Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

BÙI CÔNG TỰ: VỚI NHỮNG NGƯỜI ANH EM TRÍ THỨC Ở XA

 VỚI NHỮNG NGƯỜI ANH EM TRÍ THỨC Ở XA
Bùi Công Tự

Tôi vừa được đọc “Thư ngỏ gửi các nhà lãnh đạo Việt Nam về hiểm họa ngoại bang và sức mạnh dân tộc” của một số trí thức người Việt đang sống tại nước ngoài.

Bức thư được gửi đến Chủ tịch nước, Quốc hội và chủ tịch Quốc hội, chánh án tòa án nhân dân tối cao, Thủ tướng và chính phủ, Tổng bí thư và Bộ chính trị ĐCSVN.

Nội dung bức thư, mở đầu các tác giả bày tỏ sự ủng hộ với bảng “tuyên cáo” và bản “kiến nghị” của giới nhân sĩ trí thức trong nước. Đồng thời nêu ra những nhận định về “hiểm họa ngoại bang”, về “sức mạnh dân tộc”, về “vị thế chính quyền” của đất nước hiện nay. Các tác giả bức thư đã đề xuất “những việc cần làm” với những nội dụng khá cụ thể:

1-Đối với Trung Quốc

2-Đối với ASEAN và các nước khác

3-Đối với nhân dân trong nước

4-Đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Phía dưới bức thư là danh sách 36 vị trí thức ký tên gồm các GS, nhà khoa học của nhiều lĩnh vực, luật sư, nhà văn, chuyên gia kinh tế… Với những chức danh đầy uy tín khoa học ở các nước  Mỹ, Pháp, Anh, Úc, Canada, Thụy Sĩ.

Theo cảm nhận của tôi, các vị đều là những người yêu nước. Các ghi chú kèm theo cho thấy đây là những người đã cao tuổi, từng trải. Do đó lòng yêu nước của họ là rất sâu sắc. Chi có những người yêu nước thì mới nói về sự sống còn của đất nước một cách chân thành đến thế. Là các nhà khoa học nên bức thư của các vị diễn đạt một cách thẳng thắn, không cần rào đón, văn hoa.

Các vị đã bày tỏ sự ủng hộ với giới nhân sĩ trí thức trong nước – những người đã ký tên vào bản tuyên cáo ngày 25/06/2011 tố cáo, lên án nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục gây hấn xâm phạm chủ quyền nước ta, đồng thời kiến nghị với Đảng và nhà nước về quốc sách. Đây là mối tình cảm cao quý của những người trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước với nhau. Nó cho thấy chúng ta vẫn là con một nhà, người yêu nước không bao giờ cô độc.

Nhiều bạn đọc đã bày tỏ sự cảm kích trước bức thư ngỏ trên đây của các vị trí thức đang sống ở nước ngoài. Bạn Minh Nguyễn đã nói: “Thật là một tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, tiếng nói của nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước là tiếng lòng của cả dân tộc Việt Nam hôm nay. Kính mong các bác lãnh đạo nhà nước lắng nghe họ nói”. Tuy nhiên cũng có những ý kiến tỏ ra nghi ngại, cho rằng Đảng và nhà nước sẽ không tiếp thu như ý kiến của bạn Nguyen Hung sau đây: “Những tấc lòng son của những người con đất Việt, tuy sống xa quê hương nhưng vẫn luôn thao thức cho vận mệnh của dân tộc, rất cảm phục tấm lòng của các vị. Đọc thư của các vị thấy đất nước may thay còn có nhiều tấm lòng vì dân vì nước thật sự. Nhưng các vị lãnh đạo Đảng, nhà nước có đủ tâm lẫn tầm để bước qua sự sợ hãi, rào cản ý thức hệ và muôn vàn mối lợi cho bản thân để lắng nghe nguyện vọng của các vị nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước?

Dưới đây tôi xin bộc bạch vài ý kiến cá nhân. Theo tôi những nhận thức về “hiểm họa ngoại bang”, về “sức mạnh dân tộc”, và cả về “vị thế chính quyền”, các nhà lãnh đạo Đảng, Quốc hội, chính phủ về cơ bản có thể đồng ý với quan điểm của các trí thức hải ngoại nêu trong bức thư, cho dù cách diễn đạt có thể khác, với mức độ khác, nhẹ nhàng hơn.

Tôi cho rằng Đảng và nhà nước cũng đang muốn xúc tiến những cải cách theo hướng hiệu quả hơn trong việc điều hành quốc gia. Tuy nhiên “một lộ trình cải cách cụ thể để được nhân dân tin tưởng và ủng hộ “ thì chưa thể sớm đạt được trong ngày một ngày hai. Có rất nhiều cản trở, mọi người đều biết cả đấy, nhưng không dễ bước qua, một khi chưa có sự quyết tâm cao đột biến trong Đảng.

Tôi mong trước mắt Đảng và nhà nước ủng hộ những đề nghị có tính chất nhân đạo của các trí thức Việt Nam đang sống ở nước ngoài đề đạt trong bức thư, như việc tu bổ nghĩa trang binh lính VNCH ở Biên Hòa và việc cho tìm kiếm hài cốt của những người bị chết trong thời gian cải tạo. Những gì thuộc về lịch sử chúng ta nên chấp nhận.

Trái đất quay nhưng không thể tự nó quay được. Chắc chắn có những lực tác dụng vào nó. Bức thư gửi lãnh đạo nhà nước của các trí thức người Việt đang sống ở nước ngoài có lẽ cũng có tác dụng như một lực góp phần làm cho trái đất quay.
TPHCM, 30 – 08 – 2011. 

GS NGÔ ĐỨC THỌ: KHÔNG NÊN TÙY TIỆN QUY KẾT ĐỊCH -TA

KHÔNG NÊN TÙY TIỆN QUY KẾT ĐỊCH -TA

GSTS NGÔ ĐỨC THỌ

Qua thông tin tóm tắt của TS Nguyễn Xuân Diện, những người quan tâm đại thể có thể hiểu được nội dung chính cuộc gặp của lãnh đạo TP Hà Nội với một số nhân sĩ trí thức tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Cuộc gặp này có được nói sơ sài đâu đó (An ninh Thủ Đô), còn các hãng nước ngoài hầu như đều có đưa tin. BBC coi cuộc gặp thể hiện thiện chí của chính quyền muốn đối thoại để lắng nghe ý kiến của người biểu tình. Việc này, phải nói đó là một điểm hơi sang sáng, đáng hoan nghênh. Giải quyết những vấn đề có ý kiến bất đồng trong nhân dân rất cần có một cách tiếp cận thực sự cầu thị đại khái như thế, nhưng…có lẽ là cần chân chất, thật tâm nhiều hơn nữa!

Ở chỗ này, không ra ngoài đề, nhưng tôi muốn mở rộng ra một chút: Giá như sớm hơn, từ cuộc thứ 3-4, hoặc 5-6 chẳng hạn, không ai khác, đích thân Chủ tịch UBNDTP dẫn theo vài người hỗ tòng, mở toang cổng chính, tươi cười đi bộ ra đứng xúm lại trò chuyện với mọi người. Có thể chính ông Chủ tịch cũng có quen biết vài người nào đó, ngay cả khi ông không quen ai, những người biểu tình thấy ông ra, từ xa họ đã vỗ tay hoan hô vang lừng. Ông đầy phấn chấn tiến đến thật chân tình bắt tay chào hỏi. Rồi, nếu mọi người đứng dưới sân thì ông đứng cao lên vài bậc thềm, cất tiếng trò chuyện chung với mọi người.

Một vị Chủ tịch Thành phố có dư lịch lãm để nói rất ngắn gọn, thể hiện sự đánh giá sáng suốt về những bức xúc đã khiến cho nhiều nhân sĩ trí thức thanh niên yêu nước phải cầm băng cờ, khẩu hiệu xuống đường. Người đi biểu tình không có mục đích nào khác ngoài việc muốn thể hiện một tiếng nói yêu nước để lãnh đạo các cấp quan tâm đến vấn đề chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc trước các hành động gây hấn của nhà cầm quyền Trung Quốc. Hiểu biết lòng dân như thế, nếu ông có đề xuất  chỉnh sửa hợp lý nào đó thì những người biểu tình cũng sẵn sàng lắng nghe. Làm được như vậy, không những ông Chủ tịch sẽ để lại tiếng thơm mà những người thể hiện tinh thần yêu nước cũng không cảm thấy bị xúc phạm. Không cố tình so sánh để làm phật ý hai ông, nhưng rõ ràng Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh tỏ ra thấu tỏ lòng dân hơn khi ông ấy tuyên bố “không có chủ trương đàn áp các cuộc biểu tình yêu nước!


Khi tướng Nhanh nói như vậy đang có vấn đề nổi cộm về  hành động thô bạo của tay đại uý đạp mặt người biểu tình, nhưng phần đông người biểu tình thấy ông hiểu họ. Ai cũng hiểu câu nói của ông không có hàm ý cho người dân được tự do đi biểu tình, nhưng sáng tỏ trước công luận được một câu như vậy, nếu tôi là quan chức trong đảng thì tôi phải đánh giá tuyên bố của tướng Nhanh không những là có “tính đảng” cao vì không làm suy giảm sự tin cậy của nhân dân với Đảng, mà cũng rất được lòng dân. Chính vì lẽ đó, một vài hãng tin nước ngoài và trang mạng trong nước rất đề cao ứng xử của tướng Nguyễn Đức Nhanh.
 
Ở trên tôi có nói “Giá như”. Vâng, tướng Nhanh có đủ thông tin của ngành công an tình báo, không chỉ là mật vụ đặc tình, mà là cả “những  người theo dõi công khai” đặt ngay tại chân cầu thang nhà tập thể của người đi biểu tình, như Phạm Xuân Nguyên. Có trong tay nguồn tin “sâu sát” đồ sộ như vậy, nếu có ai có âm mưu liên hệ gì với phản động nước ngoài, tất tướng Nhanh biết rõ đến chân tơ kẽ tóc. Nhưng không có, không hề có bất cứ  yếu tố nào là “phản động” trong nước hoặc tố chức “thế lực thù địch” nước ngoài nào cả, cho nên tướng Nhanh mới mới tuyên bố như trên. Hẳn là tướng Nguyễn Đức Nhanh phải tin chắc nhận định của mình thì ông mới nói như vậy. Tướng Nguyễn Đức Nhanh phụ trách ngành CA của TP Thủ đô chứ không phải một ông cảnh sát khu vực cấp phường, cấp xã nào. Kết luận một hoạt động xã hội nói chung cũng như riêng về các cuộc biểu tình có hay không có yếu tố chống Đảng, chống chính quyền là một vấn đề rất hệ trong thuộc sứ mệnh cao cả của ông. Nếu ông nói sai sự thực, có địch mà không báo, thì Đảng sẽ nghiêm trị ông. Nhưng ông đã vượt qua, bỏ ngoài tai những suy diễn của kẻ này người nọ gán ghép vu vơ, kiểu suy diễn địch, ta mà chúng ta quá quen từ những vết thuơng cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức (1), để có câu tuyên bố đúng lương tâm, đúng sự thật như chúng ta đã biết (và cũng đã dẫn ra rất rõ ở bức ảnh in kèm bài này).

Cũng xin nói thêm một chút: giá như ông Nhanh nghĩ ngợi sao đó, đi đến chỗ không có địch mà bảo là có địch, thậm chí thêu dệt ra những “âm mưu”, “mạng lưới” nọ kia, thì không chỉ là gán ghép lâm thời cho các cuộc biểu tình, mà sẽ còn xoay chuyển hết trọng tâm của các ngành nội chính vào việc thanh trừng nội bộ, thanh trừng nhân dân, đấu tố quy chụp, đối phó trấn áp quân địch  v.v… thì đất nước ta đang thanh bình là thế, bỗng dưng sẽ chao đảo tán loạn, không giống hẳn thì cũng na ná như bên Tàu hồi “Đại cách mạng văn hóa vô sản” với bè lũ bốn tên!

Không phải “giá như”, mà thực sự đã có người nói cái ý hiểm độc ấy trong một cuộc họp có người lãnh đạo cao nhất của Đảng, có ông dự họp khái quát tình hình tư tưởng hiện nay có tình trạng “da báo” (2). Đáng tiếc rằng người “phát biểu” (tâu) như vậy lại không phải là đại diện của ngành  công an hay quân đội, mà là một ông “văn…gừng”!

Nếu tướng Nhanh cũng theo cách suy diễn ấy thì vai trò của ông sẽ trở nên đặc biệt quan trọng, rồi sau này dẹp tan đựoc “phản loạn” công lao của ông cao vút, đặc quyền, đặc lợi không biết để đâu cho hết! Không phải là tôi suy diễn hư cấu ra, thực tiễn của ta đã vấp không ít vụ như thế (Cải cách ruộng đất, Chỉnh đốn tổ chức, Nhân văn giai phẩm, vụ xét lại chống Đảng 1968 v.v…hầu như bắt ép phải tìm cho ra yếu tố “địch”. Tôi không quen biết hoặc có “tình trước, ý sau” gì với tướng Nhanh cả, nhưng có thể nghĩ rằng, nếu vụ này ngành của tướng Nhanh “bơm” lên chút cho vừa “đô” của những kẻ hiếu sự (như tay mách qué Nguyễn Việt nào đó), rồi báo lên cấp trên nữa, rồi huy động cả bộ máy chính trị vào việc thanh trừng không chỉ ở Hà Nội mà trên toàn quốc thì…hỡi ôi, không biết non  sông đất Việt này còn chịu đựng được đến mức nào?

Nhưng tướng Nguyễn Đức Nhanh không làm như vậy! (Chỉ những kẻ gian xảo máu Hồng vệ binh mới mong như vậy). Ông tuân thủ nghiệp vụ, nói đúng thực, không suy diễn để mưu lợi riêng!

Bên CA đã nhận định như thế, đối với ai khác thì có thể không được biết, nhưng với ông Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị và ông Chủ tịch thành phố Nguyễn Thế Thảo thì có thể tin chắc là tướng Nhanh đã báo cáo hàng tuần.

Vậy thì, cái điều tôi giả định mở toang cửa nói trên, đáng lẽ ông Nguyễn Thế Thảo phải làm lâu rồi, nhất là sau khi tướng Nguyễn Đức Nhanh, người phụ trách cơ quan chức năng  nghiệp vụ đã đánh giá thế rồi, tức là ông Chủ tịch Thành phố có cơ sở để cởi mở hơn với dân (vì không có địch). Nhưng như đã thấy, ông đã chọn một cách phản ứng khác có tính toán hơn. Thay vì đi bộ ra trò chuyện với người biểu tình, ông đã cho gọi thư ký thảo ngay văn bản yêu cầu chấm dứt biểu tình. Không nói “cấm” mà nói yêu cầu “chấm dứt” (một biên pháp tu từ) để kịp thời ngăn chặn cuộc biểu tình ngày 21-8.

Nội dung bản dự thảo gợn lên điều gì đó khiến ông cảm thấy có phần băn khoăn, e ngại, cho nên ông không muốn ký tên. Ông chỉ thị, hoặc đồng ý cho Văn phòng Ủy ban đóng dấu treo, đăng ở trang thông tin mạng của Ủy ban Thành phố. Ai tham mưu cho ông cách làm này sẽ bàn sau, nhưng nói ngay với cách đóng dấu treo không có chữ ký ấy: Treo thăm dò thế đã, nếu nội dung có gì quá đáng, bị cấp trên hỏi đến, thì ông lập tức đỗ lỗi cho Văn phòng chưa được lệnh của ông, như cách ông Đào Duy Quát đổ lỗi cho “cậu đánh máy” dạo nào. Còn đối với những nơi cần thi hành cấm biểu tình thì tất nhiên ông đã có những công văn chỉ thị hợp thức.
.

Hơi lạ. Ngôn từ của bản Thông báo phải thuộc loại ngôn từ chức năng “mệnh lệnh”, nhưng người hoặc bộ phận tham mưu giúp việc đã chuẩn bị cho ông một mở đầu có màu sắc như một “chuyên luận sử học” (!), có “phân kỳ” “phân đoạn “ hẳn hoi! Thông báo chia các cuộc BT làm hai giai đoạn là : “những ngày đầu” và “những ngày gần đây”, (Chứ không phải ba giai đoạn “ Phòng ngự, Cầm cự, Tổng phản công!). Đầu là đầu tháng 6-2011 rõ rồi, còn “những ngày gần đây” là bắt đầu từ ngày nào đến này nào, không rõ, sử mà không có ngày?

Cái này là cả “đọi máu” chứ không phải viết khơi khơi như thế được! Bởi vì “những ngày đầu” được coi là tự phát, “xuất phát từ tinh thần yêu nước và tâm lý bức xúc của quần chúng nhân dân”. Còn “những ngày gần đây” là một giai đoạn khác, bị coi là có “các thế lực chống đối nhà nước Việt Nam trong và ngoài nước: đã và đang kêu gọi, kích động, hướng dẫn quần chúng biểu tình, tuần hành gây mất an ninh trật tự ở Thủ đô”.

Đây là chuyện rất hệ trọng liên quan đến đối sách của Nhà nước đối với an ninh quốc gia, chứ không phải chuyện lời nói gió bay của ông Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo. Dù ông có từ chối câu nói đó thì văn bản còn kia (nếu ông cần thì cho khắc bia, cũng rẻ thôi!), và trong cuộc gặp một số nhân sĩ, trí thức ngày 27-8 vừa qua, ông cũng không phủ nhận.

Để suy xét việc này cần phải đặt ra 2 khả năng:

- Thứ nhất là: Phải chăng ngay tại Thủ đô Hà Nội dưới quyền cai quản của ông Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo đã có “các thế lực chống đối nhà nước Việt Nam” (nhiều chứ không phài một vì có dùng chữ “các”)? Vấn đề như thế không thể không coi là hệ trọng, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vì sao không hoặc chưa thấy thông báo chính thức nào của Bộ Chính trị hoặc Ủy ban Quốc phòng-An ninh của Quốc hội? Thay vào đó lại được đưa ra một cách tuỳ tiện trong một văn bản không ai chịu trtách nhiệm chính trị? Rồi sau một cuộc gặp thoải mái nhẹ nhàng, đã thấy kẻ địch biến đâu mất rất nhanh.

- Thứ hai là: Không có cái nguy cơ “ảo”,  “các thế lực chống đối” như đã nêu trong Thông báo, mà chỉ có sự thật như Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh đã đánh giá và thông báo cho công luận trong và ngoài nước đều biết.

Mà cũng lạ, nếu quả thật có nhiều thế lực thù địch chống đối nhà nước như thế thì tại sao chỉ mới có một cuộc gặp rất lịch sự của lãnh đạo thành phố với vài vị nhân sĩ trí thức sáng 27 tháng 8 vừa qua mà ngay Chủ Nhật 28 tháng 8 khu vực quanh Hồ Gươm đã yên ắng ngay, không còn một cuộc biểu tình yêu nước chống Trung Quốc gây hấn xâm lược nào? Vậy thì các “thế lực chống đối” chạy rạt đâu cả, hay bị bắt, bị diệt hết rồi? Đó là chỉ nói đến ý kiến của hai vị có chức trách cao nhất về mặt chính quyền của TP Hà Nội – còn như những tiếng “đế” kiểu vu vạ đấu tố thêm ở báo Hà Nội Mới, An ninh Thủ Đô và Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội về vụ việc này thì không đáng phải nói đến.

Tôi là một người dân, không dám nói trí thức, trí ngủ gì cả, thực sự có suy nghĩ như trên, rất mong các lãnh đạo Đảng và Nhà nước thật tâm coi trọng vấn đề, không nên để những người có trách nhiệm quá tuỳ tiện trong những vấn đề quy kết địch, ta. Sai lầm của Stalin và Đảng Cộng sản Liên Xô những năm sau chiến tranh Thế giới Thứ hai cho rằng, Chủ nghĩa Xã hội càng thắng lợi thì các thế lực thù địch càng chống đối quyết liệt; những đấu tố trong cái gọi là Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản ở Trung Quốc cho ta những bài học sát sườn. Mà ngay cả ở nước ta nữa cũng đã có những kinh nghiêm xương máu: sai lầm quy chụp lung tung, đâu cũng có địch trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức và một số vụ khác nữa.

Nếu không cẩn thận, kiểu sai lầm ấy dễ có nguy cơ lặp lại với những mức độ khốc hại hơn nữa cho nhân dân và ngay cả với chính sự nghiệp cách mạng của Đảng. Người giữ trọng trách lớn rất nên thận trọng, chân thực, không cường điệu, bóp méo và có tinh thần trách nhiệm rất cao khi đánh giá quan hệ địch – ta.

Chú thích:
(1) Chỉnh đốn tổ chức: gần đây ít người nhắc đến, nó đi liền với cải cách ruộng đất.
(2) Da báo: là tình hình địch, ta xen kẽ như da con báo. Từ này trước đây báo chí thường dùng để chỉ thực trạng Miền Nam VN sau khi ký Hiệp định Paris 1972, đan xen loang lỗ các vùng kiểm soát của  CQ MNVN và CQ MTDTGP. Có người quên hoặc không biết từ này, nên viết nhầm là “ra báo” túc xuất bản báo chí! Không phải thế!

Nguồn: Ba Sàm.

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

CHIỀU NAY, NHÂN SĨ TRÍ THỨC ĐẾN GẶP TGĐ ĐÀI PTTH HÀ NỘI


Tin nóng – 15h45′:  Như đã hẹn trong bức thư Yêu cầu Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội xin lỗi và cải chính vì đã phát nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến công dân, một số người có tên trong bức thư đã có mặt tại trụ sở Đài, số 5 Huỳnh Thúc Kháng, vào 15h30′ chiều nay.

Các vị có mặt gồm: Ông Nguyễn Đăng Quang (Đại tá công an, đã nghỉ hưu), TS Nguyễn Văn Khải “Ô-zôn”, TS Nguyễn Quang A, TS Nguyễn Xuân Diện, “Binh nhì” Nguyễn Tiến Nam và một số người nữa....

Lực lượng an ninh, trật tự đã có mặt từ trước, chĩa máy quay phim vào phái đoàn ghi hình liên tục, và chỉ cho 05 người vào là ông Nguyễn Đăng Quang, TS Nguyễn Văn Khải “Ô-zôn”, TS Nguyễn Quang A, TS Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Tiến Nam. 

Ông Phó chánh văn phòng Đài PTTH Hà Nội tiếp đoàn tại phòng chờ cổng thường trực của Đài. Ông nói: TGĐ Trần Gia Thái hôm nay đi công tác Hải Phòng nên không tiếp được và ông nói rằng TGĐ đã nhận được Thư yêu cầu Đài xin lỗi và cải chính.Ông cũng cho biết hiện nay TGĐ đang chỉ đạo các bộ phận liên quan xem xét lại các chương trình đã phát để có cơ sở trả lời.

Những người ký tên có mặt tại Đài PTTH Hà Nội cho biết những người ký tạo cơ hội cuộc họp này cho ông TGĐ Đài để ông có thể tìm hiểu rõ thêm những ý kiến trong thư để tránh sự hiểu lầm có thể xảy ra.  Cơ hội gặp gỡ này là tỏ rõ thiện chí đối thoại của những người ký văn thư yêu cầu. Việc tận dụng cơ hội đối thoại này là tùy thuộc vào ông TGĐ Đài PTTH Hà Nội. Những người ký tên vào văn thư yêu cầu nói rõ là Đài PTTH Hà Nội không phải trả lời cho họ mà phải trả lời cho khán giả truyền hình bằng cách xin lỗi, cải chính và đọc toàn bộ Thư yêu cầu đó trên sóng truyền hình ở tại chương trình Thời sự, đúng thời điểm và không quá thời lượng (06 phút) đã phát chương trình ngày 22 tháng 8 năm 2011, theo quy định tại Luật Báo chí. Việc cải chính và xin lỗi này phải được diễn ra trong vòng 05 ngày tới, kể từ khi Đài PTTH Hà Nội nhận được văn thư nói trên.
BS - NXD

 Một số hình ảnh trước, trong và sau cuộc gặp chiều nay











__________________________________

BIỂU TƯỢNG NỮ TRONG NHO GIÁO VÀ GIÁ TRỊ PHỒN THỰC

Chùm bài về Mỹ thuật cổ:
Bài 4: BIỂU TƯỢNG NỮ TRONG NHO GIÁO VÀ GIÁ TRỊ PHỒN THỰC
Trang Thanh Hiền


BIỂU TƯỢNG NỮ TRONG NHO GIÁO VÀ GIÁ TRỊ PHỒN THỰC
Ở CHẠM KHẮC ĐÌNH LÀNG


Trang Thanh Hiền

Đình làng xưa kia vốn được xem là đại diện của chính quyền phong kiến, một dạng thức tiểu triều đình với những định chế Nho giáo khắt khe ở làng xã Việt Nam. Hình thức kiến trúc này phát triển và thịnh hành vào thời Lê (thế kỷ XVI – XIX), khi đạo Nho ở giai đoạn hưng vượng nhất. Có một nghịch lý là nơi này thường cấm phụ nữ bén mảng đến, nhưng hình tượng của những người phụ nữ lại được khắc tạc một cách thừa thãi và táo bạo trên hầu khắp các thành phần kiến trúc.

Người ta có thể nhìn thấy ở đấy muôn mặt cuộc sống đời thường và cuộc sống tâm linh với những hình tượng người phụ nữ. Họ kiến tạo nên các giá trị khác nhau của cuộc sống, niềm vui, nỗi buồn, niềm hạnh phúc, và các giá trị sinh tồn trong tín ngưỡng phồn thực. Người ta đồng thời cũng nhìn thấy được tính chất hai mặt trong các giáo lý và phong tục xã hội của Việt Nam. Một mặt người phụ nữ được đặt trong những chế định của lễ giáo phong kiến như: “công, dung, ngôn, hạnh”, “tam tòng tứ đức”, hay đặt chữ trinh tiết lên hàng đầu... trong khi đặc quyền của đàn ông là “năm thê, bảy thiếp”. Nhưng mặt khác lại có những luật định cho sự phá rào, và điều này đã mở đường cho các giá trị phồn thực ở các chạm khắc đình làng được tồn tại và phát triển một cách rực rỡ.

Nho giáo vốn coi thường phụ nữ: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, nhưng trong cái mạch nguồn của cuộc sống làng xã, thì người ta cũng lại có câu “Tam nam bất phú, tứ nữ bất bần” cho thấy vai trò của không thể thiếu của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam. Người Việt vốn thực dụng, bởi cuộc sống của họ quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, chỉ mong đủ ăn, đủ mặc đã là điều may mắn. Do vậy các giáo lý Nho giáo kia nếu quá cao siêu, mà không thích ứng được với các giá trị thực dụng của làng xã và của người dân, thì cũng không có giá trị gì. Nó sẽ bị chặn lại ngoài lũy tre làng.

Cái lý thuyết “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo sở dĩ ăn sâu bắt rễ được vào nông thôn Việt Nam là do nó đã bắt nhập được với tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Việt – tín ngưỡng bản địa có giá trị dung hòa mọi tôn giáo du nhập và phát triển. Trọng Nam cũng là trọng người duy trì nòi giống tổ tiên. Nhưng đồng thời cũng không quá khinh nữ theo quan điểm Nho học chính thống. Do vậy mới có câu “Ba đồng một mớ đàn ông, ta thả vào lồng ta xách đi chơi, ba trăm một mụ đàn bà, mua về mà trải chiếu hoa mời ngồi”. Điều này đã thêm chứng tỏ giá trị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Tất cả các hiện tượng kể trên đã phần nào giải thích cho các chạm khắc nơi đình làng, tuy là nơi cấm phụ nữ không được bén mảng tới nhưng các hình tượng nữ như cưỡi rồng, phượng, thậm chí cả những cô gái khoả thân được mô tả tràn ngập.

Đình làng vốn là bộ mặt của làng xã, là nơi tâm linh và ảnh hưởng đến vận mệnh của cả một làng. Do vậy, không có chuyện là họ được tạc một cách ngẫu nhiên, hoặc do sở thích của các hiệp thợ tùy tiện mà muốn chạm khắc thế nào cũng được. Đình làng là nơi tôn nghiêm, do vậy các chạm khắc ở đây phải thể hiện được lý tưởng, khát vọng của cả cộng đồng. Nên hình ảnh của các cô gái, nàng tiên ở đây hoàn toàn mang một giá trị khác, họ được xem là biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực - một tín ngưỡng tối cổ của người Việt hơn là quan niệm giáo điều khắt khe của Nho giáo. Tuy nhiên điều phức tạp là tín ngưỡng này ở giai đoạn thịnh hành của Nho giáo đã tìm được một giá trị hoà nhập với lý tưởng đông con nhiều cháu và quan niệm về phúc, thọ. Các lý thuyết của Nho gia về gia đình dòng tộc, về sự nối dõi tông đường đã trở thành ước vọng của xã hội phong kiến xưa, và thậm chí còn tiếp tục được phát triển duy trì trong xã hội hiện nay. Do vậy để diễn đạt ước vọng này, người ta đã hình tượng hóa những người đàn bà để đưa lên các chạm khắc. Và thậm chí nếu có đưa vào đó cả những hình ảnh khoả thân - hình ảnh trái ngược hoàn toàn với chữ “công dung ngôn hạnh” của phụ nữ trong Nho giáo, nhưng có thể biểu hiện được những lý tưởng kể trên của dân gian thì vẫn hoàn toàn được chấp nhận. Và đương nhiên để khởi sự cho các hình tượng táo bạo đó, dân gian lại bắt đầu từ các truyền thuyết về “Con rồng cháu tiên” để thể hiện những hoạt cảnh: “Tiên cưỡi rồng”, rồi theo đó những hình tượng người phụ nữ tràn vào đình làng như một biểu tượng không thể thay thế cho sự sinh sôi phát triển. Người ta tìm thấy rất ít các biểu tượng khoả thân nữ trong đình làng thế kỷ XVI, kể cả trên hình tượng của các cô tiên. Chỉ sang thế kỷ XVII, khi nghệ thuật điêu khắc đình làng phát triển đạt đến đỉnh cao, các hình tượng khoả thân đó mới xuất hiện một cách phong phú.

Về biểu tượng tiên cưỡi rồng - phượng, có lẽ không phải đợi đến có lý thuyết về Nho giáo, mới tràn ngập đình làng. Ban đầu nó đã hiện hữu khá đa dạng trong các kiến trúc chùa Việt, như các chạm khắc ở chùa Thái Lạc là một điển hình. Các cô tiên nữ dâng hoa, thổi sáo, đánh đàn để ca ngợi các giáo lý của Phật giáo đã trở thành một hình ảnh quen thuộc. Đến sự phát triển nở rộ của đình làng sau thế kỷ XVI, bằng tất cả những lý do kể trên cộng thêm ý nghĩa về sự ca ngợi công đức của vị thánh tổ của làng xã Thành Hoàng làng, mà các cô tiên nữ này cưỡi rồng, phượng thổi tiêu, sáo đã khiến cho khung cảnh ở đây trở nên linh thiêng. Sau này chỉ cần có sự hiện diện của các cô tiên nữ múa hát trong bối cảnh xum vầy tiên rồng cũng đã đủ để nói lên ước vọng phồn thịnh của cư dân nông nghiệp. Như vậy cũng có thể nói các chạm khắc đình làng là địa hạt để các giáo lý tôn giáo tìm được những giá trị hòa hợp nhất định.

Từ các cô tiên nữ cưỡi rồng, đến sự xuất hiện của các cô thôn nữ chỉ là một bước ngắn để hợp thức hóa giá trị phồn thực trong tín ngưỡng cổ truyền với các giá trị Nho giáo. Ta có thể thấy tính chất đa dạng và mật độ xuất hiện cũng dày hơn. Có những cô táo tợn đến mức nắm râu rồng, hay cưỡi lên đầu rồng, mà biểu tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình phong kiến thường đại diện cho vua chúa. Tuy nhiên trên một trường ý nghĩa khác, con rồng ở đây lại được xem là biểu tượng của yếu tố dương. Do vậy cô nắm râu rồng, hay vui đùa trên mình rồng được giải thích theo một ý nghĩa khác, là sự hoà hợp âm dương, là một minh họa đặc trưng cho tính chất sinh sôi nảy nở. Tính chất ẩn dụ và tính chất biểu tượng vốn là một đặc trưng trong mỹ thuật cổ của người Việt. Nên, thậm chí không phải là rồng nữa, một số những bức chạm ở đình Hưng Lộc - Nam Định (thế kỷ XVII) hình ảnh những cô thôn nữ khoẻ mạnh ngồi xen lẫn giữa những cụm măng tre đang mọc lên tua tủa, cũng cho thấy tính chất hòa điệu của yếu tố âm và yếu tố dương.

Điều này cũng khiến chúng ta nhớ đến những trò diễn mang tính chất nghi lễ như “nõ nường” ở Phú Thọ. Trò diễn này thường được diễn ra vào lúc nửa đêm sau khi cụ chủ tế khấn và lui ra, từng đôi nam nữ bước vào chiếu, Nam cầm dùi gỗ tượng trưng cho sinh thực khí nam, Nữ cầm vật biểu tượng sinh thực khí nữ vừa múa vừa biểu hiện hành động tính giao, sau mỗi tiếng trống, hai vật này lại được lồng vào nhau một lần. Ngoài ra, người ta còn để thóc lúa giống dưới gầm giường của các đôi vợ chồng mới cưới, để mong rằng những hạt lúa gạo học theo, bắt chước hành động của con người mà sinh sôi nảy nở. Từ những màn diễn, tập tục trên cũng như những chạm khắc hiện diện ở chốn linh thiêng đình làng, người ta tin rằng các thần linh sẽ chứng giám mà phù hộ cho mùa màng tươi tốt và bội thu.

Những bức chạm khắc ở đình Phù Lão (Bắc Giang) thế kỷ XVII còn cho thấy tính chất tự do hơn nữa. Trên đầu bẩy hiên của gian giữa đình, có bức chạm một cô gái khoả thân ngồi trên râu rồng tết tóc, mặt cô ngoảnh lại để xem một đôi trai gái đang múa quạt, và xa hơn một chút là cảnh của một đôi nam nữ đang giao cấu. Hành động tính giao này còn được bắt gặp trên không ít các mảng chạm tại các cốn của chính đình này. Như mảng chạm trên cốn xà nách vì giữa, theo từng tuyến ghép của gỗ, phía trên là cảnh các cô tiên đang múa, cưỡi lên đầu rồng phía dưới là 3 đôi vợ chồng hoặc nam nữ đang tình tự. Ở đình Ngọc Canh (Vĩnh Phúc), trong khung cảnh lễ hội nhộn nhịp, nép vào một góc của cốn xà nách là một đôi trái gái đang đạt đến cực điểm khoái lạc.

Có lẽ bức các chạm khắc này đã mô tả sinh động nhất hiện tượng tháo khoán ở các lễ hội. Như hiện tượng “tắt đèn” trong lễ hội làng La Cả (Hà Tây), hay trò chơi “bắt trạch trong chum” (Vĩnh Phúc). Bình thường, trong sự hạn định của giáo lý Nho giáo với phụ nữ phải đặt chữ tiết nghĩa lên hàng đầu trong xã hội phong kiến. Nên con gái chửa hoang thường phải chịu phạt vạ ở giữa đình làng, gọt đầu bôi vôi, thậm chí thả trôi sông (các cảnh phạt vạ như vậy cũng tồn tại trên không ít các chạm khắc đình làng), thì những cô gái sau những lần tháo khoán như vậy mà có chửa, lại là điềm may mắn của cả làng. Các đứa trẻ này theo quan niệm của người dân lại là những đứa con do thần linh ban tặng. Điều này cho thấy giá trị nhân bản của các phong tục Việt Nam. Sự tiếp nhận Nho giáo trong dân gian là sự tiếp nhận có chọn lọc các giá trị ứng xử xã hội. Nó một mặt giữ cho đời sống của người dân được tuân theo các phép tắc nhằm có được một xã hội ổn định, nhưng đồng thời nó cũng không xóa nhoà đi các giá trị truyền thống mở ra những luật định để cho con người có được những lối thoát.

Song song và cùng mạch với các đề tài đã được thiêng hoá kể trên, thì đề tài tình yêu cũng được phát triển mạnh mẽ đáng kể. Mặc cho xã hội Nho giáo là “nam nữ thụ thụ bất thân”, các mảng chạm khắc như: “trai gái vui đùa”, “tình tự” “tắm sen” cũng không khác bao xa với các cảnh có tính chất tháo khoán ở trên. Nó cho thấy một mảng khác của đời sống tinh thần. Tính chất vui tươi dí dỏm được thể hiện ra trong các trò chơi và sinh hoạt dân gian. Lúc này những cảnh khoả thân có lẽ đã trở nên thường thấy trong các chạm khắc đình làng cuối thế kỷ XVII, nên việc có mặt của các hoạt cảnh này dường như không cần đến sự hợp thức hóa của các giá trị phồn thực mới có thể xuất hiện. Hơn nữa trong cái sự dày đặc của các mảng chạm khắc ở đa phần các chi tiết kiến trúc, thì việc có mặt của những hình tượng kể trên có thể khiến người ta không quá để ý đến chúng hoặc sẽ trở thành tâm điểm khi người ta phải dõi mắt nhìn sâu vào các bức chạm, để rồi thú vị khi phát hiện.

Như vậy ta thấy rằng trong nghệ thuật ở đình làng, biểu tượng nữ chiếm một vị trí đáng kể. Nó tạo nên những giá trị cân bằng giữa đời sống tinh thần và đời sống vật chất, giữa mong ước và hiện thực. Sự tôn vinh người phụ nữ trong các chạm khắc đình làng đề cao những giá trị không thể thay thế của họ trong xã hội và bù đắp phần nào cho sự cực nhọc của thân phận người phụ nữ những giáo điều phong kiến khắt khe. Nó đồng thời cho thấy giữa cái thiết chế Nho giáo về tổ chức xã hội để đạt được sự ổn định hài hòa, thì các giá trị của văn hóa cổ truyền, tín ngưỡng phồn thực vẫn được duy trì và phát triển như một nhân tố thiết yếu của cư dân trồng lúa nước.

Trang Thanh Hiền

ẢNH MINH HỌA VÀ CHÚ THÍCH ẢNH:

1. Tiên cưỡi rồng, chạm khắc ở đình Hạ Hiệp, Hà Tây

2. Các cô thôn nữ trên cốn đình Hưng Lộc, Nam Định

3. Cảnh giao hoan trong lễ hội, chạm khắc trên cốn đình Ngọc Canh (Vinh Phúc)

4. Trích đoạn Cảnh giao hoan trong lễ hội, chạm khắc trên cốn đình Ngọc Canh 
(Vinh Phúc)

5. Trai gái vui đùa đình Hưng Lộc, Nam Định

Tài liệu tham khảo:

1. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Đình Việt Nam Nxb TP Hồ Chí Minh 1998

2. Chu Quang Trứ, Văn hoá Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, Viện Mỹ thuật -Nxb Mỹ thuật 2002.

3. Trịnh Cao Tưởng, Một chặng đường tìm về quá khứ, Nxb KHXH 2007

DẤU ẤN NHO GIÁO TRONG CHẠM KHẮC DÂN GIAN VIỆT NAM

Chùm bài về Mỹ thuật cổ:
Bài 3: Dấu ấn Nho giáo trong chạm khắc dân gian Việt Nam
Trang Thanh Hiền


DẤU ẤN NHO GIÁO TRONG CHẠM KHẮC DÂN GIAN VIỆT NAM
Trang Thanh Hiền

Trong văn hoá dân gian Việt Nam, dường như chưa bao giờ có sự tách bạch giữa các hệ tư tưởng giữa Nho - Phật - Đạo. Người ta thường nói đến tư tưởng tam giáo đồng nguyên được thể hiện trên hầu khắp các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật. Mỹ thuật không phải là một trường hợp ngoại lệ, những tư tưởng này dường như đã được hoà quyện lẫn nhau để tạo nên một hình thái rất đặc trưng của người Việt. Đặc biệt trên các chạm khắc dân gian, đan xen giữa các biểu tượng của Phật giáo, có biểu tượng của Nho giáo, thậm chí cả Đạo giáo. Người ta có thể tìm thấy cả những yếu tố Phật giáo trong điêu khắc đình làng, vốn được xem là một biểu tượng của Nho giáo dân gian, nhưng đồng thời người ta cũng lại tìm thấy những biểu tượng Nho giáo trên các điêu khắc Phật giáo trong các ngôi chùa Việt. Điều này đã gia tăng tính phong phú đa dạng của văn hoá mỹ thuật của người Việt.

Tìm hiểu về dấu ấn Nho giáo trên các chạm khắc dân gian ở đình làng, trong các chùa, trên các pho tượng, sẽ cho ta thấy sự phát triển của giáo lý này trên một phương diện hoàn toàn khác. Chúng không còn là lý thuyết sách vở nữa mà đã trở thành các biểu tượng nghệ thuật sống động phản ánh các quan niệm dân gian. Chúng thấm đẫm trong các sinh hoạt dân gian truyền thống để trở thành một nét văn hoá riêng biệt của làng xã Việt Nam.

1. Ý thức Nho giáo trong nghệ thuật chạm khắc:

Nho giáo vốn là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội, và đề cao vai trò của người quân tử. Do vậy trong nghệ thuật chạm khắc, các hình ảnh biểu tượng của Nho giáo là những hình ảnh liên quan đến việc biểu dương sự học; hay là các quan niệm về đạo đức của người quân tử; các cách thức cư xử của con người đối với cộng đồng; hoặc nó là biểu tượng của các vương triều và các vị quân vương. Đặc trưng của nghệ thuật là sự diễn tả bằng hình ảnh, do vậy không phải lý thuyết nào của đạo Nho cũng được chuyển tải, mà nó chỉ khắc hoạ các lý thuyết của Nho giáo trên khía cạnh đã được hình tượng hoá, hoặc có tính cách ẩn dụ, ví von để tìm sự tương đồng giữa hình tượng được thể hiện và ngữ nghĩa biểu hiện. 

1.1. Các biểu tượng Nho giáo trong nghệ thuật chạm khắc: 

So với Phật giáo, sự xuất hiện của các biểu tượng Nho giáo trên các chạm khắc có lẽ muộn màng hơn dù rằng Nho giáo và Phật giáo vào Việt Nam khá sớm. Văn Miếu Quốc Tử Giám được xem là một công trình biểu dương của đạo Nho, xây dựng từ thời Lý (1070), nhưng những biểu tượng về Nho giáo trong các hạng mục kiến trúc lại khá hiếm. Ngày nay, người ta tìm thấy vài chi tiết về rồng trúc, rồng mây trên một số các chạm khắc đá. Khi đã hoá trúc hoá mây, cũng có nghĩa hình tượng con rồng đã trải qua nhiều những sự biến chuyển khác nhau. Con rồng mây, trúc đó không chỉ tượng trưng cho vua mà còn được gắn liền với hình tượng của người quân tử. Nó là một đặc trưng của nghệ thuật thế kỷ XVIII, XIX. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với niên đại trùng tu của Văn Miếu Quốc Tử Giám ngày nay. Mặc dầu kiến trúc Văn Miếu theo sự ghi nhận của lịch sử được hoàn thiện vào thời Lê Sơ. Các di tích của giai đoạn này ở Văn Miếu có lẽ để lại phần nhiều trên các văn bia.

Con rồng trong các chạm khắc cổ Việt Nam, đẹp nhất, thần thoại và thuần nhất chính là các mô típ rồng thời Lý. Chúng không chỉ mang tinh thần của Nho giáo, mà còn mang tinh thần của Phật giáo. Dáng vẻ thắt túi hình sin đều đặn của chúng thường hiền hoà, bình ổn trong cái thế vươn lên thịnh vượng. Người ta có thể tìm thấy chúng trong hầu khắp các di tích thời Lý từ cung điện cho đến các đền miếu, chùa chiền, trên các bệ tượng Phật. Ví dụ tiêu biểu cho sự hoà hợp của hai tinh thần này là đôi rồng chầu trong lá đề. Lá đề vốn là một biểu tượng của Phật giáo, con rồng từ trước tới giờ vẫn được xem là biểu tượng của vương triều, của vua. Hai con rồng ở đây cuộn mình vào hai nửa hình lá đề và chầu vào quả cầu lửa ở giữa, mà không hề cảm thấy có một sự gò bó hay khuôn thức nào. Trái lại điểm kết thúc của hai cái đuôi rồng lại hoà điệu với hình chóp của lá đề và quả cầu lửa ở trung tâm khiến cho biểu tượng này có một nét duyên dáng nhất định. Đây cũng là một hình thức biến thể đầu tiên của biểu tượng lưỡng long triều nhật và đồng thời phản ánh tính chất thịnh trị của một vương triều Nho + Phật. Các biểu tượng này được hiện diện trên các trang trí nóc mái của di tích Hoàng thành Thăng Long hay các tháp đá thời Lý mà những mảnh gốm kiến trúc đã chỉ ra.

Sang đến thời Lê Sơ, các biểu tượng rồng chầu lá đề vẫn tiếp tục được sử dụng, mặc dầu cái tâm thức về Phật giáo ở đây đã suy giảm mạnh. Trên diềm bia Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ người ta vẫn nhìn thấy hình tượng này. Điều này cho thấy tính cách mã hoá của các biểu tượng đã đủ mạnh để các nghệ nhân không thể loại bỏ đi những giá trị gắn kết chặt chẽ của chúng với nhau trong cùng một biểu tượng. Sau bia Vĩnh Lăng, trên bia của các triều đại vua kế tiếp, người ta nhìn thấy một sự thoát thai của các biểu tượng rồng. Rồng không còn mô thức hoá trong dáng vẻ hình Sin thuần nhất nữa, cũng như đã hiếm hơn những con rồng chầu trong lá đề. Diềm bia là các mô típ rồng trải dài, theo tính cách biểu tượng thuần tuý Nho giáo.

Ảnh hưởng của con rồng Trung Hoa trên các đồ án nghệ thuật Việt hiển hiện rõ nét hơn. Sự xuất hiện của con rồng hình yên ngựa chứng tỏ sự ảnh hưởng của nghệ thuật nhà Minh là khá rõ ràng. Không chỉ vậy, lúc này con rồng đích thực dùng để biểu tượng cho vua và vương quyền. Trong dân gian không được tuỳ tiện sử dụng hay trang trí rồng, phượng. Con rồng có bộ dạng uy nghi hơn với dạng sừng thú, mắt lồi, mình lớn có vẩy... chân có năm móng (trong khi rồng Lý đa phần là 3 hoặc 4 móng). Vẻ mặt của các con rồng này cũng dữ tợn hơn, uy dũng hơn, không hiền hòa dễ thân cận như các con rồng Lý -Trần. Đôi rồng ở thềm bậc của điện Kính Thiên và điện Lam Kinh là những biểu tượng điển hình cho triều đại phong kiến Lê Sơ, đồng thời cũng cho thấy tính cách thịnh trị Nho giáo của giai đoạn này. 

Nho giáo tạo nên những khuôn thức, đặt ra các giáo điều, trong khi Phật giáo lại hướng con người tìm về với bản chất tự nhiên. Do vậy khi ảnh hưởng của Nho giáo trở nên mạnh mẽ, thì nghệ thuật cũng bớt đi tính chất bay bổng. Biểu tượng rồng của các triều đại Lê Sơ là những ví dụ tiêu biểu. Mặc dầu người ta cũng tìm thấy một số biểu tượng rồng chầu chữ Phật trên trán một số bia của các ông vua đầu triều Lê này, nhưng cái tinh thần Phật giáo đậm nét như thời Lý - Trần đã không còn xuất hiện. Vẻ đẹp mềm mại được thay thế bằng tính chất hơi lên gân với các dạng thân hình xoắn vặn. Râu và bờm bay theo nhiều chiều hướng khác nhau. Đặc biệt cách người ta chạm những con rồng này theo kiểu xòe móng khoe vuốt mà ít nhất quán với sự biểu hiện của khuôn mặt. Thêm vào đó những hình ảnh vây lửa và mây đao, khiến biểu tượng này trở nên khó gần.

Thời Lê Sơ là giai đoạn Nho giáo được đề cao, thậm chí có vị trí khá độc tôn trong xã hội. Việc thi cử để ra làm quan không còn là đặc quyền của các con cái của tầng lớp quan lại quí tộc, mà trở thành chí hướng phấn đấu của đa phần các nho sinh trong nước. Một biểu tượng khác bắt đầu xuất hiện vào giai đoạn này là “cá vượt vũ môn hoá rồng”.

Người ta tìm thấy một mảng chạm ở chân thềm đá đàn Nam Giao - Hà Nội (nay thuộc hiện vật của Bảo tàng Lịch sử), có chi tiết cá hóa rồng. Theo phong cách chạm khắc thì mảng chạm này có niên đại sớm nhất là thời Lê Sơ.

Điểm thú vị nhất ở các mảng chạm cá hoá long của giai đoạn này chính là hình thức nhìn thấy chỉ là đầu rồng nhưng đuôi cá. Và người ta cũng nhận ra cái khéo của người nghệ nhân chạm khắc ở chỗ từ việc đưa ra khái niệm đến hình ảnh là không đơn giản. Cái phần mình cá sẽ phải sử lý thế nào cho hợp lý dưới sự hoán đổi thân phận(?). Các nghệ nhân đã rất khôn ngoan thế vào đó hình tượng của sóng nước khiến cho họ không phải mô tả chiều dài của con rồng, cũng như không cần thiết tả thực cách hóa hình của con cá. Kinh nghiệm này tiếp tục phát triển trên các điêu khắc đình làng thế kỷ XVI tiếp sau.

Trở lại với lịch sử Việt nam trong suốt thế kỷ XVI, XVII, XVIII để làm sáng tỏ hơn những giá trị Nho giáo được thâm nhập vào đời sống dân gian bằng các biểu tượng trong các chạm khắc Đình làng. Giai đoạn này cũng là giai đoạn của những cuộc nội chiến liên tiếp xảy ra, mà cái cốt lõi chính là sự mâu thuẫn trong tư tưởng và lý thuyết chính trị Nho giáo. Xã hội với thiết chế “đã có vua lại còn có chúa” của chính quyền Lê Trịnh đã thực sự báng bổ đối với chuẩn mực chính trị Nho gia(1). Nó cũng là nguyên nhân cho sự suy vi của đạo đức xã hội. Do vậy giai đoạn này mới có khái niệm “phép vua thua lệ làng”. Các chuẩn mực Nho giáo đã được phát triển sâu rộng trong sinh hoạt xã hội ở Việt Nam, nhưng dĩ nhiên cũng dễ chuyển hoá thành tín điều hay sai lệch về nội dung vì không xác lập được mối quan hệ vững chắc với lý luận (ngay từ tầng lớp trên). Sự phát triển co cụm vào làng xã đã sản sinh ra những biến điệu của lý thuyết Nho giáo.

Hơn nữa, hệ thống giáo dục khoa cử đã bình thường hoá sự hiện diện của Nho giáo trong đời sống xã hội, tầng lớp nho sĩ đông đảo hơn trước và trở thành lực lượng phổ biến Nho giáo trong sinh hoạt làng xã. Do vậy khác với giai đoạn trước, được tiếp nhận chủ yếu bởi chính quyền và trí thức, thì từ thế kỷ XVI trở đi, Nho giáo đã thấm sâu hơn vào nhiều cơ tầng của văn hoá dân gian (1). Nó cộng hưởng để tạo ra những ngôn ngữ mới trong nghệ thuật.

Nếu hình tượng “cá hoá rồng” thời Lê chỉ xuất hiện lác đác trên một vài di tích, thì nay trở nên phổ biến hơn và cũng ít nhiều khôn ngoan hơn. Các hình ảnh “cá - rồng’ được vận dụng linh hoạt trong các chạm khắc đình làng. Đặc biệt là các chạm khắc ở các đầu dư của kiến trúc giữa một bộ vì kèo. Đình Tây Đằng (Hà Tây) là ví dụ tiêu biểu nhất, hình ảnh cá hoá long ở đây được nhận thấy như “sự chui cột” của con cá mà biến thành rồng. Phía bên này rõ ràng là con đuôi con cá, sang đầu cột bên kia đã biến thành rồng. Các chạm khắc này còn độc đáo hơn cả việc cá lẩn trong mây, trong sóng nước để hoá rồng. Thông thường tất cả các đầu rồng này đều được chầu vào gian giữa. Do vậy biểu tượng cá hoá rồng ở đây về mặt ý nghĩa cũng không khác bao xa với các bức chạm “Vinh qui bái tổ” rất phổ biến trong các chạm khắc đình làng giữa thế kỷ XVII. “Cá hoá rồng”, hay “vinh qui bái tổ” đều là những biểu tượng ca ngợi lý tưởng của học vấn, đồng thời cũng là lý tưởng của Nho giáo. Bằng học vấn con người có thể thay đổi được thân phận của mình, không những vậy mà còn làm vinh danh cho cả làng, làm “mát mặt” cho Thành Hoàng làng.

Các mảng chạm khắc “Vinh qui bái tổ” có niên đại thế kỷ XVII – XVIII nở rộ ở các đình làng đã cho thấy những giá trị thiết yếu của hệ thống thi cử Nho giáo. Trong một mảng chạm ở các cốn xà nách, trung tâm vẫn là hình tượng rồng, các tuyến nhân vật được chia theo lớp mà râu và bờm của con rồng đã định vị. Vị tiến sĩ đội mũ cánh chuồn, có võng, lọng, biển hiệu, cờ quạt theo hầu, tiếp đến là người khênh trâu, lợn, chuẩn bị khao làng. Cái lối chạm lộng nhiều lớp đã tạo ra không gian sinh động cho bức chạm này. Đây cũng được xem như sự hóa rồng của anh khoá ở làng và được xem là lý tưởng mà người ta mong muốn đạt được đối với các thế hệ con cháu cả ngàn đời sau.

Sang đến nửa sau của thế kỷ XVIII, trong nghệ thuật chạm khắc ở đình làng, sự suy thoái bắt đầu hiện ra rõ nét hơn. Tính chất mô thức và tính chất tượng trưng xuất hiện. Các biểu tượng như tứ linh, tứ quí tìm thấy từ thời Lê Sơ, nay được dịp phát triển nở rộ. Nó cũng thích hợp với cách thức chạm nông mà chau chuốt của thế kỷ này hơn là cách thức chạm lộng, bong kênh cho những hoạt cảnh sinh hoạt dân gian sống động của thế kỷ XVII.

Tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng có lẽ được bắt gặp nhiều hơn là các biểu tượng Tứ quí. Nhưng các hình tượng Tứ linh giai đoạn này có nét đặc biệt hơn, chúng không được mô tả một cách đơn thuần mà thường là rồng, lân hay rùa, phượng đội (cõng) chữ Phúc hoặc chữ Thọ. Nó như khẳng định thêm tính chất tượng trưng biểu tượng của mình về sự vĩnh cửu hay tính trường tồn.

Tứ Quí: Tùng, cúc, trúc, mai vốn là biểu tượng cho bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, nhưng đồng thời nó cũng là biểu tượng của người quân tử như “trúc tước”. Ở chạm khắc các giai đoạn trước, người ta thường thấy các biểu tượng này được chạm xen lẫn với các hoạt cảnh sinh hoạt làng xã, hay các hoạt cảnh ca ngợi nền học vấn thâm sâu, mà chúng ta đã nói đến. Sang thế kỷ XVIII, trong các chạm khắc đình làng các biểu tượng này lại được nhìn thấy độc lập trên các cốn hoặc bình phong trang trí.

Ngoài sự phát triển độc lập của các hình tượng cây cỏ và các linh vật này, người ta còn bắt gặp các dạng thức rồng hoá trúc, rồng hoá mây xuất hiện một cách đa dạng. Kiểu thức rồng hoá mây ta đã ít nhiều biết đến ở thềm điện Kính Thiên và Lam Kinh, nhưng đến giai đoạn này phát triển phong phú hơn. Trên các đầu dư, đầu bẩy của kiến trúc đình làng người ta thấy không ít các con rồng mây hoá hay trúc hoá. Điều chúng ta đã nhắc đến ở phần trên trong các chạm khắc đá tìm thấy ở Văn Miếu. Hình tượng này đã được cách điệu quá nhiều so với những gì trước đó nghệ thuật chạm khắc đã biểu hiện ra. Trên các đầu bẩy hiên của đình làng, người ta có thể phân biệt được đó là hình tượng rồng có lẽ thông qua hình dáng của những chiếc vẩy còn sót lại, hay chi tiết đầu rồng, mắt, miệng, nhưng chân và thân đã được biến thành các đốt trúc. Cách thức rồng hoá này cho thấy sự tinh tế của tính chất biểu tượng lồng trong biểu tượng. Nhưng sự mô thức hoá đó cũng làm kém đi tính sinh động của một chạm khắc đình làng và bớt đi sự gần gũi với dân gian. Người ta có cảm giác, đây không còn là sáng tác dân gian nữa mà các nghệ nhân học được nó ở đâu đó trong sự ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Hoa. 

1.2 Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong việc thiết lập kết cấu kiến trúc: 

Thiết chế Nho giáo sau thế kỷ XVI ở triều đình đã ít nhiều lung lay do sự tiếm quyền lẫn nhau trong xã hội. Tính chất tự trị của làng xã được thiết lập từ triều Lê, khi nhà Lê đặt lại bộ máy chính quyền từ Trung Ương đến địa phương. Sự xuất hiện Đình làng phát triển lên từ Đình Trạm thời Lý Trần đã đánh dấu bước ngoặt này trong lịch sử tổ chức xã hội. Đình làng phát triển mạnh từ sau thế kỷ XV và thực sự nở rộ từ cuối thế kỷ XVI đến XVII- XVIII đã cho thấy Nho giáo bắt đầu xâm nhập vào đời sống dân gian. Tuy nhiên, Đình cũng lại chỉ phát triển thực mạnh khi Nho giáo Lê Sơ đi vào con đường bế tắc. Lúc này cái hệ thức văn hoá truyền thống của thiết chế làng xã cổ truyền Việt Nam với những tàn dư dân chủ nguyên thuỷ đã chặn nhiều yếu tố Nho giáo chính thống lại ngoài luỹ tre làng (1). Nó trở thành một cái phin lọc chỉ để cho những gì thích hợp với tâm thức dân gian được du nhập.

Và do vậy trên hình thức, thì Đình làng là một biểu hiện chính thức của Nho giáo trong dân gian, nên trong cách thức bố cục trang trí đã thể hiện ra tính chất thu nhỏ của một tiểu triều đình ở đó. Có thể lộn lại lịch sử xa hơn một chút để nói về dạng kiến trúc thuần Việt. Người Việt xưa kia vốn ưa thích một thiết kế kiến trúc hợp với tự nhiên, thuận theo tự nhiên mà làm như Cổ Loa thành là một ví dụ tiêu biểu. Hệ thức kiến trúc theo dạng đường thần đạo chỉ thực sự phát triển khi ý thức hệ Nho giáo ảnh hưởng mạnh mẽ vào Việt Nam. Ban đầu là cung điện, sau này mới đến các hình thức mộ táng. Mộ các vua nhà Lý, chúng ta không hề có dấu tích, nhưng mộ của Trần Thủ Độ, một viên quan lại đầu thời Trần vẫn được kiến thiết theo lối qui tụ vào trung tâm, Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ chấn bốn bề xung quanh. Chỉ đến cuối triều nhà Trần ở các lăng vua Trần Hiến Tông, Trần Anh Tông người ta mới bắt đầu nhìn thấy thức kiến trúc lấy trục đường thần đạo làm trung tâm.

Trở lại với kiến trúc Đình làng, ta thấy rằng có hai tuyến tổ chức trong đình. Đó là tuyến ngang và tuyến dọc. Tuyến dọc thuộc gian trung tâm và chạy suốt đến tận hậu cung, mà sau thế kỷ XVII nó càng ngày càng phát triển mở rộng để trở nên độc lập. Còn tuyến ngang là tuyến chạy sang hai bên cánh của ngôi đình, cũng là nơi các quan viên chức sắc tu họp bàn chuyện làng xã. Và chạm khắc kiến trúc cũng tuân thủ theo chức năng sử dụng này. Gian giữa luôn là gian thờ, nên cũng được xem như là đường thần đạo của ngôi đình. Các mảng chạm khắc cũng theo đó mà lựa chọn các chủ đề làm sao cho thích hợp với tâm thức chầu hầu vào gian giữa theo trục thần đạo, nơi có Thành Hoàng làng ngự trị. Thành Hoàng làng cũng chính là vị thần linh tối cao ảnh hưởng đến vận mệnh của cả làng xã.

Do vậy từ các đầu dư là các đầu rồng, khuôn mặt uy vũ dữ tợn, luôn chầu vào phía trong. Thậm chí đình làng Tây Đằng - một ngôi đình có niên đại khá sớm ở thế kỷ XVI, người ta còn chạm cho con rồng ở hai cột cái phía trong gần với hương án thờ Thành Hoàng quay mặt vào điện thờ. Như vậy tính chất hầu chầu đã được chú trọng. Các mảng chạm khắc khác cũng vậy, các sinh hoạt dân gian thường được chạm khắc ở các gian hai bên cánh của ngôi đình, còn gian giữa luôn là các mảng chạm rồng mây, rồng ổ, hay vinh qui bái tổ, cá hoá long, hay lão long huấn tử...

Những mảng chạm khắc này còn được phụ trợ thêm bởi yếu tố bài trí sắp đặt ở các đình làng. Các bộ bát bửu, lỗ bộ thường đặc đặt hai bên của các nhang án thờ thần cùng với ngựa, lọng, hoặc kiệu, những đồ dùng trong các lễ rước hoặc các ngày lễ hội của làng. Rùa đội hạc, hay phỗng chầu hai bên cũng góp phần vào tạo thêm tính chất thiêng liêng cho gian thờ. Ngoài ra những đơn nguyên kiến trúc khác được hoàn thiện dần từ thế kỷ XVI, khi đình chỉ có dạng chữ nhất đến dạng thức nội công ngoại quốc của đình thế kỷ XVIII đã ít nhiều củng cố cho quan niệm về trục đường thần đạo này. Từ cột biểu tường bao, qua một khoảng sân rộng, đến gian Tiền bái và toà Đại đình, đã tạo ra cho đình làng càng những thế kỷ sau dáng vẻ một tiểu triều đình cho ngôi nhà chung của cộng đồng làng xã.

Như vậy trên một phương diện nào đó, đây không phải là lý thuyết của Nho gia, nhưng cái ảnh hưởng của nó là hoàn toàn có thể. Nho giáo đã ngấm sâu vào quan niệm dân gian để sản sinh ra các qui định và cách thức riêng cho kiến trúc mỹ thuật. 

2. Biểu tượng Nho giáo xuất hiện trên các điêu khắc Phật giáo 

Các biểu tượng Nho giáo xuất hiện trên các điêu khắc Phật giáo thường ít ỏi và thiếu đậm nét hơn trên các chạm khắc trong Đình làng. Bởi nghệ thuật điêu khắc Phật giáo có những nguyên tắc riêng, qui chuẩn riêng. Tuy nhiên, văn hoá, nghệ thuật Việt nam vốn không có mấy sự tách bạch quá rõ ràng trong các hệ tư tưởng Nho - Phật - Đạo, nên các yếu tố Nho giáo được tìm thấy trong các điêu khắc Phật giáo cũng không có gì quá ngạc nhiên.

Như chúng ta biết rằng, đối với Phật giáo Việt Nam thế kỷ XV là sự ngưng trệ, nhưng khi chính quyền chuyển sang tay nhà Mạc, các chính sách tôn giáo được nới lỏng, Phật giáo đã phục hưng trở lại. Lúc này, thương nghiệp phát triển mạnh. Quan Âm vốn là vị Phật cứu khổ cứu nạn ngay lập tức ứng hiện khi nghe thấy lời nguyện cầu và đặc biệt hay ra tay cứu giúp cho các thương thuyền bị nạn. Do vậy, đạo Phật giai đoạn này, tục thờ và hình tượng Quan Âm được xem như là một hiện tượng đặc biệt phát triển nở rộ ở khắp nơi. Hệ thống các chùa thờ Quan Âm ở các chiền sông xuất hiện. Theo đó các dạng thức điêu khắc tượng Quan Âm cũng phát triển mạnh, và ở đó đồng thời cũng thể hiện ra những nguyện cầu khác nhau của dân gian không chỉ là cứu khổ cứu nạn hay phù hộ độ trì cho các thương thuyền. Một trong những nguyện cầu đó cũng như những chạm khắc ở Đình làng là sự hiển đạt của các thế hệ sau.

Do vậy trong vô số các bảo vật mà Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn cầm với ý nghĩa hoá độ chúng sinh, có sự xuất hiện nghiêm, bút, hay cuốn thư biểu tượng của sự học vấn. Ví dụ như ở tượng Quan Âm chùa Mễ Sở (Hưng Yên). Đây cũng là một trong số ít những tượng Quan Âm cổ thuộc loại lớn ở Miền Bắc Việt Nam. Cho dù không thật phổ biến, nhưng hiện tượng này cho thấy tính chất giao thoa mạnh mẽ của các hệ tư tưởng trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam.

Ngoài ra một biểu tượng khác liên quan đến hệ tư tưởng Nho giáo đó là các hình tượng bát bửu được xuất hiện cũng khá phổ biến trên các bệ tượng Phật từ sau thế kỷ XVII. Các hình tượng bát bửu gồm cả của Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Bát bửu của Nho giáo bao gồm: cuốn thư, quạt vả, bút nghiêm, kiếm, sáo, đàn, bầu rượu, túi thơ. Những vật phẩm này cũng không mang tính nhất quán, mà có thể thay đổi hoặc ảnh hưởng của cả các hệ tư tưởng khác. Hình ảnh của Bát bửu Nho giáo được tìm thấy xuất hiện sớm nhất trên bệ tượng Phật chùa Bút Tháp với hình ảnh của cuốn thư. Đây chỉ là một hoạ tiết trang trí có tính chất phụ trợ trên bệ tượng, nên nó không mang nhiều ý nghĩa đối với pho tượng, mà có thể chúng được đưa vào như một thói quen của các nghệ nhân tạc tượng.

Sự hiện diện của Nho giáo trên các điêu khắc Phật giáo cho dù ít ỏi nhưng chúng cho thấy tính chất khúc xạ mạnh mẽ của hệ tương tưởng này, đồng thời là những minh chứng phong phú cho tính hỗn dung của văn hoá truyền thống Việt Nam.

Như vậy từ những biểu tượng chạm khắc hay kiến trúc mang dấu ấn Nho giáo kể trên cho thấy Nho giáo đã đóng một vai trong không nhỏ trong việc phát triển nghệ thuật Việt Nam trong quá khứ. Từ các biểu tượng nghệ thuật gắn liền với ý thức hệ Nho giáo, chúng ta thấy rằng đã có một ngôn ngữ khác để diễn đạt hệ tư tưởng này. Đặc biệt là giai đoạn từ thế kỷ XVI đến XIX, Nho giáo được dân gian tiếp thu một cách có chọn lọc những lý tưởng phù hợp với nó để sản sinh ra các biểu tượng nghệ thuật dân gian phong phú đa dạng. Việc tìm hiểu Nho giáo trong nghệ thuật tạo hình nói chung cũng như trên các chạm khắc, điêu khắc dân gian là một cách thức hữu hiệu để soi tỏ các vấn đề của lịch sử tư tưởng Việt Nam.


MỘT SỐ HÌNH ẢNH KÈM THEO BÀI VIẾT


1. Rồng chầu chữ Phật trên trán bia chùa Kim Liên (Quảng An Tây Hồ) 1445. (Nguồn: Tài liệu 2)

2. Rồng hình yên ngựa mặt cạnh bia Lê Thái Tổ (Lam Kinh, Thanh hoá) 1498. (Nguồn: Tài liệu 2)

Tài liệu tham khảo:

1. Cao Tự Thanh, “Nho giáo với lịch sử Việt Nam”, Nho giáo ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội 2006 (tr312).
2. Viện Mỹ thuật, Bản dập hoạ tiết mỹ thuật cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật 2000.
3. Trang Thanh Hiền, Hình tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn ở Việt nam, Nxb Văn hoá Thông tin 2005.
4. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Đình Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1998.

THÁP CỬU PHẦM LIÊN HOA VÀ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Chùm bài về Mỹ thuật cổ:
Bài 2: Tháp Cửu phẩm liên hoa và tư tưởng Phật giáo VN 
Trang Thanh Hiền


Lời dẫn của Nguyễn Xuân Diện,


Bài viết dưới đây trích trong cuốn sách Cửu phẩm liên hoa trong kiến trúc cổ Việt Nam của Trang Thanh Hiền (vợ tôi) là một công trình nghiên cứu hẹp về một phần trong nghệ thuật Phật giáo, thông qua ba cây tháp Cửu Phẩm Liên hoa ở chùa Bút Tháp, chùa Giám và chùa Động Ngọ.

Cuốn sách này được in 500 bản tại Nxb Thế giới, Hà Nội, năm 2007, bởi kinh phí tài trợ của Quỹ Thụy Điển - Việt Nam Phát triển văn hóa. Năm sau, cuốn sách này được trao Giải Đồng Sách Đẹp và Giải Đồng Sách Hay của ngành xuất bản toàn quốc.

Khi Hội chợ Sách quốc tế được tổ chức tại Thái Lan. Các nước đều dâng sách vào Hoàng cung của Đức Vua Thái Lan. Việt Nam chọn dâng vào Thư viện Hoàng cung Thái Lan 2 cuốn: Non nước Việt NamCửu Phẩm Liên hoa trong kiến trúc cổ VN. Hai cuốn sách được bọc lụa vàng và để trên khay vàng trao tận tay công chúa Thái Lan Maha Chakri Sirindhorn.

Cuốn sách này đã được một công ty tái bản 1000 bản (2010) và hiện đang được dịch toàn văn sang Tiếng Anh (do một chuyên gia Anh ngữ về Phật giáo đảm nhận).

THÁP CỬU PHẨM LIÊN HOA VÀ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Trang Thanh Hiền

Chúng ta biết rằng hình tượng Cửu Phẩm Liên Hoa trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam, chính là sự phát triển ở mức độ đỉnh cao của tín ngưỡng Tịnh Độ tông. Tuy nhiên tư tưởng này không chỉ đến thế kỷ XVII mới khởi phát khi loại hình kiến trúc này trở nên thịnh hành. Nó là một quá trình vận động phát triển lâu dài. Khi tháp Cửu Phẩm Liên Hoa hình thành, các giá trị Tịnh Độ này chỉ chiếm vai trò chủ đạo chứ không phải vị trí độc tôn. Bởi lẽ lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam không phải lúc nào cũng thuần nhất một tông phái. Đặc biệt ở thế kỷ XVll, các tư tưởng Thiền - Tịnh - Mật đã luôn song hành. Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa là biểu hiện đầy đủ của các dòng tư tưởng này.

Thời Lý, tín ngưỡng Tịnh Độ tông đã rất phát triển với sự xuất hiện phổ biến thức tượng Adiđà. Ba pho tượng Phật Adiđà thời Lý bằng đá còn lại hiện nay, là tượng chùa Phật Tích, chùa Một Mái (Hà Tây) và tượng Chùa Ngô Xá (Chương Sơn, Nam Định). Trong ba pho này thì pho chùa Phật Tích là pho tượng đẹp nhất, tuy có nhiều người cho rằng, đây không phải là tượng Adiđà. Nhưng pho tượng chùa Một Mái thì chắc chắn theo sự xác nhận của dòng chữ khác trên bệ tượng. Những dòng chữ này ghi chép như sau: Luật sư ở núi Thạch Thất, pháp hiệu là Trì Bát, nhân tưởng niệm Phật Adiđà ở thế giới Tây phương Cực lạc nên đã phổ khuyến đạo tục dựng một đạo tràng lớn, muốn tạo tượng mà chưa thể được mãi đến năm Hội Phong thứ 8 (1099), ông mới làm được tượng Adiđà ở đây. Sư Trì Bát được khắc tên trên bệ tượng chùa Một Mái chính là nhà sư thuộc thế hệ thứ 12 của phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi - là học trò của thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân (Chùa Dâu, Hà Bắc). Điểu này cho thấy Tịnh Độ Tông có mặt trong cả phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.

Thời Lý, Thiền phái Vô Ngôn Thông cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó như Thiền Uyển Tập Anh cho biết: sư Tĩnh Lực (1112- 1175) thuộc thế hệ thứ 10 của Vô Ngôn Thông đã chủ chương niệm Phật cả tâm lẫn miệng, nghĩa là có sự phối hợp giữa Thiền với Tịnh.

Tín ngưỡng Adiđà và Tịnh Độ tông còn được nhắc đến trên bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Đọi (Hà Nam). Văn bia tháp này có nhắc đến tượng Adiđà đặt trong hội đèn Quảng Chiếu trước cửa Đoan Môn. ở đó có đoạn cầu chúc cho Hoàng hậu Linh Nhâm “siêu linh Tịnh Độ” ở văn bia chùa Viên Quang (dựng năm 1122, do Giác Hải trụ trì) chép đặt Di Đà Giáo Chủ (Adiđà) một bên là hình Trụ Thế Thượng Nhân (Bồ đề Đạt Ma).

Cùng với tín ngưỡng Adiđà tín ngưỡng thờ Quan âm - vị Bồ Tát dẫn dắt chúng sinh về cõi Tây phương Cực lạc, cũng được thờ cúng rất phổ biến ở thời Lý Điển hình là việc xây dựng chùa Diên Hựu năm 1049 - một trong những mô hình chùa dạng hoa sen sớm nhất ở Việt Nam. Cho dù tín ngưỡng thờ Quan âm có thể tách rời việc thờ Adiđà, nhưng việc thờ hai vị Phật, Bồ Tát này cho thấy Tịnh Độ được biết đến khá phổ biến trong giai đoạn này. Và chúng ta có thể thêm một lần nữa xác minh tính chất hòa nhập của những giáo lý Tịnh Độ này với các Thiền phái rất thịnh hành thời bấy giờ.

Một chi tiết khác cũng góp phần vào giả thuyết này là việc in, chép kinh Đại Tạng để phổ biến được diễn ra liên tục trong thời Lý khoảng những năm 1023, 1027, 1036, có sự sao chép, nhân bản phẩm 25 kinh Pháp Hoa: Quan Thế Âm Bồ Tát (phẩm Phổ Môn). Phẩm này ca ngợi công đức của Bồ Tát Quan Thế âm, người có những pháp lực vô biên, có khả năng nghe thấu những tiếng kêu than của chúng sinh mà kịp thời đến cứu vớt. Hình thức viện cầu đến người chỉ là lòng thành tâm mà niệm danh hiệu là ứng nghiệm.

Sang đến thời Trần, trước khi Thiền phái Trúc Lâm do Điểu Ngự Trượng Phu Trần Nhân Tông sáng lập ra vào năm 1299 thì đã có Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ là những người có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời của môn phái này. Theo sự giải thích của Trần Thái Tông, vấn đề niệm Phật được nêu ra như sau: Khi niệm Phật, thì thân ngồi thẳng không làm việc tà, nên thoát khỏi thân nghiệp. Miệng tụng kinh thì không nói điều xằng bậy tránh được khẩu nghiệp. ý chăm chú vào tinh tiến thì không sinh tà ý nên tránh được ý nghiệp. Đây là cách giải thích về Tam nghiệp mà không cần viện dẫn đến những lý luận cao siêu. Nhưng điều quan trọng trong tư tưởng của ông là ông chia người tu đạo làm ba hạng: Thượng trí giả tôm tức thị Phớt, bốt giả tu thiêm. Niệm tức thị trần, bất dung nhất điểm. Trần niệm bán tịnh, cố viết như bất động. Phật thân thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng; tướng tướng vô nhị, tịch nhiên thường tồn; tồn nhi bất tri, thị vị họat Phật. Trung trí giả, tất tá niệm phật, chú ý tinh cần, niệm niệm bất vong, tự tâm thuần thiện. Thiện niệm ký hiện, ác niệm tiện tiêu. ác niệm ký tiêu, duy tồn thiện niệm. Dĩ niệm ý niệm, niệm niệm diệt chi. Niệm diệt chi thời, tốt qui chính đạo. Mệnh chung chi thời đắc Niết bàn lạc. Thường lạc ngã tịnh Phật chi đạo dã. Hạ trí giả khẩu cần niệm Phật ngữ, tâm dục kiến Phật tướng, thân nguyện sinh Phật quốc; Hậu đắc chư Phật sở tuyên chính pháp, chứng đắc Bồ Đề, diệc nhập Phật quả. Có nghĩa là người thượng trí thức thì tâm tức Phật. Quan điểm này là của Mã Tổ Đạo Nhất, khái niệm tâm ở đây là tâm trừu tượng. Người này không cần tu thêm, vì không có niệm, mà niệm là bụi trần. Thân người thượng trí là thân Phật, tức không có hai tướng, tồn tại vĩnh hằng, đó là dạng phật sống. Đây cũng là một tư tưởng mới trong lịch sử Thiển học Phật giáo. Phật sống chỉ tồn tại ở Tây Tạng với lý luận về hóa thân, trên cơ sở giáo lý Mật giáo. Do đó khái niệm này xuất hiện trong Thiền đời Trần, chứng tỏ yếu tố Mật giáo thời Lý đến giai đoạn này vẫn còn khá đậm. Yếu tố Mật Giáo này còn tiếp tục được lưu giữ một cách vô thức trong các tông phái Phật giáo giai đoạn sau. Tuy nhiên, trong quan niệm của Trần Thái Tông có điểm khác là người thượng trí không phải hiện tượng siêu phàm, cũng không phải là sự thác sinh của Phật mà là người trí thức phàm trần, và cũng không có việc nhập Niết bàn. Tư tưởng của của Trần Thái Tông về vấn đề người thượng trí là một dạng phát triển tư tưởng quả A La Hán, tức vô học (không học) mà biết cũng có nghĩa sinh ra đã biết. Tiêu chuẩn này không phải ai cũng đáp ứng được.

Người trung trí thức, thì phải nhờ niệm Phật, luôn cần tinh tiến, tự tâm mình thuần thiện. Thiện niệm xuất hiện thì ác niệm tiêu vong rồi niệm cũng không còn nữa bởi khi còn thiện niệm thì tâm đã thuần thiện, sau khi chết sẽ vào Niết bàn (Niết bàn tứ đức: thường, lạc, ngã, tịnh).

Người hạ trí phải luôn miệng niệm Phật, lòng muốn thấy Phật, thân cầu sinh đất Phật, ngày đêm chuyên cần. Sau khi chết được sinh vào đất Phật, rồi lại nhờ chư Phật dạy dỗ thêm mới được Phật quả. Như vậy người hạ trí không trực tiếp vào Niết bàn mà sau khi chết đến đất Phật tùy duyên, được Phật độ thêm lần nữa mới thoát luân hồi để lên cõi Niết bàn.

Theo như tư tưởng này của Trần Thái Tông về ba hạng người tu đạo có thể đến cõi Phật bằng thiện tâm, thiện tín, thiện niệm thì cũng không khác bao xa với quan niệm của Tịnh Độ tông sau này khi phân ra các cấp bậc vãng sinh. Ba hạng người này ứng với ba hạng người của ba phẩm Thượng, Trung, Hạ. Người sẵn tâm Phật không cần tu thêm tức “Phật sống”. Người thuộc hạng Trung phải chuyên cần niệm Phật mới có thể chứng quả Bồ Tát. Còn hạng người thuộc hạng Hạ còn cần phải học thêm nhiều hơn nữa, chuyên cần tu niệm, nhưng cũng cần phải nhờ đến tha lực bên ngoài tức được Phật độ thêm lẫn nữa, thì mới đến được cõi Phật vậy.

Tuy nhiên trong Thiền phái Trúc Lâm sau Trần Thái Tông, vấn đề của Tịnh Độ tông không được nêu ra như một giá trị chính. Nó vẫn chỉ có ý nghĩa nói lên sự phối hợp của hình thức Tịnh Độ với các dòng Thiền Việt Nam. Hay nói chính xác là hình thức Thiển Tịnh song tu, như chúng ta đã đề cập đến trong Phật giáo thời Lý.

Sau thế kỷ XVI tư tưởng Phật giáo Việt Nam mang nhiều tính phức tạp hơn, tuy không mất đi cái mạch nguồn của nó. ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc hiện ra rõ nét hơn. Tông phái Trúc Lâm tiếp tục phát triển với vai trò của nhà sư Chân Nguyên. Nhưng Chân Nguyên không chỉ là tổ truyền thừa của Trúc Lâm mà còn chịu ảnh hưởng của phái Lâm Tế xâm nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XVII. Cho dù thực tế thiền phái Trúc Lâm đã chịu ảnh hưởng một phần nào đó tư tưởng Lâm Tế từ trước, trong tư tưởng của Huyền Quang vị tổ thứ ba của Trúc Lâm. Lâm Tế chính phái (sau thế kỷ XVII) có quan hệ một cách chặt chẽ với Chuyết Chuyết, Minh Hành - những nhà sư Trung Quốc. Học trò người Việt của hai vị sư này là Minh Lương. Minh Lương là người đã đổi tên cho Chân Nguyên sau khi ông đắc pháp. Sau này, thậm chí Liên Xã của Trịnh Thập cũng được xếp vào phái Lâm Tế vì ông đã học Chân Nguyên. Phái Liên xã của Trịnh Thập còn gắn liền với chùa Liên Phái và tháp Cửu Phẩm Liên Hoa bằng gạch xây dựng ở trước chùa, thế kỷ XIX. Nó mang nhiều tính chất biểu tượng hơn là chức năng để tu tập niệm Phật.

Điểm qua các vị chân sư thuộc giai đoạn Phật giáo Phục hưng ở đàng ngoài, ta có thể nhận ra những mối liên hệ mật thiết của các tòa Cửu Phẩm Liên Hoa. Thiền sư Chuyết Chuyết, Minh Hành gắn bó với chùa Bút Tháp, mặc dầu Cửu Phẩm Liên Hoa chùa Bút Tháp hiện tại không ghi người khởi dựng. Qua một số thư tịch cổ chép là do Huyền Quang (Tổ thứ 3 dòng thiển Trúc Lâm Yên Tử xây dựng. Đến thế kỷ XVIII thì được sư Tính Hài dựng lại. Thiền sư Chân Nguyên là người đã cho dựng cây Cửu Phẩm Liên Hoa chùa Đồng Ngọ thuộc tỉnh Hải Dương. Ông không chỉ là tác giả của riêng cây phẩm này mà còn xây thêm 2 cây phẩm ở các chùa khác nữa như chùa Quỳnh Lâm, chùa Hoa Yên trong hệ thống các chùa thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử. Hiện nay trong số chùa miền Bắc thì chỉ còn 3 tháp Cửu Phẩm Liên Hoa còn nguyên vẹn, có niên đại XVII-XVIII.

Sự ra đời và nở rộ của các tháp Cửu Phẩm Liên Hoa trong giai đoạn này cho thấy không chỉ đơn thuần xuất phát là Tịnh Độ, mà nó còn được cộng hưởng bởi nhiều yếu tố tư tưởng Phật giáo khác nhau. Tư tưởng chủ yếu vẫn là Thiền và Tịnh, dù yếu tố Thiền - Tịnh song tu có từ thời Lý - Trần nhưng đến đây đã mang màu sắc khác. Không loại trừ màu sắc của Mật tông vốn có trong đạo Phật thời Lý trong các Thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, kể cả Thiển phái Trúc Lâm. Chúng không được gọi tên một cách biệt lập mà chỉ được coi như một yếu tố có màu sắc Mật giáo, hay có nguồn gốc từ Mật giáo sau đó bị biến đổi trong các họat động và thực hành của các Thiển phái mà thôi. Do đó, trong nghệ thuật tạo hình các yếu tố này cũng liên tục được trộn lẫn với nhau, để tạo nên một giá trị khá đặc trưng cho văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Như vậy sự hình thành tháp Cửu Phẩm Liên Hoa trong lịch sử kiến trúc Phật giáo Việt Nam là một quá trình phát triển liên tục. Chúng là sự tiếp nối của các mô hình chùa tháp biểu tượng cho Phật hay một vị quân vương chiếm vị trí trung tâm của ngôi chùa, tháp - chùa hoa sen với nghĩa biểu tượng là thế giới thanh tịnh của đức Phật và cuối cùng là tháp Cửu Phẩm Liên Hoa, hình thức tượng trưng cho luận thuyết của Phật giáo Tịnh Độ và công quả của những kẻ tu hành. Tuy nhiên chúng không phải là sự thay thế lẫn nhau mà ở mỗi giai đoạn các hình thức này lại mang những ý nghĩa lịch sử khác nhau. Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa khi đạt đến độ hoàn thiện vào đầu thế kỷ XVIII là sự chứng thực cho những thay đổi và chuyển biến về tư tưởng Phật giáo Việt Nam qua các thời đại. Từ Thiền - Tịnh trong Phật giáo Lý - Trần làm nền tảng, chuyển sang một hình thức mới mẻ rõ nét hơn trong thế kỷ XVII. Tư tưởng này được hòa trộn rất nhiều các yếu tố khác nhau mà trong đó: Thiền - Tịnh - Mật chiếm vị trí chủ đạo. Đồng thời các yếu tố mới này còn mang cả tính chất thực dụng hơn. Người ta cần đến Phật pháp để mong tìm đến sự bình an trong tâm hồn vào thời loạn và tìm được ý nghĩa của sự sống mới nơi cõi Cực lạc khi được vãng sinh sau khi chết. Điều này rất phù hợp với tâm lý xã hội Việt Nam thế kỷ XVI - XVIII rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng do chiến tranh nội chiến xảy ra liên miên. Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa là một sản phẩm tất yếu của xã hội và Phật giáo Việt Nam giai đoạn này. Cho dù chúng không có tính phổ biến như tượng Adiđà hay các thể loại tượng Quan âm đặc biệt phát triển mạnh thời đó. Nhưng do gần hơn với giáo lý Phật và mang mầu sắc bác học uyên thâm, nên Cửu Phẩm Liên Hoa lại gắn liền với tên tuổi các bậc chân tu, chiếm vị trí quan trọng trong các ngôi chùa trung tâm. Cửu Phẩm Liên Hoa đã tạo nên một dạng thức hết sức độc đáo trong nghệ thuật kiến trúc cổ Việt Nam. 
Trích trong sách: Cửu Phẩm Liên Hoa trong kiến trúc cổ Việt Nam.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ THÁP CỬU PHẨM LIÊN HOA

Tòa Tích Thiên Am, chứa tháp CPLH. Chùa Bút Tháp, Bắc Ninh.

Tháp Cửu phẩm liên hoa chùa Bút Tháp

Nhà "Phẩm" chùa Giám, Hải Dương.
Tháp Cửu phẩm liên hoa chùa Giám

Nhà "Phẩm" chùa Động Ngọ (chùa Cập Nhất) huyện Thanh Hà, Hải Dương
Tháp Cửu phẩm liên hoa chùa Động Ngọ.

Nam Mô Bản sư Thích ca Mầu Ni Phật!