Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

TP LÀO CAI SẮP CHUYỂN QUỐC TỊCH?

TP Lào Cai: Một số tuyến phố khởi động việc thắp đèn lồng
Lời dẫn của Thảo Dân:


Báo Lào Cai vừa đưa tin, lãnh đạo TP Lào Cai chỉ đạo các phường thắp đèn lồng (Trung Quốc) ở các công sở và một số tuyến phố nhân kỷ niệm 20 năm ngày tái lập tỉnh Lào Cai (1/10/1991-1/10/2011). Nhiều hộ dân phản đối vì treo đèn lồng không phải là văn hoá, kiến trúc người Việt Nam. Có lẽ lãnh đạo TP Lào Cai muốn làm vui lòng các vị khách Trung Quốc sẽ sang dự lễ kỷ niệm 20 năm ngày Lào Cai tái lập bằng việc thắp đèn lồng? Hay muốn nói rằng: Nhân Quốc khánh Trung Quốc (1/10/1949) Lào Cai sắp sáp nhập vào Trung Quốc, chúng tôi xin tự nguyện làm nô dịch văn hóa trước khi tự nguyện làm nô dịch quốc gia và thân thể? Mời bạn đọc xem báo Lào Cai tại địa chỉ: baolaocai.vn, để thấy điều này.
Thảo Dân

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh Lào Cai (1/10/1991 - 1/10/2011), thành phố Lào Cai đã bắt đầu khởi động chương trình chỉnh trang đô thị, trong đó có việc thắp đèn lồng tại các công sở và nhà dân trên một số tuyến phố.

                 Đèn lồng trên phố Trần Nhật Duật (phường Kim Tân). 

Năm phường nội thị là Cốc Lếu, Lào Cai, Phố Mới, Kim Tân, Duyên Hải được chọn làm điểm, mỗi phường có ít nhất 1 tuyến phố thắp đèn lồng từ dịp Quốc khánh 2/9/2011. Tại phường Kim Tân, phố Trần Nhật Duật (từ quảng trường cũ tới đầu đường Trần Hưng Đạo), từ dịp Quốc khánh trở lại đây, vào mỗi tối, người dân lại đồng loạt thắp đèn lồng đỏ trước hiên nhà đã gây sự tò mò của nhiều người. Ngoài đèn lồng, đèn trang trí cũng được thắp trên các rặng cây cảnh quan tại khu vực quảng trường cũ và một số công sở, khiến cảnh quan về đêm thêm lộng lẫy.
Tại phường Lào Cai, trên phố Nguyễn Huệ từ đầu cầu Cốc Lếu qua khu vực Cửa khẩu Quốc tế đến Đền Thượng, các công sở đồng loạt treo đèn nháy trên cây cảnh quan phía trước trụ sở. Hơn 10 hộ dân giáp  chùa Tân Bảo cũng đã thắp đèn lồng đỏ từ dịp Quốc khánh 2/9. 
Đèn treo trên phố Hoàng Liên (khu vực phường Cốc Lếu) có kích cỡ quá nhỏ.

Theo bà Lưu Thị Nụ, Chủ tịch UBND phường Kim Tân thì từ tối 25/9, tuyến phố Trần Nhật Duật (đoạn từ đầu đường Trần Hưng Đạo đến đường Quy Hoá), các hộ dân sẽ đồng loạt thắp đèn lồng. Bà Nụ cho biết, việc thắp đèn trang trí trên 3 tuyến phố chính thuộc địa bàn phường là việc nên làm trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh để nâng cao mỹ quan đô thị, làm đẹp thêm hình ảnh thành phố biên cương trong mắt người dân và du khách.
Vừa qua, thành phố Lào Cai đã có công văn triển khai tới các phường, từ đó các tổ dân phố, chi bộ tổ chức họp lấy ý kiến nhân dân về việc treo đèn lồng. Tuy vậy, chương trình treo đèn lồng đã không hoàn toàn nhận được sự đồng thuận của người dân.
                  Chiếc đèn lồng này có giá gần 200.000 đồng.



Dù sao, thành phố Lào Cai vẫn quyết tâm để chủ trương này được triển khai trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh và từ 25/9/2011 sẽ triển khai đồng loạt trên những tuyến phố chính. 

* Anh Phạm Đình Sơn, tổ 14 phường Kim Tân: Treo đèn lồng là không phù với kiến trúc và văn hóa Việt Nam
Là hộ tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ giải trí trên địa bàn nên gia đình rất ủng hộ chủ trương làm đẹp của thành phố. Tuy nhiên, tôi không đồng tình với chủ trương đưa đèn lồng vào treo ở một số tuyến đường trên địa bàn, bởi treo đèn lồng không phù hợp với điều kiện kiến trúc của thành phố, phong tục, tập quán, văn hóa của người Việt.
Đơn cử, trên tuyến đường Trần Nhật Duật, hầu hều các hộ dân đã treo đèn lồng, nhưng nhiều gia đình do xây dựng không có sự thống nhất về thiết kế (nhà thò ra, nhà thụt vào, nhà cao, nhà thấp...), nên treo đèn lồng trông không phù hợp. Hơn nữa, nhiều nhà không thiết kế hệ thống điện, nên chỉ treo làm vì, trong khi đó đèn lồng phải được thắp sáng mới đẹp. Cũng với giá thành ấy, nên chăng thành phố tiến hành làm một biểu tượng hoặc hình thức khác phù hợp hơn…
* Ông Trần Ngọc Dân, tổ trưởng tổ 14, phường Kim Tân: Hầu hết các hộ dân trong tổ không đồng tình với chủ trương treo đèn lồng
Tổ 14 có 65 hộ dân nằm dọc tuyến đường Lý Công Uẩn. Trong buổi họp tổ (16/9/2011) để lấy ý kiến nhân dân về thực hiện chủ trương của thành phố treo đèn lồng nhân kỷ niệm 20 năm ngày tái lập tỉnh Lào Cai thì hầu hết các hộ dân không đồng tình vì cho rằng treo đèn lồng là không phù với văn hóa người Việt Nam cũng như cảnh quan, không gian, kiến trúc ở tổ dân phố nên dễ gây phản cảm. Với trách nhiệm, tổ cũng chỉ phố tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia, đối với cán bộ, đảng viên thì phải gương mẫu thực hiện chủ trương của thành phố.
* Chị Huệ, số nhà 411, đường Nguyễn Huệ, phường Phố Mới: Tổ dân phố bắt buộc các hộ dân trên địa bàn mua đèn lồng
Tổ dân phố không tổ chức họp dân lấy ý kiến về chủ trương treo đèn lồng mà chỉ gửi giấy thông báo và cho người mang đèn lồng đến yêu cầu các hộ dân phải mua để treo, nên người dân bất bình. Nếu ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn thì treo cờ Tổ quốc là phù hợp nhất, chứ nhà cửa như thế này treo đèn lồng sẽ gây phản cảm và lãng phí.
             Thông báo về chủ trương treo đèn lồng tại các hộ dân.
Mỗi vỏ chiếc đèn lồng có giá 125 nghìn đồng, nhưng để treo và thắp sáng được, mỗi chiếc phải đầu tư thêm gần 100 nghìn đồng để mua bóng điện, dây, phích cắm, mà không phải gia đình nào cũng có điều kiện cả.
* Ông Hà Văn Hòa, Tổ trưởng tổ 23, phường Phố Mới: Đây là chủ trương của thành phố, người dân phải chấp hành
Cho dù một số hộ không đồng ý, nhưng đây là chủ trương của thành phố nên bắt buộc các hộ dân trong tổ dân phố phải nghiêm túc chấp hành. Do điều kiện về thời gian nên thay vì phải tổ chức họp dân, tổ dân phố đã gửi thông báo xuống các hộ dân về việc treo đèn lồng, đồng thời hướng dẫn người dân cách thức, quy cách treo đèn. Đến nay, tổ đã phát đèn cho 60/65 hộ dân trong tổ để sẵn sàng treo đồng loạt vào tối ngày 29/9.
Nhóm PV Thời sự  
Cập nhật: Thứ tư, 21/09/2011, 17:04:51 PM
Nguồn: Trần Nhương.com.




Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

MỘT CẢNH TƯỢNG QUÁ ĐAU LÒNG TRÊN ĐẤT NƯỚC TA!

Ảnh: Sưu tầm
 CẢNH TƯỢNG ĐAU LÒNG TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM



Trên VTV tối nay đưa tin này. Tôi đã thót tim khi xem đoạn phim này! 
Có gì như là dấu hiệu của sự tận cùng của sự chịu đựng.
.
Tượng Mẹ Việt Nam mà làm gì? Thôi! Xin hãy đem tiền hóa đá mẹ Thứ để làm cây cầu, cho lũ trẻ con hàng ngày đi qua cây cầu - cánh tay của mẹ - đến trường!
_____________________________

Học sinh phải bơi qua sông đến trường

Sáng sớm, khi sương mù còn giăng khắp bản làng, hàng chục học sinh ở xã miền núi Trọng Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình) vội cởi quần áo ngoài cho vào túi nylon, mặc quần cộc bơi qua dòng Khe Rào để tới trường học.

*Clip: Vượt sông đến trường

Nằm cách trung tâm xã Trọng Hóa chừng 7 km, bản Ông Tú có 20 hộ dân với 106 nhân khẩu, trong đó có 14 em đang học tiểu học. Bản Ka Óoc gần đó cũng có hơn chục em học tại trường THCS Trọng Hóa. Do nằm bên kia sông Khe Rào (thượng nguồn sông Gianh), hai bản trở nên biệt lập với thế giới bên ngoài. 

Ngày nào cũng vậy, học sinh bản Ông Tú và Ka Óoc phải thức dậy thật sớm vượt quãng đường đồi dốc xuống sông Khe Rào. Như một thói quen, các em cho cặp sách, quần áo vào vào túi nylon chuẩn bị từ trước rồi cùng bơi qua sông. Nhiều em không mang theo túi nylon thì bơi một tay, tay còn lại giơ cao cặp sách lên đầu cho khỏi ướt.

Gần một năm nay, học sinh bản Ông Tú và Ka Oóc xã Trọng Hóa phải bơi qua sông học chữ. Ảnh: Văn Nguyễn.

"Vào mùa lũ, tụi em phải nghỉ học chừng một tháng vì nước sông Khe Rào chảy xiết, không thể bơi qua được”, em Hồ Danh, học sinh lớp 4A, trường tiểu học Hưng nói. Danh cho biết, em và các bạn đều sợ bơi qua sông, nhưng vì muốn học cái chữ nên phải cố rướn mình qua những đoạn nước sâu, chảy xiết. "Mùa đông nước cạn bớt nhưng tụi em vẫn phải lội qua những chỗ nước sâu. Vào lớp học chân tay ai cũng run cầm cập", Danh kể.

Việc bơi qua đoạn sông rộng chừng 20 mét với học sinh nam chỉ mất vài phút, nhưng với em nữ là thử thách. Hồ Thị Thoi, học sinh lớp 8 trường THCS Trọng Hóa vẫn nhớ như in ngày tập bơi để đi học.

“Ngày đó mấy đứa bạn dẫn em ra bờ sông nói muốn đi học thì phải biết bơi qua bên kia sông. Em thích đi học nhưng nhìn nước chảy mạnh quá nên cứ bước xuống lại nhảy lên bờ. Mấy bạn vừa bơi vừa kéo em qua, uống mấy hớp nước liền. Sau đó em nhờ bạn dạy bơi để được đi học”, Thoi kể.

Bản Ông Tú có 8 em đang học mẫu giáo ngay tại bản, các cô giáo lại phải tìm cách qua sông để đến lớp. Năm 2009, cô Đinh Thị Thức, giáo viên trường mầm non Trọng Hóa, ngồi thuyền qua sông Khe Rào vào bản Ông Tú dạy học, bất ngờ thuyền lật úp, cô giáo ngã xuống sông. May mắn một người dân phát hiện, kịp thời bơi ra cứu. 

Ông Hồ Nhung, 79 tuổi, trưởng bản Ông Tú cho biết tình trạng học sinh đi học phải bơi qua sông diễn ra từ mùa đông năm 2010. Trước đây, xã cấp thuyền cho bản nhưng đến mùa lũ do bảo quản không tốt nên thuyền bị cuốn trôi. Sau đó học sinh ở bản muốn đi học thì phải biết bơi, không kể lớn hay nhỏ. 

“Người ở bản chưa ai gặp nạn ở đoạn sông này nhưng hiểm nguy có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Bà con ai cũng muốn có được một cây cầu để cho tụi nhỏ đi học, người lớn đi làm mà mong hoài chưa được”, ông nói. 

Xã mới được cấp một chiếc thuyền để học sinh qua sông. Tuy nhiên, vào mùa lũ, nước sông dâng cao, việc chèo thuyền vẫn rất nguy hiểm. Ảnh: Văn Nguyễn.

Ngày 17/9, học sinh bản Ông Tú đã được huyện cấp cho một chiếc thuyền và áo phao để qua sông. Tuy nhiên, ông Đinh Xuân Tiến, Chủ tịch UBND xã Trọng Hóa cho rằng việc cấp thuyền và áo phao cho học sinh qua sông chỉ là giải pháp tạm thời. 

“Xã đã kiến nghị lên cấp trên xây cầu cho dân bản. Nếu có kinh phí, phía xã sẽ mở tuyến đường thông từ bản Ông Tú lên bản Ka Óoc (cách nhau chừng 3 km) để người dân đi lại thuận tiện hơn. Riêng phương án di dân, chúng tôi cũng đã tính đến nhưng không khả thi vì muốn người dân bám bản, giữ rừng”, ông Tiến nói.

Trao đổi với VnExpress, ông Đinh Quý Nhân, Chủ tịch huyện Minh Hóa cho biết Sở Giao thông Vận tải tỉnh Quảng Bình đã đi khảo sát và báo cáo Bộ Giao thông Vận tải. Tuy nhiên, kinh phí xây cầu ở bản Ông Tú quá cao, trong khi huyện còn nghèo nên giải pháp trước mắt là tăng cường phụ huynh đưa đón con em đi học và cấp áo phao.
Văn Nguyễn
Nguồn: VNExperss.



TRÒN MỘT NĂM Y MOAN VẮNG XA TRẦN GIAN


Viết nhân ngày giỗ đầu Nghệ sĩ Nhân dân Y Moan

Nguyễn Duy Xuân

Thấm thoắt mới đó mà Nghệ sĩ Nhân dân Y Moan đi xa đã trọn một năm rồi. Ngày này năm ngoái khi nghe tin dữ, tôi đã không giấu được nỗi xúc động của lòng mình:
Dẫu biết trước
Đời anh
Đang từng ngày ngắn lại,
Dẫu biết rằng
Thần chết
Chẳng ưu ái riêng ai
Thế mà sống mũi vẫn cay
Có chi nhói ở tim này, Moan ơi!

Với tôi, Y Moan là đứa con của núi rừng Tây Nguyên. Chất đại ngàn thấm đẫm trong con người anh, trong lời ca tiếng hát của anh để luôn luôn bừng cháy một ngọn lửa bất diệt cho đến những phút giấy cuối của cuộc đời:

Anh sống trọn đời
Cho ca hát
Còn chút hơi tàn, sức kiệt
Bừng cháy trong đêm diễn
Tha thiết tình đời.

Tiếng hát anh lay động hồn người
Vang vọng giữa đất trời Tây Nguyên hùng vĩ

Y Moan là thế. Sống là để hát ca. Sống là để cháy hết mình cho sự sống. Để khi không còn trên thế gian này nữa, người đời vẫn còn nghe vọng mãi tiếng hát anh trong âm hưởng của đại ngàn bất diệt:

Nhớ anh – chàng ca sĩ
Cháy bỏng “Giấc mơ Chapi”
Để được “sống bên em trọn đời”
Và gọi mãi “Ơi M’Drak”
Cho “Xôn xao cao nguyên Đắc Lắc” một thời.

Trước ngày giỗ đầu của anh, tôi về buôn Đha Prong, xã Cư Ebur thành phố Buôn Ma Thuột để thắp cho anh nén nhang. Nơi ngôi nhà giản dị ở cuối buôn tưởng như còn thấp thoáng đâu đây bóng dáng người ca sĩ thân yêu. Vợ con anh, họ hàng và bà con trong buôn đang tất bật chuẩn bị cho lễ giỗ ngày mai. Tiếp chuyện tôi, chị Ngẫu cho biết hôm qua bà con buôn làng đã làm lễ tưởng nhớ anh tại mộ phần ở nghĩa trang. Chiều nay, những người thầy, người bạn nổi tiếng của anh là các ông Nguyễn Văn Lạng, nguyên Chủ tịch tỉnh Đắc Lắc, nhà sử học Dương Trung Quốc, nhạc sĩ Nguyễn Cường từ Hà Nội sẽ bay vào. Nhân giỗ đầu của anh, nhạc sĩ Nguyễn Cường đã cùng bạn bè đúc tượng bán thân anh, một bằng đồng và một bằng thạch cao. Không thể nói hết tình cảm của mọi người dành cho anh trong những ngày này.

Chia tay chị Ngẫu và các cháu, trên đoạn đường mười cây số trở về nhà, tôi cứ nghĩ mãi về anh. Con người ta sinh ra không phải chỉ sống cho riêng mình. Y Moan là như thế. Anh đã hóa thân vĩnh hằng trong tâm tưởng của hàng triệu người hâm mộ, để làm nên một hình ảnh đẹp mang đậm bản sắc văn hóa Tây Nguyên thời hiện đại.

Chàng Y Moan
Con của núi rừng
Tiếng vọng của đại ngàn
Nghệ sĩ của nhân dân…

                                                                   Buôn Ma Thuột, 21-9-2011
                                                                            Nguyễn Duy Xuân

VÌ SAO NHÀ THƠ HỮU THỈNH CA NGỢI NHỮNG CÂU THƠ TẺ NHẠT ẤY?

VÌ SAO NHÀ THƠ HỮU THỈNH HẾT LỜI CA NGỢI 

NHỮNG CÂU THƠ TẺ NHẠT CỦA TRẦN GIA THÁI

.

Trần Mạnh  Hảo

.

Tạp chí “Nhà Văn” số 9-2011 ( tạp chí của Hội nhà văn Việt Nam) trang 144 đến 146 có in bài “MỘT TẬP THƠ TƯƠI LÊN NHIỀU HI VỌNG” của nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam kiêm chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, ca ngợi hết lời tập thơ “Lời nguyện cầu trước lửa” (NXB Hội nhà văn 2011) của ông Trần Gia Thái – Tổng giám đốc Đài Phát thanh và truyền hình Hà Nội, kiêm chủ tịch Hội nhà báo Hà Nội. Bài viết trên của ông Hữu Thỉnh cũng vừa được trang mạng của nhà văn Phạm Viết Đào phổ biến, xin  in kèm dưới bài viết này của chúng tôi để rộng dường dư luận. 

.

Vì chưa có tập thơ này của ông Trần Gia Thái trong tay, chúng tôi chỉ căn cứ trên những câu thơ được ông Hữu Thỉnh trích ra bình phẩm, ngợi ca để đánh giá bài viết khác thường này của ông Hữu Thỉnh thực hư ra sao.

.

Mở đầu bài tụng ca thơ Trần Gia Thái, ông Hữu Thỉnh lập ngôn, bằng cách xác định lại bản chất của thi ca.

Câu văn đầu tiên Hữu Thỉnh viết đã không chuẩn về tu từ : “ Tôi kiên trì thói quen đọc thơ để hiểu người”(chữ nghiêng đậm do TMH nhấn mạnh). Nên chỉnh sửa câu văn này cho trong sáng tiếng Việt: “ Tôi có thói quen đọc thơ để hiểu người”. Ngay sau đó, Hữu Thỉnh tung ra một quan niệm chưa chuẩn về thơ: “Bởi vì thơ là nghệ thuật ít giấu mình được nhất”. Thơ giấu mình tài lắm ông Thỉnh ạ. Có người tâm ác mà toàn làm thơ về sự ngay lành, thánh thiện. Có người tâm Phật mà thơ thì khẩu nghiệp, chướng tai. Có người giả dối còn hơn cuội mà thơ thì nói toàn chuyện thật thà. Người Trung Hoa từ thời thượng cổ đã có quan niệm:” Thi tại ngôn ngoại”, một định nghĩa rất hay và rất đúng về thơ. Người Việt ta từ xưa đã cho thơ là nghệ thuật kỳ ảo, diệu vợi, hàm súc, dư ba, ẩn chứa khôn cùng tình cảm tư tưởng của nhà thơ trong và ngoài câu chữ. Nói cho cùng, ngược lại với quan niệm chưa đúng của Hữu Thỉnh, thơ chính là nghệ thuật giấu mình, giấu tư tưởng tâm hồn, cảm xúc, thông điệp của nhà thơ tới muôn vàn mai hậu, để chỉ dành riêng cho tri âm tri kỷ thưởng thức mà thôi. Nếu cứ nói toẹt ra hết thì còn gì là thơ?

Hàng trăm năm đã trôi qua, dễ gì chúng ta đã hiểu hết nghệ thuật giấu mình, đa ngữ nghĩa, đa chiều kích, đa nội hàm của câu ca dao tuyệt vời: “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”? Hàng trăm năm đã qua, dễ gì chúng ta đào hết được chiều sâu của tư tưởng tâm hồn Nguyễn Du giấu mình trong câu Kiều tráng lệ: “ Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao”?

Cổ xúy cho lối thơ nói toẹt ra, phơi cạn kiệt mình trên trang giấy như những câu nói thông thường phi hình ảnh, phi hình tượng, đơn nghĩa để Hữu Thỉnh có “cơ sở lý luận” ca ngợi thơ của Trần Gia Thái là việc không thể làm ngơ. Chúng tôi sẽ chứng minh cụ thể sau.

Hữu Thỉnh tiếp tục lập ngôn không chuẩn về thơ : “Cho nên, trong các châm ngôn về sự viết, tôi quý nhất lời dạy này : “Chân thành là nghệ thuật cao nhất của thơ” “. Đại từ điển tiếng Việt ( NXB Văn hóa &Thông tin 1999, trang 326) định nghĩa từ “Chân thành” như sau: “Chân thành tt. Thành thực, không khách sáo, không giả dối : tấm lòng chân thành , chân thành với bạn bè”. Thưa nhà thơ Hữu Thỉnh, chân thành là thái độ sống, đạo đức sống; nó không phải là nghệ thuật. Chỉ có kẻ quen sống giả dối mới coi chân thành là một nghệ thuật để đóng vở kịch thật thà đặng lừa tha nhân.

Thơ là nghệ thuật của CHÂN-THIỆN MỸ. Nếu chỉ có CHÂN ( thật, đúng), thậm chí kèm thêm THIỆN ( tốt), thì chưa thể gọi là thơ được. MỸ ( hay, đẹp) mới là phẩm chất cao quý nhất của thơ nói riêng và nghệ thuật nói chung, chứ không phải “CHÂN THÀNH là nghệ thuật cao nhất của thơ” như Hữu Thỉnh nhầm lẫn. Nếu nghệ thuật đã đạt được yếu tố MỸ ( hay, đẹp, xúc động) nó đồng thời đã mang được cả nội hàm CHÂN và THIỆN vậy. Những quan niệm A, B, C về mỹ học sơ đẳng này, người ta đã dạy cho học sinh từ thời trung học, ông Hữu Thỉnh chưa học qua hay sao ? Nhất là Hữu Thỉnh từng làm các chức vụ quan trọng của đảng, nhà nước, từng đi đến các hội trường quan trọng để đọc diễn văn, để huấn thị, để khơi mào các hội thảo lớn về văn học nghệ thuật, về triết học, lẽ nào chưa thông bài học vỡ lòng mỹ học Mác-xít ; rằng văn học nghệ thuật coi tính đảng, tính giai cấp, coi định hướng chính trị là bản lề, là cốt lõi nhất của tác phẩm, nhưng nếu nó không có tính nghệ thuật thì cũng chỉ có cách là …vất đi thôi. Bàn về thơ thì phải lấy tiêu chí câu thơ bài thơ có hay không, có đẹp không, có xúc cảm hàm súc dư ba không, nghĩa là có tính nghệ thuật không, chứ sao chỉ lấy sự chân thành làm thước đo quan trọng nhất của thơ như Hữu Thỉnh ngộ nhận?

Với những quan niệm sai lầm về thơ như thế này, nền thơ Việt Nam hôm nay quá bất hạnh vì Hữu Thỉnh thường là chủ tịch các ban giám khảo thi thơ văn, bình chọn thơ văn, chấm giải thơ văn trong tất cả các giải thưởng về thơ văn lớn nhỏ suốt 15 năm nay.

Ca ngợi Trần Gia Thái sống và viết theo quan niệm lấy chân thành làm nghệ thuật, làm gốc, làm “nguyên tắc nhất quán “Hữu Thỉnh trích hai câu nói thông thường mạo nhận thơ của Trần Gia Thái ra khen:

Thật đáng sợ khi mọi thứ đều trơn tuột
Và trong ta xúc cảm chết trong mồ”  ( Sợ)

Thưa rằng, hai câu gọi là thơ trên của Trần Gia Thái chỉ là câu nói vụng về, dễ dãi, rằng sợ nhất là cái ta viết không có gì đọng lại, viết không cảm xúc. Câu nói rất tầm thường này không ai cần đặt ra khi cầm bút; vì đó là lẽ đương nhiên. Cũng như không ai đặt ra khi viết ta phải có giấy mực, hay phải có bàn phím máy tính. Một đứa trẻ đói bụng cần ăn, đâu có băn khoăn chuyện dông dài vô nghĩa rằng: “ Thật đáng sợ nếu như ta nhịn đói / Và trong miệng ta cơm biến mất khi nào”.

 Thế mà Hữu Thỉnh bình hai câu nói ngô nghê trên của Trần Gia Thái, coi đó là “nguyên tắc nhất quán”, đao to búa lớn như sau : “Đây là một quan niệm nghiêm túc nhưng nguy hiểm đấy Trần Gia Thái ạ. Bởi vì nó đòi hỏi sự hết mình, đòi hỏi sự tận cùng, đòi hỏi vô tận sự tâm huyết” (hết trích).

Khen ngợi kiểu rất phường tuồng ba câu gọi là thơ: sáo, nhạt, vô hồn của Trần Gia Thái, Hữu Thỉnh viết không đâu nhập vào đâu, như sau: “Khi yêu, anh cho ta thấy mọi cung bậc sắc màu, hương vị, thậm chí có thể đo được độ nóng của trái tim anh. Nào là trách móc, nào là nhớ nhung, nào là say đắm, và cái được nhất của anh là được một không gian, một từ trường của cảm xúc :
“Gần đến thế mà sao không tới nổi
Bến bờ ơi
Em ảo ảnh đến muôn nghìn” ( Ảo ảnh)

“ Đây chưa hẳn đã là thất tình, càng chưa phải là tuyệt vọng. Ngẫm cho kỹ , đây là thước đo. Tôi không thấy mùi vị của sự chán nản, ngược lại, tôi nhận ra sự cao giá của người tình” (hết trích).

Than ôi, bình thơ theo kiểu đồng bóng, áo thụng vái nhau, chân giả lẫn lộn, bốc một tấc lên trời như Hữu Thỉnh là một cách treo cổ thơ hữu hiệu nhất vậy. Ba câu thơ dở kia của Trần Gia Thái đọc lên không thể nhịn cười, lại càng không thể nhịn cười khi Hữu Thỉnh khát quát “ ảo ảnh” chính là thước đo. Cầm thước đo ảo ảnh siêu hình trên tay, Hữu Thỉnh đo thơ kiểu thày cúng thày mo đo hồn vía người ốm, thì thơ ơi, ta chào mi, mi chỉ còn nước biên sắc biến !

Để bình bốn câu thơ toàn nói của Trần Gia Thái sau đây, Hữu Thỉnh lại bộc lộ một nhận thức sai về nghệ thuật làm thơ, khi ông viết : “Ở trong thơ, nói và hiểu là hai việc khác nhau. Đó là nghệ thuật phô diễn”. Thế thì chẳng lẽ THƠ lại là phường nói một đàng, hiểu nột nẻo, nói một đàng làm một nẻo hay sao ? Không, thơ hay là thơ phải có nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen ( hiểu) đi cùng câu chữ, bám sát lời thơ, trung thành với lời thơ, chứ không phải khác nhau với câu chữ như Hữu Thỉnh quan niệm. Từ cơ sở của hiểu đúng nghĩa đen, thơ bước vào hành trình nghĩa bóng; nghĩa là một lối hiểu và cảm đa chiều, tượng trưng, biểu cảm, nhòe mờ, mở rộng hiểu ra cõi dư ba, vô bờ, có cảm tưởng như phi ngữ nghĩa, phi lý trí, phi hiểu vậy. Có thể nói, thơ vừa đồng điệu với sự hiểu của thực-tại-lời ( ngôn từ) vừa bước qua giới hạn của hiểu để vào thế giới ảo diệu, vô bờ của cảm, của hư ảo, siêu nhiên. Đó là một quá trình đồng thời chứ không phải bước một là hiểu, là nghĩa đen, bước hai là cảm, là nghĩa bóng.

Xin xem Hữu Thỉnh “thổi” Trần Gia Thái lên tiên: “Trần Gia Thái cho ta thấy biết bao nhiêu cung bậc của tình cảm anh khi yêu, kể cả khi anh nói nhún, anh tự ti, anh bơ vơ,mộng du, đau khổ…thì đấy là một trường tình, tất cả hiện ra, nhưng không một lần ta thấy anh nhỏ bé. Kể cả khi anh thú nhận:
“ Cơn bão giữa lòng người
Cơn bão trong trời đất
Bão quật anh tơi bời
Giữa hai bờ còn? mất ? ( Em đi)

Ôi, chàng trai si tình ! Anh có thể bước đi không vững trong cơn say nhưng tình yêu của anh thật cường tráng”. ( hết trích)

Thơ hết biết nên lời bình cũng một đồng một cốt, hết biết luôn ? Chỉ có Hữu Thỉnh mới phát hiện ra thứ “tình yêu thật cường tráng” của thơ Trần Gia Thái mà thôi. Ôi “người yêu ảo ảnh”, nàng thơ sương khói của Trần Gia Thái lẽ nào lại nhận được lời tỏ tình rất phồn thực rằng, em yêu ơi,  anh sẽ chứng tỏ ngay bây giờ cho em thấy tình yêu của anh rất chi là cường…tráng !

Hữu Thỉnh còn dùng nhiều lời có cánh rất ngoa ngôn, rất hoành tráng để ca ngợi những câu thơ vô cùng nhạt nhẽo và dễ dãi của Trần Gia Thái; hầu như coi ông này là một phát hiện về thơ nói thật, lấy thật là gốc, lấy thật làm thước đo, lấy sự nói toẹt ra làm tiêu chí hay dở. Có khi quên mất mình vừa viết như trên, Hữu Thỉnh bèn nói ngược với mình, rằng Trần Gia Thái lấy “ẢO ẢNH” LÀM THƯỚC ĐO”…Lạy trời, sự đãng trí của nhà bình thơ thật là cao qúy.

Xin trích lời tụng ca của Hữu Thỉnh với những câu thơ nước ốc quá nôm na, quá dễ dãi tầm thường của Trần Gia Thái như sau:

“ …Ở mảng thơ này, anh biến hóa sinh động, tươi tốt hẳn lên. Có lúc rất mộc : “Ổ rơm chân đất manh chiếu rách / Một mùa được mấy bữa no nê” ( Sao mà nhớ). Có lúc xót xa, cay đắng : “ Năm mươi ba tuổi ta bầm dập thương tích/ Đòn vu hồi từ những kẻ vẫn xưng là bạn là anh” ( tuổi 53). Có lúc vô cùng thương cảm viết về người cha đã khuất :
“ Cứ tưởng người đi dạo lúa dạo đồng
Người đi chở cát với vôi nồng
Người đi đội đá xây mương nối
Đong bát mồ hôi đổi cháo không

Bát cháo đồng chiêm cơ cực ơi
Nuốt vào cay đắng nuốt không trôi
Mồ hôi thì mặn nước mắt chát
Đeo đẳng đời cha từng giọt rơi ( Nhớ cha)
 (hết trích)

Chúng tôi không dám trích lời Hữu Thỉnh khen ngợi thơ Trần Gia Thái thái quá làm đoạn kết cho bài viết tụng ca thứ thơ giả, thơ dởm của ông, sợ làm phiền thêm bạn đọc.

Bài viết “Một tập thơ tươi lên nhiều hi vọng” của Hữu Thỉnh hết sức sai về quan niệm thơ, lại bốc thơm một thứ thơ dở của Trần Gia Thái lên mây xanh, gây tai hại vô cùng cho định hướng thẩm mỹ thơ lớp trẻ. Bằng sự đánh tráo hay-dở, thật-giả trong thưởng thức thơ kiểu này, hình như ông Hữu Thỉnh muốn xui bọn trẻ cứ làm thơ như Trần Gia Thái, chắc chắn sẽ được giải thưởng lớn? Có phải đây là thời cái dở lên ngôi, cái xấu lên ngôi, cái giả lên ngôi hay không thưa nhà thơ Hữu Thỉnh ?

Sài Gòn ngày 21-9-2011
T.M.H.
Nguồn: Phạm Viết Đào-Blog
Ảnh trong bài chỉ có tính chất trang trí, không liên quan đến bài viết.

ÔNG HỮU THỈNH "THỔI KÈN" ÔNG TRẦN GIA THÁI

NHÀ THƠ HỮU THỈNH GIỚI THIỆU THƠ TRẦN GIA THÁI

Lời dẫn của nhà văn Phạm Viết Đào:

Chủ tịch Hữu Thỉnh thường ít khi tự tay viết giới thiệu về các bạn văn trừ khi mà họ đã trút hơi thở cuối cùng, sắp vào huyệt mộ…Lúc đó Hữu Thỉnh mới ra tay bằng những bài điếu văn rất có nghề, rất "mả", người nào ra người ý...; Trần Gia Thái là một trong những trường hợp hiếm hoi, hiện đang sống nhăn…thế nhưng lại được Hữu Thỉnh tự tay "đúc bia", "tạc tượng", thế mới tài…

Xin giới thiệu bài phê bình thơ Trần Gia Thái của nhà thơ Hữu Thỉnh; đọc bài phê bình này chắc Trần Đại Gia sướng rên; Người ít am hiểu về thơ, xem xong bài này thấy thơ Trần Gia Thái hay “kinh" cả người!



(Trần Gia Thái đang là đối tượng bị một số trí thức kiện, trong đó có nhà văn Nguyên Ngọc; Trần Gia Thái phải chịu trách nhiệm về bản tin phát trên Đài truyền hình Hà Nội; Đài truyền hình Hà Nội đã ghép ảnh một số trí thức vào bản tin chỉ trích một số phần tử phản động, gây rối tại Hà Nội trong cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc ngày 21/8 vừa qua…)

MỘT TẬP THƠ TƯƠI LÊN NIỀM HY VỌNG
Về tập thơ Lời nguyện cầu trước lửa của Trần Gia Thái
HỮU THỈNH

Tôi kiên trì thói quen đọc thơ để hiểu người. Bởi vì Thơ là nghệ thuật ít giấu mình được nhất. Mức độ thành công của một tập thơ tùy thuộc vào chỗ, tác giả đã tạc dấu ấn cá nhân của mình lên câu chữ bao nhiêu, đã chạm khắc tâm trạng, xúc cảm, hồn cốt lên trang giấy như thế nào. Để làm việc đó, có muôn nghìn cách, chỉ trừ sự giả. Cho nên, trong các châm ngôn về sự viết, tôi quý nhất lời dạy này: Chân thành là nghệ thuật cao nhất của Thơ.

Chiểu theo một quan niệm không có gì là tân kỳ như vậy, tôi đọc đi đọc lại tập thơ mới nhất này của Trần Gia Thái. Mỗi lần đọc khoảng cách khá xa, và cố chọn vào những thời điểm khác nhau, là cái cách để đo phản ứng của tác phẩm. Và tôi đã thấy anh, thấy một người thơ hiển hiện sau và trên tất cả những gì anh đã tâm sự cùng ta. Bởi tập thơ này cũng như những sang tác trước của anh đã được làm theo một nguyên tắc nhất quán:

Thật đáng sợ khi mọi thứ đều trơn tuột
Và trong ta xúc cảm chết trong mồ.
( Sợ )

Đây là một quan niệm nghiêm túc nhưng “nguy hiểm” đấy Trần Gia Thái ạ. Bởi nó đòi hỏi sự hết mình, đòi hỏi sự tận cùng, đòi hỏi vô tận sự tâm huyết. Trần Gia Thái là một người nồng nhiệt và tâm huyết. Khi yêu, anh cho ta thấy mọi cung bậc, màu sắc, hương vị, thậm chí ta có thể đo được độ nóng của trái tim anh. Nào trách móc, nào nhớ nhung, nào là say đắm, và cái được nhất của anh là tạo ra được một không gian, một từ trường của cảm xúc.

Gần đến thế mà sao không thể tới
Bến bờ ơi
Em ảo ảnh đến muôn nghìn.
( Ảnh ảnh )

Đây chưa hẳn đã là thất tình, càng chưa phải là tuyệt vọng. Ngẫm cho kỹ, đây là thước đo. Tôi không thấy mùi vị của sự chán nản, ngược lại, tôi nhận ra sự cao giá của người tình.
Ở trong thơ, nói và hiểu là hai việc khác nhau. Đó là nghệ thuật phô diễn. Trần Gia Thái cho ta thấy biết bao nhiêu cung bậc của tình cảm khi yêu, kể cả khi anh nói nhún, anh tự ti, anh bơ vơ, mộng du, đau khổ…thì đấy là một trường tình, tất cả hiện ra, nhưng không một lần ta thấy anh nhỏ bé. Kể cả khi anh thú nhận:

Cơn bão giữa lòng người
Cơn bão trong lòng đất
Bão quật anh tơi bời
Giữa đôi bờ còn ? mất ?
(Em đi)

Ôi chàng trai si tình! Anh có thể bước đi không vững trong cơn say nhưng tình yêu của anh thật cường tráng.

Trần Gia Thái có những bài thơ tình ấn tượng. Đọc lên, ta có thể ôm được sự nồng nhiệt. Từ góc khuất riêng tư ấy, anh mở ra với thế sự, với việc đời. Mảng thơ này của anh cho tôi hoàn thiện chân dung của tác giả. Mở ra với sự đời là sống với những áp lực, những dồn đuổi, là biết bao nhiêu cái ở ngoài tầm tay, đó là những vạn biến. Để sống với nó, cần có sự bất biến. Đó là sống thật. Trong bài “ Một lần đúng “ Trần Gia Thái muốn trở thành một người điên để “ có quyền sống thật “ và để “ không bị người đời thô bỉ, nhẩy xổ vào cuộc sống riêng “. Liệu anh có thể làm được như thế hay không, khoan hãy bàn. Cái cần bàn, cần quan tâm trước nhất, là một thái độ sống đúng đắn: Sống thật. Đó là một phẩm giá.

Một người đeo đuổi cái thật, tôn cái thật như một lẽ sống như thế, đã khiến ta cảm động với biết bao ứng xử trước việc đời. Trần Gia Thái nói về những người thân thành thật và cảm động bao nhiêu, thì anh càng nồng nhiệt và tâm huyết trước việc đời rộng lớn bấy nhiêu. Ở mảng thơ thế sự này, thơ anh biến hóa, sinh động, tươi tốt hẳn lên. Có lúc rất mộc:

Ổ rơm chân đất manh chiếu rách
Một mùa được mấy bữa no nê
( Sao mà nhớ )

Có lúc xót xa cay đắng:

Năm mươi ba tuổi ta bầm dập thương tích
Đòn vu hồi từ những kẻ vẫn xưng là bạn là anh
(Tuổi 53)

Có lúc vô cùng thương cảm khi viết về người cha đã khuất:

Cứ tưởng người đi dạo lúa dạo đồng
Người đi chở cát với vôi nồng
Người đi đội đá xây mương nổi
Đong bát mồ hôi đổi cháo không

Bát cháo đồng chiêm cơ cực ơi
Nuốt vào cay đắng nuốt không trôi
Mồ hôi thì mặn nước mắt chát
Đeo đẳng đời cha từng giọt rơi
(Nhớ Cha)

Và nhiều nữa. Tất cả tất cả, từng nấc từng nấc trong một cuộc hành trình thơ, một hành trình đời, và những va quệt nhân tình không nhân nhượng và nhẹ tay, đã để lại dấu ấn mặn mòi trên những trang thơ của Trần Gia Thái. Tôi không chú ý lắm về việc tác giả đã sử dụng những thủ pháp nghệ thuật gì, tôi chỉ quan tâm tới hiệu quả, Trần Gia Thái đã làm ta cảm động nhận ra Anh.

Một tập thơ tươi lên nhiều hy vọng.
Hà Nội, ngày 22/2/2011
H.T
(Nguồn: Tạp chí Nhà văn số tháng 9/2011)
Nguồn: Phạm Viết Đào -Blog.

Nguyễn Xuân Diện: 

Phải chăng đây là hồi kèn mà ông Hữu Thỉnh - người quy kết trí thức "da báo" trong bài viết của GS Ngô Đức Thọ, ở đây này  - thổi lên để tiễn biệt thi sĩ Trần Gia Thái?

Còn điếu văn ông Hữu Thỉnh, chắc cũng đã có bản nháp đang lưu ở đâu đó rồi....


TIẾP TỤC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

VỀ VIỆC BỔ SUNG CHỨNG CỨ KIỆN  
ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI




Thưa chư vị,

Theo yêu cầu được ông Thẩm phán Nguyễn Văn Thắng, Toàn án Nhân dân quận Đống Đa đưa ra trong buổi làm việc trước, hôm nay, Luật sư Hà Huy Sơn  và ông Nguyễn Đăng Quang đã gửi đến Tòa án Nhân dân quận Đống Đa (qua đường Bưu điện) các tài liệu có liên quan đến vụ kiện Đài PH-TH Hà Nội.

Các vị nào đã tham gia biểu tình (kể cả đã bị bắt, bị giam giữ trái phép tại các đồn công an) hãy hoàn tất các thủ tục của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, gửi thẳng đến Tòa án Nhân dân quận Đống Đa, Địa chỉ: 89, Phố Tây Sơn , Đống Đa, Hà Nội (ĐT (84-4) 38 512 571 - 35 331 91), với mẫu như trên (có thể chứng minh bằng các giấy triệu tập, giấy mời, biên bản làm việc, QĐ tam giữ, tạm tha...).  

Nguyễn Xuân Diện

CHUA XÓT LÒNG CON! MẸ VIỆT NAM ƠI!


Mẹ Việt Nam ơi!
Quách Đình Đạt

Thú thực, sau khi đọc được tin người ta định xây dựng tượng Mẹ Việt Nam anh hùng với chi phí hơn 400 tỉ, tôi cứ day dứt mãi. Dù không sinh ra trong thời chiến, nhưng qua những thước phim, lời ca, trang sách, tôi cũng vẫn cảm nhận được những hi sinh, mất mát của các Mẹ.

Khi đã sinh con ra, mẹ nào cũng muốn con mình yên ấm, hạnh phúc. Nhưng vì đất nước, các mẹ lần lượt tiễn những đứa con thân yêu ra chiến trường. Việc chăm sóc các Mẹ Việt Nam là trách nhiệm của toàn xã hội, sao cho xứng đáng với những hi sinh của mẹ và các con của mẹ cho cuộc sống thanh bình hôm nay. Tuy nhiên, việc làm như thế nào lại là một điều thực đáng suy nghĩ sao cho thấu đáo.

Ngày 14-7, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh đã ký quyết định bổ sung 330 tỉ đồng cho dự án xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng, lấy nguyên mẫu mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, tại khu vực núi Cấm (xã Tam Phú, TP Tam Kỳ, Quảng Nam), nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh lên hơn 410 tỉ đồng, gấp 5 lần số tiền được phê duyệt ban đầu là 81 tỉ đồng (vào tháng 8-2007).

Với tổng mức đầu tư như vậy, UBND tỉnh Quảng Nam có "tham vọng" xây dựng lên một tượng đài lớn nhất Việt Nam và lớn nhất toàn Đông Nam Á. Giả sử, nếu công trình được xây dựng thành công, sẽ là một công trình biểu dương sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tôn vinh sự hy sinh lớn lao của các mẹ, và là một tấm gương cho các thế hệ mai sau.

Tuy nhiên, còn có những điều trăn trở. Và dù có ai chế cười, đánh giá là thiển cận, thì cũng phải nói cho ra. Khi bức tượng được hoàn thành, ai sẽ được nhớ đến?

- Người ta nhớ tới con người tài hoa đã thiết kế công trình vĩ đại này?

- Nhiều người nhớ công của vị chủ tịch Quảng Nam Lê Phước Thanh đã ghi dấu ấn trong nhiệm kỳ?

Thế nhưng, còn hàng ngàn bà mẹ khác trên đất nước mình thì sao. Hầu hết các mẹ đều sống trong hoàn cảnh rất khó khăn. Nhà nước không đủ kinh phí để xây dựng nhà tình nghĩa, còn phải nhờ tới bàn tay của nhiều doanh nghiệp,các nhà hảo tâm. Con biết các mẹ vẫn vững tin, và không đòi hỏi. Nhưng đó là trách nhiệm "báo hiếu" mà chúng con phải làm.

Vừa qua, Kỷ niệm 64 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 - 27-7-2011), sáng 25-7-2011 Quận ủy, UBND quận 8 làm lễ trao 17 căn nhà tình nghĩa cho 17 hộ gia đình chính sách (12 gia đình liệt sĩ, 5 thương binh) trên địa bàn quận. Tổng trị giá là 3,2 tỷ đồng. Trung bình 1 căn nhà là 188 triệu đồng. Vậy với 410 tỉ, ta có thể xây khoảng 2.200 căn nhà tình nghĩa.

Đất nước mình còn hàng ngàn bà mẹ khác cũng chịu nhiều hy sinh mất mát. Chúng ta ai cũng vậy, đều muốn chăm sóc và phụng dưỡng mẹ mình khi còn sống. Chẳng ai muốn để mẹ khổ, rồi khi thác lại khóc thương. Nếu có ai đó quanh ta như vậy, hẳn sẽ bị cho rằng bất hiếu. Từ đó, có thể thấy những việc làm  thực tế quan trọng hơn việc tạo nên cái "danh".

Chưa nói tới chuyện ai "ăn được gì", quản lý công trình có thất thoát hay không, chỉ cần nghĩ tới tính thiết thực thôi cũng thấy cũng cần phải suy xét lại.

Xin lấy lời bài hát "Người Mẹ của tôi" của tác giả Xuân Hồng thay lời kết

"Mẹ Việt Nam ơi! mẹ Việt Nam ơi!
khi con đi qua khắp nẻo đường, nghe đau thương chìm trong khói hương.
Mong sao cơn mưa gió vô thường không lung lay làm rớt hạt sương.
.....
Mẹ Việt nam ơi! mẹ Việt Nam ơi!
Cho con xin chia sớt nỗi buồn, cho con xin sẻ đôi bát cơm,
cho con hôn đôi mắt mỏi mòn cho con soi lại bóng hình con."

Đừng để mưa gió vô thường làm lung lay mẹ, hãy chia sớt nỗi buồn, sẻ đôi bát cơm. Đừng biến mẹ thành... tượng đá!

HOAN NGHÊNH BỘ TRƯỞNG VƯƠNG ĐÌNH HUỆ

Ông Vương Đình Huệ, Bộ trưởng Tài Chính. Ảnh: Internet

TIN VUI TỪ BỘ TRƯỞNG TÀI CHÍNH VƯƠNG ĐÌNH HUỆ
Bùi Công Tự

Cách đây ít ngày, trong một bài viết bàn về những thách thức chờ đợi Chính phủ nhiệm kỳ khóa XIII, tôi đã gởi gắm niềm tin vào các vị Bộ trưởng là người mới được bổ nhiệm. Lúc đó, tôi hy vọng bởi đơn giản nghĩ rằng có người mói chắc là có chính sách mới, cách làm việc mới.

Hôm nay, ngày 21/09/2011 theo dõi thông tin về hội thảo” điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường” tôi thấy cách làm việc của ông BT Tài chính Vương Đình Huệ rất là ấn tượng.

Mặc dù các ông Nguyễn Cẩm Tú (Thứ trưởng Bộ Công thương), Bùi Ngọc Bảo (TGĐ Petrolimex), Lê Xuân Trình (TGĐ PV Oil) đã lớn tiếng phản công Bộ Tài chính, trách cứ Bộ này điều hành giá xăng dầu theo kiểu “sống chết mặc bay”, đồng thời kêu ca doanh nghiệp thua lỗ trường kỳ vì giá xăng dầu thấp, ông Vương Đình Huệ đã tỏ ra đầy bản lĩnh.

Thưa bạn đọc, tại thời điểm này, qua nội dung hội thảo nói trên, tôi nhận thấy dư luận rất hoan nghênh BT Tài chính Vương Đình Huệ.

Trước hết tôi thấy ông Huệ có sự tự tin, dám tự khẳng định mình. Ông nói: “Tôi có 5 năm làm Phó Tổng kiểm toán, 5 năm làm Tổng kiểm toán NN. Tôi không chỉ đủ sức quản lý hàng trăm DN mà tôi đủ năng lực quản lý toàn bộ nền kinh tế đất nước”.

Ông cũng tỏ ra là người dám làm, dám chịu. Ông nói: “Tôi ra quyết định quản lý giá và tôi chịu trách nhiệm cá nhân”. “Nếu cách điều hành của chúng tôi gây thiệt hại cho DN, chúng tôi chịu trách nhiệm và bồi thường”.

Ông Huệ cũng giải thích rõ ràng:” Sỡ dĩ giá xăng dầu chưa thể thả nổi theo thị trường ngay được vì vẫn còn tồn tại độc quyền. Ba DN lớn đang chiếm trên 90% thị phần… nếu 03 DN này “đi đêm” với nhau thì các DN khác chết, người tiêu dùng sẽ chịu thiệt”.

Ông Huệ thẳng thắn:” “Nếu DN nào (kinh doanh xăng dầu) không làn được thì rút lui đi. Chúng tôi sẵn sàng cho giải tán để lập Công ty khác”.

Những phát ngôn mạnh mẽ như trên tôi ít thấy ở các vị Bộ trưởng trước đây.

Ông Vương Đình Huệ đã đứng hẳn về phía quyền lợi của toàn thể các DN và quyền lợi của nhân dân. Ông đã không bị chi phối bởi các nhóm lợi ích trông việc điều tiết giá xăng dầu. Bộ Tài chính có vai trò quyết định trong vận hành nền kinh tế quốc dân. Dư luận cả nước đang chăm chú theo dõi và đã nhận ra những tín hiệu đáng mừng từ Bộ trưởng Vương Đình Huệ.

Mong Bộ trưởng Vương Đình Huệ tiếp tục phát huy bản lĩnh của mình, đồng thời cũng mong các vị Bộ trưởng khác làm việc đứng trên lợi ích quốc gia và lợi ích nhân dân.

Thành phố HCM, ngày 21 tháng 09 năm 2011.



Nguyễn Xuân Diện:
Tối qua, có bữa tiệc, nhưng đến đoạn ông Vương Đình Huệ nói trên VTV1, tôi cũng có theo dõi. Tôi thấy ông phát biểu đúng như tôi mong đợi: Phát biểu tỏ rõ là đang chỉ đạo, tháo gỡ, ngôn ngữ quyết liệt, dễ hiểu, đúng vị thế, chứ không nói kiểu xuê xoa, nhời hay ý đẹp, diễn như các ông lớn khác. Bác Nghị tôi cùng dự tiệc cũng khen ông Huệ. Tôi mừng cho đất nước có ông Bộ trưởng như ông Huệ!