Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

LÊ HOÀNG - "DỤNG NHÂN NHƯ DỤNG MỘC"

Dụng nhân như dụng mộc
Lê Hoàng 
(bài viết riêng cho NXD-Blog)                     

Trong hàng loạt sự kiện nóng dồn dập cuối năm Tân Mão 2011 như việc xảy ra hàng loạt vụ cháy xe chưa rõ nguyên nhân, vụ chìm tàu Vinalines, vụ tranh chấp bản quyền truyền hình bóng đá, vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng….v.v cộng với hàng loạt chính sách bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/1/2012. Có lẽ đề xuất thu phí giao thông đối với xe mô tô, ô tô của Bộ trưởng Đinh La Thăng sau cú sốc tăng lệ phí cấp biển và phí trước bạ nhận được rất nhiều quan tâm của đông đảo dân chúng. Cũng dễ hiểu vì nếu đề xuất này được thường vụ Quốc hội thông qua nó sẽ đánh trực tiếp vào túi tiền vốn đã eo hẹp của mấy chục triệu dân Việt Nam.     

Dân chúng lâu nay vốn chịu nhiều hệ lụy từ những “bài ca không quên” tiếp diễn hết năm này sang năm khác về tình trạng ách tắc giao thông lẫn đào đường “đến tết lại đào” nên dành nhiều tình cảm và hy vọng cho ông Tân Bộ trưởng giao thông Đinh La Thăng khi mới lên nhậm chức. Một số hành động tiếp theo của ông mà báo chí gọi là “trảm tướng” cũng được vỗ tay khen ngợi. 

Tiếc thay niềm vui và hy vọng ấy chưa được trọn vẹn khi sau đợt rầm rộ vận động cán bộ Bộ giao thông lẫn dân chúng đi xe buýt mà bản thân ông hứa sẽ thường xuyên đi để làm gương thì mới đây, chính ông thừa nhận rằng ông cũng không thể nào đi nổi xe buýt nói gì đến người dân!

Chưa hết, công trình nhà ga hành khách Đà Nẵng hôm trước báo chí rầm rộ đưa tin nhờ có ông quyết liệt “trảm tướng” nên hoàn thành sớm tiến độ 2 tháng. Hôm sau chính báo chí lại ngậm ngùi đưa tin nhà ga mới khánh thành đã bị dột!

Người viết bài này tin rằng mình cũng như đa số dân chúng đều ủng hộ ông Thăng, tuy ban đầu có sự nghi ngại vì biết động vào vấn đề giao thông luôn là bài toán hóc búa mà chưa có lời giải hữu hiệu. Ủng hộ vì ít ra ông dám nói (hơn các vị tiền nhiệm) và ban đầu có một số hành động cụ thể để thực hiện lời nói của mình. Nói không quá lời, người dân hàng ngày dắt xe ra đường đi làm phập phồng đối diện với bao khó khăn nguy hiểm như tắc đường, tai nạn và gần đây là hàng loạt xe bỗng dưng bốc cháy mà chưa rõ nguyên nhân.
         
Cũng không phải là không có dư luận ì xèo qua những hành động của ông Thăng. Nào là gán cho ông sự bốc đồng của một anh cán bộ đoàn thời ông còn ở Tổng Sông Đà, nào là ngành GTVT rất phức tạp không phải là tập đoàn dầu khí nơi ông là chúa tể, nào là ông làm thế vì muốn nhắm đến những mục tiêu chính trị cao hơn…vv.
         
Có lẽ còn quá sớm để đưa ra những nhận xét xác đáng về các hành động của ông Thăng. Công bằng mà nói cho đến thời điểm này thì ít nhất ông cũng làm được một việc là thổi một luồng sinh khí rất “máu lửa” vào không gian giao thông đô thị vốn đầy u ám bới nạn kẹt xe, đào đường vô tội vạ.

Tuy nhiên với đề xuất mới nhất của ông là thu phí giao thông mô tô và ô tô với các mức lần lượt là mô tô: 500 nghìn-1triệu đồng/ năm; ô tô từ 20-50 triệu đồng/ năm thì có vẻ người dân đã không còn ủng hộ ông như trước. Thống kê thăm dò ý kiến bạn đọc trên báo điện tử dân trí cho thấy ( cho đến thời điểm viết bài này,ngày 10/1/2012) thì có tới 89% phản đối đề xuất của ông, chỉ có 9% ủng hộ và 7% là ý kiến khác.

Đồng ý là số đông không hẳn đã đúng (nhất là trong nghiên cứu khoa học) nhưng một vấn đề xã hội dân sinh liên quan trực tiếp đến đông đảo người dân thì kết quả trên hẳn có giá trị rất lớn khi cần đưa ra quyết sách.

Với một năm 2011 vừa trải qua đầy biến động, mức sống người dân đi xuống bởi lạm phát thuộc điện cao nhất thế giới lên đến 18,5% thì sức chịu đựng của người dân quả là có hạn. Dù ông Thăng đã “ khôn ngoan “ khi đưa vấn đề này ra vào lúc người dân mải chạy lo kiếm cái tết cho mình, dĩ nhiên sẽ phần nào xao nhãng những chuyện quốc gia đại sự khác.

Chính ông cũng thừa nhận và không dám hứa thu phí sẽ giải quyết được vấn nạn tắc đường và ông cho rằng mức phí thu như vậy là “ hợp lý “. Lý do chính đưa ra ở đây là đã tham gia giao thông thì phải thu phí, rằng kinh phí tu sửa đường chỉ đáp ứng được 75% còn thiếu đến 25%. Rằng các nước tiên tiến trên thế giới đều có thu phí đường bộ.

Ông nói đúng, nhưng chưa đủ. Có lẽ ông quên rằng giá xe máy, ô tô ở Việt Nam cao nhất thế giới và đang phải chịu tới 8 loại thuế phí (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Vat, phí lưu thông….vv) chưa kể việc mới tăng lệ phí cấp biển và trước bạ lên kịch trần. Thật là nghịch lý khi Việt Nam nghèo hơn Anh, Mỹ, Singapor… rất nhiều chục lần mà giá thành xe ô tô lại cao hơn họ từ 2,5 đến 3 lần!

Cũng chưa có ai lý giải được việc thu thuế xe máy ô tô cao như vậy thì số tiền thu được ấy ở đâu và dùng vào việc gì?
Nói cách khác người dân bất kỳ mua xe máy, ô tô với giá cao như vậy là họ đã “đóng một cục “ phí lưu hành trên đường rồi. Hoàn toàn không có chuyện họ chưa đóng tiền mà đã đi như ông giải trình.

Còn một vấn đề gốc rễ mà ông Thăng cũng như các quân sư ở Bộ GTVT đều hiểu rõ, việc tắc đường trầm trọng như hiện nay có nguyên nhân sâu xa từ quy hoạch hạ tầng, quản lý quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch.

Không có một giáo trình quy hoạch nào trên thế giới cũng như ở VN mà diện tích đường giao thông chỉ chiếm có 5%-7% (thực tế tại Hà Nội). Diện tích hợp lý phải là 18-20% và thậm chí có thể lên đến 25%.

Ông cũng cho rằng việc thu phí giao thông là để tạo công bằng cho xã hội. Nhưng ngay trong đề xuất của ông cũng đã bộc lộ rõ sự bất hợp lý khi thu phí giao thông theo dung tích xy lanh. Một chiếc ô tô 5 chỗ có dung tích 2.0 trở xuống thì chiều dài và rộng xe không khác gì một chiếc xe có dung tích 3.0…vv. Như vậy có thể nói diện tích chiếm đường của hai xe là như nhau, cớ gì mức thu lại khác? Còn nếu ông giải thích lượng khí thải khác nhau thì nên chăng thu phí môi trường mới là hợp lý? Và phí môi trường chả liên quan gì đến phí giao thông của ông.

Chưa hết, phương án của ông còn cào bằng giữa việc xe di chuyển hàng ngày với việc người có xe ô tô một năm về quê vài ba lần. Như vậy thu phí khác nào khuyến khích họ phải lôi xe ra sử dụng cho bõ tiền đóng phí?

Quan niệm về “ người giàu “ mới có xe ô tô là quan niệm hết sức phiến diện. Xe ô tô loại hàng chục tỷ cũng có mà loại hơn trăm triệu cũng không thiếu. Tôi chắt chiu để dành, tôi mua một chiếc xe matiz cũ để chở con đi học cho đỡ mưa nắng chẳng hạn, hoàn toàn không thể coi là người giàu. Ngược lại tôi phải cắt bớt những khoản chi tiêu khác để “ nuôi “ xe. Tôi vẫn nghèo, thậm chí nghèo hơn những người đi xe máy có giá trị còn cao hơn nhiều chiếc xe của tôi.

Và hơn hết, việc lỗi quy hoạch, lỗi chính sai sai lầm không phải do người dân mà do chính quyền. Vậy công bằng được thực thi ở đâu khi ông trút cái sai lầm ấy của cơ quan quản lý lên đầu người dân? Bài học về việc chi hàng chục tỷ đồng trong việc thực hiện phân làn ở Hà Nội đang diễn ra mà không mang lại một kết quả gì hãy còn đó. Vậy người dân hoàn toàn có quyền nghi ngờ số tiền khổng lồ từ thu phí giao thông có được sử dụng có hiệu quả?

Còn nhớ câu truyện ngụ ngôn dân gian khi một ông lão khuyên một người dân hỏi đường “Đi chậm thì đến kịp, đi nhanh thì không kịp” xem ra rất cần thiết với ông Đinh La Thăng lúc này. Giao thông là vấn đề luôn nóng bỏng nhưng không có nghĩa dùng những biện pháp duy ý chí, không có căn cứ khoa học và thực tiễn một cách nóng vội để sớm đạt kết quả. Biện pháp ấy lại đánh trực tiếp vào tuí tiền vốn đã eo hẹp đủ đường của toàn thể người dân thì thật quá sức chịu đựng. Và những ý kiến về phong cách lãnh đạo của một anh “cán bộ Đoàn” cũng không hẳn không có lý cho đến lúc này.

Để kết thúc bài viết tôi mượn câu nói của cổ nhân “Dụng nhân như dụng mộc”. Người nào cũng có ích nếu ta biết cách sử dụng tài năng của họ. Ông Đinh La Thăng có tài, nhưng vấn đề đất nước đã sử dụng đúng tài năng của ông chưa thì lại là chuyện khác.

L.H

HUY ĐỨC - QUẢ BOM ĐOÀN VĂN VƯƠN

Quả Bom Đoàn Văn Vươn

Huy Đức
 
Khi lực lượng cưỡng chế huyện Tiên Lãng đến khu đầm, anh Vươn cho nổ trái mìn tự tạo cài dưới một bình gas. Bình gas không nổ. Nhưng, trái mìn tự tạo vẫn gây tiếng vang như một quả bom, “quả bom Đoàn Văn Vươn”. Vụ nổ không chỉ gây rúng động nhân tâm mà còn giúp nhìn thấy căn nguyên các xung đột về đất đai. Quyền sở hữu nói là của “toàn dân”, trên thực tế, rất dễ rơi vào tay đám “cường hào mới”.
. 
Sự Tùy Tiện Của Nhà Nước Huyện
.
Quyết định giao bổ sung 19,5 ha đất nuôi trồng thủy sản cho ông Đoàn Văn Vươn, ký ngày 9-4-1997, ghi thời hạn sử dụng là 14 năm tính từ ngày 14-10-1993. Theo báo Thanh Niên, ở thời điểm ấy, chính quyền huyện Tiên Lãng đã quy định thời hạn giao đất cho nhiều cá nhân, hộ gia đình rất tùy tiện: có người được giao 4 năm; có người 10 năm... Tuy thời điểm này chưa có các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành, nhưng Luật Đất đai năm 1993 đã nói rõ thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình và cá nhân là 20 năm.
.
Theo Nghị định ngày 28-08-1999, nếu chính quyền Tiên Lãng không tùy tiện thì gia đình ông Vươn có quyền sử dụng phần đất này cho đến ngày 9-4-2017, tính từ ngày ông được huyện ký giao; tối thiểu cũng phải đến ngày 15-10-2013, nếu huyện “ăn gian” tính theo ngày Luật Đất đai có hiệu lực. Vấn đề là, cho dù đất được giao của gia đình ông Vươn hết hạn thì có phải là đương nhiên bị thu hồi để giao cho người khác như cách mà Tiên Lãng đã làm. Luật Đất đai 2003 quy định hạn điền cho loại đất nuôi trồng thủy sản là 3 hecta và với phần đất vượt hạn mức của ông Vươn có thể áp dụng Điều 35 để cho ông tiếp tục thuê như quy định đối với đất đai nông nghiệp.
. 
Sở Hữu Toàn Dân
.
Tuy dịch từ Hiến pháp 1936 của Liên xô, Hiến pháp 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai”. Cho dù, từ thập niên 1960s ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970s ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức bị coi là thuộc “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980.
.
Theo Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: “Trong bản dự thảo Hiến pháp 1980 do Chủ tịch Trường Chinh trình Bộ Chính trị vẫn đề nghị duy trì đa hình thức sở hữu, trên cơ sở khuyến khích 5 thành phần kinh tế. Theo tôi biết thì Bộ Nông nghiệp và Ban Nông nghiệp Trung ương cũng không đồng ý quốc hữu hóa”. Nhưng, ngày 10-9-1980, trong một bài nói chuyện trước Ban chấp hành Trung ương có tựa đề, “Hiến pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Nhân đây, tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như vậy hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Đình Lộc, thành viên Ban thư ký của Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp 1980, thừa nhận: “Khi đó, uy tín Lê Duẩn bao trùm. Mặt khác, nhiều người cũng không hình dung được bản chất của sở hữu toàn dân là quốc hữu hóa”.
.
Tuy chấp nhận quốc hữu hóa đất đai nhưng theo ông Tôn Gia Huyên, lúc bấy giờ là Vụ phó vụ Quản lý Đất đai, ông Trường Chinh chủ trương giữ nguyên hiện trạng chứ không tịch thu ruộng đất như điều mà Lenin đã làm với kulax ở Nga sau năm 1917. Ông Trường Chinh yêu cầu ghi vào Điều 20 của Hiến pháp 1980: “Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật”.
.
Khi Hiến pháp 1992 bắt đầu được soạn thảo, theo ông Phan Văn Khải: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tôi muốn sửa Hiến pháp theo hướng, trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân nhưng không thành công, chúng tôi đành phải tìm ra khái niệm, trao 5 quyền cho người sử dụng đất”. Trong Đại hội Đảng lần thứ VII, vòng I, nhiều nhà lãnh đạo địa phương đã lên tiếng ủng hộ “đa sở hữu hóa đất đai”. Nhưng, ở cấp cao, theo Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, ông Nguyễn Đình Lộc: “Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội. Khi chuẩn bị bài phát biểu về Hiến pháp cho Tổng Bí thư Đỗ Mười, tôi có trình bày, nhưng ông Đỗ Mười nghiêng về sở hữu toàn dân. Ông tin vào điều ông Lê Duẩn nói, sở hữu toàn dân là quan hệ sản xuất tiên tiến. Ông Đỗ Mười tin, trước sau gì ta cũng tới đó nên cứ để vậy”.
.
Các Nhà Làm Luật
.
Luật Đất đai 1993 đã trao cho người dân 5 quyền: sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê quyền sử dụng đất. Nhưng, so với Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 có một điểm lùi. Hiến pháp ghi: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Trong khi Luật chỉ giao đất cho cá nhân và chỉ giao có thời hạn. Ông Tôn Gia Huyên giải thích: “Thời hạn giao đất thực chất chỉ là ý chí chính trị, là sợi chỉ cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước”. Là ranh giới để trấn an những người vẫn còn tin, Việt Nam tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội.
.
Nhưng, cái ranh giới tưởng có giá trị trấn an ấy đã lại rất mù mờ, mù mờ ngay trong đầu chính các nhà lập pháp. Tháng 7-1993, sau bốn buổi thảo luận trên Hội trường về Luật Đất đai, các đại biểu miền Nam đề nghị “giao đất lâu dài” như Hiến pháp 1992, trong khi các đại biểu miền Bắc và miền Trung lại tán thành giao đất có thời hạn; thậm chí có đại biểu còn đòi rút ngắn thời hạn giao đất xuống còn từ 10-15 năm. Trong tính toán của nhiều người, giao đất có thời hạn nghĩa là sau đó Nhà nước có thể lấy lại để giao cho người khác. Đại biểu Đặng Quốc Tiến, Bắc Thái, nói: “Đất ít, người đông, giao có thời hạn thì sẽ bảo đảm cho công tác điều chỉnh đất đai khi có biến động nhân khẩu”. Ông Nguyễn Bá Thanh, khi ấy là Chủ tịch Thành phố Đà Nẵng, đã rất hăng: “Đi nghĩa vụ quân sự 2 năm thì kêu dài, giao đất 20 năm thì bảo ngắn”.
.
Khi Luật Đất đại 1993 được đưa ra sửa đổi, Chính phủ đề nghị nâng thời hạn giao đất nông nghiệp từ 20 năm lên 50.
.
Trong hai ngày 14 và 16-11-1998, nhiều đại biểu cũng đã phản ứng, thậm chí còn có phần gay gắt. Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Đại Thắng, Đại Lộc (Quảng Nam) ông Trần Văn Mai nói: “Số nông dân chưa có đất đang trông chờ cho hết thời điểm 20 năm, bây giờ đã được 5 năm, còn 15 năm nữa họ sẽ được chia đất. Nếu bây giờ ta tăng thời hạn lên 50 năm sẽ là một sự hụt hẫng lớn của nhân dân với Đảng”. Theo cách hiểu của ông Trần Văn Mai: “Hoặc hết hạn 20 năm, hoặc người sử dụng đất chết, chúng ta sẽ thu hồi cấp lại cho những nhân khẩu phát sinh”. Nhưng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, ông Nguyễn Đức Hoan đã phát biểu: “Đừng lo cho 20 năm sau không có đất để phân phối lại. Bây giờ ở ta 80% dân số làm nông nghiệp. Không lẽ 20 năm sau cũng 80%?”. Chủ tịch Hội nông dân tỉnh Đồng Tháp ông Trương Minh Thái cho rằng: “Đừng nghĩ chúng ta chỉ có thể điều phối ruộng đất ở nông thôn bằng cách thu hồi rồi chia lại. Chúng ta đã giao cho người dân năm quyền, họ có thể để thừa kế, hoặc sang nhượng cho người chưa có đất”.
. 
Đất Dân Quyền Quan
.
Năm quyền của người sử dụng đất sau đó được “pháp điển hóa” trong Bộ Luật Dân sự 1995 như các quyền dân sự. Quyền sở hữu, tuy “trá hình” này, vẫn là cơ sở pháp lý để hình thành thị trường địa ốc. Và trong giai đoạn đầu, nhờ tư vấn của World Bank, thị trường đã được điều hành bằng công cụ thuế. Cho dù do thuế suất quá cao, Luật Thuế Chuyển quyền sử dụng đất, ngay lúc ấy, đã khiến nhà đất đóng băng nhưng sử dụng công cụ thuế chính là thừa nhận giá trị các giao dịch dân sự liên quan tới đất đai. Tuy nhiên, chính quyền các cấp có vẻ như không mấy mặn mà với vai trò đứng ngoài. Các giao dịch, đặc biệt là mua bán đất đai đã bị hành chánh hóa: Nhà nước thu hồi đất của người bán rồi giao đất cho người mua. Thay vì thu thuế chuyển quyền, người mua phải đóng tiền sử dụng đất, đặt người có đất trong tình thế phải trả tiền hai lần.
.
Đỉnh cao của sai lầm về chính sách là Pháp lệnh 14-10-1994 và Nghị định 18, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh đó. Theo Nghị định 18, các tổ chức không còn được giao đất có đủ các quyền như Hiến pháp 1992. Những doanh nhân tiên phong như Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Trần Quang Vinh… đã vay hàng ngàn tỷ đồng để mua đất, sau Nghị định 18 phải chuyển những lô đất ấy thành đất thuê và chỉ được thế chấp ngân hàng theo giá trị số tiền thuê đã trả cho nhà nước. Khi bị bắt, cũng nhân danh “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, Hội đồng thẩm định do Nhà nước lập ra đã tính, có những mét vuông đất, giá không bằng que kem. Đất biệt thự đường Trần Phú, Vũng Tàu, mà chỉ được Tòa công nhận giá ba-trăm-đồng/m2. Khoản chênh lệch giữa giá thực mua và giá của Tòa được coi là thất thoát để buộc tội các doanh nhân này lừa đảo.
.
Trong tù, có lúc Minh Phụng nói với Luật sư Nguyễn Minh Tâm: “Xin luật sư hãy nhìn vào mắt em để xem em có phải là người lừa đảo?”. Ngày 12-7-1999, khi nghe Luật sư Tâm nhắc lại câu này Minh Phụng đã bật khóc trước Tòa. Cũng đầu tư vào đất đai cùng một phương thức tuy khác quy mô, nhưng, thái độ của Nhà nước với giá đất đã biến ông Lê Văn Kiểm, Huy Hoàng, thành anh hùng và tử hình ông Tăng Minh Phụng.
. 
Danh Chính Ngôn Thuận
.
Đầu tháng 12-2011, Chính quyền Đà Nẵng nơi ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân đã đề nghị cho tư nhân sở hữu đất đai. Sau 20 năm lãnh đạo một địa phương, có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh nhìn thấy, quyền sở hữu trá hình đã đặt đất đai của người dân vào tay chính quyền cấp huyện với quá nhiều rủi ro. Điều 38, Luật Đất đai 2003, nói: Nhà nước chỉ thu hồi đất khi “cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế” (khoản 7). Nhưng, tại khoản 10 cũng của Điều 38, Luật lại mở ra khả năng: Nhà nước thu hồi những phần đất “không được gia hạn khi hết thời hạn”. Chính quyền cấp huyện được Luật giao quyền giao đất và thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình. Nếu chính quyền Tiên Lãng áp dụng điều 67, tiếp tục giao đất cho ông Vươn, thì đã không có gì xảy ra, nhưng họ đã đẩy ông vào khoản 10, Điều 38: Thu hồi đất vì “không được gia hạn” khi thời hạn giao đất của ông đã hết.
.
Sau “trái bom Đoàn Văn Vươn”, chúng ta biết, khu đất đầm mà anh có không phải là đất được nhà nước giao mà là đất do gia đình anh phải lấn biển, khai hoang. Suốt 5 năm “trầm mình dưới nước từ mờ sáng tới tận tối khuya”, biết bao lần bị bão biển cuốn phăng để đắp được một bờ kè dài hai cây số, tạo nên bãi bồi màu mỡ và một khu đầm nuôi tôm cá rộng gần 40 hecta. Cũng nơi đây, anh Vươn mất một đứa con gái 8 tuổi vì khi cha mẹ mải làm con gái của anh đã rơi xuống cống. Đừng nói chuyện thu hồi, lẽ ra chính quyền Tiên Lãng phải xấu hổ khi ký quyết định giao cho anh Vươn phần đất của chính anh, phần đất mà anh Vươn đã phải gắn bó suốt 20 năm, đã đổ cả mồ hôi và máu.
.
Nếu như, quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, thì cách khai hoang, lấn biển của gia đình anh Vươn phải được coi như một hình thức thụ đắc ruộng đất mà từ xa xưa cha ông ta đã áp dụng cho người dân để ngày nay Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau. Nếu như quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, Chính quyền không thể hành chính hóa các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai. Các đại gia không thể thậm thụt với đám cường hào thu hồi những mảnh đất của dân mà họ mua không được.
.
Nhưng đó là câu chuyện có thể được thảo luận trong quá trình sửa đổi Hiến pháp. Người dân đang dõi theo thái độ của Chính phủ, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước trường hợp Đoàn Văn Vươn.
.
Theo cách giải thích của Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thì đất ông Vươn nằm trong vùng quy hoạch xây dựng một sân bay quốc tế. Nếu thu hồi bây giờ hoặc chuyển thành thuê thì mai này nhà nước không phải bồi thường cho ông Vươn. Đỗ Hữu Ca nói: “Với công trình đặc biệt quan trọng như thế thì đền bù sẽ rất lớn. Ông Vươn cố giữ lại như thế để lấy đền bù khi dự án được triển khai”. Có thể Đỗ Hữu Ca là một công chức mẫn cán chứ không phải là “cụ Bá”. Nhưng, lo quyền lợi của nhà nước sao không tính quyền lợi của dân, không tính máu và mồ hôi 20 năm của gia đình anh Vươn. Chắc Đỗ Hữu Ca không nghĩ, anh em, bà con ông và chỉ vài năm nữa chính ông cũng là dân.
.
Đỗ Hữu Ca có lẽ không nhớ chuyện anh rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sáng 17-4-2009, bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 185 hecta cao su của ông để làm khu công nghiệp. Ông đã không đồng ý cho giải tỏa, mặc dù, 185 hecta cao su này ông có được nhàn hạ hơn so với công sức khai hoang, lấn sóng của anh Vươn và mức đền bù thì cao hơn gấp 20 lần giá vốn. Nhắc lại câu chuyện này để thấy, bất luận là ai, khi phải đối diện với tài sản của mình thì mới thấy của đau, con xót.
.
Dù sao thì hành động chống người thi hành công vụ của anh Đoàn Văn Vươn cũng phải được đưa ra xét xử. Nhưng, thông điệp mà các địa phương chờ đợi không phải là những năm tù cho anh mà là thái độ của nhà nước với chính quyền Tiên Lãng. Từ năm 2013, ruộng đất của nông dân bắt đầu lần lượt hết hạn giao đất. Nếu như quyết định của Chủ tịch Tiên Lãng Lê Văn Hiền không bị coi là sai, hơn 500 chủ tịch huyện trên cả nước có thể noi gương thu hồi đất đáo hạn của nông dân để… giao, thì không biết điều gì sẽ xảy ra. Đừng chậm trễ và đừng để “quả bom Đoàn Văn Vươn” lại nổ.

  

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

NGUYỄN QUANG VINH: ĐỦ CƠ SỞ KHỞI TỐ LÃNH ĐẠO HUYỆN TIÊN LÃNG

Phải lấy lại nụ cười mùa màng, tình yêu đất đai của nhân dân bằng việc phải trừng trị nghiêm khắc những tên cường hào mới ở nông thôn.

Nguyễn Quang Vinh

MỞ BÀI

Tĩnh tâm lại,soát xét toàn bộ sự việc của vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, mới nhận ra rằng, đã có đủ cơ sở chứng lý để khởi tố ngay Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền và Chủ tịch UBND xã Vinh Quang Lê Văn Liêm vì tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn gây hậu quả nghiêm trọng ( Còn phải tính đến tội: Lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi- khi có chứng cứ).

Vì sao lại phải khởi tố hai anh em nhà họ Lê?

Vì sao Đoàn Văn Vươn và những người dân phải rơi vào vòng lao lý?

Vì sao thẩm phán Ngô Quang Anh ( Tòa hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng) lại năng nổ, nhiệt tình, tự nguyện hợp tác với anh em nhà họ Lê, cùng nghĩ ra cả “mẹo cứt gà” để lừa dân?

Vì sao đội thi hành cưỡng chế dù gặp phải nguy hiểm ( nổ mìn) vẫn liều mình như chẳng có để đập phá nhà dân tới mức mà Giám đốc Sở công an TP Hải Phòng cũng thấy có gì đó không ổn?

Cuối cùng, vì sao năm hết tết đến, cuộc sống khó khăn, mà báo chí, dư luận, cư dân mạng lại bỏ công, bỏ sức, bỏ trí ra vì Đoàn Văn Vươn?

Và, chắc chắn rồi, Vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng trở thành tâm điểm chú ý của nhân dân. Có lẽ Bộ Chính trị chọn ngay Tiên Lãng để làm nơi bắt đầu  với quyết tâm Chỉnh đốn Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân mình.

THÂN BÀI

Có một điều chắc chắn rằng, trong mấy năm gần đây, đặc biệt gần gần gần đây nữa, thì khu đầm hồ của anh Vươn và các hộ dân đã trở thành tâm điểm chú ý của nhiều nhà đầu tư. Và quan trọng hơn, nó làm cho anh em nhà họ Lê bắt đầu ngứa ngáy không yên. Chắc phải tốn trà và tốn thuốc lào rít sòng sọc nhiều đêm, bia bọt,  cùng với sự thì thầm to nhỏ với các nhà đầu tư chụp giật, anh em nhà họ Lê mới quyết định cướp đất của dân như thế. Bởi vì, họ, những chủ tịch huyện, chủ tịch xã, hơn người dân cả ngàn lần về kiến thức pháp luật, để biết việc giao đất cho dân phải làm như thế nào, luật đất đai ra làm sao, nhưng hỡi ôi, kiến thức pháp luật càng nhiều mà rơi vào trái tim công bộc xấu xa thì người dân hiền hậu, chất phác càng dễ bị đánh lừa. Ở đây, anh Đoàn Văn Vươn và bà con có đầm hồ ở xã Vinh Quang đã bị chính quyền lừa.

Dân kiện. Anh em nhà họ Lê đủ khôn ngoan để biết rằng, nếu thả cho vụ kiện này đi đúng trình tự pháp luật, thì không những không, không, không, và không thể thu hồi đất của Đoàn Văn Vươn và một số hộ dân, hơn thế, lại càng phải giao đất lâu dài cho họ. Vì thế, phải chấm dứt ngay vụ kiện bằng sự hợp tác hơi bị ngọt, hợi bị khôn ngoan, hơi bị lưu manh, hơi bị nhiệt tình trong sự vận dụng sáng tạo “ mẹo cứt gà” với người dân của thẩm phán Ngô Quang Anh, Tòa hành chính, tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Dân thì chỉ biết làm ăn, cùng đường mới phải kiện, nay Tòa lập cho cái biên bản, rằng, các anh rút đơn kiện huyện thì huyện có trách nhiệm cho các anh thuê lại đất. Mừng quá. Rút. Về. Họ có biết đâu, họ rút đơn mặc nhiên là quyết định cưỡng chế của Tòa sơ thẩm ở huyện có giá trị pháp luật. Và thế là anh em nhà họ Lê được đã vung cao ống điếu thuốc lào chỉ huy quân cán cưỡng chế, coi như một thắng lợi lừa dân ngoạn mục.

Những hành vi lật lọng, tráo trở, lừa đảo của anh em nhà họ Lê đã khiến cho những người dân thấp cổ bé họng phải liều chết, giữ đất, giữ cuộc sống, giữ lấy miếng cơm manh áo và “sập bẫy”, rơi vào vòng lao lý. Như vậy, cần phải nhìn thẳng vào mắt nhau để hỏi câu này: Ai đã xô đẩy những người dân hiền lành thành kẻ phạm tội? Ai? Chắc chắn là có những con người cụ thể, những cái tên cụ thể, nhưng đã thấy rõ ràng chân dung của anh em nhà họ Lê này đã. Tội của các vị lãnh đạo này là tội đặc biệt nghiêm trọng: Không những đã xô đẩy những người dân lương thiện vào hành vi phạm tội, hơn cả điều đó, hơn cả ngàn lần điều đó, tội làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ, vào chính quyền. Những kẻ như anh em nhà họ Lê mang trong mình dấu hiệu của tội hình sự, và pháp luật phải công minh để vạch rõ điều này.

Tòa án nhân dân Tối cáo bằng cả trách nhiệm nghề nghiệp, lương tâm và trách nhiệm giám sát, cần phải ra quyết định hủy ngay lập tức quyết định cưỡng chế trái pháp luật của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

Việc đơn phương cưỡng chế vi phạm pháp luật, phá hoại nhà cửa, tài sản của dân phải thành lập hội đồng kiểm đếm để có số liệu đưa vào vụ án khởi tố anh em nhà họ Lê, họ phải đền bù.

Trong quá trình xem xét, xử án Đoàn Văn Vươn và những người dân, các tòa án cấp trên cần có chỉ đạo theo hướng nhân văn của luật pháp, có căn nguyên phạm tội, ở đây là sự tức nước mới vỡ bờ để cho Đoàn Văn Vươn và những người cùng tội một mức án nhẹ nhất trong khung hình phạt, để họ có  thêm nhận thức về pháp luật, tin vào pháp luật và lấy lại được niềm tin của nhân dân về Tòa án. Để họ và nhân dân hiểu rằng, có thể chính quyền xử lý bất công, không minh bạch, ức hiếp, nhưng phải tin vào chế độ, tin vào pháp luật, kiên nhẫn, phải biết tìm kiếm ngay luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình, đừng phẫn uất thượng cẳng chân, hạ cẳng tay hoặc oàng oàng, đòm đòm là ” sập bẫy”, là tù tội, không được như thế các bác nhé.

KẾT LUẬN

Hơn bao giờ hết, đây là lúc giới luật sư cần lên tiếng, vì chính họ là lực lượng nắm chắc nhất, rõ nhất trình tự các thủ tục pháp luật trong việc giải quyết  tranh chấp dẫn đến hậu quả to lớn xảy ra ở Tiên Lãng. Vì trách nhiệm với người dân, các luật sư không cần phải có lời mời, Hội luật gia cần cử ngay tổ công tác về Tiên Lãng, đây là cơ hội ngàn vàng để khẳng định thương hiệu của các anh với nhân dân.

Các nhà báo yêu quý đừng ngại gian khổ, tiếp tục tìm cho ra chứng cứ, ai, kẻ nào thực sự chủ mưu cướp  đất dân, động cơ ở đâu? Danh sách những nhà đầu tư cánh hẩu với anh em nhà họ Lê.

Qua vụ Tiên Lãng, nhân dân chờ đợi rất nhiều về sự công minh, nghiêm túc của Thành ủy Hải Phòng, hãy coi đây là điểm bắt đầu cho một cuộc cách mạng mới về chỉnh đốn Đảng.

Hãy đốt lửa niềm tin từ vụ việc ở Tiên Lãng.

Nguồn: Nguyễn Quang Vinh-Blog.

NHÀ NGHIÊN CỨU ĐINH KIM PHÚC TRẢ LỜI RFA VỀ CUỐN SÁCH MỚI

Hoàng Sa - Trường Sa: Luận cứ & sự kiện

Thanh Trúc, phóng viên RFA

clip_image001
Bìa sách "Hoàng Sa- Trường Sa: Luận cứ & sự kiện"
Chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, mà Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa, một vấn đề thời sự được người Việt trong và ngoài nước chú ý suốt thời gian qua. 

Tự chọn đề tài biển Đông và hải đảo Việt Nam làm hướng nghiên cứu của riêng mình, ông Đinh Kim Phúc, tác giả cuốn sách nghiên cứu Hoàng Sa - Trường Sa: Luận cứ & sự kiện vừa được xuất bản, trình bày những điểm chính trong tác phẩm nhằm minh chứng Việt Nam đã có chủ quyền lâu đời trên hai quần đảo này.

Công trình nghiên cứu mới

Trả lời câu hỏi đầu tiên là căn nguyên và hoàn cảnh nào dẫn đưa ông đến việc chuyên tâm nghiên cứu về biển Đông, ông Đinh Kim Phúc trình bày:

Ông Đinh Kim Phúc: Đầu năm 1974, khi Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tôi đã cùng hàng ngàn học sinh ở Vĩnh Long xuống đường biểu tình phản đối hành động của Trung Quốc với khẩu hiệu của trường chúng tôi:

“Thủ Khoa Huân ta nhắn về phương Bắc
Đừng ngông cuồng mưu nhổ vảy rồng Nam”

Những hình ảnh ngày ấy cho đến hôm nay tôi không bao giờ quên được. Rồi lịch sử lại sang trang, chiến tranh ở biên giới Tây Nam xảy ra, tôi vào bộ đội khi mới mười tám tuổi. Từng đặt chân trên đất nước Campuchia, tôi hiểu như thế nào là tội ác diệt chủng của Pôn Pốt – Iêngxari mà đằng sau chúng là tập đoàn phản động Bắc Kinh.

Năm 1980, tôi chuyển ngành về học tại Khoa Sử - Địa trường Đại học Cần Thơ và năm 1984 tốt nghiệp được giữ lại Khoa làm cán bộ giảng dạy. Năm 1986 tôi thi đậu và theo học cao học tại Khoa Lịch sử Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Trong thời gian này tôi đã được học với nhiều giáo sư hàng đầu như giáo sư Trần Văn Trị, giáo sư Phan Ngọc Liên, giáo sư Phạm Gia Hải, vân vân…

Đặc biệt may mắn tôi tiếp thu được ba chuyên đề của giáo sư Trần Bá Đệ: Từ chiến lược toàn cầu của Mỹ cho đến Chiến tranh xâm lược Việt Nam, Từ Chủ nghĩa bá quyền sô-vanh Đại Hán cho đến Chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979, Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam. Từ đây tôi đã chọn hướng nghiên cứu cho riêng mình: biển Đông và hải đảo Việt Nam.

Nhiều tài liệu mới xác lập chủ quyền của VN

clip_image002
Đường màu đỏ trên bản đồ là vùng biển hình “lưỡi bò” mà Trung Quốc tự vẽ để giành chủ quyền vùng biển Đông. (Đây là bản đồ nguyên gốc phổ biến trên nhiều website Trung Quốc:Tianyon/china)

Thanh Trúc: Thưa ông Đinh Kim Phúc, được biết ông có nhiều công trình nghiên cứu đã xuất bản, như vậy trong quyển sách: Hoàng Sa –Trường Sa: Luận cứ & sự kiện, do nhà xuất bản Thời Đại ấn hành, có vấn đề và tư liệu gì mới so với các công trình đã được công bố?

Ông Đinh Kim Phúc: Trong quyển sách Hoàng Sa - Trường Sa: Luận cứ & sự kiện, có nhiều tài liệu mới phát hiện đã củng cố thêm chứng cứ về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa cũng như góp phần phản biện quan điểm của các học giả Trung Quốc.

Thí dụ như tấm bản đồ thế giới có tuổi đời hơn 400 năm, đã được trưng bày tại thư viện Quốc hội Mỹ vào đầu năm 2010 do Matteo Ricci, một nhà truyền giáo người Ý, vẽ tấm bản đồ vào năm 1602 theo yêu cầu của vua Minh Thần Tông.

Điểm thứ nhất chúng ta cần đặc biệt chú ý, Ricci đã sáng tác tấm bản đồ thế giới đầu tiên bằng chữ Hán theo bản đồ được vẽ ở Châu Âu. Hiện nay tấm bản đồ nầy đã thất lạc, viên quan nhà Minh tên là Lý Chi Tảo đã dày công vẽ lại thành “phiên bản Lý Chi Tảo” với tên gọi là “Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ”.

Điểm thứ hai, trong bản của Lý Chi Tảo vẽ lại bản gốc của Matteo Ricci không có bốn chữ “Vạn Lý Trường Sa” là điều nên lưu ý hơn cả, chứng tỏ thời nhà Minh đã không nhận thức được quần đảo nầy là thuộc về mình hoặc không xem chúng thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc thời bấy giờ.

Mặt khác, theo bản đồ của Ricci (phiên bản do Nhật Bản vẽ lại) vùng biển dọc theo bờ của lục địa Trung Quốc, nằm dưới dãy đảo nước Nhật Bản được ghi là “Đại Minh Hải” chứ không phải là biển Trung Hoa hay Nam Trung Hoa, và trong “Đại Minh Hải” nầy không bao gồm vùng biển Đông ngày nay và những hòn đảo trong khu vực này, chứng tỏ nhà Minh lúc bấy giờ đã không xem biển Đông và những đảo ấy là của mình. Sự thật nầy là bằng chứng bác bỏ mọi lập luận khiên cưỡng của các học giả Trung Quốc trong việc chứng minh những dãy đảo trên biển Đông là thuộc về chủ quyền “không có thể tranh cãi” của nước nầy, rằng đã được xác lập từ các đời nhà Hán, Đường, Tống, Minh…
Trong bản của Lý Chi Tảo vẽ lại bản gốc của Matteo Ricci không có bốn chữ “Vạn Lý Trường Sa” là điều nên lưu ý hơn cả, chứng tỏ thời nhà Minh đã không nhận thức được quần đảo nầy là thuộc về mình hoặc không xem chúng thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc thời bấy giờ.
Ô. Đinh Kim Phúc
Một thí dụ khác, như Giáo sư Li Jinmin, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Đại học Hạ Môn, trong bài viết Nguồn gốc và sự tranh cãi đang diễn ra về vấn đề biển Đông, đăng trên Beijing Review ngày 1 tháng Tám 2011, đã nhận xét rằng: “Pháp đã không kiểm soát quần đảo Nam Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Hơn nữa, không có tài liệu chứng minh việc chuyển giao giữa Pháp và Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam thừa nhận quần đảo Nam Sa và quần đảo Tây Sa là lãnh thổ Trung Quốc trong quá khứ. Vì vậy, dựa trên nguyên tắc estoppels (promissory estoppel:sự ngăn chận việc làm trái với lời hứa) của luật pháp quốc tế, chính phủ Việt Nam hiện nay nên tuân theo ghi nhận trước đó”.

Thanh Trúc: Thưa từ những luận cứ đó ý ông muốn nói rằng lý lẽ Trung Quốc đưa ra về chủ quyền của họ trên biển Đông là không đúng?

Ông Đinh Kim Phúc: Sự thật thì không phải như những gì mà các học giả lẫn chính phủ Trung Quốc thường rêu rao. Một số tư liệu mà tôi mới phát hiện gần đây như báo Le Journal ngày 21 tháng Tám năm 1938, đã đưa tin: “Paris, 20 tháng Tám 1938, theo một công bố của Bộ Ngoại giao Pháp chiều hôm qua, chính phủ Nhật Bản đã chấp nhận quan điểm của Pháp về việc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của quân đội Pháp. Công bố cũng nhắc lại rằng Nhật Bản đã từng tranh cãi về quyền chiếm hữu quần đảo này, một vị trí có tầm quan trọng trên tuyến đường biển giữa Trung Hoa và Đông Dương.

Quyết định của chính phủ Nhật đã được đón nhận tốt đẹp ở Paris và công bố cũng nói rằng với thiện chí song phương , tất cả những khác biệt về chính trị có thể sẽ được giải quyết – Transocean.

Hoặc như học giả Samuels đã nhận xét sự leo thang về thời gian trong việc tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông: “Những tuyên bố của Trung Quốc trên các quần đảo Trường Sa bị suy yếu bởi một báo cáo 1928 của Ủy ban chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cho biết các quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc” (thay vì đảo Hải Nam như trước đây?!) và “điều này ít ra cũng đã cho thấy rằng quần đảo Trường Sa không được xem như là lãnh thổ Trung Quốc tại thời điểm đó”.

Chúng tôi thấy rằng nhận xét của Samuels hoàn toàn phù hợp với bản đồ của Chính phủ Trung Quốc xuất bản năm 1925. Rất nhiều tài liệu mới được trình bày trong quyển sách này đã làm phong phú thêm nhiều sự kiện liên quan đếng Hoàng Sa - Trường Sa trong giai đoạn 1909-1945 cũng như trước đó.

Những tài liệu mới phát hiện được đã góp phần chứng minh một sự thật là chính quyền bảo hộ của Pháp ở Đông Dương đã tái xác lập chủ quyền của Việt Nam (để bảo vệ quyền lợi chính trị lẫn kinh tế của chính sách thực dân như trên đã có đề cập) trong thời kỳ đô hộ, đấu tranh bác bỏ lập luận của phía Trung Quốc, trước đây là Trung Hoa Dân Quốc của Quốc Dân Đảng, trong âm mưu bành trướng lâu dài của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán mà lãnh hải hình lưỡi bò xuất hiện vào năm 1947 là một minh chứng hùng hồn nhất.

Khó khăn – thuận lợi

Thanh Trúc: Thưa ông Đinh Kim Phúc, những thuận lợi trong quá trình nghiên cứu của ông?

Ông Đinh Kim Phúc: Thuận lợi là lãnh đạo nhà trường nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện cho tôi nghiên cứu về biển Đông. Tôi đã có hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường đã được nghiệm thu và hiện nay tôi đang thực hiện đề tài thứ ba: “Phản biện quan điểm của một số học giả Trung Quốc về biển Đông”.

Hạn chế của tôi là ngoại ngữ nhưng tôi đã được sự giúp đỡ của nhiều học giả trong và ngoài nước cũng như nguồn tư liệu quý báu từ Thư viện Quốc hội Mỹ, từ các kho lưu trữ ở Pháp, Nhật… mà các em bên Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa cung cấp.

Thanh Trúc: Thế thì bên cạnh đó ông có gặp sự khó khăn nào không?

Ông Đinh Kim Phúc: Khó khăn thì cũng không tránh khỏi. Khi tôi xin phép để đi dự Hội thảo Hè ở Mỹ hồi năm 2010, một cán bộ an ninh đã hỏi lãnh đạo của tôi rằng “ông Phúc có bị bệnh tâm thần hoang tưởng hay không?”. Và hiện nay tôi thường được mời uống cà phê mà không phải tốn tiền.

Thanh Trúc: Xin cảm ơn ông Đinh Kim Phúc, tác giả cuốn sách nghiên cứu Hoàng Sa-Trường Sa: Luận cứ & sự kiện.
T. T.
Nguồn: rfa.org

CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, HÃY BẮT ĐẦU TỪ HUYỆN TIÊN LÃNG

Bài: Việt Thắng

Xin được trích nguyên văn Nghị quyết Ban chấp hành trung ương đảng lần thứ IV để mở đầu cho bài viết, và cũng là đề xuất của tôi, một quần chúng ngoài đảng: “Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp“.
 
Như vậy, đảng đã quyết tâm chỉnh đốn, quyết tâm sửa mình. Nhưng sửa từ đâu và sửa từ lúc nào?

Trước kia, khi xung trận, bao giờ chủ tướng cũng làm lễ tế cờ. Để giữ nghiêm quân pháp, những kẻ vi phạm nặng sẽ bị chém đầu làm lệnh. Cuộc chỉnh đốn đảng lần này cũng phải coi như là một lần xung trận mới, dẫu có đau cũng phải xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên biến chất. Nói như nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan: Nói thật nhưng phải làm thật.

Theo tôi, đảng phải sửa ngay từ bây giờ và bắt đầu từ xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Tại sao vậy? Vì nơi đây đang lộ rõ khoảng cách giữa dân với đảng. Nơi đây đang có dấu hiệu trở mặt, hay nói cách khác là bịp bợm với dân của cán bộ chính quyền. Nơi đây đang có dư luận, anh em chủ tịch huyện Tiên Lãng và chủ tịch xã Vinh Quang hà hiếp dân lành.

Cụ thể là: Người dân bỏ công, bỏ sức khai phá đầm hoang để làm giàu cho mình, cho quê hương. Như gia đìn anh Đoàn Văn Vươn đã phải đánh đổi cả mạng sống mới có được 38 ha đầm tôm như hôm nay. Ấy thế mà, huyện Tiên Lãng đòi thu hồi ngay lập tức. Quyết định thu hồi của huyện bị khởi kiện. Tòa sơ thẩm đã xử, và đương nhiên, không cần nói cũng biết dân sẽ thua. Tòa phúc thẩm tiến hành hòa giải. Tại đây, đại diện UBND huyện Tiên Lãng – ông Phạm Văn Hoa, Trưởng phòng TNMT đã hứa: nếu dân rút đơn huyện sẽ tiếp tục cho thuê đất. Tin quan, dân đã rút đơn. Nhưng, đúng là “miệng quan trôn trẻ”, dân vừa rút đơn thì chủ tịch huyện lại ra quyết định cưỡng chế thu hồi đất.

 Rõ ràng, đó không phải là lời hứa của chính quyền của dân, do dân và vì dân mà là hành vi lừa đảo của những tên lưu manh. Phải chăng, từ lời dối trá trên, người dân đã không còn mảy may tin vào cán bộ, do vậy, họ biết gài mìn, nổ súng là phạm pháp, có thể bị tử hình, nhưng vẫn làm?

Theo luật pháp, người dân được thuê đất 20 năm (Nếu là trước thời điểm thì tính từ 15/10/1993), nhất là những người như anh Vươn, bỏ công, bỏ của, khai hoang phục hóa lại càng được ưu tiên. Thế cớ gì mà lại tự tiện thu hồi đất của dân đang sản xuất có hiệu quả? Cớ sao, người dân gán cả tài sản để có được những đầm tôm ấy lại đi thu hồi mà không tính đến lợi ích của họ? Cớ sao, ông chủ tịch huyện trả lời với báo chí rằng: Không thể công khai sau khi thu hồi, đất này sẽ được giao cho ai?

Và, trả lời báo chí, ông Lê Văn Liêm – Chủ tịch UBND xã Vinh Quang khẳng định, thu hồi đất là đúng pháp luật, nhưng lại không chứng minh được đúng như thế nào. Mà, ông Liêm lại là em ruột ông Lê Văn Hiền – Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng. Ông Hiền phát lệnh, ông Liêm hưởng ứng – anh em mà.

Cần phải kiểm tra nghiêm túc xem, mục đích thu hồi đất là gì? Có đúng pháp luật không? Điều mà ông chủ tịch huyện nói “không thể công khai” là bí mật gì? Tại sao những người nông dân hiền lành, chất phác lại phản kháng dữ tợn như vậy? Ai, và lí do gì đẩy họ tới bước đường cùng để vi phạm pháp luật như vậy? Và cuối cùng là cần phải làm rõ, có hay không anh em chủ tịch huyện và xã Lê Văn Hiền và Lê Văn Liêm có tư lợi trong việc thu hồi đất này? Nếu có, nên xử lý hình sự theo Luật phòng chống tham nhũng, coi như là chém đầu làm lệnh cho lần ra trận mới này. Chúng ta đừng sợ, kiểm tra ra dân sẽ mất tin. Không đâu, nếu chúng ta làm thật, làm nghiêm, đừng có “diễn” như lâu nay cơ quan kiểm tra vẫn làm ở một số địa phương thì dân sẽ tin. Mà dân đã tin thì công cuộc chỉnh đốn đảng ắt thành.

Cuối cùng tôi xin chép lại câu chuyện mà tôi được nghe từ khi còn nhỏ (có thể không còn nhớ chính xác lắm), đặng mong công cuộc chỉnh đốn đảng đạt kết quả tốt.

Có một nhà văn người Pháp rất cảm tình với Đảng cộng sản Pháp. Ông thường viết báo, làm thơ ca ngợi những hoạt động, những tấm gương đảng viên đảng cộng sản. Chủ tịch Đảng CS Pháp đích thân mời ông gia nhập hàng ngũ của những người cộng sản. Nhà văn nói rằng: Đảng của các anh cũng như một đoàn quân xếp hàng. Đã xếp hàng là phải thẳng, nhưng người trong hàng ngũ thì không phát hiện được hàng có thẳng hay không. Tôi xin làm người đứng ngoài để quan sát xem nó có thẳng hay không.

 Nhân dân là người quan sát vĩ đại, hi vọng đoàn quân của đảng luôn luôn thẳng tắp!

Theo blog NVT

Lâm Khang: Tôi muốn được thấy lễ tế cờ ở Tiên Lãng!

PHỤ LỤC:
Tổng hợp của Anh Ba Sàm, cùng lời bình:
- Báo Thanh Niên lên tiếng: Vụ 6 công an, bộ đội bị bắn trọng thương: Huyện Tiên Lãng giao đất tùy tiện? (TN). – Dân nổ súng là bất bình với nhà cầm quyền  —  (NV). – Uẩn khúc gì trong vụ nổ súng ở Tiên Lãng? – (RFA).  – Người dân Tiên Lãng nói về vụ Đoàn Văn Vươn (BBC). – Ông Đoàn Văn Vươn là người như thế nào? – (RFA). – Từ “anh hùng lấn biển” thành tội phạm(NLĐ).  – Vụ án Tiên Lãng: đừng dồn họ vào chân tường – (RFA). – Ai làm chủ đất đai của nông dân?  —  (BBC).  – Luật đất đai phải công nhận quyền sở hữu tư nhân  —  (RFI).  – Đoàn Quý Lâm: Đừng vô cảm với tiêu cực đất đai nữa (Quê Choa). – Truyện ĐẤT của Anh Đức tặng cho anh Vươn – (Nguyễn Thông).  – Khi nông dân phản kháng (Nguyễn Văn Học).
<=Chủ tịch huyện Tiên Lãng, Lê Văn Hiền.Chủ tịch huyện Tiên Lãng là anh ruột chủ tịch xã Vinh Quang – (Cu làng cát). - Lời khẩn nài của người thân ông Vươn – (BBC/ Ba Sàm). – SỰ THẬT LỐ BỊCH Ở TIÊN LÃNG: HÓA RA CHÚNG NÓ CẢ (Nguyễn Quang Vinh). “Bây giờ thì chúng tôi đồng ý với anh, căn nguyên bức xúc dẫn đến phạm tội: Chúng nó đang kéo bè kéo cánh, kéo anh kéo em để cướp đất của anh và bà con nghèo. Dù anh không may trở thành  người phạm tội nhưng anh là NGƯỜI LƯƠNG THIỆN, vâng MỘT NGƯỜI LƯƠNG THIỆN mà chúng tôi  vô cùng kính trọng“.
- Bi kịch đồng Nọc Nạn xưa và tình hình ruộng đất hiện nay (Kha Trà Phương).  – Trần Đình Thu: VỤ ÁN ĐỒNG NỌC NẠN TRONG THỜI HIỆN ĐẠI (Quê Choa).  – CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, HÃY BẮT ĐẦU TỪ HUYỆN TIÊN LÃNG (Thắng xòe). – Hỏi Xoáy, Đáp Xoay của Giáo sư Trần Quắt Quay – (Người Buôn Gió). – LÀM NGƯỜI TỐT PHẢI THỦ ĐOẠN (?!) (Nguyễn Quang Vinh). – Đoàn Văn Vươn cần được xét xử “tội ngu” trước tội giết người(!) (J.B. Nguyễn Hữu Vinh). “Cứ tưởng cái nổi khùng, cái vùng lên đấu tranh của người nông dân như Chị Dậu chỉ có cách đây 75 năm trong thời mất nước, thời nô lệ vì ở đó có áp bức nên có đấu tranh mà thôi“. – Hoan hô báo Pháp Luật TP HCM: Bộ mặt Bá Kiến đang dần lộ rõ (?!) –  (Người Ba Đồn). BTV: Cả bọn lý trưởng, cường hào, ác bá ở địa phương từ thời xưa, biến người dân lương thiện thành quỹ dữ, mà Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô Tất Tố… đã dùng ngòi bút để diệt chúng, nhưng có lẽ đám con cháu của chúng vẫn còn tồn tại tới ngày nay. Nhân vật Chí Phèo của Nam Cao đã từng thốt lên: “Tao muốn làm người lương thiện. Không đựơc! Ai cho tao lương thiện?“ không khác gì nhân vật Đoàn Văn Vươn ngày nay.
BS: Nhân vụ việc này xin được nhắc các anh chị trong ngành công an một hiện tượng ngày càng phổ biến lâu nay, đó là không ít cán bộ chức quyền trong các ngành hữu quan, một mặt khi cần thì họ luôn vời tới các anh chị, để làm ngáo ộp, “sai nha”, ra tay với dân phục vụ ý đồ riêng của họ, nhưng sau lưng thì họ vẫn không tiếc lời chỉ trích các anh chị, kể cả với những người chỉ thừa hành mệnh lệnh, sống mực thước, chẳng được bổng lộc gì. Và BS cũng biết, nhiều anh chị công an, mặc dù nhiệm vụ phải thi hành, nhưng vẫn âm thầm cố hạn chế hậu quả xấu cho người dân. Hy vọng rồi lịch sử sẽ phán xét. (Nguồn: Ba Sàm).


CHÂN DUNG CHỦ TỊCH HUYỆN TIÊN LÃNG

Chủ tịch huyện Tiên Lãng là anh ruột chủ tịch xã Vinh Quang

Cu Làng Cát 

Báo PLTPHCM đã phanh phui quan hệ giữa Chủ tịch huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) với chủ tịch xã Vinh Quang là anh em ruột. Ông Lê Văn Liêm, chủ tịch UBND xã Vinh Quang (ông Liêm là em ruột chủ tịch UBND huyện Lê Văn Hiền). Đó là dữ liệu hết sức quan trọng của bi kịch số phận Đoàn Văn Vươn. 

Chủ tịch huyện Tiên Lãng, Lê Văn Hiền là anh ruột chủ tịch xã Quang Vinh, Lê Văn Liêm. Cả hai anh em ruột cùng tham gia ra quyết định cưỡng chế đất ông Đoàn Văn Vươn và nhiều hộ dân khác cho bằng được. Ảnh: Tiền phong.vn

Với anh Vươn, thành quả lấn biển được người dân ủng hộ, đáng lý trong thời buổi lấn biển thành công, một đóng góp cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu huyện, Tiên Lãng cần khen thưởng và động viên, nhưng đằng này lại thu hồi bằng được.
.
Chỉ một dữ liệu nhỏ của PLTPHCM, giữa chủ tịch xã và chủ tịch huyện là anh em ruột thì người ta ngầm hiểu đằng sau nó sẽ là gì. Đấy là mối quan hệ hơn cả cánh hẩu và chắc chắn con đường thu hồi đất đã được bày mưu từ trước.?

Người ta tự hỏi, với mối quan hệ ruột thịt này người dân không bức xúc mới lạ. Và cũng có câu hỏi, vì sao trong một địa phương huyện Tiên Lãng, hai anh em lại làm lãnh đạo? Việc này có điều gì đó thật lợn cợn?.

Nếu cơ quan chức năng điều tra việc thu hồi đất này là trục lợi thì tội trạng của anh em chủ tịch xã và chủ tịch huyện Tiên Lãng là không thể chối bỏ.

Và nếu đây là trục lợi thì cơ quan cưỡng chế giải tỏa dường như bị mối quan hệ này “lừa” vào cuộc giải tỏa không thỏa đáng.

Người ta thấy trong cuộc giải tỏa này có màu áo của cả bộ đội và biên phòng. Từ khi nào, hai lực lượng người dân rất kính trọng này tham gia vào những cuộc cưỡng chế như thế? Cần nói rõ, quân đội và biên phòng là lực lương bảo vệ Tổ quốc và nhân dân, không nên trưng dụng vào các cuộc giải tỏa như thế này sẽ mất đi hình ảnh. Bởi thật tình, người dân khi nói đến lực lượng này vẫn gọi bằng ngôn từ “chú bộ đội” một cách trịnh trọng.
.
Việc báo PLTPHCM trưng ra mối quan hệ anh em ruột càng cho thấy sự nhẫn tâm của lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm ăn sâu vào cả tầm xã khiến cho số phận anh Vươn rơi vào lao lý khi chống người thi hành công vụ.


Ai đó từng nói biết tin sẽ có xây sân bay nên anh Vươn và gia đình cố giữ thì nên đọc bài viết này của Đất Việt: Vụ nổ súng ở Tiên Lãng: Quy hoạch sân bay lập sau quyết định thu hồi đất. Bài viết có đoạn: “ Theo tìm hiểu của Đất Việt, sáng 8/9/2009, tại buổi làm việc với lãnh đạo Bộ GTVT, lần đầu tiên lãnh đạo UBND TP.Hải Phòng mới đề xuất với Chính phủ phương án xây dựng sân bay cấp vùng duyên hải phía Bắc ở khu vực Tiên Lãng, thay thế cho sân bay Cát Bi sau năm 2025 và là sân bay hỗ trợ cho sân bay quốc tế Nội Bài. Thứ trưởng Bộ GTVT kiêm cục trưởng Cục hàng không Phạm Quý Tiêu cho rằng, nếu Hải Phòng có 2 sân bay dân dụng là không ổn về mặt kinh tế. 
 .
Và Hải Phòng vẫn có kế hoạch nâng cấp sân bay Cát Bi đến năm 2015 và 2025. Mãi đến ngày 28/4/2011 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ mới ký Quyết định 640/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch vị trí Cảng hàng không quốc tế Hải Phòng. Theo đó, vị trí quy hoạch cảng hàng không mới sẽ nằm ở 4 xã Vinh Quang, Tiên Hưng, Đông Hưng, Tây Hưng của huyện Tiên Lãng. Tức là cho đến nay, sau khi có sự đồng ý này, Bộ GTVT mới bắt tay vào việc lập quy hoạch sân bay. Trong khi đó, ngay từ 2005 người dân đã khiếu nại, 2007 đã khởi kiện ra tòa về quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng”. Rõ ràng, chủ tịch huyện Tiên Lãng và em ruột, chủ tịch xã Vinh Quang đã muốn chiếm đất của dân từ năm 2005. 
.
Người ta hy vọng rằng, sẽ có những bài báo bóc tách rõ ràng hơn nữa đằng sau mối quan hệ ruột thịt lãnh đạo xã và huyện này sẽ là những gì, bởi điều đó nó giải tỏa rất lớn tâm lý xã hội để hiểu rõ bộ mặt cánh hẫu.