưa theo cùng nắng gió vào xuân
Ấm áp muôn lòng khắp thế nhân
Tổ quốc quê hương tràn sức sống
Cỏ cây hòa quyện tiếng chim ngân.

NẮNG XUÂN
Nắng chiếu cờ hồng bay ngất ngây
Công – Nông –Binh – Trí nối vòng tay
Nhâm Thìn vận hội phong vân tiếp
Chim Việt vươn tầm sải cánh bay.

Trần Lệ Khánh
Chùm thơ Kính họa thơ cụ Nguyễn Trọng Vĩnh:
XUÂN KHÍ
Cao tuổi lại càng chí khí cao
Lão già tỏa sáng một ngôi sao
Tấm thân muôn dặm còn nguyên vẹn
Cốt cách mười phân đáng tự hào
Ích Nước mưu cầu nền độc lập
Vì dân gánh vác việc binh đao
Sơn Hà Xã Tắc xuân chưa trọn
Còn phải xông pha bút ngại nào
Ưng Sơn Hạ


Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Chín sáu tuổi đời, kể đã cao,
Đau lưng, mỏi gối cũng không sao.
Thương dân, mắt sáng xua tăm tối,
Yêu nước, lòng son đáng tự hào.
Sông núi nguy nan, cầm vũ khí,
Quê hương yên ổn, cất gươm đao.
Nhìn ra xã hội, còn trăn trở,
Ngọn bút xông pha, chẳng ngại nào.
23-1-2012 (1 tết Nhâm Thìn)
Phan Liên Khê (Thượng tá Cựu chiến binh, thành phố Hồ Chí Minh)

Kính tặng lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Mười năm đi sứ ở bên Tàu,
Biết rõ ngọn ngành cuộc bể dâu.
Cố đế bá quyền nghìn kế hiểm,
Thâm căn bành trướng vạn mưu sâu.
Miệng hô “đồng chí” tươi trên mặt
Tay đấm “anh em” vỡ cả đầu.
Dân Việt xưa nay không khuất phục
Đã từng giáng trả những đòn đau.
Trọng Nghĩa (Tp Hồ Chí Minh)