Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

TÔI NGHĨ ĐẢNG CSVN KHÔNG CHỦ TRƯƠNG TẨY CHAY XÃ HỘI DÂN SỰ


Posted by basamnews on 01/09/2012
“Quan niệm như ông Dương Văn Cừ mới chính là tiếp tay cho các thế lực thù địch (thù địch thực sự, ví dụ các thế lực hiếu chiến ở Trung Quốc đang âm mưu thôn tính Việt Nam). Vì ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Vì ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.”

Thư ngỏ gửi ông Tổng biên tập báo Nhân dân

TÔI NGHĨ ĐẢNG CSVN KHÔNG CHỦ TRƯƠNG TẨY CHAY XÃ HỘI DÂN SỰ

Đào Tiến Thi

Kính gửi ông Thuận Hữu, Tổng biên tập báo Nhân dân điện tử.

Tôi hết sức ngỡ ngàng khi đọc bài Xã hội dân sự – một thủ đoạn của diễn biến hòa bình * của tác giả Dương Văn Cừ (DVC) đăng trên báo Nhân dân điện tử do ông làm tổng biên tập.

Nhận thấy bài báo này có những sai trái trầm trọng, có hại cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là có hại cho sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay nên tôi viết cho ông bức thư này.

Tôi xin kể một vài quan niệm sai của tác giả DVC:

HOÀ THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU - NGƯỜI CHA ĐỠ ĐẦU CỦA TUỔI TRẺ DẤN THÂN

Hòa thượng Thích Minh Châu 
- Người cha đỡ đầu của tuổi trẻ dấn thân

Những năm làm Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, dù công việc nhiều nhưng hòa thượng vẫn luôn đi sát đời sống và sinh hoạt của sinh viên.
Chẳng hạn khi phong trào đấu tranh đòi hòa bình, tự do và dân chủ bùng nổ lớn tại các đô thị miền Nam vào cuối năm 1969-1970, sinh viên Đại học Vạn Hạnh trở thành một trong các mũi nhọn xung kích của phong trào. Vì vậy vào một buổi chiều đầu năm 1970, lúc các phân khoa vừa bước vào giờ học, một lực lượng cảnh sát đặc biệt với gần 100 tay súng do Đỗ Kiến Nâu chỉ huy đã theo lệnh của Tổng nha Cảnh sát đô thành bất thần kéo đến bao vây Đại học Vạn Hạnh ở số 222 Trương Minh Giảng, quận Nhì (nay là đường Lê Văn Sỹ, quận 3) để lùng bắt lực lượng đấu tranh, trong đó đứng đầu là sinh viên Võ Như Lanh, Chủ tịch Ủy ban đấu tranh của Viện Đại học Vạn Hạnh (sau này là Tổng biên tập Báo Tuổi Trẻ và Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn) và Đặng Thanh Tâm, người nòng cốt tổ chức thực hiện đặc san Hướng Đi chống chính quyền... Nghe tin, hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu đã rời ngay cuộc họp ở phòng giám thị, tiến ra cổng trường đứng trước mũi súng và lưỡi lê của đội ngũ cảnh sát và mật vụ đang dàn hàng ngang. Đi bên hòa thượng là đại đức Thích Nguyên Tánh, tức học giả Phạm Công Thiện, tác giả cuốn Ý thức mới trong văn nghệ và triết học. Hòa thượng đĩnh đạc nói lớn với Đỗ Kiến Nâu và cũng là để mọi người đang vây quanh nghe rõ:
- “Nam mô Bổn sư Thích - ca Mâu - ni Phật, thưa quý vị, quý vị không được dùng bạo lực bắt bớ sinh viên của chúng tôi trong khuôn viên nhà trường. Các vị phải tôn trọng quyền tự trị đại học đã được xác lập, tuyệt đối không được đem cảnh sát và vũ khí vào trường đại học. Yêu cầu quý vị rút lui. Nếu không chúng tôi sẽ công bố trước dư luận trong nước và thế giới...”.
Hòa thượng nói một cách ôn tồn, chậm rãi từng tiếng, nhưng hết sức kiên quyết. Bất ngờ trước hình ảnh của một viện trưởng đích thân đi bộ ra cổng trường đối thoại, Đỗ Kiến Nâu sau một lúc đắn đo, đã chắp hai tay lại, cúi đầu chào cung kính hòa thượng, rồi đưa chiếc ba-toong lên trời vẫy hai lần, làm hiệu lệnh cho đội cảnh sát đặc nhiệm rút lui. Hòa thượng mỉm cười, cùng học giả Phạm Công Thiện và sinh viên quay vào giảng đường 208 mà ở đó đang vang lên tiếng guitar thùng với câu hát cộng đồng giòn giã: “Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi”...
Đó là một trong những hình ảnh không thể quên được về một vị viện trưởng, một hòa thượng, một tấm lòng từ bi không rời khỏi những bước đường đấu tranh của tuổi trẻ hôm nào...

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

ĐẠI LÃO HOÀ THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU VIÊN TỊCH

Đại lão Hòa thượng Thích Minh Châu viên tịch


Đại lão Hòa thượng Thích Minh Châu, Phó Pháp chủ GHPGVN, nguyên đại biểu quốc hội nước CHXHCN VN trong 5 khóa liên tiếp (khóa VI, VII, VIII, IX, X) vừa thu thần thị tịch vào lúc 9h sáng ngày 16/7 Nhâm Thìn (nhằm ngày 01/09/2012) tại Thiền viện Vạn Hạnh, số 750, Nguyễn Kiệm, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, hưởng thượng thọ 93 tuổi.
- Lễ viếng bắt đầu vào lúc 09h00 ngày 02 tháng 9 năm 2012 đến hết ngày 08 tháng 9 năm 2012 (từ ngày 17 - 24/7 năm Nhâm Thìn).
- Lễ truy điệu được cử hành lúc 08h00 ngày 09 tháng 9 năm 2012 (ngày 24 tháng 9 năm Nhâm Thìn) và sau đó cung tiễn kim quan Trưởng lão Hòa thượng nhập Bảo tháp tại Thiền viện Vạn Hạnh.
Gia đình Phật tử chúng con xin dâng lời cầu nguyện Giác linh Đại lão Hoà thượng Thích Minh Châu cao đăng Phật Quốc. Xin thành kính khởi thân nghiêng mình chia sẻ niềm đau ly biệt với Gia tộc họ Đinh hậu duệ của Cụ Nghè Đinh Văn Chấp, tới các học giả Minh Chi và Đinh Linh, cùng chư vị môn đồ pháp quyến của Đại lão Hoà thượng Thích Minh Châu. 

TIỂU SỬ HOÀ THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU

Hòa thượng, thế danh Đinh Văn Nam sinh năm 1920 tại Quảng Nam, xuất gia năm 1946 với cố Hòa thượng Tăng thống GHPGVN Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân, Huế.
Từ năm 1952 đến 1963, hòa thượng xuất dương du học tại Sri Lanka, Ấn Độ và đỗ tiến sĩ Phật học với luận án bằng Anh ngữ: The Chinese Madhyma Agama and the Paly Majihima Nikaya.
Từ năm 1964 đến năm 1975, sau 14 năm du học ở nước ngoài, Hòa thượng trở lại quê nhà và giữ chức vụ Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa-Giáo dục GHPGVNTN, và Viện trưởng Viện đại học Vạn Hạnh, chuyên lo sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tăng tài cho PGVN cũng như dành thời gian nhất định để dịch thuật và biên soạn kinh sách để truyền bá lời Phật dạy. Đến nay có trên 30 tác phẩm do Hòa thượng dịch thuật, trước tác và biên soạn.
Năm 1979, Hòa thượng tham gia vận động thống nhất và thành lập GHPGVN.
Năm 1981, Hòa thượng làm hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học VN, cơ sở I tại Hà Nội và năm 1984, làm Hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học VN, cơ sở II tại TP.HCM.
Năm 1989, Hoà thượng thành lập và làm Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam và Hội đồng phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam.
Năm 1992, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc GHPGVN lần thứ 3, Hoà thượng được suy cử làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Đồng Trị Sự GHPGVN.
Năm 1996, Hòa thượng được Đại Học Mahachulalongkornrajvidyalaya (Thái Lan) tặng bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự.
Năm 1997, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc GHPGVN lần thứ 4, Hoà thượng được suy cử làm Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam.
Năm 2007, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc GHPGVN lần thứ 6, Hoà thượng được suy tôn làm Phó Pháp chủ Hội đồng chứng minh GHPGVN.
Đại lão Hoà thượng Thích Minh Châu, trụ trì Tổ đình Tường Vân -Thừa Thiên, Huế, và viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh - TP. Hồ Chí Minh, là vị cao tăng thạc đức có uy tín lớn của Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước, là một trong những người đặt nền tảng cho sự nghiệp giáo dục của GHPGVN.

Nguồn: ChuaPhucLam.com.

ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

“ĐỘC LẬP, TỰ DO, HẠNH PHÚC”
 Phạm Xuân Nguyên

Đó là dòng tiêu đề gồm ba từ sáu chữ luôn xuất hiện cùng quốc hiệu Việt Nam trong 67 bảy năm qua, từ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau ngày 2/9/1945 đến Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay. Sáu chữ đơn giản nhưng đó là “ham muốn tột bậc” của người khai sinh ra chính thể cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á, là cái đích Người đặt ra cho những người đồng chí hướng của mình phải phấn đấu hy sinh đưa lại cho dân tộc mình, cho quốc dân đồng bào mình. Ba từ bình dị mà thiêng liêng đã được Người nung nấu từ lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong lòng. Có lẽ Người đã nghiền ngẫm nhiều từ câu khẩu hiệu nổi tiếng của cuộc Đại cách mạng Pháp “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” (Liberté, Égalité, Fraternité). Trong hoàn cảnh Việt Nam “bình đẳng” trước hết phải là “độc lập”. Thực dân Pháp khi sang đô hộ nước ta đã dựa vào cái tư tưởng chủng tộc văn minh, tiến hóa, thể hiện trong câu nói “Có đồng đẳng mới bình đẳng”. Dưới  mắt chúng, giống dân da vàng là thấp kém về chủng tộc, về văn hóa, không thể nào sánh vai ngang hàng được với giống dân da trắng văn minh, tiến bộ. Người thanh niên Nguyễn Ái Quốc cũng như bao người Việt Nam yêu nước khác không bao giờ chấp nhận sự áp đặt lịch sử phi tự nhiên đó. Độc lập dân tộc sẽ đưa lại bình đẳng cho quốc gia và con người. Cuộc cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chứng minh cho mục đích đó. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp tháng 6/1946 Người đã ở vị thế chủ tịch của một nước Việt Nam mới độc lập, thoát khỏi ách thống trị của nước Pháp và buộc nước Pháp phải đón tiếp ở tư thế thượng khách. Bình đẳng luôn phải trong tư cách độc lập, càng ở tầm vóc quốc gia càng phải vậy.

Độc lập đi liền với tự do. Độc lập dân tộc đi liền với tự do của người dân. Chính Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh tư tưởng nếu nước độc lập mà người dân không được tự do thì cái độc lập đó cũng không để làm gì. Tự do là một tài sản quý giá và vĩnh hằng của con người, có thể coi đó cũng là một quyền tự nhiên của con người. Chính trong Tuyên ngôn độc lập của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng của các nhà lập quốc Hoa Kỳ để từ những quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do, suy rộng ra quyền của một dân tộc. Cũng trên tinh thần đó, tôi nghĩ, vị chủ tịch của nước Việt Nam mới đã mở rộng tư tưởng “bác ái” thành “hạnh phúc”. Bác ái là tình thương, lòng yêu mến con người rộng khắp, bao trùm. Hạnh phúc là tình thương được cụ thể hóa thành “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Hạnh phúc là tình thương cho mọi con người được chan hòa bình đẳng trong một cộng đồng ấm no, hòa bình. Hạnh phúc là khi con người được thỏa mãn những nhu cầu và yêu cầu chính đáng của mình. Hạnh phúc là khi người dân được sống đầy đủ các quyền công dân của mình trong một đất nước độc lập, dưới một nhà nước bảo đảm cho họ quyền tự do dân chủ, nhất là tự do tư tưởng. Năm 1956 đến nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, trường Đại học Nhân Dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ ràng điều này: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.”

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Mỗi năm đến ngày cách mạng tháng Tám và ngày Quốc khánh, tôi thường ngẫm về ba từ sáu chữ này. Gắn với tên nước và tên gọi chế độ từ thuở ra đời, ba từ đó theo tôi là toàn bộ di sản chính trị và toàn bộ lòng yêu nước của một con người mang tên Hồ Chí Minh để lại cho đất nước và nhân dân ta. Trong những ngày này năm nay, độc lập càng đòi hỏi được bảo vệ và củng cố, tự do càng được yêu cầu bảo đảm, hạnh phúc càng được khát khao đạt tới.  Ba từ nói thì dễ, đọc thì nhanh, nhưng làm thì khó khăn, lâu dài, đó là một chuyện đơn giản khó làm.
        Hà Nội 31.8.2012
(Bài đăng báo Tuổi Trẻ, 1/9/2012, đây là bản chính của tác giả)

Nguồn: Quê Choa.

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012

Thư giãn cuối tuần: ÔNG HUYỆN XỬ TỘI MỘT CON RUỒI

Lời dẫn của bác Ha Le: Lại cuối tuần rồi. Xin đóng góp với mục Thư giãn của hiên trà bác Tễu bằng cách tình nguyện gõ lại nguyên văn một vài chuyện trong tập Chuyện Đời Xưa, bản Quốc ngữ của Petrus Ký. Đây cũng là cách tỏ lòng biết ơn bác Nguyễn Văn đã chia sẻ văn bản quí giá này. 

Tễu Blog xin cám ơn các bác và hoan hỷ giới thiệu với bạn đọc.

ÔNG HUYỆN XỬ TỘI CON RUỒI
.
Một người kia ở xứ rẫy bái quê mùa. Đến bữa nó đơm quải, dọn ra một mâm cúng; thì con ruồi lên đậu ăn. Thì người chủ giận sao nó có xấc; mới đi thưa với ông huyện rằng: "Lạy ông, tôi cúng cho cha mẹ tôi, mà con chi không biết nó bay lên, nó ăn trước đi, hỗn hào quá lắm." Ông huyện mới biểu nó: "Hễ nó hỗn hào vô phép, thì gặp nó đâu đánh nó đó!" Nói vừa buông miệng, con ruồi ở đâu bay lại, đậu trên má ông huyện ấy. Thì thằng ấy nói: "Bẩm ông, ông mới xử nó làm vậy, mà nó còn dể ngươi, nó tới đậu rên mặt ông." Và nói và giơ tay ra, giăng cánh, đánh một vả lên mặt ông huyện xửng vửng.

CON THỎ CỨU CON VOI MÀ NHÁT CỌP

Lần khác, con thỏ đi chơi, gặp con voi đang rầu rị quá; mới hỏi vì làm sao mà làm bộ buồn bực làm vậy. Thì con voi nói: "Bữa hổm con cọp gặp, biểu tôi thì ngày kia tháng nọ tới chỗ nọ, nộp mình cho nó tới nó ăn  thịt, mà nay đã gần tới kỳ; không biết liệu làm sao." Thỏ thấy tội nghiệp thì nói: "Thôi để tôi tính giùm mà cứu cho cho khỏi nó ăn thịt! Hễ tới ngày thì lại rước tôi; tôi đi với, tôi làm phước, tôi cứu cho." 

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

BÁT NƯỚC ĐÃ HẮT ĐI RỒI, KHÔNG VỜI LẠI ĐƯỢC!

Phục dựng chùa Trăm Gian: 

Bát nước đã đổ xuống đất…  

Chùa Trăm Gian 'chui lọt lỗ kim' của sự vô trách nhiệm? 

Bộ Văn hóa yêu cầu xử lý vụ 'tàn sát' chùa Trăm Gian

    Trong không gian “nóng bỏng” của dư luận về việc phá hoại di tích chùa Trăm Gian, chiều 30/8 Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch Hà Nội đã tổ chức cuộc họp báo chính thức do Giám đốc Sở- ông Phạm Quang Long chủ trì. Rất nhiều vấn đề đã được các cơ quan thông tấn, báo chí đề cập tới, tựu trung là: Chùa Trăm Gian đã bị phá hủy đến mức độ nào? Ai, đơn vị nào sẽ phải chịu trách nhiệm về sai phạm này? Việc phục dựng lại những công trình đã bị phá hủy ở chùa Trăm Gian sẽ được tiến hành ra sao, liệu có thể phục dựng lại nguyên trạng?

    Cuộc họp có sự góp mặt của TS Lê Thành Vinh, Viện trưởng Viện bảo tồn di tích, ông Vũ Văn Đông- Phó chủ tịch huyện Chương Mỹ (Hà Nội), ông Vũ Văn Doãn - Chủ tịch xã Tiên Phương (huyện Chương Mỹ).

    Đúng như cam kết ban đầu của Giám đốc Sở Phạm Quang Long, mọi câu hỏi đều được trả lời. Tuy nhiên, những vấn đề cốt yếu mà báo chí và dư luận quan tâm thì vẫn chưa có câu trả lời chính xác; và xem ra, trách nhiệm thuộc về ai, đơn vị nào… thì cũng vẫn còn phải… chờ!

    Dân có cần, nhưng quan chưa vội?

    Theo thông tin từ Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch Hà Nội, cũng là điều được các cơ quan báo chí đề cập tới nhiều trong những ngày qua, ngày 13/4/2010, Sở Kế hoạch & Đầu tư Hà Nội đã có quyết định số 162/ QĐ- KHĐT về việc phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử chùa Trăm Gian, huyện Chương Mỹ và giao cho Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch làm chủ đầu tư dự án. Các thủ tục chuẩn bị cho đầu tư đã được Sở hoàn thành, gồm cả hồ sơ thiết kế thi công, tổng dự toán đã được Cục Di sản văn hoá thoả thuận tại văn bản số 425/DSVH-DT ngày 12/7/2010 và được Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch phê duyệt tại quyết định số 1190/QĐ- VHTTDL ngày 27/10/2010.

    Gần 1 năm sau đó, ngày 25/9/2011, Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính Hà Nội, UBND huyện Chương Mỹ đã kiểm tra hiện trạng di tích và thống nhất đánh giá thực trạng nhiều hạng mục kiến trúc như ống Muống, Thượng điện, nhà Tổ, gác Khánh… và cho rằng các hạng mục này đang bị “xuống cấp nghiêm trọng có nguy cơ sập đổ, dù đã được nhà chùa và địa phương thực hiện việc chống đỡ tạm thời trong mùa mưa bão năm 2011 vẫn không đảm bảo an toàn cho hệ thống di vật và khách thập phương vào lễ Phật” (nguyên văn trong Thông cáo báo chí của Sở VHTTDL gửi phóng viên chiều qua, 30/8).

    Trước thực trạng này, Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, UBND huyện Chương Mỹ đã có văn bản liên sở số 1961 ngày 10/10/2011, đề xuất với UBND thành phố Hà Nội cho phép chủ đầu tư hạ giải ngay các hạng mục xuống cấp trong tình trạng nguy hiểm và triển khai thi công; đồng thời Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính cân đối, bố trí kinh phí để thực hiện dự án ngay trong năm 2011.
    Quang cảnh cuộc họp ngày 30/8. Ảnh: Lộc Lan.
    Thế nhưng, do “tình hình kinh tế khó khăn, thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ “Về những giải pháp tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội”, nên UBND thành phố Hà Nội chưa bố trí được nguồn kinh phí đầu tư cho dự án tu bổ, tôn tạo di tích chùa Trăm Gian vào năm 2011”.

    Và tới tận ngày 29/6/2012, UBND thành phố Hà Nội mới ban hành quyết định số 2960/QĐ- UBND về việc giao mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch vốn thực hiện các chương trình Mục tiêu Quốc gia và một số mục tiêu thành phố Hà Nội năm 2012, nhưng chưa giao vốn để thực hiện dự án. Khi đó, số phận của chùa Trăm Gian tất nhiên vẫn chưa được tính đến!

    CHẬP CHOẠNG CHIỀU VU LAN

    Cảnh mẹ liệt sĩ sống ở túp lều tranh

    29/08/2012 05:00:00 PM (GMT+7)
    VNN - Gần 90 tuổi, tóc đã bạc trắng, mắt mờ, da nhăn nheo, tay chân run rẩy nhưng người mẹ liệt sĩ ở huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) vẫn phải sống một mình trong túp lều tranh, vách đất xiêu vẹo.
    Ước nguyện có gian nhà ngói để thờ tự đứa con đã hi sinh xương máu cho Tổ quốc bấy lâu nay vẫn chưa thực hiện được khiến cụ trăn trở, đau đáu khi ngày "về với đất" đang đến gần.

    Mơ ước nhỏ nhoi tháng ngày cuối đời
    Ước nguyện có gian nhà ngói thờ con trai của mẹ liệt sĩ Phạm Thị Vượng vẫn chưa thực hiện được, bao năm nay, cụ vẫn phải sống trong túp lều tranh, vách đất này.

    Khi người dẫn đường đưa chúng tôi đến trước túp lều tranh, vách đất rách nát, xiêu vẹo, nằm ẩn khuất dưới khóm tre và bảo "nhà cụ Vượng mẹ liệt sĩ là ở đây".

    Nghe có tiếng khách lạ, cụ bà tóc bạc trắng, da nhăn nheo, đang nằm cố gượng dậy. Tên mẹ là Phạm Thị Vượng (SN 1925) lấy chồng là ông Nguyễn Hữu Côn (SN 1915), có được 5 người con. Năm 1968 khi đứa con út mới được 2 tuổi thì chồng mất vì bạo bệnh. Một mình bà bươn chải nuôi con.


    Năm 1974, anh Nguyễn Xuân Hồng (SN 1956, là người con thứ 3 trong gia đình) nhập ngũ tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, một năm sau, người mẹ như chết lặng khi nhận được giấy báo tử liệt sĩ Hồng đã hi sinh ngày 09/4/1975 tại chiến trường miền Nam trong cuộc tấn công vào Xuân Lộc.

    "Trong mấy đứa con, mẹ thương thằng Hồng nhiều nhất, nó hiền lành, ít nói, ngày nhập ngũ nó còn nói vào giải phóng miền Nam xong sẽ về cưới vợ để mẹ bồng cháu. Vậy mà, sau lần đó, nó không bao giờ về được nữa. Nó hi sinh khi chưa đầy 19 tuổi..." - cụ Vượng rưng rưng trong đôi mắt sâu thẳm.

    Xót xa khi mất đi người con trai yêu quý cống hiến xương máu cho Tổ quốc trong chiến tranh rồi lại đến lượt những đứa con thời bình, đau ốm, bệnh tật "ra đi" trước mẹ.

    Trong túp lều tranh, vách đất xiêu vẹo, chật chội khiến mẹ liệt sĩ cảm thấy buồn tủi, ứa nước mắt khi không có được một góc sạch sẽ để đặt bàn thờ, lo hương khói cho con.

    Nguyễn Huệ Chi: NHỮNG VẤN NẠN CỦA MỘT THỦ ĐÔ XANH, SẠCH, ĐẸP

    Những vấn nạn của một Thủ đô xanh, sạch, đẹp

    Nguyễn Huệ Chi

    Chưa có một thời nào mà những chuyện nhố nhăng kệch cỡm lại diễn ra trâng tráo như thời buổi hôm nay. Cả một Chùa Trăm Gian nổi tiếng hàng mấy trăm năm bỗng dưng bị quan chức ngành văn hóa đè ra đập phá vô tội vạ nhân danh “tôn tạo”, kỳ thực chỉ là vì khoản tiền hàng mấy chục đến cả trăm tỷ đồng béo bở gói trong cái dự án tôn tạo quái dị này. Những lăng mộ các vua Trần ở Yên Sinh – một thời đại rạng rỡ những chiến công đánh giặc giữ nước, ngay dưới thời Nguyễn còn được các vua Nguyễn cho trùng tu cẩn thận, năm 1971 chúng tôi đi khảo sát còn chụp ảnh lưu niệm, thế mà cả một Nhà nước mải lo “4 tốt 16 chữ vàng” nên quên bẵng, để dân thi nhau sấn vào cướp phá đào xới tanh bành cho đến viên gạch cuối cùng, và chen lấn làm nhà lên đấy, rồi đến nay lại bảo nhau “lập dự án trùng tu”, hỏi có vạn lần vô phúc hay không? 

    Mà trùng tu như thế nào? Có ai đi trên con đường thiên lý ghé thăm đền thờ An Dương Vương (đền Cuông) ở Diễn Châu thì khắc thấy tất cả những tô đắp thô kệch rẻ tiền của xi măng thay cho các cột kèo điêu khắc tinh xảo bằng gỗ lim xưa kia (dù không phải thật cổ nhưng cũng đã bám đầy lớp patin của nhiều thế kỷ mà người viết bài này còn được thấy năm 1948 khi cùng gia đình đi tản cư ghé thăm nơi đó), cùng với những đôi câu đối xấu xí (cũng trên xi măng) làm cộm con mắt bất kỳ ai có chút kiến văn giờ đây đến thăm lại ngôi đền.

    Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

    HÀNG VẠN NGƯỜI TỤ TẬP TẠI CHÂN CẦU VƯỢT NGÃ TƯ SỞ DỰ LỄ VU LAN






    Tối thứ Năm, ngày Mười Bốn tháng Bảy năm Nhâm Thìn (30.8.2012).

    Ảnh: N.V.A

    MÙA VU LAN, TIẾNG KÊU TỪ CHÙA TRĂM GIAN VỌNG KHẮP TRẦN GIAN

    Vu Lan đập tan chùa cổ, thằng trộm cứu được Diêm Vương


    (Trái hay phải) – Trong khi dân tình hồ hởi đập tan chùa cổ trăm gian nghìn năm tuổi giữa tháng Vu Lan của nhà Phật, thì mấy ông Thập điện Diêm Vương lại thoát nạn xếp ngang với mông trẻ con nhờ mấy thằng trộm cướp…

    Đợi 1.000 năm nữa nhé để phục hồi nguyên trạng theo yêu cầu rất kịp thời của Bộ.
    Đợi 1.000 năm nữa nhé để phục hồi nguyên trạng theo yêu cầu rất kịp thời của Bộ
    Được tờ Tuổi Trẻ khơi ra đầu tiên, cho đến nay, câu chuyện chùa Trăm Gian được đám hậu sinh hô biến từ ngàn tuổi thành một ngày tuổi đã trở thành sự kiện thuộc hàng nóng bỏng nhất trên mặt báo.

    Thế nên, chẳng cần phải phân tích thêm về tính chất tày trời của vụ việc nữa - vốn được các nhà báo đua nhau mổ xẻ ở đủ các chiều cạnh.

    Như thường lệ, giả thiết đầu tiên mà dân tình nghĩ đến là các quan chức địa phương hoặc của ngành lại rỗi việc, cho nên vẽ ra dự án này để tiêu tiền ngân sách rồi qua đó, nếu có thể thì chấm mút tí ti, cải thiện đời sống giữa thời buổi thóc cao gạo kém. Nhưng đọc kỹ, thì thấy không phải như vậy.

    Lịch sử trùng tu di tích ở xứ ta chỉ mấy năm qua, nào chùa Trấn Quốc, nào Thành cổ Tây Sơn, thậm chí cả sự tích biến Thành cổ Nhà Mạc Tuyên Quang thành… cái lò gạch cũng đều có dấu ấn của các cơ quan chức năng trùng tu.

    Một trong những lý do được đưa ra là tiền trùng tu di tích… nhiều quá, như năm 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đề xuất một con số khổng lồ cho việc tu bổ, tôn tạo di tích: 11.000 tỉ đồng. Quý vị thử nghĩ xem, với số tiền khổng lồ ấy mà không đập đi xây mới thì tiêu sao cho hết?

    Các nhà báo của chúng ta khi tường thuật về các vụ việc trên đây cũng đã ngậm ngùi trích rất nhiều ý kiến của các bậc phó thường dân, nhất là những cụ cao niên đức cao vọng trọng trong làng, thở than cho cái gọi là trùng tu theo kiểu phá hoại bất chấp góp ý của các cụ.

    Đây đó cũng có nhiều ý kiến tâm huyết cho rằng, việc quản lý và trùng tu di tích phải được trả lại cho người dân, như quan điểm của UNESCO rằng di sản phải sống thực sự giữa cộng đồng như nó vốn thế.

    Nay thì có thể thấy, hình như ước mong hết sức chính đáng ấy không phải lúc nào cũng đúng, cũng phù hợp.

    Hãy thử quay trở lại trường hợp mà ta đang xét, tờ Lao Động tường thuật như sau: Cụ Nguyễn Đức Tuệ - 82 tuổi, người xã Tiên Phương - vừa tự hào khoe năm nay mình “được tuổi”, được tín nhiệm mời leo lên thượng lương, cất nóc cho chính tòa gác khánh này, rồi trầm trồ: “Người ta xẻ một cây gỗ lim ra, vót nó thành 4 cái cột chùa khổng lồ y như chúng ta chẻ tre vót đũa ấy. To tiền lắm, riêng khu này chắc khoảng 3 tỉ đồng rồi nhé”.