Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

PHÁT HIỆN BẤT NGỜ VỀ TẤM BIA CỔ NHẤT VIỆT NAM

Phát hiện bất ngờ về tấm bia cổ nhất Việt Nam

10-10-2012 | 09:04 

(Nguoiduatin.vn) - Từ dấu tích lưu lại trên tấm bia được xác định niên đại từ năm 601, các nhà khoa học đã chỉ ra nhiều sự trùng hợp liên quan đến chùa Thiền Chúng, ngôi chùa cổ nhất Việt Nam.

Giới cổ vật Việt Nam vừa đón nhận thông tin chấn động khi hai tấm bia đá có niên đại 601 được phát hiện ở Bắc Ninh. Theo đánh giá ban đầu, có thể đây là hai tấm bia cổ nhất Việt Nam và có giá trị lớn về mặt văn hóa lịch sử. Các nhà khảo cổ học đã bắt tay vào công cuộc nghiên cứu hai tấm bia này và bước đầu có những kết luận mới nhất trong Hội nghị tổng kết Khảo cổ học lần thứ 47 diễn ra tại Hà Nội vào hai ngày 27 - 28/09.

Phát hiện tình cờ

Hai tấm bia cổ được phát hiện từ năm 2004 khi ông Nguyễn Văn Đức - người dân thôn Xuân Quan (xã Trí Quả, Thuận Thành, Bắc Ninh) đào đất làm gạch ở độ sâu chừng 2m tại khu phía sau chùa Đông Quan. Theo lời ông Đức kể lại thì lúc mới đưa lên hai tấm bia úp khít vào nhau và kết dính bởi một chất liệu đặc biệt, phải rất vất vả mới dùng mai tách đôi ra được. Cùng với hai tấm bia còn có một đỉnh đá (còn gọi là liễn) hình vuông có nắp đậy, bên trong có một chút đất đen.

Sau khi đào được số cổ vật trên, ông Đức đã đem bộ bia và nắp đá đậy về nhà còn lại gửi ở chùa làng (chùa Huệ Trạch). Ông Đức cũng đã nhờ một số người biết chữ Hán đọc chữ viết trên tấm bia nhưng họ cũng không đọc được gì nhiều. Số cổ vật ông Đức khai quật được bảo quản tại nhà ông Đức cho tới tháng 8 năm 2012 khi tổ công tác thuộc phòng Nghiên cứu sưu tầm Bảo tàng Bắc Ninh tình cờ nghe được câu chuyện về tấm bia cổ năm xưa.

Hai tấm bia và đỉnh đá được chùa Huệ Trạch và ông Đức trao lại cho Bảo tàng Bắc Ninh. Các cán bộ bảo tàng Bắc Ninh ban đầu nhận định đây là những cổ vật bằng đá có niên đại từ năm 601 liên quan đến một chùa mang tên là Thiền Chúng, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức từng được nhắc đến trong Cảm ứng xá lợi ký do Vương Thiệu viết vào cuối năm 601, dẫn trong Quảng hoằng minh tập có ghi chùa Thiền Chúng như là nơi dựng tháp rước xá lợi vào năm đó tại Giao Châu.

Những dấu ấn về ngôi chùa cổ Thiền Chúng

Những giá trị lịch sử quý giá

Ngày 29/08, các chuyên gia khảo cổ và sử học gồm G.S Phan Huy Lê (chủ tịch Hội sử học Việt Nam), PGS.TS Tống Trung Tín (viện trưởng Viện khảo cổ học Việt Nam), T.S Nguyễn Văn Sơn, Th.S Phạm Lê Huy đã đến Bảo tàng Bắc Ninh để trực tiếp quan sát tấm bia dưới sự hướng dẫn của T.S Lê Viết Nga (giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh). Theo nhận định ban đầu, tháp chùa Thiền Chúng sau nhiều năm bị đổ nát đã chìm vào sự quên lãng. Chùa tan, tháp đổ nên sau đó các cổ vật chìm trong lòng đất, đến nay tình cờ người dân phát hiện được.

Qua những phân tích và so sánh, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những dấu tích minh văn (tạm gọi là minh văn Giao châu) có nội dung gần giống với các minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" có niên đại 601 đã phát hiện được tại Trung Quốc, tuy nhiên có khác nhau ở một vài chi tiết: Về dòng chữ tiêu đề trên tấm bia, về địa điểm xây tháp và phần chú thích về "sắc sứ".

Theo báo cáo tại hội nghị Khảo cổ học lần thứ 47 lần này, Th.s Phạm Lê Huy: "Trong khi các minh văn khác chỉ có phần chính văn, riêng minh văn Giao châu và Thanh châu có thêm phần chú thích về "sắc sứ". Minh văn Giao châu ghi tên sắc sứ là "Đại đức Tuệ Nhã pháp sư" và "Vũ kỵ uý Khương Huy". Minh văn Thanh châu ngoài 2 sắc sứ là "Đại đức Trí Năng" và "Vũ kỵ uý Lý Đức Kham" còn ghi thêm tên 2 người tuỳ tùng (tòng giả) và 2 viên chức Tư mã và Lục sự tham quân của Thanh châu. Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế, có thể xác định "Đại đức Tuệ Nhã pháp sư" và "Đại đức Trí Năng" là 2 trong số 30 sa môn được Tuỳ Văn Đế cử về địa phương, Khương Huy và Lý Đức Kham là 2 "tản quan" tháp tùng.  Xung quanh thông tin nắp bia và bia được kết dính bằng một chất đặc biệt, chúng ta cũng tìm thấy trường hợp tương tự tại Trung Quốc. Theo văn bản khai quật minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" tại chùa Hoằng Nghiệp ở U châu năm 846, hộp đá lớn được phong bằng bùn hương, phía trên có minh văn.

Sự thống nhất trong nội dung minh văn với các tấm bia tìm được tại Trung Quốc cũng như sự trùng khớp thông tin (ngày 15 tháng 10 năm 601, xây tháp tại chùa Thiền Chúng ở Giao châu) với các tư liệu như Quảng hoằng minh tập và Cảm biến lục. Đây là cơ sở giúp các nhà nghiên cứu khẳng định tấm bia tìm được tại Bắc Ninh chính là minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" được khắc cùng với sự kiện xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng ở Giao châu có niên đại 601. Bên cạnh đó, sự thống nhất về câu chữ trong minh văn cho thấy bên cạnh mẫu thiết kế tháp xá lợi, quy cách tổ chức nghi lễ, chính quyền trung ương của nhà Tùy đã biên soạn trước nội dung minh văn để phân phát cho các địa phương. Nói cách khác, có thể cho rằng tấm bia 601 được khắc tại Việt Nam và cổ nhất Việt Nam đến thời điểm hiện nay

Bảo Hằng- Đinh Nhung
Nguồn: Người đưa tin

Phạm Lê Huy: THÔNG TIN XUNG QUANH TẤM BIA NĂM 601 VỪA ĐƯỢC PHÁT HIỆN


Thông báo Khảo cổ học 2012:

VIỆC XÂY DỰNG THÁP XÁ LỢI DƯỚI THỜI TÙY VĂN ĐẾ VÀ MINH VĂN THÁP XÁ LỢI MỚI PHÁT HIỆN TẠI BẮC NINH
Phạm Lê Huy
Khoa Đông phương học, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội

Nhân Thọ xá lợi tháp và các tư liệu liên quan

Trong vòng 4 năm, từ năm 601 (Nhân Thọ 1) đến năm 604 (Nhân Thọ 4), Tùy Văn Đế Dương Kiên đã ba lần phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng bảo tháp an trí xá lợi tại các châu thuộc bản đồ đế quốc. Do cùng được xây dựng dưới niên hiệu Nhân Thọ, hệ thống tháp xá lợi này thường được biết đến dưới tên gọi “Nhân Thọ xá lợi tháp”. Sự kiện xây dựng các tháp xá lợi dưới thời Tùy Văn Đế được đánh giá là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển Phật giáo và mỹ thuật Trung Quốc. Chính vì vậy, nó đã sớm nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả Trung Quốc và Nhật Bản.

Xét thấy các tư liệu và kết quả nghiên cứu về “Nhân Thọ xá lợi tháp” chưa được biết đến rộng rãi tại Việt Nam, trong khuôn khổ bài thông báo này, chúng tôi mạn phép trích dẫn và giới thiệu một số tư liệu cơ bản, chủ yếu là tư liệu chữ viết (tài liệu thư tịch và tư liệu kim thạch văn) xung quanh việc xây dựng “Nhân Thọ xá lợi tháp” vào thời Tùy. Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn đưa ra một số nhận định góp phần nhận diện minh văn tháp xá lợi mới được phát hiện tại Bắc Ninh trong thời gian gần đây[1].

Nhìn chung, các nghiên cứu về “Nhân Thọ xá lợi tháp” đều được triển khai trên cơ sở các ghi chép trong các sách Tập thần châu Tam bảo Cảm thông lục 集神州三宝感通録 (dưới đây gọi tắt là Cảm thông lục), Quảng hoằng minh tập廣弘明集, Tục cao tăng truyện 續高僧傳 (đều do sư Đạo Tuyên 道宣 biên soạn vào thời Đường, trong đó Quảng hoằng minh tập được hoàn thành năm Lân Đức nguyên niên – 664, Tục Cao tăng truyện hoàn thành năm Trinh Quán 19 - 645). Theo các nguồn tư liệu đó, “Nhân Thọ xá lợi tháp” được xây dựng vào 3 thời điểm như sau:

Lần thứ nhất vào năm Nhân Thọ nguyên niên (601), trên phạm vi 30 châu.
Lần thứ hai vào năm Nhân Thọ 2 (602), trên phạm vi 50 (có tài liệu cho là 53) châu.
Lần thứ ba vào năm Nhân Thọ  4 (604), trên phạm vi hơn 30 châu.

BẮC NINH: PHÁT HIỆN MỘT VĂN BIA CỔ ĐƯỢC KHẮC NĂM 601

Văn bia cổ ở Bắc Ninh là minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp” 


(TT&VH Online) - Đầu tháng 8/2012, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh đã phát hiện và sưu tầm được hai cổ vật độc đáo ở chùa Thiền Chúng (Thuyền Chúng), huyện Long Biên, xứ Giao Châu xưa, trong đó có một tấm bia đá có từ năm 601, được đánh giá là cổ nhất Việt Nam. Những văn tự ghi trên bia thuộc loại “khó hiểu” nên nội dung của văn bia là điều bí ẩn.

Tuy nhiên, tại một công trình nghiên cứu trình bày tại Hội nghị thông báo khảo cổ học toàn quốc mới đây, Thạc sĩ Phạm Lê Huy, Giảng viên Khoa Đông Phương học, Đại học XH&NV (thuộc ĐHQGHN) cho biết đã giải mã được những bí ẩn ghi trên văn bia.

Theo Thạc sĩ Phạm Lê Huy, nội dung ghi trong văn bia gồm có tổng cộng 133 chữ, được chia làm 13 dòng. Sau khi giải mã chữ viết, có thể thấy nội dung văn bia trên như sau:

Minh văn Nhân Thọ Xá lợi tháp ở Thanh Châu (Trung Quốc). Chú thích của Tễu

“1. Xá lợi tháp minh văn
2. Duy Đại Tùy Nhân Thọ nguyên niên tuế thứ Tân Dậu thập nguyệt
3. Tân Hợi sóc thập ngũ nhật Ất Sửu
4. Hoàng đế phổ vi nhất thiết pháp giới u hiển sinh linh cẩn
5. ư Giao Châu Long Biên huyện Thiền Chúng tự phụng an xá lợi
6. kính tạo linh pháp nguyện
7. Thái Tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng Hậu, Hoàng đế, Hoàng
8. hậu, Hoàng thái tử, chư vương tử tôn đẳng, tịnh nội ngoại thần
9. quan, viên cập dân thứ, lục đạo, tam đồ nhân, phi nhân đẳng
10. Sinh linh thế thế trị phật văn pháp, vĩnh ly khổ không, đồng
11. thăng diệu quả
12. Sắc tứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kỵ úy
13. Khương Huy tống xá lợi ư thử khởi pháp”.

Qua so sánh, có thể nhận thấy văn bia trên có nội dung về cơ bản giống với “Nhân Thọ xá lợi tháp” có niên đại 601 đã được phát hiện tại Trung Quốc.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, văn bia cổ ở Bắc Ninh vẫn có một số điểm khác biệt so với văn bia phát hiện ở Trung Quốc.

Trong văn bia cổ ở Bắc Ninh, dòng đầu tiên ghi chữ “Xá lợi tháp minh”, trong khi đó, một số minh văn phát hiện ở Trung Quốc lại ghi là “Xá lợi tháp hạ minh” hoặc không ghi tiêu đề. Vị trí khắc dòng tiêu đề cũng khác nhau ở từng bia, có cái ghi dòng đầu, có cái ghi dòng cuối.

Ngoài ra, trong khi các minh văn khác chỉ có phần chính văn thì ở văn bia cổ ở Bắc Ninh lại có ghi thêm phần chú thích “sắc sứ” là “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Vũ kỵ úy Khương Huy”.

Minh văn Thanh Châu (Trung Quốc), ngoài 2 “sắc sứ” là “Đại đức Trí Năng” và “ Vũ kỵ úy Lý Đức Kham còn ghi thêm tên 2 người tùy tùng (tòng giả) và 2 viên chức Tư mã và Lục sự tham quân của Thanh châu. Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế, có thể xác định: “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Đại đức Trí Năng” là 2 trong số 30 sa môn được Tùy Văn Đế cử về địa phương, còn Khương Huy và Lý Đức Kham là 2 “tản quan” tháp tùng.

Bên cạnh đó, việc nắp bia và bia được kết dính bằng một chất đặc biệt cũng được phát hiện tại Trung Quốc. Sự thống nhất trong nội dung minh văn với các tấm bia tìm được tại Trung Quốc cũng như sự trùng khớp thông tin (ngày 15 tháng 10 năm 601, xây tháp tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu) với các tư liệu khác như “Quảng hoằng minh tập” và “Cảm ứng thông lục” có thể khẳng định: Tấm bia vừa được tìm thấy tại Bắc Ninh chính là minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp” được khắc cùng với sự kiện xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu năm 601.
Đánh giá về giá trị và ý nghĩa lịch sử của tấm văn bia cổ vừa được phát hiện và giải mã ở Bắc Ninh, Thạc sĩ Phạm Lê Huy khẳng định: Đây là nguồn tư liệu kim thạch quý giá, bên cạnh bia Trường Xuân và tấm bia phát hiện ở khu vực Vạn Xoan trước đây, đã giúp các nhà nghiên cứu rõ hơn về tình hình chính trị, quan hệ ngoại giao, lịch sử Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn thời Tiền Lý. Liên quan đến lịch sử Phật giáo, nó còn giúp chúng ta nhận thức hoàn chỉnh hơn về hoạt động xây dựng tháp xá lợi và các tín ngưỡng xung quanh trong thời Tùy – Đường.

Không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, tấm bia cổ Bắc Ninh cũng là nguồn tư liệu quý giá giúp nâng cao hiểu biết của giới học giả Trung Quốc và Nhật Bản về hoạt động xây dựng “Nhân Thọ xá lợi tháp” nói riêng cũng như chính sách Phật giáo của nhà Tùy nói chung.

Lưu Thủy
Nguồn: TT & VH 

CÓ NÊN XÂY KHU TƯỞNG NIỆM CỤ HỒ Ở KHU DI TÍCH ĐỀN HÙNG?

Tranh cãi về nhà tưởng niệm ở đền Hùng


Theo truyền thông trong nước, tỉnh Phú Thọ dự kiến xây (khu) nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh trong khu di tích lịch sử đền Hùng. Trang mạng thông tin của tỉnh Phú Thọ cũng đăng rõ, tổng mức đầu tư công trình nhà tưởng niệm ước tính khoảng 60 tỷ đồng.
Theo dự tính, công trình sẽ được xây theo kiến trúc truyền thống như nhà tứ trụ, nhà bia, khu tiền tế, đại bái, hậu cung, và các công trình phụ trợ khác... với diện tích 8.450 mét vuông trên đồi Phân Trà.

Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Doãn Khánh khẳng định sẽ “đảm bảo kiến trúc truyền thống” phù hợp, hài hòa với khối kiến trúc tổng thể của khu đền Hùng.

Tuy vậy, loan báo đã gây ra không ít tranh luận.

GS. Trần Lâm Biền, chuyên gia nghiên cứu tín ngưỡng - văn hóa từ Hà Nội, nói với BBC “muốn truyền thống hay không chưa biết, nhưng theo tôi nghĩ nó chưa được đưa ra hội đồng khoa học của Bộ Văn hóa.”

Giáo sư Biền cho rằng việc đặt nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh trong khu di tích đền Hùng là “không thích hợp”.

“Vậy nó đặt ra một vấn đề là thờ Hùng Vương là chính hay tưởng niệm Bác Hồ là chính,” theo giáo sư.

Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Doãn Khánh giải thích công năng nhà tưởng niệm là để “ghi lại dấu ấn lịch sử quan trọng khi Bác về thăm đền Hùng.”

Phát biểu về vấn đề này, ông Trần Lâm Biền cho rằng, khi một khu di tích đang thờ một vị nào đó, thì “lòng người hướng tới các vị thần ấy hay tổ tiên ấy là tuyệt đối...”

“Nhưng khi đưa cụ Hồ vào trong này, lòng kính trọng sẽ bị chia sẻ,” ông bày tỏ việc cả Hùng vương và Hồ Chí Minh cùng ở một chỗ sẽ không đạt tới tính tôn sùng đỉnh cao, và “đây là việc khó có thể chấp nhận được”.

Ông cũng nói thêm, “chắc khi đề án này được đưa ra đã có nhiều ý kiến không tán thành”.

Theo thông tin tỉnh Phú Thọ đăng, có một số đại biểu băn khoăn về kiến trúc công trình cũng như quy mô dự án, nhưng không ghi cụ thể những băn khoăn đó là gì.

Giáo sư Trần Lâm Biền cho rằng, nếu muốn kỷ niệm Hồ Chí Minh ở Phú Thọ thì chỉ cần đưa vào bảo tàng Hùng Vương, hoặc tìm một địa điểm nào khác đông người tới thăm quan hơn, chứ để trong khu di tích là “không hợp lý”.


Tễu: Hoàn toàn nhất trí với ý kiến của GS Trần Lâm Biền. Cụ Hồ không hề muốn điều này. Cụ Hồ đã có lăng và hàng trăm nơi thờ cúng và di tích liên quan trên cả nước rồi, lẽ nào cụ còn muốn chen vào nơi thờ Quốc tổ để...chia sẻ.

Nếu đã thấm nhuần tư tưởng HCM và học tập tấm gương đạo đức của HCM thì không bao giờ đề xuất dự án này và không thể phê duyệt cho dự án này!

HÔM NAY: TRIỂN LÃM VÀ TỌA ĐÀM VỀ HÀ NỘI NĂM 1972 TẠI TRUNG TÂM VH PHÁP

Triển lãm ảnh:

Hà Nội, những ngày đêm năm 1972


Triển lãm được tổ chức và điều phối bởi Olivier Tessier (Viện viễn đông Bác cổ Pháp) - Ngày 11 tháng 10 đến ngày 09 tháng 11 năm 2012 - Sảnh triển lãm Trung tâm Văn hóa Pháp 

Những hình ảnh về Hà Nội trong trận đánh bom năm 1972.

Triển lãm cũng giới thiệu những giai đoạn của trận đánh bom theo trình tự thời gian (mục tiêu chiến lược, sự tham gia của lực lượng không quân, những thiệt hại về cơ sở vật chất và con người, dân sự và quân sự) và quá trình đàm phán đồng thời diễn ra.

Khai mạc: Ngày 11.10 – lúc 18h00              Triển lãm: từ ngày 11.10 > ngày 09.11 
.
Vào cửa tự do

Tọa đàm:

Năm 1972 – năm mấu chốt tháo gỡ cuộc xung đột 

giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.


Tọa đàm được tổ chức và dẫn dắt bởi Olivier Tessier (Viện viễn đông Bác cổ Pháp) - Ngày 11 tháng 10 năm 2012 - 18h00 - Hội trường Trung tâm Văn hóa Pháp 

Phân tích và nghiên cứu lịch sử của các chuyên gia Việt Nam và Pháp về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, về tiến trình hòa bình và về những ngày đêm ném bom vào tháng 10 năm 1972.

Diễn giả:
- T.S Nguyễn Xuân Năng, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
- T.S sử học Pierre Journoud, phụ trách nghiên cứu tại Viện nghiên cứu chiến lược của Trường quân sự (IRSEM – Bộ Quốc phòng), nghiên cứu viên tại UMR-CNRS IRICE (Bản sắc, quan hệ quốc tế và văn minh châu Âu), tại Trường Đại học Paris I Panthéon-Sorbonne, thành viên Trung tâm lịch sử châu Á đương đại của trường Paris I.
 
Dịch song song Pháp – Việt
Vào cửa tự do

TRỰC TIẾP: ĐANG GIẢI CỨU CÁC EM BÉ TR0NG TRƯỜNG MẦM NON

Xông vào trường mầm non, bắt trẻ làm con tin

Khoảng 8h30 sáng nay, một nam thanh niên bất ngờ xông vào trường mầm non 10A trên đường Gò Cẩm Đệm (phường 10, Tân Bình, TP HCM) khống chế 2 bé gái 3 tuổi. Hàng trăm cảnh sát đã bao vây ngôi trường để tìm cách giải cứu.

Người dân vây chặt bên ngoài trường. Ảnh: An Nhơn.

Tên thanh niên khoảng 20 tuổi đã lao vào kề cổ 2 bé lớp mầm trong lúc tất cả học sinh đang chơi đùa trên sân. Ngay lúc đó, các giáo viên hoảng hốt lùa tất cả học sinh của mình vào các lớp và khóa chặt cửa lại. Tên thanh niên kéo 2 bé vào một lớp học khác áp chế. 

Hàng trăm cảnh sát được điều động tới và bao vây hiện trường, phong tỏa mọi ngả đường. Người dân đổ về đây ngày càng nhiều, trong đó phần lớn là phụ huynh học sinh với nét mặt lo lắng, hoảng loạn. Có người định lao vào trường nhưng cảnh sát đã ngăn lại. 

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

NƯỚC PHÁP VÀ SỰ HÌNH THÀNH MỸ THUẬT HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Pháp và sự hình thành mỹ thuật hiện đại Việt Nam

Huế- Victor Tardieu
Huế- Victor Tardieu            @Bảo Tàng Cernuschi
Thanh Hà
.
"Từ sông Hồng đến Cửu Long» giới thiệu đến những tầm nhìn khác nhau của các nghệ sĩ Pháp và Việt về cùng một vùng đất còn rất xa lạ ở vào đầu thế kỷ XX là Đông Dương. Trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội là nhịp cầu nối liền hai dòng sáng tác Đông và Tây. RFI phỏng vấn bà Christine Shimizu, giám đốc kiêm quản thủ bảo tàng Cernuschi. Bà cũng là một trong hai người điều hành triển lãm này.

Tạp chí văn hóa của RFI tuần trước đã giới thiệu đến quý thính giả và các bạn triển lãm « Từ sông Hồng đến Cửu Long, tầm nhìn Việt Nam » tại viện bảo tàng Cernuschi, quận 8 Paris. Hôm nay chúng ta cùng trở lại với sự kiện này để tìm hiểu thêm về vai trò và ảnh hưởng của các họa sĩ người Pháp đối với hội họa nói riêng và nền mỹ thuật hiện đại nói chung của Việt Nam.

Giải thưởng Đông Dương, được thành lập từ năm 1910 cấp học bổng cho các nghệ sĩ Pháp sang Đông Dương sáng tác. Giải thưởng này cũng là điểm khởi đầu của giao lưu văn hóa hóa Pháp – Việt. Những giải thưởng đầu tiên như họa sĩ François de Marliave (1911), Charles Fouqueray (1914) hay Géo Michel (1923) đã đến và sáng tác rất nhiều từ Đông Dương.

Hành trình về phương Đông ấy đã cho phép họ đem về Pháp và triển lãm nhiều tác phẩm với một cái nhìn thực tế hơn về một vùng đất, mà cho đến khi đó, mới chỉ có « trong trí tưởng tượng » của các nhà sáng tác.

Phải đợi đến năm 1924, nhờ nỗ lực của họa sư Victor Tardieu, cùng với sự hợp tác của họa sĩ trẻ, Nguyễn Nam Sơn, trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời tại Hà Nội. Victor Tardieu là giám đốc điều hành trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội cho đến ngày ông qua đời vào năm 1937.

Trường Mỹ thuật Hà Nội với nhiều bộ môn khác nhau (từ kiến trúc đến hội họa, từ nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật trang trí đến sơn mài…) là chiếc nôi của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Đấy cũng là nơi những tài năng của Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX đã thăng hoa và tỏa sáng, như Lê Văn Đệ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, ...

Trường Mỹ thuật là nơi nhiều thế hệ các nghệ sĩ Pháp ( Louis Rollet, André Maire, Lucien Lièvre, Léo Crastre, Alix Aymé …) đến đến giảng dạy và mở ra một chân trời mới cho các họa sĩ trẻ Đông Dương.
Triển lãm « Từ sông Hồng đến Cửu Long » giới thiệu với khách tham quan Paris khoảng 70 tác phẩm, từ hội họa đến sơn mài và điêu khắc … Trong số những tác phẩm của các nghệ sĩ Pháp, ta thấy có Femmes et Flamboyants- Thiếu phụ và cây phượng vĩ của Henry Vollet ; có Vịnh Hạ Long của Charles Fouqueray hay Lucien Lièvre ; có kinh đô Huế trong nhãn quan của Louis Rollet ; có lăng Tự Đức dưới bút pháp của François de Marliave ; có con thuyền đơn độc trên mặt nước sông Hương (Henri Mège)  ; có bức sơn dầu của Tardieu về một góc Hà Nội, có bức tượng đồng Mọi  sắc sảo của Manette de Lyee de Belleau ; có buổi Trưa hè yên tĩnh của Alix Aymé, hay Peuples des Hauts Plateaux – Dân tộc Cao Nguyên của André Maire.

Vậy thì câu hỏi đặt ra là sự cọ sát và tiếp cận với các nghệ sĩ Pháp đã đem lại những gì cho ngành hội họa  mỹ thuật hiện đại Việt Nam ? Cuộc hội ngộ với phương Đông đã thay đổi và ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp sáng tác của những nhà nghệ thuật Pháp ?

Trước hết bà Christine Shimizu, giám đốc kiêm quản thủ bảo tàng Cernuschi và là một trong hai người điều hành cuộc trưng bày giới thiệu qua về triển lãm « Từ sông Hồng đến Cửu Long, tầm nhìn Việt Nam » :

Christine Shimizu : "Cuộc triển lãm này đưa người xem theo dòng thời gian cùng với sự phát triển của hội họa Việt Nam. Một phần những tác phẩm được trưng bày là những sáng tác của các nghệ sĩ Pháp đã đến Đông Dương từ cuối thế kỷ thứ 19. Đó là phần đầu của cuộc triển lãm, với nhiều tác phẩm của các họa sĩ Pháp từng đoạt Giải thưởng Đông Dương. Giải thưởng gồm một năm học bổng và sau đó họ được cử đến giảng dậy tại trường Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội thêm một năm nữa.

Ở phần thứ nhì, chúng tôi tập trung vào những tác phẩm của các danh họa Việt Nam, được đào tạo từ trường Mỹ thuật Đông Dương –Hà Nội. Trong số đó phải kể đến một vài sáng tác của cố họa sư Nam Sơn, đồng sáng lập viên trường Mỹ thuật Đông Dương. Bên cạnh những tac phẩm hội họa, còn có cả những bức sơn mài cũng từ trường Mỹ thuật Đông Dương - Hà Nội. Ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu đến công chúng tài năng của các họa sĩ trẻ Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đấy là những bức họa được thực hiện với những kỹ thuật khác nhau, chẳng hạn như sơn dầu hay than vẽ và đương nhiên là phải kể đến tranh lụa".

RFI : Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng, đã đem lại những gì và đã ảnh hưởng như thế nào đến mạch sáng tác của các nghệ sĩ Pháp, nếu không muốn nói là ảnh hưởng đến cả sự nghiệp nghệ thuật và cuộc đời của họ ? 

Christine Shimizu : "Những người như là Lucien Lièvre, Henri Dabadie hay Michel Géo đã bị sắc màu của Đông Dương làm mê hoặc. Sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương, phong cảnh đồng quê, đời sống thôn dã là nguồn sáng tác đa dạng và hết sức phong phú. Các nghệ sĩ này đã đưa nhiều đề tài mới vào tác phẩm của mình. Đó là những đề tài chưa từng được hội họa Pháp cũng như của Việt Nam quan tâm. Chẳng hạn như họ đề cập đến các sinh hoạt ven sông, đến làng quê … Họ cũng đã có một cái nhìn hoàn toàn mới về các sắc tộc thiểu số ở vùng cao nguyên. Tôi muốn nói đến nữ họa sĩ Marie Antoinette Bouillard Devé (hai bức tranh sơn dầu Portrait- Chân Dung  và Terre Rouge, femme de CochinchineĐất đỏ, phụ nữ Nam Kỳ ), hay một tác giả khác là Léa Lafugie ( Tonkin- Bắc Kỳ  và Hà Giang, Đồng Văn, Lô Lô )"

RFI : Riêng đối với trường hợp của bà Alix Aymé, hành trình Đông Dương đã thay đổi hẳn cuộc đời bà. 

Christine Shimizu : "Đúng, Alix Aymé là một nhà hội họa. Bà đã theo chồng (Paul de Fauterau –Vassel) sang Trung Quốc và sau đó là sang Đông Dương công tác. Họ định cư tại Hà Nội.Riêng bản thân bà đã ở lại Hà Nội cho đến năm 1945. Alix Aymé đã đem lại một tầm nhìn mới không chỉ cho ngành hội họa Việt Nam mà bà còn có những đóng góp rất lớn đối với nghệ thuật sơn mài của Việt Nam.

Trong một chuyến tham quan Nhật Bản, Alix Aymé đã tiếp cận với nghệ thuật sơn mài của Xứ phù tang. Tại trường Mỹ thuật Hà Nội, bà dẫn dắt học trò đến với « nghệ thuật trang trí » rất thịnh hành ở Pháp thời đó và bà cũng đã đem đến một làn gió mới cho nghệ thuật sơn mài Việt Nam. Chẳng hạn như bà đã truyền lại nghệ thuật thếp vàng của ngành sơn mài Nhật Bản".

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

VỤ VĂN GIANG: Ý KIẾN CỦA LS. TRẦN VŨ HẢI VỀ GIẢI ĐÁP CỦA BỘ TNMT


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—-***—–

 Hà Nội, ngày  05 tháng 10 năm 2012

BẢN Ý KIẾN CỦA LUẬT SƯ TRẦN VŨ HẢI

Về Bản giải đáp của Bộ Tài nguyên và Môi trường liên quan đến Kiến nghị của một số công dân huyện Văn Giang – Hưng Yên *

Kính gửi:     Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường (Bộ TN-MT)
          
Chúng tôi – những luật sư đang trợ giúp pháp lý cho những hộ dân tại Văn Giang – Hưng Yên do việc họ bị thu hồi đất, liên quan đến dự án Ecopark – đã nhận được Công văn số 3458/BTNMT-TCQLĐĐ v/v một số nội dung liên quan đến kiến nghị của một số công dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên vào ngày 03/10/2012, kèm theo Bản giải đáp. Chúng tôi đánh giá cao thiện chí của Bộ TN-MT, tuy nhiên chúng tôi nhận thấy những nội dung giải đáp của Quý Bộ chưa rõ ràng, chưa đúng pháp luật, có phần lẩn tránh trách nhiệm và chưa cung cấp đủ tài liệu theo yêu cầu của các hộ dân.Trước khi có những ý kiến về từng vấn đề trong nội dung Bản giải đáp,  chúng tôi xin nhấn mạnh những nội dung sau:
  1. 1. Các quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến Dự án Ecopark được ban hành không đúng thẩm quyền, có nhiều nội dung trái pháp luật đất đai.
  2. 2. Bộ TN-MT chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu sai cho Thủ tướng trong việc ban hành 02 quyết định trên, đã làm trái chức năng, nhiệm vụ của mình được quy định tại NĐ 91/2002/NĐ-CP, khi thẩm tra đã không phát hiện UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện trái trình tự Điều 23 Nghị định 04/2000/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Điều 10 của Nghị định 66/2000/NĐ-CP).
  3. 3. Hai dự án liên quan tại Văn Giang không được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật và Quy hoạch đã được duyệt tại thời điểm năm 2004 (UBND tỉnh Hưng Yên chưa đủ  thẩm quyền phê duyệt 02 dự án này).
  4. 4.  Người dân không có trách nhiệm phải thi hành một quyết định thu hồi đất mà không ghi tên họ, diện tích đất của họ bị thu hồi, và không được giao cho họ.
  5. 5.  Việc cưỡng chế và hỗ trợ thi công của Chính quyền địa phương tại Hưng Yên rõ ràng trái pháp luật.
Sau đây là những bình luận về từng phần giải đáp của Bộ TN-MT:
Câu hỏi 1: Toàn văn Tờ trình số 14/TTr-BTMMT ngày 12/3/2004 và Tờ trình số 99/TTr-BTNMT ngày 29/06/2004  gửi Thủ tướng Chính phủ (liên quan đến các Quyết định 303/QĐ–TTg ngày 30/03/2004 và Quyết định số 742/QĐ – TTg ngày 30/06/2004 của Thủ tướng Chính phủ)

TUYÊN BỐ TRỊNH NGUYỄN VỀ VIỆC THU HỒI ĐẤT VÀ TRÙ DẬP ĐẢNG VIÊN

Người dân Vụ Bản chít khăn tang giữ đất. (9.5.2012).

 TUYÊN BỐ TRỊNH NGUYỄN
(khu phố Trịnh Nguyễn - phường Châu Khê, TX Từ Sơn, Bắc Ninh)

TIẾP NHẬN CHỮ KÝ ỦNG HỘ TẠI
trinhnguyentuson@gmail.com và trinhnguyentuson@yahoo.com

VIỆC: UBND THỊ XÃ TỪ SƠN THU HỒI ĐẤT ĐAI CỦA 42 GIA ĐÌNH THƯƠNG BINH LIỆT SỸ VÀ UBKT THỊ ỦY TỪ SƠN TRÙ DẬP 2 ĐẢNG VIÊN NGÔ THỊ ĐỨC LÀ VỢ LIỆT SỸ 47 NĂM TUỔI ĐẢNG VÀ ÔNG ĐẶNG VĂN NHU LÀ THƯƠNG BINH 35 NĂM TUỔI ĐẢNG.
 
Vụ thu hồi giải tỏa đất đai của UBND Thị Xã Từ Sơn đối với 42 gia đình thương binh liệt sỹ đang gây xúc động và bức xúc mạnh mẽ tất cả những người Việt Nam có lương tri, dấy lên nỗi lo lắng chưa từng có trong mọi người dân Việt biết suy tư về vận mệnh đất nước. Bên cạnh đó việc UBKT Thị ủy Từ Sơn trù dập 2 Đảng viên Ngô Thị Đức là vợ liệt sỹ 47 năm tuổi Đảng và Đặng Văn Nhu là thương binh 35 năm tuổi Đảng đang gây bức xúc trong nhân dân, làm nhân dân không còn tin tưởng vào đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.(Xem thêm bài tại đâytại đây).
.

VỤ TIÊN LÃNG: LUẬT SƯ KIẾN NGHỊ LÊN LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

Vụ Tiên Lãng: 

Luật sư kiến nghị lên lãnh đạo Đảng, Nhà nước


Luật sư Nguyễn Việt Hùng và Luật sư Phạm Xuân Nga kiến nghị: chỉ khi vụ án Tiên Lãng này được giải quyết đúng pháp luật thì quyền lợi hợp pháp của các bị can mới được bảo đảm; công bằng xã hội, công lý, pháp quyền và vai trò của luật sư mới được bảo đảm và thực thi hiệu quả trong thực tế hoạt động tố tụng ở nước ta.


Luật sư Nguyễn Việt Hùng và Luật sư Phạm Xuân Nga là 2 luật sư bào chữa cho bị can Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Đoàn Văn Vệ thuộc vụ án “Giết người - Chống người thi hành công vụ” xảy ra ngày 05/01/2012, tại thôn Chùa Trên, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng - TP. Hải Phòng vừa có văn bản kiến nghị gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban kiểm tra T.Ư, Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, Bí thư Thành ủy Hải Phòng về việc xem xét trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án ông Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI).

Văn bản của hai luật sư cũng kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Trưởng Ban Công tác đại biểu của Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng đề nghị giám sát, xem xét tránh nhiệm các cơ quan và người tiến hành tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án của ông Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng.

Theo văn bản kiến nghị của Luật sư Nguyễn Việt Hùng và Luật sư Phạm Xuân Nga: “Chúng tôi đã có 02 văn bản kiến nghị, 03 văn bản khiếu nại gửi tới các cơ quan và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền ở Trung ương và TP.Hải Phòng (xin gửi kèm văn bản). Tuy nhiên, cho đến nay đã nhiều tháng chờ đợi, nhưng chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ trả lời hay giải quyết nào từ phía các cơ quan, người tiến hành tố tụng nói trên về kiến nghị và khiếu nại của chúng tôi. Đồng thời, chúng tôi cũng không nhận được thông báo hay quyết định gì liên quan đến việc gia hạn tạm giam lần thứ nhất cách đây hơn 4 tháng và đến nay đã quá thời hạn để gia hạn tạm giam lần thứ 2 đến gần 1 tháng chúng tôi vẫn chưa nhận được thông tin gì về việc gia hạn.

Chúng tôi nhận thấy các cơ quan, người tiến hành tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án đã và đang vi phạm pháp luật, gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với quyền và lợi ích hợp pháp của các bị can, làm vô hiệu hóa tính nghiêm minh của pháp luật và kỷ cương trong hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, đồng thời làm sâu sắc thêm sự bức xúc của những người trong gia đình ông Đoàn Văn Vươn và dư luận xã hội đối với các cơ quan tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án …

Vì vậy, chúng tôi làm kiến nghị này kính đề nghị các cơ quan, các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và của TP.Hải Phòng xem xét, chỉ đạo các Đảng ủy, Đảng bộ, Ban cán sự Đảng, Chi bộ (các cấp ủy Đảng), Đảng viên trong các cơ quan tiến hành tố tụng cả địa phương và Trung ương có liên quan tiến hành kiểm điểm, phê và tự phê những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án theo đúng yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), đồng thời xử lý nghiêm cán bộ có sai phạm theo quy định của pháp luật và của Đảng;

Kính đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các đồng chí lãnh đạo các Uỷ ban/ban của Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội, các Đoàn Đại biểu Quốc hội, các Đại Biểu Quốc hội…. xem xét, chỉ đạo và thành lập đoàn/tổ giám sát trực tiếp hoặc có hoạt động giám sát theo thẩm quyền của Quốc hội để việc giải quyết các vụ án “Giết người - Chống người thi hành công vụ”, vụ “huỷ hoại tài sản” và những dấu hiệu của các vụ án liên quan khác có liên quan đến "vụ Liên Lãng" mà chúng tôi đã kiến nghị đến các cơ quan tiến hành tố tụng của TP.Hải Phòng, cũng như của Trung ương theo quy định của pháp luật và theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ, để các vụ án được giải quyết đúng pháp luật, đồng thời kiến nghị xử lý nghiêm những sai phạm của những cán bộ, cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan có sai phạm. Chúng tôi nhận thấy chỉ khi vụ án này được giải quyết đúng pháp luật thì quyền lợi hợp pháp của các bị can mới được bảo đảm; công bằng xã hội, công lý, pháp quyền và vai trò của luật sư mới được bảo đảm và thực thi hiệu quả trong thực tế hoạt động tố tụng của nước ta; góp phần thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Kiên Trung

Báo Người Lao động:

Luật sư kiến nghị giám sát vụ án “Đoàn Văn Vươn”

Thứ Hai, 08/10/2012 23:57 

Luật sư Nguyễn Việt Hùng chiều 8-10 cho biết ông cùng bà Phạm Xuân Nga (hai luật sư bào chữa cho bị can Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Đoàn Văn Vệ của vụ án “Giết người - Chống người thi hành công vụ” xảy ra ngày 5-1-2012 tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng - Hải Phòng) vừa có văn bản gửi đến các cấp để kiến nghị xem xét trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án ông Đoàn Văn Vươn.

Theo luật sư Nguyễn Việt Hùng, trước đó, ông và luật sư Nga đã có 2 văn bản kiến nghị, 3 văn bản khiếu nại gửi đến các cơ quan và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền ở Trung ương và TP Hải Phòng về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, đã qua nhiều tháng, 2 luật sư này vẫn chưa nhận được hồi đáp từ các cơ quan, người tiến hành tố tụng; cũng không nhận được thông báo hay quyết định nào liên quan đến việc gia hạn tạm giam những người có liên quan. 
.
Các luật sư cho rằng người tiến hành tố tụng của vụ án đã vi phạm pháp luật, gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với quyền và lợi ích hợp pháp của các bị can. Vì vậy, 2 luật sư cũng đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, chỉ đạo và thành lập đoàn/tổ giám sát trực tiếp hoặc có hoạt động giám sát theo thẩm quyền trong việc giải quyết vụ án này.
Tr.Đức