Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

VNE: VIỆT NAM YÊU CẦU TRUNG QUỐC TÔN TRỌNG CHỦ QUYỀN

Yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm nay yêu cầu Trung Quốc không tái diễn những hoạt động xâm phạm chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
> Ngón võ của Trung Quốc ở Tam Sa
> Trung Quốc xây nhà máy ở Hoàng Sa

Một đảo trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ảnh: Denfense Update
Trong thời gian qua, tiếp theo hàng loạt các hành động vi phạm nhằm xây dựng và phát triển cái gọi là thành phố Tam Sa, Trung Quốc liên tiếp vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông.

Ngày 23/9, báo chí Trung Quốc đưa tin Trung Quốc sẽ sử dụng máy bay không người lái tăng cường giám sát các vùng biển, trong đó có vùng biển tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 1/10, Trung Quốc đã tổ chức lễ kéo cờ kỷ niệm quốc khánh Trung Quốc tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Hai ngày sau, Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc tổ chức diễn tập trực chiến khẩn cấp tại khu vực vùng biển quần đảo Hoàng Sa.

BBC: VIỆT NAM LÊN ÁN TRUNG QUỐC VI PHẠM CHỦ QUYỀN

Việt Nam lên án TQ 'vi phạm chủ quyền'

Cập nhật: 12:19 GMT - thứ năm, 11 tháng 10, 2012

Việt Nam ra tuyên bố phản đối nhiều hành động của Trung Quốc “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền” tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuyên bố đăng trên trang web Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 11/10 nói Trung Quốc “vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10/2011”.
Tuyên bố này đề cập các động thái của Trung Quốc như đã tổ chức lễ kéo cờ kỉ niệm Quốc khánh Trung Quốc tại đảo Phú Lâm hôm 1/10, diễn tập trực chiến khẩn cấp tại khu vực vùng biển quần đảo Hoàng Sa hôm 3/10. 

Vô giá trị? 

Việt Nam cũng phản đối việc Trung Quốc thành lập Phòng khí tượng thành phố Tam Sa hôm 8/10.

Người phát ngôn của Việt Nam, Lương Thanh Nghị, nói thêm các hành động này “hoàn toàn vô giá trị”.
"[Trung Quốc] xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10/2011."
Ông Lương Thanh Nghị
Ông nói: “Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, không có thêm những hoạt động sai trái tương tự, đóng góp thiết thực vào việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông.”

Bộ Ngoại giao Việt Nam đưa ra phản đối mạnh mẽ với Trung Quốc về biển đảo trong lúc Hội nghị Trung ương 6 của Đảng Cộng sản cầm quyền đang bước vào hồi kết sau gần hai tuần họp kín.

Dù hội nghị bắt đầu hôm 1/10 với chủ đề là bàn về tình hình kinh tế - xã hội năm 2012, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013, doanh nghiệp nhà nước; chính sách pháp luật về đất đai, phê bình và tự phê, các diễn biến quốc tế đã khiến ban lãnh đạo Việt Nam không thể không lên tiếng.

Cùng thời gian, Trung Quốc đã có một loạt động thái mới về biển đảo ở Hoàng Sa, và Hoa Kỳ cử hai nhóm chiến hạm lớn vào Tây Thái Bình Dương giữa lúc tranh chấp Trung – Nhật về Điếu Ngư/Senkaku lên cao.

Mâu thuẫn Mỹ – Trung về thương mại cũng đang nhanh chóng trở thành một phần của chiến dịch tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ.

Chuyến thăm và cuộc gặp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với Phó Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc tại Quảng Tây ngay trước Hội nghị cũng gây ra các bình luận trái chiều.

Hồi tháng 10/2011, ngay ngày đầu tiên trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, lãnh đạo Việt - Trung đã ký kết Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển nhằm tháo gỡ các tranh chấp tại Biển Đông.

Nay, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam công khai nói rằng phía Trung Quốc "vi phạm Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản" này.

Nguồn: BBC Tiếng Việt.

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

NHÂN DỊP MẠC NGÔN ĐOẠT GIẢI NOBEL, LẠI GỌI HỒN "MA CHIẾN HỮU"

Mạc Ngôn đoạt giải Nobel Văn học

Tác giả "Báu vật của đời" trở thành nhà văn gốc Trung Quốc thứ hai và là tác giả châu Á thứ sáu giành được giải thưởng uy tín bậc nhất thế giới này.

Ủy ban Nobel Văn học ca ngợi Mạc Ngôn (Mo Yan) là tác giả "kết hợp được chủ nghĩa hiện thực huyền ảo với truyện kể dân gian, lịch sử và cuộc sống đương đại" trong các trang văn của mình.

Đây được coi là sự vinh danh xứng đáng với nhà văn 67  57 tuổi, tác giả của hàng loạt tiểu thuyết đồ sộ, chứa đựng tư tưởng lớn và có tầm ảnh hưởng rộng rãi đến Trung Quốc và cả thế giới như: Báu vật của đời, Cao lương đỏ, Đàn hương hình, Củ tỏi nổi giận, Rừng xanh lá đỏ... Sáng tác của Mạc Ngôn không chỉ được dịch và xuất bản nhiều thứ tiếng mà còn được chuyển thể thành các bộ phim gây tiếng vang trên thế giới.

Mac-ngon-jpg-1349956004_480x0.jpg
Nhà văn Mạc Ngôn.
  
Mạc Ngôn (sinh ngày 17/2/1955) là bút danh của nhà văn nổi tiếng Trung Quốc Quản Mạc Nghiệp (Guan Moye). Ông được đánh giá là “một trong những nhà văn nổi tiếng, có ảnh hưởng sâu rộng tới tất cả nhà văn Trung Quốc”. Ông cũng được so sánh với những văn hào như Franz Kafka hay Joseph Heller. Mạc Ngôn sinh tại thành phố Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc trong một gia đình nông dân. Thời kỳ Cách mạng văn hóa, ông làm việc trong một nhà máy sản xuất dầu. Mạc Ngôn tham gia quân đội ở tuổi 20 và bắt đầu viết khi ở trong quân ngũ vào năm 1981. Ba năm sau đó, Mạc Ngôn trở thành giảng viên Khoa Văn học của Học viện Văn hóa Quân đội. Bút danh của Mạc Ngôn trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là “không nói” được ông lấy khi viết cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Ông chọn bút hiệu này để nhắc nhở bản thân mình kiệm lời.

Các tác phẩm của Mạc Ngôn thường chứa đựng những bình luận xã hội, được cho là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ quan điểm chính trị của Lỗ Tấn và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Gabriel Garcia Marquez. Những câu chuyện thường có bối cảnh gần quê hương ông, thành phố Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

Mạc Ngôn là tác giả khá gần gũi với độc giả Việt Nam. Phần lớn các tác phẩm của ông đều đã được dịch ra tiếng Việt. Hồi tháng 11/2011, Hội Nhà văn Hà Nội vừa tổ chức hội thảo về cuốn "Báu vật của đời" của ông.

Nguồn: VNE.

Nguyễn Quang Hà: VỀ TẤM BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN


VỀ TẤM BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN Ở CHÙA GIÀN – HUỆ TRẠCH TỰ
(XÃ TRÍ QUẢ, HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH)

Nguyễn Quang Hà[1]

Chùa xã Trí Quả (Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) tên chữ là “Huệ Trạch tự”, hay còn có tên Nôm là chùa Giàn - Một trong Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Điện, Pháp Lôi, Pháp Vũ) trong tín ngưỡng thờ tự ở vùng Dâu. Hiện nay  các vị trong làng kể lại về lai lịch của chùa: Vào thời Trần, con trai của Đức vua Trần Hưng Đạo là Trần Hồng khi đánh giặc Mông Nguyên được Phật độ cho nên đã đánh thắng giặc do đó ban cho tên chùa là “Huệ Trạch tự) (惠澤寺). Chùa trước đây có gác chuông cổ nhưng đã bị phá đi để làm cầu. Trong chùa còn một chiếc chuông đồng niên đại thời Lê, trên 4 núm có khắc “Huệ Trạch tự chung” (惠澤寺鍾). Ngoài sân, trước tòa Tam bảo hiện còn tấm bia 4 mặt, mặt chính trên trán bia ghi: “Huệ Trạch tự”(惠澤寺), mặt thứ tư phần niên đại ghi: Chính Hòa nhị thập niên (1700) nội dung về việc cúng tiền xây gác chuông và cúng ruộng vào chùa. Ở gian phải của tòa Tam bảo còn một cây hương, trên đó có khắc tên người cung tiến. Chùa còn giữ được hai sắc phong. Đạo sắc thứ nhất phần niên đại ghi 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924). Nội dung ban tặng: (…)“Diệu Cảm Nhiên Phù, Chương Hiển Đôn Ngưng, Dực Bảo Trung Hưng Thành Hoàng Linh Ứng Tôn Thần”(耀感然孚章顯敦凝翊保中興城皇靈應尊神). Sắc thứ 2 cũng có cùng ngày tháng năm với Đạo sắc trên với đối tượng được ban là: (…) “Phụng sự Đại Thánh Pháp Thông Vương Phật tôn thần”.(奉事大聖法通王佛尊神). Như vậy, Đạo sắc thứ nhất là sắc cho Thành hoàng được thờ ở Đình làng, đạo sắc thứ hai chính là đạo sắc thờ ở chùa. Theo truyền thuyết thì tên gọi “Chùa Huệ Trạch” có từ thời Trần. Tư liệu trên các văn bản, bi ký, minh văn hiện nay chúng ta được biết thì tên gọi “Huệ Trạch tự” sớm nhất qua tấm bia đá 4 mặt niên đại Chính Hòa 20 (1700). Nhưng trước đó chùa có tên là gì (?). Chưa có tư liệu nào giải đáp điều đó.
           
Năm 2004, gia đình ông Nguyễn Văn Đức (Nhà bên cạnh chùa Huệ Trạch) khi đào đất làm lò gạch đã phát hiện được một tấm bia đá cổ. Vì không biết giá trị tấm bia như thế nào nên gia đình đã giữ tấm bia này để ở trong nhà cho đến tháng 8/2012 mới được cán bộ Bảo tàng của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Bắc Ninh xin phép gia đình, nhà chùa cùng chính quyền địa phương chuyển về Bảo tàng tỉnh nghiên cứu. Thật may mắn, khi về chùa Huệ Trạch, chúng tôi cũng có được bản dập thác bản của tấm bia này do ông Nguyễn Đình Nhân (Kỹ sư Nông nghiệp về hưu) - Người cùng thôn Xuân Quan, xã Trí Quả tiến hành in dập trước đó (1). Bia được để trong hộp có mái che nên rất rõ nét, chữ khắc đậm, sâu, còn nguyên vẹn. Lòng bia có kích thước 40 x 40 cm, 13 dòng, trung bình mỗi dòng khoảng hơn 10 chữ, tổng số chữ trên bia là 133 chữ. Dưới đây là toàn bộ nội dung văn bia chữ Hán và phần phiên âm, dịch nghĩa như sau:

Lê Viết Nga: HAI CỔ VẬT NIÊN ĐẠI THỜI TÙY Ở BẢO TÀNG BẮC NINH

Về hai cổ vật niên đại thời Tùy ở Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh


Đầu tháng 8 năm 2012, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh đã phát hiện và sưu tầm được hai cổ vật độc đáo, niên đại thời Tùy (Bắc thuộc), gắn với chùa Thiền Chúng (Thuyền Chúng), huyện Long Biên, xứ Giao Châu xưa. 

1. Bia mộ tháp: gồm hai phần, úp khít vào nhau, hình vuông, kích thước (45cm x 46cm). Phần nắp đậy dày 4 cm, úp khít lên trên bia đá, mặt dưới tạo gờ nổi xung quanh, phía trên tạo góc bạt chéo hình trụ; phần dưới (thân bia) dày 9cm, được mài khá nhẵn xung quanh, một mặt khắc chữ Hán, còn rất rõ nét, gồm 133 chữ, chia thành 13 hàng. Nội dung cơ bản như sau:

Mặc dù đây là tấm bia có niên đại cổ nhất được phát hiện tại VN, được giới khoa học rất quan tâm, nhưng Bảo tàng Bắc Ninh và ông Lê Viết Nga, GĐ Bảo tàng quyết không chia sẻ hình ảnh, bản rập vì muốn giữ bản quyền (?), nhưng đầu giờ chiều hôm nay (11.9.2012), chúng tôi cũng đã có được bản rập. 
Ảnh bản rập văn bia. Ảnh: Nguyễn Xuân Diện
 Phiên âm: 

PHÁT HIỆN BẤT NGỜ VỀ TẤM BIA CỔ NHẤT VIỆT NAM

Phát hiện bất ngờ về tấm bia cổ nhất Việt Nam

10-10-2012 | 09:04 

(Nguoiduatin.vn) - Từ dấu tích lưu lại trên tấm bia được xác định niên đại từ năm 601, các nhà khoa học đã chỉ ra nhiều sự trùng hợp liên quan đến chùa Thiền Chúng, ngôi chùa cổ nhất Việt Nam.

Giới cổ vật Việt Nam vừa đón nhận thông tin chấn động khi hai tấm bia đá có niên đại 601 được phát hiện ở Bắc Ninh. Theo đánh giá ban đầu, có thể đây là hai tấm bia cổ nhất Việt Nam và có giá trị lớn về mặt văn hóa lịch sử. Các nhà khảo cổ học đã bắt tay vào công cuộc nghiên cứu hai tấm bia này và bước đầu có những kết luận mới nhất trong Hội nghị tổng kết Khảo cổ học lần thứ 47 diễn ra tại Hà Nội vào hai ngày 27 - 28/09.

Phát hiện tình cờ

Hai tấm bia cổ được phát hiện từ năm 2004 khi ông Nguyễn Văn Đức - người dân thôn Xuân Quan (xã Trí Quả, Thuận Thành, Bắc Ninh) đào đất làm gạch ở độ sâu chừng 2m tại khu phía sau chùa Đông Quan. Theo lời ông Đức kể lại thì lúc mới đưa lên hai tấm bia úp khít vào nhau và kết dính bởi một chất liệu đặc biệt, phải rất vất vả mới dùng mai tách đôi ra được. Cùng với hai tấm bia còn có một đỉnh đá (còn gọi là liễn) hình vuông có nắp đậy, bên trong có một chút đất đen.

Sau khi đào được số cổ vật trên, ông Đức đã đem bộ bia và nắp đá đậy về nhà còn lại gửi ở chùa làng (chùa Huệ Trạch). Ông Đức cũng đã nhờ một số người biết chữ Hán đọc chữ viết trên tấm bia nhưng họ cũng không đọc được gì nhiều. Số cổ vật ông Đức khai quật được bảo quản tại nhà ông Đức cho tới tháng 8 năm 2012 khi tổ công tác thuộc phòng Nghiên cứu sưu tầm Bảo tàng Bắc Ninh tình cờ nghe được câu chuyện về tấm bia cổ năm xưa.

Hai tấm bia và đỉnh đá được chùa Huệ Trạch và ông Đức trao lại cho Bảo tàng Bắc Ninh. Các cán bộ bảo tàng Bắc Ninh ban đầu nhận định đây là những cổ vật bằng đá có niên đại từ năm 601 liên quan đến một chùa mang tên là Thiền Chúng, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức từng được nhắc đến trong Cảm ứng xá lợi ký do Vương Thiệu viết vào cuối năm 601, dẫn trong Quảng hoằng minh tập có ghi chùa Thiền Chúng như là nơi dựng tháp rước xá lợi vào năm đó tại Giao Châu.

Những dấu ấn về ngôi chùa cổ Thiền Chúng

Những giá trị lịch sử quý giá

Ngày 29/08, các chuyên gia khảo cổ và sử học gồm G.S Phan Huy Lê (chủ tịch Hội sử học Việt Nam), PGS.TS Tống Trung Tín (viện trưởng Viện khảo cổ học Việt Nam), T.S Nguyễn Văn Sơn, Th.S Phạm Lê Huy đã đến Bảo tàng Bắc Ninh để trực tiếp quan sát tấm bia dưới sự hướng dẫn của T.S Lê Viết Nga (giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh). Theo nhận định ban đầu, tháp chùa Thiền Chúng sau nhiều năm bị đổ nát đã chìm vào sự quên lãng. Chùa tan, tháp đổ nên sau đó các cổ vật chìm trong lòng đất, đến nay tình cờ người dân phát hiện được.

Qua những phân tích và so sánh, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những dấu tích minh văn (tạm gọi là minh văn Giao châu) có nội dung gần giống với các minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" có niên đại 601 đã phát hiện được tại Trung Quốc, tuy nhiên có khác nhau ở một vài chi tiết: Về dòng chữ tiêu đề trên tấm bia, về địa điểm xây tháp và phần chú thích về "sắc sứ".

Theo báo cáo tại hội nghị Khảo cổ học lần thứ 47 lần này, Th.s Phạm Lê Huy: "Trong khi các minh văn khác chỉ có phần chính văn, riêng minh văn Giao châu và Thanh châu có thêm phần chú thích về "sắc sứ". Minh văn Giao châu ghi tên sắc sứ là "Đại đức Tuệ Nhã pháp sư" và "Vũ kỵ uý Khương Huy". Minh văn Thanh châu ngoài 2 sắc sứ là "Đại đức Trí Năng" và "Vũ kỵ uý Lý Đức Kham" còn ghi thêm tên 2 người tuỳ tùng (tòng giả) và 2 viên chức Tư mã và Lục sự tham quân của Thanh châu. Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế, có thể xác định "Đại đức Tuệ Nhã pháp sư" và "Đại đức Trí Năng" là 2 trong số 30 sa môn được Tuỳ Văn Đế cử về địa phương, Khương Huy và Lý Đức Kham là 2 "tản quan" tháp tùng.  Xung quanh thông tin nắp bia và bia được kết dính bằng một chất đặc biệt, chúng ta cũng tìm thấy trường hợp tương tự tại Trung Quốc. Theo văn bản khai quật minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" tại chùa Hoằng Nghiệp ở U châu năm 846, hộp đá lớn được phong bằng bùn hương, phía trên có minh văn.

Sự thống nhất trong nội dung minh văn với các tấm bia tìm được tại Trung Quốc cũng như sự trùng khớp thông tin (ngày 15 tháng 10 năm 601, xây tháp tại chùa Thiền Chúng ở Giao châu) với các tư liệu như Quảng hoằng minh tập và Cảm biến lục. Đây là cơ sở giúp các nhà nghiên cứu khẳng định tấm bia tìm được tại Bắc Ninh chính là minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" được khắc cùng với sự kiện xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng ở Giao châu có niên đại 601. Bên cạnh đó, sự thống nhất về câu chữ trong minh văn cho thấy bên cạnh mẫu thiết kế tháp xá lợi, quy cách tổ chức nghi lễ, chính quyền trung ương của nhà Tùy đã biên soạn trước nội dung minh văn để phân phát cho các địa phương. Nói cách khác, có thể cho rằng tấm bia 601 được khắc tại Việt Nam và cổ nhất Việt Nam đến thời điểm hiện nay

Bảo Hằng- Đinh Nhung
Nguồn: Người đưa tin

Phạm Lê Huy: THÔNG TIN XUNG QUANH TẤM BIA NĂM 601 VỪA ĐƯỢC PHÁT HIỆN


Thông báo Khảo cổ học 2012:

VIỆC XÂY DỰNG THÁP XÁ LỢI DƯỚI THỜI TÙY VĂN ĐẾ VÀ MINH VĂN THÁP XÁ LỢI MỚI PHÁT HIỆN TẠI BẮC NINH
Phạm Lê Huy
Khoa Đông phương học, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội

Nhân Thọ xá lợi tháp và các tư liệu liên quan

Trong vòng 4 năm, từ năm 601 (Nhân Thọ 1) đến năm 604 (Nhân Thọ 4), Tùy Văn Đế Dương Kiên đã ba lần phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng bảo tháp an trí xá lợi tại các châu thuộc bản đồ đế quốc. Do cùng được xây dựng dưới niên hiệu Nhân Thọ, hệ thống tháp xá lợi này thường được biết đến dưới tên gọi “Nhân Thọ xá lợi tháp”. Sự kiện xây dựng các tháp xá lợi dưới thời Tùy Văn Đế được đánh giá là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển Phật giáo và mỹ thuật Trung Quốc. Chính vì vậy, nó đã sớm nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả Trung Quốc và Nhật Bản.

Xét thấy các tư liệu và kết quả nghiên cứu về “Nhân Thọ xá lợi tháp” chưa được biết đến rộng rãi tại Việt Nam, trong khuôn khổ bài thông báo này, chúng tôi mạn phép trích dẫn và giới thiệu một số tư liệu cơ bản, chủ yếu là tư liệu chữ viết (tài liệu thư tịch và tư liệu kim thạch văn) xung quanh việc xây dựng “Nhân Thọ xá lợi tháp” vào thời Tùy. Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn đưa ra một số nhận định góp phần nhận diện minh văn tháp xá lợi mới được phát hiện tại Bắc Ninh trong thời gian gần đây[1].

Nhìn chung, các nghiên cứu về “Nhân Thọ xá lợi tháp” đều được triển khai trên cơ sở các ghi chép trong các sách Tập thần châu Tam bảo Cảm thông lục 集神州三宝感通録 (dưới đây gọi tắt là Cảm thông lục), Quảng hoằng minh tập廣弘明集, Tục cao tăng truyện 續高僧傳 (đều do sư Đạo Tuyên 道宣 biên soạn vào thời Đường, trong đó Quảng hoằng minh tập được hoàn thành năm Lân Đức nguyên niên – 664, Tục Cao tăng truyện hoàn thành năm Trinh Quán 19 - 645). Theo các nguồn tư liệu đó, “Nhân Thọ xá lợi tháp” được xây dựng vào 3 thời điểm như sau:

Lần thứ nhất vào năm Nhân Thọ nguyên niên (601), trên phạm vi 30 châu.
Lần thứ hai vào năm Nhân Thọ 2 (602), trên phạm vi 50 (có tài liệu cho là 53) châu.
Lần thứ ba vào năm Nhân Thọ  4 (604), trên phạm vi hơn 30 châu.

BẮC NINH: PHÁT HIỆN MỘT VĂN BIA CỔ ĐƯỢC KHẮC NĂM 601

Văn bia cổ ở Bắc Ninh là minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp” 


(TT&VH Online) - Đầu tháng 8/2012, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh đã phát hiện và sưu tầm được hai cổ vật độc đáo ở chùa Thiền Chúng (Thuyền Chúng), huyện Long Biên, xứ Giao Châu xưa, trong đó có một tấm bia đá có từ năm 601, được đánh giá là cổ nhất Việt Nam. Những văn tự ghi trên bia thuộc loại “khó hiểu” nên nội dung của văn bia là điều bí ẩn.

Tuy nhiên, tại một công trình nghiên cứu trình bày tại Hội nghị thông báo khảo cổ học toàn quốc mới đây, Thạc sĩ Phạm Lê Huy, Giảng viên Khoa Đông Phương học, Đại học XH&NV (thuộc ĐHQGHN) cho biết đã giải mã được những bí ẩn ghi trên văn bia.

Theo Thạc sĩ Phạm Lê Huy, nội dung ghi trong văn bia gồm có tổng cộng 133 chữ, được chia làm 13 dòng. Sau khi giải mã chữ viết, có thể thấy nội dung văn bia trên như sau:

Minh văn Nhân Thọ Xá lợi tháp ở Thanh Châu (Trung Quốc). Chú thích của Tễu

“1. Xá lợi tháp minh văn
2. Duy Đại Tùy Nhân Thọ nguyên niên tuế thứ Tân Dậu thập nguyệt
3. Tân Hợi sóc thập ngũ nhật Ất Sửu
4. Hoàng đế phổ vi nhất thiết pháp giới u hiển sinh linh cẩn
5. ư Giao Châu Long Biên huyện Thiền Chúng tự phụng an xá lợi
6. kính tạo linh pháp nguyện
7. Thái Tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng Hậu, Hoàng đế, Hoàng
8. hậu, Hoàng thái tử, chư vương tử tôn đẳng, tịnh nội ngoại thần
9. quan, viên cập dân thứ, lục đạo, tam đồ nhân, phi nhân đẳng
10. Sinh linh thế thế trị phật văn pháp, vĩnh ly khổ không, đồng
11. thăng diệu quả
12. Sắc tứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kỵ úy
13. Khương Huy tống xá lợi ư thử khởi pháp”.

Qua so sánh, có thể nhận thấy văn bia trên có nội dung về cơ bản giống với “Nhân Thọ xá lợi tháp” có niên đại 601 đã được phát hiện tại Trung Quốc.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, văn bia cổ ở Bắc Ninh vẫn có một số điểm khác biệt so với văn bia phát hiện ở Trung Quốc.

Trong văn bia cổ ở Bắc Ninh, dòng đầu tiên ghi chữ “Xá lợi tháp minh”, trong khi đó, một số minh văn phát hiện ở Trung Quốc lại ghi là “Xá lợi tháp hạ minh” hoặc không ghi tiêu đề. Vị trí khắc dòng tiêu đề cũng khác nhau ở từng bia, có cái ghi dòng đầu, có cái ghi dòng cuối.

Ngoài ra, trong khi các minh văn khác chỉ có phần chính văn thì ở văn bia cổ ở Bắc Ninh lại có ghi thêm phần chú thích “sắc sứ” là “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Vũ kỵ úy Khương Huy”.

Minh văn Thanh Châu (Trung Quốc), ngoài 2 “sắc sứ” là “Đại đức Trí Năng” và “ Vũ kỵ úy Lý Đức Kham còn ghi thêm tên 2 người tùy tùng (tòng giả) và 2 viên chức Tư mã và Lục sự tham quân của Thanh châu. Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế, có thể xác định: “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Đại đức Trí Năng” là 2 trong số 30 sa môn được Tùy Văn Đế cử về địa phương, còn Khương Huy và Lý Đức Kham là 2 “tản quan” tháp tùng.

Bên cạnh đó, việc nắp bia và bia được kết dính bằng một chất đặc biệt cũng được phát hiện tại Trung Quốc. Sự thống nhất trong nội dung minh văn với các tấm bia tìm được tại Trung Quốc cũng như sự trùng khớp thông tin (ngày 15 tháng 10 năm 601, xây tháp tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu) với các tư liệu khác như “Quảng hoằng minh tập” và “Cảm ứng thông lục” có thể khẳng định: Tấm bia vừa được tìm thấy tại Bắc Ninh chính là minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp” được khắc cùng với sự kiện xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu năm 601.
Đánh giá về giá trị và ý nghĩa lịch sử của tấm văn bia cổ vừa được phát hiện và giải mã ở Bắc Ninh, Thạc sĩ Phạm Lê Huy khẳng định: Đây là nguồn tư liệu kim thạch quý giá, bên cạnh bia Trường Xuân và tấm bia phát hiện ở khu vực Vạn Xoan trước đây, đã giúp các nhà nghiên cứu rõ hơn về tình hình chính trị, quan hệ ngoại giao, lịch sử Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn thời Tiền Lý. Liên quan đến lịch sử Phật giáo, nó còn giúp chúng ta nhận thức hoàn chỉnh hơn về hoạt động xây dựng tháp xá lợi và các tín ngưỡng xung quanh trong thời Tùy – Đường.

Không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, tấm bia cổ Bắc Ninh cũng là nguồn tư liệu quý giá giúp nâng cao hiểu biết của giới học giả Trung Quốc và Nhật Bản về hoạt động xây dựng “Nhân Thọ xá lợi tháp” nói riêng cũng như chính sách Phật giáo của nhà Tùy nói chung.

Lưu Thủy
Nguồn: TT & VH 

CÓ NÊN XÂY KHU TƯỞNG NIỆM CỤ HỒ Ở KHU DI TÍCH ĐỀN HÙNG?

Tranh cãi về nhà tưởng niệm ở đền Hùng


Theo truyền thông trong nước, tỉnh Phú Thọ dự kiến xây (khu) nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh trong khu di tích lịch sử đền Hùng. Trang mạng thông tin của tỉnh Phú Thọ cũng đăng rõ, tổng mức đầu tư công trình nhà tưởng niệm ước tính khoảng 60 tỷ đồng.
Theo dự tính, công trình sẽ được xây theo kiến trúc truyền thống như nhà tứ trụ, nhà bia, khu tiền tế, đại bái, hậu cung, và các công trình phụ trợ khác... với diện tích 8.450 mét vuông trên đồi Phân Trà.

Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Doãn Khánh khẳng định sẽ “đảm bảo kiến trúc truyền thống” phù hợp, hài hòa với khối kiến trúc tổng thể của khu đền Hùng.

Tuy vậy, loan báo đã gây ra không ít tranh luận.

GS. Trần Lâm Biền, chuyên gia nghiên cứu tín ngưỡng - văn hóa từ Hà Nội, nói với BBC “muốn truyền thống hay không chưa biết, nhưng theo tôi nghĩ nó chưa được đưa ra hội đồng khoa học của Bộ Văn hóa.”

Giáo sư Biền cho rằng việc đặt nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh trong khu di tích đền Hùng là “không thích hợp”.

“Vậy nó đặt ra một vấn đề là thờ Hùng Vương là chính hay tưởng niệm Bác Hồ là chính,” theo giáo sư.

Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Doãn Khánh giải thích công năng nhà tưởng niệm là để “ghi lại dấu ấn lịch sử quan trọng khi Bác về thăm đền Hùng.”

Phát biểu về vấn đề này, ông Trần Lâm Biền cho rằng, khi một khu di tích đang thờ một vị nào đó, thì “lòng người hướng tới các vị thần ấy hay tổ tiên ấy là tuyệt đối...”

“Nhưng khi đưa cụ Hồ vào trong này, lòng kính trọng sẽ bị chia sẻ,” ông bày tỏ việc cả Hùng vương và Hồ Chí Minh cùng ở một chỗ sẽ không đạt tới tính tôn sùng đỉnh cao, và “đây là việc khó có thể chấp nhận được”.

Ông cũng nói thêm, “chắc khi đề án này được đưa ra đã có nhiều ý kiến không tán thành”.

Theo thông tin tỉnh Phú Thọ đăng, có một số đại biểu băn khoăn về kiến trúc công trình cũng như quy mô dự án, nhưng không ghi cụ thể những băn khoăn đó là gì.

Giáo sư Trần Lâm Biền cho rằng, nếu muốn kỷ niệm Hồ Chí Minh ở Phú Thọ thì chỉ cần đưa vào bảo tàng Hùng Vương, hoặc tìm một địa điểm nào khác đông người tới thăm quan hơn, chứ để trong khu di tích là “không hợp lý”.


Tễu: Hoàn toàn nhất trí với ý kiến của GS Trần Lâm Biền. Cụ Hồ không hề muốn điều này. Cụ Hồ đã có lăng và hàng trăm nơi thờ cúng và di tích liên quan trên cả nước rồi, lẽ nào cụ còn muốn chen vào nơi thờ Quốc tổ để...chia sẻ.

Nếu đã thấm nhuần tư tưởng HCM và học tập tấm gương đạo đức của HCM thì không bao giờ đề xuất dự án này và không thể phê duyệt cho dự án này!

HÔM NAY: TRIỂN LÃM VÀ TỌA ĐÀM VỀ HÀ NỘI NĂM 1972 TẠI TRUNG TÂM VH PHÁP

Triển lãm ảnh:

Hà Nội, những ngày đêm năm 1972


Triển lãm được tổ chức và điều phối bởi Olivier Tessier (Viện viễn đông Bác cổ Pháp) - Ngày 11 tháng 10 đến ngày 09 tháng 11 năm 2012 - Sảnh triển lãm Trung tâm Văn hóa Pháp 

Những hình ảnh về Hà Nội trong trận đánh bom năm 1972.

Triển lãm cũng giới thiệu những giai đoạn của trận đánh bom theo trình tự thời gian (mục tiêu chiến lược, sự tham gia của lực lượng không quân, những thiệt hại về cơ sở vật chất và con người, dân sự và quân sự) và quá trình đàm phán đồng thời diễn ra.

Khai mạc: Ngày 11.10 – lúc 18h00              Triển lãm: từ ngày 11.10 > ngày 09.11 
.
Vào cửa tự do

Tọa đàm:

Năm 1972 – năm mấu chốt tháo gỡ cuộc xung đột 

giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.


Tọa đàm được tổ chức và dẫn dắt bởi Olivier Tessier (Viện viễn đông Bác cổ Pháp) - Ngày 11 tháng 10 năm 2012 - 18h00 - Hội trường Trung tâm Văn hóa Pháp 

Phân tích và nghiên cứu lịch sử của các chuyên gia Việt Nam và Pháp về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, về tiến trình hòa bình và về những ngày đêm ném bom vào tháng 10 năm 1972.

Diễn giả:
- T.S Nguyễn Xuân Năng, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
- T.S sử học Pierre Journoud, phụ trách nghiên cứu tại Viện nghiên cứu chiến lược của Trường quân sự (IRSEM – Bộ Quốc phòng), nghiên cứu viên tại UMR-CNRS IRICE (Bản sắc, quan hệ quốc tế và văn minh châu Âu), tại Trường Đại học Paris I Panthéon-Sorbonne, thành viên Trung tâm lịch sử châu Á đương đại của trường Paris I.
 
Dịch song song Pháp – Việt
Vào cửa tự do