Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012

VĂN HÓA - THAY ĐỔI BẮT ĐẦU TỪ NHỮNG CÁ NHÂN

Văn hóa - thay đổi bắt đầu từ những cá nhân

TTCT - Văn hóa bị bỏ quên, bị xuống cấp nghiêm trọng trong thời buổi kim tiền? Vì sao sự dửng dưng, vô cảm nhiều thế trong đời sống thường nhật và cái ác hiện diện ở ngay những nơi ít ngờ nhất? 

TTCT gặp nhà văn Nguyên Ngọc, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu (Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM) và PGS.TS Trần Hữu Quang (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) để ghi lại góc nhìn của họ về câu chuyện văn hóa của năm qua.

Mỗi cá nhân có ý thức văn hóa và hành xử có văn hóa sẽ tự ngăn chặn sự tha hóa và góp phần cải biến xã hội - Ảnh: Thuận Thắng

Cần xây dựng lại một nền đạo đức tự trị

* Khi nhìn vào câu chuyện văn hóa hiện nay, ông/bà thấy điều gì đáng lo, điều gì cần được ghi nhận? 

- PGS.TS Trần Hữu Quang: Trong năm qua, báo chí trong nước đã đăng tải khá nhiều sự kiện bất bình thường như: vợ tẩm xăng đốt chồng, con nhốt cha trong cũi, đánh chết người trộm chó, bắt cóc và tra tấn để đòi nợ, giảng viên luật bị truy tố vì chạy án... Có thể nói, đấy là những dấu hiệu tuy ít về số lượng nhưng đã bộc lộ một tình trạng rạn nứt đáng báo động trong sự vận hành của những tế bào cơ bản của xã hội. 

Người ta không thể không tự hỏi rằng tại sao những mối quan hệ giữa vợ với chồng, mẹ với con... lại có thể đi đến chỗ quái lạ và kỳ dị như vậy, tại sao người ta không giải quyết xung đột bằng cách viện nhờ đến những định chế chính thức như công an hay tòa án, tại sao nhiều ứng xử của người dân lại bất chấp cả chuẩn mực đạo lý lẫn chuẩn mực pháp lý đến thế... Đấy hẳn nhiên không phải chỉ là câu chuyện của một năm qua, mà là hệ quả sự vận hành của xã hội suốt vài thập niên qua. 

- TS Nguyễn Thị Hậu: Tôi thấy một đời sống văn hóa không thiếu các hoạt động, sôi nổi như thể không có (và chẳng phản ánh) tình trạng lạm phát cao và đời sống ngày càng khó khăn. Tiếc là ngay trong quản lý hoạt động văn hóa lại để xảy ra nhiều sự cố “kém văn hóa”, từ vụ mất vài chục tỉ đồng của Cục Điện ảnh, kiện cáo trong việc xét chọn giải thưởng cao, tai tiếng trong các cuộc thi người đẹp, cử đại sứ du lịch..., báo chí - nhất là báo mạng - tràn ngập “thảm họa” trong sinh hoạt nghệ thuật... 

Tất cả sự việc ấy đều cho thấy cách thức quản lý chưa thay đổi đủ để phù hợp với thực trạng mới của đời sống văn hóa trong một môi trường xã hội phức tạp mà chủ thể của những hoạt động văn hóa cũng ngày càng đa dạng. Và như nhiều năm trước, sự trông đợi một thành tựu “văn hóa đỉnh cao” trong các lĩnh vực trên vẫn còn xa vời... 

Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng - Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

- Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng: Bất cứ ai sống ở Việt Nam đều có chút lo ngại về một đời sống văn hóa đang có chiều hướng đi xuống. Hệ quả của nó là ứng xử nhân luân trong xã hội có nhiều vấn đề như tai nạn giao thông, nạn tắc đường, nạn tham nhũng và những tệ nạn dã man chưa từng có trong đời sống của người Việt. Dường như tất cả cái đó có quan hệ lẫn nhau trong sự thiếu hiểu biết về mặt trái của nền kinh tế thị trường, của đời sống dân chủ chưa được nâng cao.

Xét riêng trong văn nghệ, có thể nói các ngành nghệ thuật đều tích cực tìm đường đi để vừa có sáng tạo vừa có thị trường, dù hai mặt đó không phải lúc nào cũng trùng hợp. Chúng ta vẫn thừa các tượng đài tốn kém, các bộ phim bạc tỉ, sau đó lại “đắp chiếu”. Điện ảnh Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc vẫn chiếm thời lượng lớn với một thứ văn hóa xa lạ và những chuyện tình vớ vẩn nhằm quảng cáo hàng hóa. Giữa những nghệ sĩ trẻ và già có những khoảng cách khó thông cảm. Bảo tàng nghệ thuật hiện đại vẫn chưa có và nghệ thuật vẫn luôn phân rẽ bởi các hoạt động bao cấp kém chất lượng, những hoạt động ngoài luồng lôi kéo rất nhiều nghệ sĩ trẻ. 

Về cái ác và một cuộc nhìn lại bản thể

“Cần thẳng thắn nhìn lại coi có phải nền đạo đức xã hội ở Việt Nam đang có nguy cơ (hay đã) băng hoại, vì đã quá chú trọng những mục tiêu ngoại trị mà bỏ quên yêu cầu xây dựng một nền đạo đức tự trị hay không. Và để có thể làm điều này thì không phải chỉ cần xem xét lại triết lý giáo dục trong nhà trường và gia đình, mà còn phải cải tổ cả ở quy mô rộng lớn hơn đối với triết lý xã hội, hay nói chính xác hơn là triết lý quản lý xã hội. Theo thiển ý của tôi, có làm như vậy may ra mới có thể kiến tạo được nội lực thật sự của quốc gia. “Nội lực” hiểu theo nghĩa nguyên thủy và sâu xa của từ này là một cộng đồng những chủ thể luân lý trưởng thành và tự giác”.
PGS.TS TRẦN HỮU QUANG
* Nếu chỉ nhìn vào tin tức đăng tải trên truyền thông thì dễ thấy cái ác và sự đổ lỗi cho những cá nhân ác. Nhưng sự tha hóa của con người liệu có thể bắt đầu từ việc vượt đèn đỏ, ngồi vào chỗ của người khuyết tật trên xe buýt hay bạt tai một đứa trẻ? 

- PGS.TS Trần Hữu Quang: Khi người ta không còn dám trung thực thì theo tôi, đó chính là dấu hiệu ban đầu của sự tha hóa hay sự vong thân - một thuật ngữ được dùng để diễn đạt khái niệm alienation trong triết học. Một cách đơn giản, có thể hiểu sự tha hóa hay vong thân là tình trạng đánh mất mình, biến thành cái gì khác, không còn là mình nữa. Ở đây, chữ “mình” không được hiểu theo nghĩa là tư cách cá nhân, mà là tư cách của một con người với đầy đủ tự do và ý chí.

Tôi nghĩ sự tha hóa không bắt đầu từ việc vượt đèn đỏ hay ngồi vào chỗ của người khuyết tật trên xe buýt, nhưng sự rạn nứt của luật pháp và sự suy thoái đạo đức đúng là có thể khởi sự từ những chuyện tưởng chừng nhỏ nhặt như vậy. Lâu nay, một số người hay lên tiếng cổ xúy cho những mục tiêu lớn lao của thời đại, những câu chuyện đại sự của quốc gia và dân tộc. Đấy quả là những điều cần kíp và thích đáng. Nhưng tôi nghĩ rằng điều cấp thiết không kém là cần bắt đầu thúc đẩy sự thay đổi từ những chuyện nhỏ, từ cá nhân và nhất là bắt đầu từ nội tâm mỗi con người. 

Từ những chuyện như không đi ngược chiều hay vượt đèn đỏ (như các cháu mẫu giáo vẫn đang phải học!), lượm một mẩu rác dưới chân, khóa một vòi nước đang chảy phí phạm, biết chào hỏi, cảm ơn và xin lỗi vào những lúc cần thiết... Tuy ai cũng biết nhưng dường như người ta dễ quên rằng hễ không làm được chuyện nhỏ thì khó lòng làm nên chuyện lớn. Coi chừng có khi chính những khẩu hiệu đại ngôn dễ khiến người ta xem thường và bỏ qua những phẩm chất đạo lý nền tảng của bất cứ cuộc sống xã hội nào. Do vậy có khi đấy cũng là một trong những căn nguyên của tình trạng tha hóa hay vong thân.

TS Nguyễn Thị Hậu - Ảnh: Gia Tiến
Mỗi cá nhân có “ý thức văn hóa” và thể hiện ý thức thành hành xử (có) văn hóa là tự ngăn chặn sự tha hóa và “cải biến” chính mình

- TS Nguyễn Thị Hậu: Cái ác bắt đầu rất đơn giản, có khi chỉ từ một lời nói nhục mạ, từ sự dửng dưng trước tai nạn của người khác, trước bất công... chứ không đợi đến một hành vi phạm pháp hay vô đạo đức. 

Mỗi ngày chỉ cần lướt qua vài trang báo là có thể thấy vô số tin “tức” về bạo lực mà nguyên nhân nào có gì to tát. Không thể không tự hỏi: vì sao trong xã hội bây giờ người ta nhục mạ nhau, đánh nhau, giết nhau... dễ dàng đến thế? Vì hầu như ai cũng ngại, không muốn can thiệp vào những việc trái tai gai mắt, “chủ nghĩa mackeno” làm mọi giá trị đảo lộn, tốt xấu không còn phân biệt, con người trở nên dửng dưng với cái xấu, dửng dưng cả với lẽ phải, với sự thật! Ý thức cộng đồng đang băng hoại từ sự dửng dưng như thế! 

Trong đời sống xã hội hiện nay, tình trạng khủng hoảng niềm tin vào điều thiện như những con sóng ngầm mà những hành xử vô văn hóa chỉ là bề nổi. Mất lòng tin vì một đời sống mà những ứng xử lệch chuẩn dần trở thành bình thường. Không phải vì giá trị của những hành vi này thay đổi, mà vì chúng không được xã hội điều chỉnh đúng theo giá trị văn hóa chuẩn mực.

Nhận thức được cái xấu, cái ác như thế thì việc bắt đầu là không làm điều xấu, điều ác dù là nhỏ nhất. Mỗi hành xử tốt là loại bỏ được một nguy cơ cái ác xuất hiện. Đồng thời đứng trước cái ác, cái xấu chỉ có một chọn lựa là đoàn kết chống lại nó. Một người chống lại cái xấu cần nhiều người ủng hộ và làm theo. 

Mặt khác, xã hội phải tạo điều kiện (như luật pháp, các quy định chế tài...) để ngăn chặn cái xấu, lên án những hành vi vô văn hóa, để ý thức văn hóa phát triển và hành xử (có) văn hóa trở nên phổ biến trong xã hội. 

- Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng: Trong chiến tranh, người chết, máu chảy đầu rơi hằng ngày, nhưng có thể nói con người Việt Nam luôn hướng thiện, luôn mong bình yên và hòa hợp. Sau hòa bình, một cuộc chiến khác nảy sinh và lần này hình như sự khoan nhượng biến mất. Đó là cuộc chiến việc làm, đất đai, nguồn vốn, lợi nhuận..., sự tranh giành thấy hằng ngày, cụ thể là chiếm đường đi bằng được trong giao thông bất kể đèn tín hiệu. 

Cuộc chiến vì lợi nhuận này chính là biểu hiện sâu sắc của cái ác đang bị đơn giản hóa, đang được coi là bình thường. Ví dụ như nông dân phun thuốc trừ sâu đậm đặc vào rau, hằng ngày cho gia súc ăn thức ăn tăng trọng, dùng chất bảo quản độc hại đưa vào thực phẩm... là những việc nhỏ, hằng ngày và thật sự giết dần giết mòn sức sống của dân tộc. Lớn hơn là người ta biến hàng ngàn thước đất bờ xôi ruộng mật thành nhà máy, sân golf mà thật sự chẳng vì phát triển kinh tế. Từ đứa trẻ đi mẫu giáo đến người lớn đi làm, ai nấy cũng phải tham gia ít nhiều vào cơ chế phong bì... 

Tất cả cái đó nếu gọi là cái ác thì hơi quá nhưng làm bất ổn xã hội lâu dài, làm rối loạn nền kinh tế và đạo đức không biết bao giờ mới chữa lại được. Chúng ta phải suy nghĩ điều này: tệ nạn, thiện ác thì bất cứ xã hội nào cũng có, nhưng những xã hội lành mạnh, phát triển thì cái ác và tệ nạn được kiểm soát. 

Nếu tệ nạn là hậu quả mặt trái của nền kinh tế thị trường thì không thể chỉ khuyến thiện bằng giáo dục hay tôn giáo mà được. Cái đó chỉ có thể giải quyết bằng sự điều chỉnh vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế, sao cho nó đi trong sự cạnh tranh lành mạnh, theo luật pháp. Nếu những chủ thể kinh tế và địa phương cứ hành động tự do theo quyền lợi cục bộ của mình, sự tha hóa có khả năng kiếm lời không ai từ bỏ. Đương nhiên, chẳng hạn như Phật giáo với sự giáo hóa về nhân quả có thể hạn chế những hành vi quá khích. 

Nụ cười của anh thợ hồ Nguyễn Vũ Trường Giang, người đã lao ra dòng sông Sài Gòn cứu sống cô gái nhảy cầu Thủ Thiêm tự tử. Một cộng đồng lành mạnh và khỏe khoắn bắt đầu từ những cá nhân tử tế và nhân bản - Ảnh: Minh Đức

* Nhiều người cho rằng điều quan trọng trong giáo dục hiện nay là trang bị cho mỗi người bản lĩnh, nhận thức về cái ác, cách đối phó đúng với cái ác, để gặp ác mà không thành ác. Để có được bản lĩnh này, chúng ta phải bắt đầu từ đâu? Chúng ta có cần một cuộc nghiêm khắc và trung thực xét lại văn hóa dân tộc để bảo tồn và xây dựng lại những giá trị phù hợp, thải loại những thứ đã hỏng hóc để có một nền văn hóa Việt Nam thực thụ và độc đáo - nền tảng để nước Việt mạnh hơn, người Việt được nể trọng hơn? Và nếu cần thì chúng ta phải bắt đầu từ đâu?

- PGS.TS Trần Hữu Quang: Nhà triết học Đức Immanuel Kant (1724-1804) từng cho rằng cần thiết lập một nền đạo đức thực thụ trên nền tảng của nguyên tắc tự trị (Autonomie), chứ không thể dựa trên sự ngoại trị (Heteronomie) (1). Kant phê phán lý thuyết đạo đức học công lợi (utilitarianism) và nhiều lý thuyết đạo đức học khác, vì ông cho rằng chúng đã ngoại tại hóa nền tảng của đạo đức bằng cách quan niệm rằng đạo đức phải nhắm tới lợi ích hay hạnh phúc của cộng đồng và xã hội. 

Theo Kant, “luân lý là tổng thể những quy luật ra mệnh lệnh vô điều kiện để ta phải hành động theo chúng”. Đạo đức học tự trị là “một đạo đức học của lý tính”, nghĩa là các mệnh lệnh đạo đức phải bắt nguồn từ lý tính (tự mỗi chủ thể phải “ban bố” quy luật đạo đức cho chính mình), chứ không phải là những quy luật bắt nguồn từ kinh nghiệm, vì kinh nghiệm thì không thể mang tính phổ quát và tất yếu, do đó không thể lấy kết quả hay sự thành công làm tiêu chuẩn hay thước đo của đạo đức. 

Mệnh lệnh nhất quyết (kategorischer Imperativ), theo Kant, là cái mà ta phải làm do lý tính buộc chúng ta phải làm (vì thấy điều phải làm là đúng, là thiện), chứ không phải vì bất cứ lý do hay động cơ, hoặc mục tiêu lợi ích nào đó nằm ở bên ngoài lý tính. Cần lưu ý thêm rằng Kant không phủ nhận yếu tố kết quả của hành động, nhưng ông không coi đấy là nền tảng của hành vi đạo đức.

Tôi nghĩ rằng tư tưởng của Kant về nền tảng của một nền đạo đức thực thụ, đặc biệt sự phân biệt giữa nguyên tắc ngoại trị và nguyên tắc tự trị, là hết sức quan trọng và cần được chúng ta đọc lại như một cái khung lý thuyết để phân tích những vấn nạn nóng bỏng của xã hội bây giờ như bệnh thành tích, thói chuộng hư danh, tệ giả dối, óc thực dụng, tệ cẩu thả (thiếu lương tâm chức nghiệp), sự nghèo nàn và trống rỗng trong đời sống tinh thần... nhằm từ đó đi tìm gốc rễ của những câu chuyện “đáng lo ngại” đang xâm thực xã hội chúng ta. 

- TS Nguyễn Thị Hậu: Nhiều người trong chúng ta bây giờ không còn tự hào “mình nghèo mà giỏi”, ngược lại luôn tự hỏi “sao mình giỏi mà nghèo?”. Cũng như không chỉ ca ngợi những truyền thống tốt đẹp mà còn biết trăn trở “vì sao truyền thống của mình tốt đẹp mà bây giờ lại tha hóa như vậy?”. 

Tôi cho rằng có lẽ cần phải nhìn nhận thấu đáo hơn về những đặc điểm tạo thành “tính cách văn hóa” của con người và truyền thống dân tộc mình. Cần biết mình rõ hơn, thật hơn, vì không biết mình đầu tiên là làm khổ chính mình, sau đó sẽ cản trở làm mình “không biết người”, dẫn đến luôn thua kém người. Nên chăng bắt đầu từ việc vạch ra những gì làm chúng ta chưa thật sự tốt đẹp?

- Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng: Nói đến sự hùng cường là mơ hồ quá khi chúng ta vay nợ nhiều, lạm phát, thiếu việc làm trầm trọng. Để phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế bằng mọi cách, mà phải đi song hành giữa kinh tế và văn hóa. Bản thân văn hóa trong một xã hội phát triển cũng có khả năng tạo ra kinh tế, là một phần của hoạt động kinh tế. Thị trường văn hóa càng lớn tức là xã hội càng phát triển, thay thế những ngành công nghiệp ô nhiễm bằng công nghiệp phim ảnh, thể thao, nghệ thuật.

Tôi nghĩ cơ chế kiểm duyệt hoạt động văn hóa nghệ thuật phải xem xét lại, làm sao thúc đẩy hoạt động văn hóa tiến nhanh vào cơ chế thị trường. Giai đoạn đầu phải ưu tiên cho nó phát triển, phải khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào văn hóa.

* Theo ông, vì sao chúng ta ngày càng thấy nhiều hơn những biểu hiện khác nhau cho một tâm trạng xã hội có phần tránh né, chấp nhận giả dối, thiếu vắng những cuộc nói thẳng nói thật có tính cải biến xã hội?
PGS.TS Trần Hữu Quang - Ảnh: Cẩm Phan

- PGS.TS Trần Hữu Quang: Khi mà người ta chứng kiến ngày càng nhiều chuyện bất bình thường trở thành bình thường (như tệ phong bì, đút lót, mãi lộ...), khi mà cái xấu, cái tiêu cực và cái ác ngày càng lan tràn, điều khó tránh khỏi là người ta cảm thấy băn khoăn và hoang mang (ít ra vào lúc đầu), để rồi sau đó khi buộc lòng phải “sống chung” với nó (vì muốn cưỡng lại cũng không được) và riết rồi người ta đâm ra quen với nó. 

Nguy cơ cần suy ngẫm ở đây là nguy cơ bình thường hóa cái bất thường, không chỉ về mặt cấu trúc xã hội mà cả về mặt chủ quan nơi tâm thức cá nhân người dân và kể cả (hay nhất là) nơi cá nhân công chức. Sống trong tình trạng này, nhiều người có thể căm ghét nó, rồi do quá mệt mỏi với nó nên đâm ra bàng quan với nó, nhưng cũng có những kẻ tận dụng sự tranh tối tranh sáng ấy để thủ lợi, kẻ thì chủ động, kẻ thì thôi đành nhắm mắt đưa chân... Điều nghịch lý là chính kẻ vi phạm lại thu được nhiều lợi hơn, còn người ngay thường thua thiệt...

Tại sao người ta lại có thái độ tránh né, chấp nhận sự giả dối, không dám nói thẳng nói thật? Nhìn bề ngoài, dễ lý giải đó là do cái tiêu cực, cái bất bình thường và cái xấu đã trở nên phổ biến. Nhưng nhìn sâu vào nội tâm mỗi người, đó là do tình trạng suy thoái đạo đức và xói mòn luật pháp dẫn tới hệ quả hoài nghi cả các giá trị đạo đức xã hội lẫn các chuẩn mực pháp lý. 

Khi người ta không còn tin thì nói thật để làm gì? Cái nguy ở đây là sự giả dối nói riêng và những nghịch lý nói chung được mọi người coi là bình thường, “chuyện nhỏ như con thỏ”! Hậu quả nghiêm trọng của tâm trạng hoài nghi xã hội, xét về mặt xã hội học, đó là xói mòn cả lòng tin đối với người khác, lòng tin vào xã hội và nhất là lòng tin vào chính mình.

PHAN XUÂN LOAN - CẨM PHAN thực hiện
__________
(1) Xem Immanuel Kant, Phê phán lý tính thực hành (Đạo đức học) (1788), Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Hà Nội, Nxb Tri Thức, 2007.
__________
Cần một cuộc tự vấn

Cái được nhất về văn hóa và xã hội trong năm qua của chúng ta đã đến vào gần cuối năm: ba học sinh lớp 11, tức khoảng 15 hay 16 tuổi, ở Quảng Ngãi hi sinh thân mình cứu bạn bị lũ cuốn trôi. Cũng ở Quảng Ngãi, một học sinh lớp 7 vì xả thân cứu người trong lũ nay bị chấn thương nặng, chỉ còn sống cuộc đời thực vật.

Gần đây, trong vụ chìm phà bi thảm ở huyện Núi Thành, Quảng Nam, liều chết cứu người là hai em nhỏ, một em học lớp 10, em thứ hai sinh năm 1989... Không quá lời đâu khi nói các em không chỉ cứu những người bị dòng nước hung dữ nhấn chìm mà còn cứu chúng ta, vực chúng ta dậy khi chúng ta đã, đang có rất nhiều bi quan về xã hội và con người.

Nhà văn Nguyên Ngọc - Ảnh: Thuận Thắng

Chuyện hai chiếc xe thản nhiên cán qua người một em bé, rồi hơn chục người lớn thuộc đủ thành phần xã hội dửng dưng đi qua dù xảy ra ở bên Trung Quốc nhưng thôi thì nên nói thật đi, ở ta, trong những mức độ khác nhau, không thiếu những chuyện tương tự... May thay, cái “lì” đó còn chưa kịp lan đến phần nhiều trẻ em (không biết có ai để ý điều này không: các em vừa kể trên hầu hết đều ở những vùng có thể gọi là vùng sâu vùng xa về cái gọi là văn hóa).

Vậy có một câu hỏi tiếp: Cái “lì” kia là thế nào và vì sao? Đấy là một trạng thái chán chường sâu sắc và mênh mông về đạo đức xâm chiếm mọi con người. Bởi càng ngày người ta càng thấy vây kín quanh mình, ở bất cứ đâu, trong bất cứ chuyện gì, va vào đâu cũng gặp một thứ, theo mọi kiểu, trắng trợn hay tinh vi: giả dối. 

Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa. Câu hỏi thường trực bây giờ: Tốt để làm gì? Sạch để làm gì? Quên mình để làm gì? Xả thân chống lại cái xấu, cái giả để làm gì? Liệu rồi có ai, có cơ chế nào bảo vệ những nỗ lực đạo đức đó không? Hay thậm chí bị cả cơ chế quật đánh lại như vẫn thấy không hề ít? 

Trẻ em, một bộ phận trẻ em, may thay còn chưa biết đặt ra những câu hỏi như vậy. Đạo đức trước hết là một trạng thái vô tư. Mà người lớn thì không còn có thể vô tư được. 

Vậy lúc này ở cấp độ cá nhân, dù một cách cô đơn, cũng phải dám tự mình cưỡng lại cái “lì” kia, với một niềm tin rằng giả dối không phải là trạng thái tự nhiên của xã hội và con người. Còn ở cấp độ vĩ mô cần một sự phản tư toàn diện và thẳng thắn, cố gắng triệt để. Cách đây mười mấy năm, tôi có lần nói về yêu cầu tự vấn, của xã hội và của dân tộc. Hôm nay TTCT nói đến yêu cầu “nghiêm túc xét lại văn hóa dân tộc”, tức một cuộc tự vấn về xa tận đâu đó trong đường dài lịch sử dân tộc, “bản thể” của nó.

Tôi cũng đồng ý cần có một cuộc trở về nghiêm túc, đến nơi đến chốn như vậy. Dân tộc bên cạnh những điều mãi mãi đáng tự hào quả cũng có những nhược điểm, hình thành lâu dài trong lịch sử, cần được nhìn thẳng. Song tôi cũng không quá bi quan về dân tộc.
NGUYÊN NGỌC
Nguồn: Tuổi Trẻ.

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

Trịnh Kim Tiến: ĐÓN TẾT

Đón Tết
Trịnh Kim Tiến

Thời gian cứ chảy như những con sóng trôi về biển cả.Nhịp sống hối hả , làm con người ta không còn nghĩ đến tháng năm. Một năm nữa thấm thoát lại sắp đi qua để chào đón một năm mới trong dòng siết của cuộc đời .

Để đón mừng cái khoảnh khắc giao mùa với bao nhiêu hi vọng hân hoan về một tương lai tươi đẹp ,từ những thế kỉ trước , ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng.Cái Tết Nguyên Đán trở thành một phần không thể thiếu trong phong tục, sinh hoạt của người Việt Nam , ngày hội cổ truyền mang đậm nét văn hóa dân tộc sâu sắc và độc đáo, là sự hòa điệu giữa con người và thiên nhiên theo chu kỳ vận hành của vũ trụ.

Nó là cái Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Hằng năm, mỗi khi năm hết, Tết đến dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả người xa xứ hàng trăm, hàng ngàn ki-lô-mét vẫn mong ước được về sum họp dưới mái ấm gia đình trong những ngày Tết, được khấn vái dưới bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà, nhìn lại nơi mà một thời bàn chân bé dại đã tung tăng một thời  và mong được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương nơi chúng ta cất tiếng khóc chào đời.

“Già trẻ gái trai đều khoái Tết,
Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân.”

Cứ mỗi độ Tết đến , xuân sang , nhà nhà , người người lại đua nhau đi sắm tết .Hoa Tết trở thành thú chơi không thể thiếu trong những ngày xuân đến .

”Đào hoa, đào diệp lạc phân phân”, hoa đào , lá đào bay tà tà. Hoa đào đã trở thành biểu tượng cho ngày Tết, cho mùa xuân. Thú chơi hoa và cây cảnh ngày Tết nói chung và thú chơi đào nói riêng thể hiện sự tinh tế trong tâm hồn người Việt.

Tôi rất thích đào Tết nhưng gia đình tôi chưa Tết năm nào trưng một cành đào nhỏ trong gian nhà.Bố tôi cũng là người thích chơi đào , nhưng ông không thích nó ở cái khoản , cứ đến Tết là nó lại đắt đến thế .Năm nay  có lẽ sẽ như mọi năm , gần gần sát Tết là ba mẹ con tôi lại ra chợ hoa , nhặt những cành hồng , bó cúc đem về cắm vào cái lọ cũ và bày nó trên cái bàn ở giữa gian nhà .Nhưng có một điều là sẽ không còn ai nhìn những  bó hoa mà chê nó xấu nữa .Bố tôi là một người rất giản dị , nhưng lại ít khi thẳng thắn với những sở thích của mình .Ông có quý, có thích cái  gì cũng ít khi thể hiện  ra mặt .Ông hay bĩu môi, nhìn thứ mình thích mà chê xấu, nhưng ánh mắt của ông thì không thể giấu nổi cái  sự thích thú của mình.

Từ sau ngày 17/11, phiên tòa xét xử vụ việc của bố tôi đã không diễn ra như mong đợi , rất nhiều người vẫn hỏi tôi  về sự việc . Rằng tòa có xử  hay không xử ? Đến bao giờ thì tòa mới xử?

Tôi cũng không biết nữa, tôi chỉ biết chờ , dù sự chờ đợi có thể khiến tôi mệt mỏi, buồn phiền nhưng tôi không bao giờ từ bỏ nó .Vụ án của bố tôi là một vụ án có tính chất nghiêm trọng, nhưng nó lại không hề phức tạp , mọi thứ đều rất rõ ràng .Vậy mà vụ án lại kéo dài đến gần 10 tháng ,vượt  xa cái thời gian mà đáng lẽ ra chúng tôi phải chờ đợi theo luật định, tôi thấy vậy.

Con người ta có thể mất đi tất cả nhưng chỉ cần còn ý chí và niềm tin sẽ vượt qua mọi thứ, tôi tin là như vậy .Người khác họ có thể cướp của tôi nhiều thứ , nhưng ý chí của tôi , họ không thể đánh cắp .

Có thể rằng họ sẽ kéo dài qua năm sau mới xử vụ án .Tôi cũng có thể giả tưởng rằng , họ có thể sắp lịch xử vào ngày hai mươi bảy ,hai mươi tám hay mồng  bốn , mồng năm Tết Nguyên Đán.Trong khi người ta đang nô nức kéo nhau đi vui xuân trẩy hội, đường phố tấp nập cảnh người bán kẻ mua , những ánh đèn đường huyền ảo , hoa lá thi nhau vươn sắc .Trước khung cảnh màu sắc hoa lệ , những nụ cười hạnh phúc đón xuân , mọi người đang bận rộn , hối hả chuẩn bị cho cái Tết thì có thể bà cháu,mẹ con chúng tôi sẽ phải dắt díu , nắm vịn tay nhau bước đến phiên tòa.Cái quãng đường hai , ba cây số từ nhà đến tòa ấy không xa , nhưng sao tôi hình dung ra nó dài đến thế.Có khi nào chỉ có bốn người chúng tôi đi trên con đường đó cùng với vong linh của bố tôi  , nhưng  dù thế nào tôi  cũng không hề nản lòng.

Đối với bố mẹ, tôi vẫn luôn chỉ là một đứa trẻ chưa khôn lớn , luôn được cưng chiều nâng niu trong lớp  vỏ bọc của tình thương .Dù cho không thiếu những lúc bị mắng , bị đánh vì những việc làm sai trái , những lời nói hỗn láo , nhưng cũng chính những dạy dỗ đó , khiến bước bước chân lầm lỡ không bị lạc đường.Cũng chính nó đã mang lại sức mạnh cho tôi để có thể tiêp tục chờ đợi và hi vọng cho đến hôm nay .

Tất cả chỉ là giả định vì tôi đâu có chắc được điều gì sẽ xảy ra ? vì tôi đâu có quyền hạn để ra lệnh.?Tôi chỉ là một đứa trẻ của bố mẹ tôi .

Trở lại việc đón Tết , năm tới là năm con Rồng không biết là ai sẽ “xông đất “được cho nhà tôi nhỉ? “Xông đất” là 1 tập tục cổ truyền của người Việt , thường thì tính  từ thời điểm giao thừa , người ta hay chọn lựa những người có cung mệnh , tuổi hợp với gia chủ để bước vào nhà trước tiên , lấy vận may cho năm mới .Mọi năm  đều là bố tôi tự tính và xem tuổi nhưng năm nay chắc tôi phải mua quyển vạn sự về nằm trong chăn mà nghiền ngẫm cho kĩ càng mới được.

“Xuân vẫn còn dài, hướng đến tương lai vùng đất mới,
Tết dù đã ngắn, quay nhìn dĩ vãng cảnh người xưa.”

Có lẽ vì vậy mà Tết này tôi càng cần phải gần gũi bên mẹ nhiều hơn.Tôi muốn lấp đầy cái khoảng trống đau thương trong  lòng mẹ  .Đêm 30 Tết tôi sẽ ở nhà đón giao thừa .Tôi với bà , với mẹ và em gái   sẽ đứng trên sân thượng , nhìn lên bầu trời , ngắm những bông pháo đang nở rực rỡ, và sẽ cầu nguyện cho vong linh bố .Rồi đến đêm , tôi sẽ rúc  vào trong chăn , ôm chặt lấy mẹ, ngoắc ngoắc cái ngón chân của tôi tới chân mẹ như bố vẫn hay chọc .Tôi sẽ dung đôi bàn tay của mình, xoa xoa đôi bàn tay khô cứng nứt nẻ của mẹ, rồi hôn lên trán mẹ một cái “ con yêu mẹ “để cái mùa đông này bớt giá băng.

Tôi rất là nghịch ngợm và mải chơi , nhưng cái Tết này tôi phải lớn thật rồi .


 
Nguồn: FB Trịnh Kim Tiến.

21h NGÀY 1 TẾT DƯƠNG LỊCH NĂM 2012

FB. Dũng Mai: Một thanh niên chở bưởi đi bán dạo bị cảm ngã ra đường ở gần Đại học Thương Mại (gần Mai Dich-Hà nội). Mình quẳng xe máy nhảy xuống khênh anh ta vào vỉa hè sơ cứu, bấm huyệt vì người này đã ở trong tình trạng nguy kịch, đái ra quần vô thức; hô hào bà con gần đấy pha trà gừng đổ vào miệng và bấm huyệt nhân trung. Nạn nhân đã tỉnh lại và cho biết anh ở Đan Phượng (Hà tây cũ) bị ế hàng, không có tiền ăn, sáng đến giờ không ăn gì, lại mặc không đủ ấm, tụt huyết áp. Thật may nạn nhân đã tỉnh lại và ăn được chút cơm bà con đem ra. Mình có mấy trăm dúi hết cho anh ta và nhờ bà con trông chừng hộ vì vội đưa bạn ra bến xe Mỹ Đình. Nhìn đi nhìn lại không thấy bạn đâu. Rút điện thoại alô: Em đang ở đâu? - Cảm ơn anh đã gọi lại cho em, em ra bến xe rồi. Mình ngạc nhiên: Ô, đi bằng gì vậy? - À đi bằng chân, nói vậy chứ em vẫy taxi rồi, anh cứ việc làm phúc đi, lần sau không dám phiền anh nữa đâu. 
Sờ túi quần không thấy khóa xe đâu cả. Một cô gái trên hè cầm chìa khóa đưa mình: Vừa nãy chú không khóa xe cháu rút chìa cầm hộ chú, đang lộn xộn kẻ gian lấy mất xe thì sao.
Chùm ảnh cấp cứu anh thanh niên trong đêm đầu năm:
Anh thanh niên đã tỉnh lại và ăn được chút cháo do bà con mang tới.
Nguồn: FB Dung Mai.

CHỈNH ĐỐN ĐẢNG CẦN THANH LỌC

Chỉnh đốn Đảng, cần thanh lọc
BÙI CÔNG TỰ

Mình là một quần chúng rất gần gũi với Đảng. Tuổi 15, 17 nhiệt tình cách mạng đã hừng hực. Chả thế mà ngày đó đã viết hẳn một bài báo nhan đề “Tôi nguyện sống cho Đảng” đăng trên tờ Hải Dương Mới của tỉnh Đảng bộ Hải Dương nơi mình học phổ thông. Bây giờ nhớ lại thấy ngượng quá! Sao mà ngày ấy mình hâm tỉ độ thế!

Đến khi đi học chuyên nghiệp thì các môn Mác Lê, Lịch sử Đảng có điểm cao chót vót. Mình rất khâm phục những người Cộng Sản qua các hồi ký cách mạng như “Nhân dân ta rất anh hùng”, “Người trước ngã, người sau tiến”, “Hồi ký của đồng chí Sao Đỏ”, v..v… Mãi sau này mới hay những tác phẩm ấy có sự gia thêm mắm muối, mì chính của các nhà văn là người ghi chép hồi ký.

Thời kỳ tiếp theo là mấy chục năm làm anh viên chức mình vẫn rất gắn bó với Đảng. Đồng chí bí thư Đảng ủy quê Ninh Bình, cũng tên là Tự, ông Phạm Hữu Tự rất quý mình, thường mời mình trà lá bình luận thời sự. Mình được cái ở cơ quan thì chăm đọc báo Nhân dân, đọc từ chỗ “cơ quan trung ương của .. phố Hàng Trống” đến chỗ “In tại nhà máy in Tiến Bộ… giá … hào (tiền cũ)”, đêm về nhà thì hay dò dẫm nghe các đài địch, đài Bắc Kinh, đài Mạc Tư Khoa, tuy câu được câu mất nhưng cũng có thông tin để nói lại cho đồng chí Bí thư nghe.

Thói quen ấy mình giữ đến tận bây giờ. Các kỳ đại hội Đảng, mình đều tập trung theo dõi, tìm đọc các báo cáo, cương lĩnh, nghị quyết, các lời phát biểu của các đồng chí lãnh đạo. Nhờ thế mình nắm chắc đường lối của Đảng.

Bạn bè của mình thì hầu hết là Đảng viên, tép riu lính tráng cũng nhiều nhưng cục, vụ, thứ trưởng cũng có, mấy ông đại tá nhưng ăn lương tướng. Các vị ấy hoàn toàn không coi mình là quần chúng, trao đổi mọi chuyện, chẳng giấu diếm gì. Gia đình mình nội ngoại Đảng viên đông như quân Nguyên. Mình thật sự là một quần chúng rất gần gũi gắn bó với Đảng.

Vài năm trước mình vào Sài Gòn sống với các con. Bán hết cơ ngơi ngoài Bắc đem vào mua được đám đất xây được cái nhà trong hẻm. Hàng xóm là mấy ông xe ôm, phu hồ, lái xe, thổi kèn đám ma, bận đi kiếm tiền tối ngày. Mình phải vượt biên ra khu đô thị mới làm quen chơi với mấy vị “hạ cánh an toàn”, gồm ông sếp tàu viễn dương, sếp ngân hàng, sếp tuyên giáo, hai ông đại tá quân đội (một ông ăn lương tướng), một ông đại tá công an đồng hương. Thế là sáng sáng, sau vài vòng cuốc bộ, mấy ông già lại tụ tấp café bàn chuyện thời sự chính trị.

Đề tài được thảo luận hôm nay là câu chuyện “xây dựng chính đốn Đảng”.

Một ông bảo: - Dùng từ chỉnh đốn nhẹ nhàng quá, không chính xác. Như ở quân đội khi nói “chỉnh đốn trang phục” là chỉ vuốt cái áo, cái quần cho thẳng thướm chứ không có gì thay đổi cả.

Ông khác lại bảo: - Nói nhưng không làm đâu, nói một đằng làm một nẻo ấy mà. Nhận xét chung là các vị kỳ cựu như thế mà đều thiếu tin tưởng ở chủ trương chỉnh đốn Đảng. Thế mà riêng mình là quần chúng thì lại tin tưởng mới lạ. Hay là do mình không ở trong chăn?

Sáng nay tan cuộc café, mình về tắm táp qua loa rồi mở máy vào mạng định tìm đọc bài diễn văn bế mạc hội nghị TW lần thứ tư (khóa XI) của đồng chỉ Tổng bí thư, mặc dù tối qua đã nghe trên VTV rồi. Thế quái nào con chuột lại dẫn tới mấy trang blog trước. Thì ra đề tài “chỉnh đốn Đảng” cũng được nhiều cây bút quan tâm. Đúng là (Đảng của chúng ta) thật (lời một bài ca).

Bạn Hồ Trung Tú viết trong blog của mình: “Nếu Đảng thực tâm muốn giải quyết các vấn đề cấp bách của Đảng như hội nghị TW kêu gọi và thực lòng muốn nghe các góp ý thì mình chỉ đề nghị một điều, không phải quá nhiều điều kêu gọi tinh thần vốn chưa bao giờ hiệu quả, một điều có thể giái quyết tất cả, nằm ngay trong tầm tay đó là, như tổng thổng B. Clinton nói ở trường ĐH Quốc gia HN ngày 17/11/2000 là: Các bạn hãy để cho tòa án độc lập!”. Đọc câu này bác Quê Choa tán thưởng: Hay!

Là quần chúng ruột rà của Đảng, mình cũng băn khoăn nhiều về vấn đề nêu trên. Bạn Hồ Trung Tú “chỉ đề nghị một điều” thì mình cũng bắt chước bạn ấy “chỉ đề nghị một điều” thôi.

Điều đề nghị của mình là: Muốn xây dựng chỉnh đốn Đảng thì Đảng phải thanh lọc.

Theo mình Đảng cần phải đuổi ra khỏi Đảng những kẻ ngồi trên pháp luật, coi thường pháp luật, khinh miệt nhân dân, lạm quyền, bòn rút công quỹ, hãm hại người chính trực, câu kết bọn lưu manh. Trong bọn này không loại trừ có kẻ cam tâm làm tay sai cho ngoại bang bán rẻ đất nước.

Đảng cũng cần loại bỏ những Đảng viên giàu có một cách bất chính, thiếu trung thực, bám vào cái ghế để trục lợi.

Đảng cũng không thể dung dưỡng trong hàng ngũ những kẻ cờ bạc, xa hoa lãng phí, đạo đức suy đồi, ăn chơi trác táng.

Cũng cần đưa ra khỏi Đảng cả những Đảng viên hạn chế về năng lực, nhận thức, không thể tiền phong gương mẫu hoặc những người đã mệt mọi ý chí phấn đấu.

Trong quá trình loại bỏ những Đảng viên thoái hóa biến chất, hư hỏng, yếu kém nói trên Đảng sẽ dần dần trong sạch, sẽ lấy lại được niềm tin của nhân dân.

Mình không có tư liệu về số lượng Đảng viên của Đảng hiện nay. Nhưng số Đảng viên suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tham ô, lãng phí… theo TBT Nguyễn Phú Trọng nói là “một số không nhỏ”. Thế thì theo mình số này đông lắm, không thể là vài chục ngàn mà phải vài chục vạn hoặc hơn thế nữa. Những người này lại thường kết bè kết Đảng, chiếm giữ những vị trí quan trọng, tiền của nhiều vô kể, mưu mô thủ đoạn khôn lường, thật sự là khó đánh. Vậy thì Đảng với số Đảng viên trung kiên còn lại liệu có đủ dũng khí, đủ trí tuệ, đủ lực lượng để khai trừ những người suy thoái đó ra khỏi Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh không?

Không loại bỏ được những đối tượng thoái hóa, biến chất, lạc hậu, trục lợi, hư hỏng ra khỏi Đảng thì như Tổng bí thư đã cảnh báo sự sống còn của Đảng, của chế độ sẽ bị đe dọa.

Thanh lọc Đảng là vấn đề cần được chú trọng để đạt được mục tiêu hội nghị TW lần thứ tư (khóa XI) vừa đề ra, hi vọng Đảng thành công.

TP Hồ Chí Minh, 01/01/2012

*Bài do tác giả gửi trực tiếp cho NXD-Blog. Xin chân thành cảm ơn!
**Cũng như tác giả Bùi Công Tự, chủ Blog không phải là đảng viên, 
đăng bài này để các đảng viên tham khảo.

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

Nguyễn Văn Phương - TẠM BIỆT 2011


Tạm biệt 2011

Năm 2011 sắp khép lại, một năm với biết bao biến cố đối với cá nhân và với đất nước. Có lẽ, năm 2011 là năm đáng nhớ nhất trong cuộc đời tôi, với bao buồn vui lẫn lộn. Mỗi con người sinh ra và lớn lên nhờ được nuôi dưỡng bởi mồ hôi, công sức của bố mẹ, tâm hồn của chúng ta được trưởng thành bởi hồn quê, hồn đất, hồn người...bởi những điều ta được dạy dỗ, những điều chúng ta nghe, chúng ta thấy, bởi những người chúng ta gặp, chúng ta yêu thương...bởi những thăng trầm cuộc sống mà chúng ta trải qua, chúng ta tranh đấu. Biết bao những thứ ấy đã hun đúc nên con người của ta hôm nay. Từ nhỏ, chúng ta luôn được học phải đấu tranh cho lẽ phải, công bằng, rằng chính nghĩa sẽ thắng gian tà...tuổi thanh niên phấp phới trong lòng với câu nói nổi tiếng của Paven trong "Thép đã tôi thế đấy" : “Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí...". Lý tưởng ấy từng là kim chỉ nam của bao lớp thanh niên một thời oai hùng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Và với tôi, đến bây giờ câu nói đó vẫn còn nguyên giá trị. Mùa hè 2011, một mùa hè mà lòng dân, lòng người VN lại sôi sục hướng về Hoàng Sa - Trường Sa thân yêu. Nơi những con người Việt đang ngày đêm âm thầm chịu đựng sóng gió, đối mặt với bao hiểm nguy từ thiên nhiên, từ những kẻ thù hung tợn phương bắc để quyết tâm bám biển, giữ vững hải đảo xa xôi của tổ quốc. Và thêm một lần nữa, người dân Việt lại xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, phản đối lại những hành động xâm phạm chủ quyền một cách trắng trợn của chính quyền Bắc Kinh. Nỗi căm hờn của lòng yêu nước đã thôi thúc tôi xuống đường cùng đồng bảo ở Hà Nội, SG và rất nhiều người Việt khác đang sinh sống, làm việc trên thế giới. Đứng cạnh những con người gọi nhau với 2 chữ thiêng liêng “đồng bào” thật hạnh phúc biết bao. Và từng đoàn người ấy cùng hò hét “đả đảo”,  “phản đối” đến cháy cổ họng, mồ hôi nhễ nhại trên từng khuôn mặt mà trông ai nấy cũng vẫn đầy niềm phấn khởi. Có những bà mẹ già lưng còm, chân yếu nhưng tiếng hô vẫn đanh thép, hào hùng. Có những em nhỏ còn đeo trên vai khăn quàng đội viên mà vẫn hiên ngang bước đi trong tiếng dầm dập của đoàn người. Có người bác, người cô không quản ốm đau, bệnh tật vẫn cố gắng bước đi cùng đồng bào…Vui lắm chứ, tự hào lắm chứ, có tình yêu nào lớn hơn tình yêu quê hương dân tộc đâu. Chúng ta sợ ư? Không!, người Việt Nam chúng ta sợ ư? Không! Không bao giờ đất nước này chịu khuất phục trước kẻ xâm lược. Tổ tiên, ông cha ta đã gây dựng và giữ gìn hình hài đất nước cho đến ngày hôm nay, chẳng có lý gì mà con cháu chúng ta bây giờ có thể đánh mất được…không giữ được đó là một nỗi nhục, nỗi nhục muôn đời!

  Những con người ấy, đã gặp nhau với chung một lòng yêu nước và họ đã gắn bó, giúp đỡ nhau những lo toan, những khó khăn trong cuộc sống. Những con người ấy họ thật tử tế và chân thành. Ngày cuối cùng của năm 2011, người tôi nhớ đến nhất lúc này là cô Bùi Hằng, người mà hiện giờ đang bị giam giữ, cải tạo 2 năm mà không qua xét xử. Chỉ vì cô Hằng tham gia nhiều lần những cuộc biểu tình yêu nước chống Trung Quốc xâm lược mùa hè qua mà người ta quy cho cô về tội “gây rối trật tự công cộng”. Tôi hỏi rằng: tại sao nhà nước không lo bắt tàu Trung Quốc đang xâm phạm ngoài biển Đông mà suốt ngày chỉ lo đối phó với những người yêu nước tay không tấc sắt? Tại sao lại bịt mồm, đạp mặt, bắt bớ, đàn áp những người nói lên tiếng nói yêu nước chống xâm lược? Đây là nhà nước của dân, do dân và vì dân sao?. Có lần một tay an ninh hỏi tôi rằng: “Em đi biểu tình này do ai xúi? Tôi nhìn thằng vào mắt hắn và trả lời rằng: LÒNG YÊU NƯỚC - Tôi chợt nghĩ rằng, những người hỏi câu đấy thật ngớ ngẩn, trẻ con. Trong họ chẳng lẽ không có lòng yêu nước sao? họ không thấy căm phẫn khi tổ quốc bị trà đạp, đồng bào bị bắt bớ, bắn giết sao?. Mong sao, giờ này trong nhà giam cô Hằng được thấy ấm lòng, vì sự đóng góp của cô sẽ mãi được nhân dân ghi nhận.

  Một năm qua đi, cho dù có nhiều sự xáo trộn về cuộc sống cũng như công việc nhưng tôi thấy thật hạnh phúc vì mình đã góp một phần nhỏ có ích cho lòng yêu nước. Được sống với lý tưởng mà lòng mình luôn tâm niệm, để không thấy hổ thẹn với trách nhiệm của một người công dân. Năm mới 2012 sắp đến, tôi xin được gửi lời cầu chúc sức khoẻ, bình an đến tất cả các bác, các cô chú, anh chị, các em và mọi người…những người tôi đã gặp hoặc có thể chưa được gặp mặt. Mong mọi điều tốt đẹp sẽ luôn đến với những người tốt, những người có lòng, chân thành với anh em, bạn bè và đất nước!
Thân chào!
.
 

THÔNG ĐIỆP THƯ NGỎ GỬI CHỦ TỊCH NƯỚC

Thông điệp thư ngỏ gửi Chủ tịch nước

Quốc Phương
BBC Tiếng Việt
Cập nhật: 17:07 GMT – thứ bảy, 31 tháng 12, 2011

Người đồng chủ trì trang mạng phản biện của trí thức Việt Nam, Bauxite Việt Nam, vừa lên tiếng từ trong nước, nói với BBC rằng bức thư ngỏ gửi Chủ tịch Nước đòi trả tự do cho một người ‘biểu tình yêu nước’ mới lên mạng hôm 31/12/2011, thực ra là một đa thông điệp *.

Giải thích về động cơ đằng sau bức thư cuối năm gửi Chủ tịch Trương Tấn Sang đòi thả bà Bùi Thị Minh Hằng, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho hay ông và nhóm chủ trương, ký tên bức thư không hy vọng người nhận thư và chính quyền ‘trả lời’ hay ‘giải quyết’ đơn thư này, song nói đây là một thông điệp gửi cho tất cả mọi người dân ở trong nước để cảnh báo về một hiện trạng mà ông gọi là “vô pháp luật” ở Việt Nam.

“Nói chung là ít hy vọng lắm. Tôi không có hy vọng đâu,” Giáo sư Huệ Chi dự đoán với BBC hôm thứ Bảy về tác động và hiệu quả với lãnh đạo của bức thư ngỏ.
Để cho dân tộc biết rằng chúng ta vẫn có rất nhiều người rất tỉnh táo, lý trí vẫn sáng suốt, chứ không phải biến chúng ta thành bò được. Chúng tôi chỉ có một chút hy vọng ấy thôi” – Giáo sư Huệ Chi
“Nhìn những người ở trên, chúng tôi không đặt vấn đề hy vọng, nhưng chúng tôi đặt vấn đề là những người ấy, dầu sao đi nữa, gửi lá thư cho họ cũng không đến nỗi quá uổng phí. Nhưng mà thực tế là gửi lá thư cho toàn thể dân tộc,” Giáo sư Huệ Chi nói.

“Để cho dân tộc biết rằng chúng ta vẫn có rất nhiều người rất tỉnh táo, lý trí vẫn sáng suốt, chứ không phải biến chúng ta thành bò được. Chúng tôi chỉ có một chút hy vọng ấy thôi,” chuyên gia văn học cổ đại Việt Nam giải thích.

Giáo sư Huệ Chi cho hay lý do ông, bên cạnh những người khác gửi bức thư ngỏ, đã chọn Chủ tịch Sang vì Giáo sư có “ấn tượng” về một số động thái gần đây của ông Sang đối với vấn đề chủ quyền đất nước:

“Tôi cũng rất có ấn tượng về ông Trương Tấn Sang trong việc ông đi sang Ấn Độ, rồi Philippines để liên kết với các nước đó tạo một lực lượng mà chắc là để làm cho Việt Nam mạnh lên trong đối trọng với Tàu (TQ),” Giáo sư Huệ Chi nói.

“Đối với ông Trương Tấn Sang, chúng tôi nhìn ông ấy với một cái nhìn cũng tương đối khác với những người khác, bởi vì chúng tôi thấy ông ấy có những hành động tích cực.

“Cũng như gần đây ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố thẳng thắn ở giữa Quốc hội là Hoàng Sa là bị Trung Quốc cướp, bị Trung Quốc xâm lược. Một thái độ thẳng thắn.”

Thế nhưng, nhà nghiên cứu văn hóa than phiền rằng ở trong nước các lãnh đạo ở trên rất “coi rẻ” người dân và do đó tái khẳng định ông “không có hy vọng” gì cả:

“Chúng tôi viết để cho thấy rằng 85 triệu dân ở trong nước không phải là những con bò, mà là những con người. Họ biết sống, họ biết suy nghĩ và họ biết quyền của họ. Chứ còn hiện nay, chúng tôi bị đối xử hơn những con bò,” Giáo sư Huệ Chi nói.
Bãi bỏ tất cả các văn bản của Nhà nước đã vi phạm Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia và trái với Hiến pháp” – Yêu cầu trong thư ngỏ
‘Ba yêu cầu’

Bức “Thư gửi Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang” của nhóm chủ trương được thực hiện từ ngày 25 tháng Mười Hai, cáo buộc chính quyền đã vi hiến khi tiến hành bắt giữ công dân Bùi Thị Minh Hằng, người đã tham gia các cuộc biểu tình vì Hoàng Sa – Trường Sa và chống Trung Quốc vi phạm biển đảo Việt Nam từ mùa Hè vừa qua. 

“Việc cưỡng bức bà Bùi Thị Minh Hằng vào cơ sở giáo dục và việc bắt giữ, bắt giam, hăm dọ công dân bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa là trái với đạo lý, trái với Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, vi phạm Công ước Quốc tế về quyền con người mà việt Nam đã ký kết, tham gia,” thư ngỏ viết.

Những người chủ trương, ký và gửi bức thư còn cho rằng một nhà nước pháp quyền văn minh thì “không có một công dân nào bị bắt giam, bỏ tù hay đưa đi cải tạo” khi chưa có phán quyết của tòa án.

Bức thức ngỏ đưa ra ba đề nghị với ông Chủ tịch Nước như sau:

“Xem xét việc trả tự do ngay cho bà Bùi Thị Minh Hằng; Yêu cầu các cơ quan chắc năng chấm dứt các hành vi ngăn cản, đe dọa công dân bày tỏ sự quan tâm đối với hiện tình của đất nước;”

“Xem xét việc bãi bỏ tất cả các văn bản của Nhà nước đã vi phạm Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia và trái với Hiến pháp; đặc biệt là quy định ‘áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục’ của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và sửa đổi, bổ sung năm 2008′ do ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành.

Bức thư ngỏ có hàng chục chữ ký, trong đó có nhiều trí thức, nhân sỹ được biết đến rộng rãi ở trong nước như các vị Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, các giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Đông Yên, Hoàng Xuân Phú…

Ngoài ra còn có chữ ký của các tiến sĩ Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, Đặng Ngọc Lan, Nguyễn Hồng Kiên, các nhà văn: Nguyên Ngọc, Vũ Ngọc Tiến, Trần Nhương và những người khác.
-
Nguồn: BBC Tiếng Việt.

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2012

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011

2011 - CHIỀU CUỐI NĂM NHÌN LẠI

Chiều cuối năm nhìn lại

Tôi vừa về đến nhà. Hà Nội hôm nay lạnh quá! Càng về chiều càng lạnh! Nhưng so với nơi tôi vừa trở về thì nơi đó lạnh hơn nhiều. Đó là vùng sơn cước của huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi có cơ sở giáo dục Thanh Hà. Ở đó, hiện đang "cải tạo" chị Bùi Thị Minh Hằng - người hăng hái tham gia biểu tình chống xâm lược Trung Quốc trong suốt mùa hè rực lửa vừa qua. Được biết, hiện nay, người ta đang giữ chị tại Khu 3, khu đặc biệt, chung với các trại viên nhiễm HIV, có người đang ở giai đoạn cuối.

Vừa qua, một số nhân sĩ trí thức và thân hữu của chị ở Hà Nội cũng đã gửi thư tới Chủ tịch nước Trương Tấn Sang để đòi trả tự do cho chị. Bức thư gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang  có chữ ký của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh 96 tuổi, nguyên Ủy viên TW Đảng khóa 3, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, lão thành cách mạng; các giáo sư danh tiếng: Nguyễn Huệ Chi, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Đông Yên, Hoàng Xuân Phú; các Tiến sĩ: Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Quang A, Đặng Ngọc Lan, Nguyễn Hồng Kiên; các nhà văn: Nguyên Ngọc, Vũ Ngọc Tiến, Trần Nhương...Được biết, việc ký tên vẫn tiếp tục được tiếp nhận tại Email: tudochobuihang@gmail.com.

Sáng nay, từ 7h sáng, anh Phan Trọng Khang, Chị Phương Bích, tôi và cháu Nhân con trai chị Bùi Hằng đã lên thăm chị, mặc dù biết trước là chỉ có Bùi Nhân được vào gặp mẹ. Nhưng rất tiếc, sáng nay cháu Nhân chỉ gửi được đồ dùng vật dụng và ít ruốc vào cho mẹ mà không gặp được. Bùi Nhân nghe nói mẹ đang tuyệt thực, và đây là lần tuyệt thực thứ hai kể từ khi vào trại (lần trước tuyệt thực 15 ngày).

Chiều nay, chiều cuối năm, ngồi đây, chúng ta cùng điểm lại năm 2011, để tiễn năm cũ đi, và chờ phút giao thừa đến. Trong phút giây này, tràn ngập tâm hồn ta là giá rét và nỗi buồn khiến lòng ta chùng xuống.

Năm qua, các lễ hội lại vẫn rộn ràng với sự mê lầm được bật đèn xanh của ngành văn hóa. Cảnh chen chúc ở lễ hội khai ấn đền Trần, chùa Hương, Yên Tử. Những lời cầu nguyện mê lầm. Và bỗng chốc Bái Đính - một kiến trúc mới rất Tàu cũng đã trở thành điểm hành hương của thiên hạ.

Những vụ giết người cướp của ngày càng táo bạo, kẻ thủ ác tuổi đời càng ngày càng trẻ và cách thức giết người càng ngày càng dã man, độc ác, quyết liệt. Bên cạnh đó, nhiều vụ đánh trả người thi hành công vụ cũng tăng cùng với việc người thi hành công vụ đánh đập và làm chết người dân trong khi bắt và giam giữ.

Đạo đức và văn hóa xã hội đã băng hoại và đáng báo động đỏ. 

Gương mặt của giới truyền thông lại càng thêm hoen ố. Sau sai sót về dịch thuật của MC Lại Văn Sâm, rồi vụ cô Lượm làm hiện lên một MC ác độc nữa, rồi một chương trình 16 phút được làm ra để xúc phạm đời tư của một tù nhân, về cuối năm Đài Truyền hình quốc gia VTV lại để xảy ra nhiều sai sót đáng tiếc: hiển thị cờ Trung Quốc 6 sao trong phần bình luận quan hệ Việt - Trung, và giao lưu cầu truyền hình VN - Quảng Tây khiến nhà ngoại giao kỳ cựu Dương Danh Dy phải lên tiếng.

Đài truyền hình quốc gia cũng vẫn chiếu nhiều phim Tàu. Và đặc biệt là dự kiến phát sóng bộ phim phản quốc "Lý Công Uẩn - đường tới thành Thăng Long" đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt của đông đảo trí thức, nhà sử học, lão thành cách mạng và giới học giả.

Giới trí thức năm qua, với những cố gắng không ngừng nghỉ, bền bỉ với tinh thần tự nhiệm đã suy nghĩ về hiện tình đất nước, soạn Tuyên cáo về Chủ quyền, Kiến nghị về Bảo vệ và phát triển đất nước, Yêu cầu Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin v.v. đã trở thành niềm tin và chỗ dựa cho những ai còn tha thiết với bức dư đồ mà cha ông để lại. 

Giới trí thức Việt Nam ở nước ngoài hướng về đất nước bằng những việc làm cụ thể. Mười bốn nhà trí thức danh tiếng đã gửi về bản điều trần: Cải cách toàn diện để phát triển đất nước được dư luận đánh giá cao. Hàng trăm nhà trí thức đã cùng gửi thư đến tạp chí Nature danh tiếng để phản đối việc giới học giả Trung Quốc đưa các bản đồ lưỡi bò vào các bài báo khoa học in trên tạp chí này. Kết quả là Nature đã hoàn toàn đồng ý và ủng hộ giới học giả Việt Nam.

Bên cạnh đó, một bộ phận rất lớn trong giới trí thức thuần túy chỉ là những nhà chuyên môn hoặc công chức. Họ không quan tâm đến hiện tình đất nước, tránh việc bày tỏ chính kiến và xa lánh việc phản biện xã hội - cho dù là phản biện xã hội trong chuyên ngành của họ. 

Năm qua, chưa bao giờ có nhiều đơn thư kiến nghị xung quanh Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật. Những giải thưởng danh giá như vậy, mà có mấy trường hợp từ chối nhận giải hoặc dự giải, mà người từ chối toàn là các nhà văn nối tiếng: Nguyên Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm....Rồi lại cũng có một giáo sư văn học đã hai lần nhận giải thưởng Nhà nước, nay lại vẫn dự 2 giải thưởng Hồ Chí Minh! Và rồi cả giải thưởng mang tên bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương nữa, lình xình lắm lắm!

2011 cũng đánh dấu bằng các vụ đạo văn, đạo tranh, bằng giả mà đương sự là những nhân vật nổi tiếng. Còn nhiều vụ nữa, nhưng còn đang găm lại trong những blog ẩn khuất đâu đó...chờ một ngày, từng ngày sẽ lộ ra dưới ánh sáng công luận.

Và tệ nhất, là sự xuất hiện đột khởi của các trí thức - nghị sĩ: Hoàng Hữu Phước, Nguyễn Minh Hồng,  Đặng Hoàng Yến. Họ đã xuất hiện như những người bị thiểu năng trí tuệ, gây bức xúc lớn cho nhân dân. Trước đó, trong người ta đã phát hiện một số trường hợp khai man trong hồ sơ ứng cử: Thượng tọa Thích Thanh Quyết (Lương Công Quyết) khai học hàm là Giáo sư (?); Châu Thị Thu Nga khai học vị là Tiến sĩ. Việc ầm ĩ trên mạng xã hội và báo chí vậy mà không thấy Ông Chủ tịch Hội đồng bầu cử và Hội đồng này lên tiếng hoặc xử lý. 


Một năm với bao nhiêu là lo âu, bực tức, thất vọng.
Nhưng rồi...

Còn tiếp



Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

Ý TƯỞNG VỀ VIỆN KHỔNG TỬ CHO VIỆT NAM

 

Ý tưởng về Viện Khổng Tử cho VN

Một trong những ý tưởng được phía Trung Quốc nêu ra gần đây để tăng cường quan hệ hai nhà nước là mở viện Khổng Tử tại Việt Nam như đã làm tại nhiều nơi trên thế giới.

Đề tài này vừa được nêu lại trong chuyến thăm tháng 12 của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dù hồi 2009, Thủ tướng Việt Nam đ̃a cho phép "thí điểm thành lập một Học viện Khổng Tử tại Việt Nam" nhưng không rõ sẽ đặt ở đâu và bao giờ xây dựng. 

Nay, theo nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, nêu ý kiến của số trí thức mà ông nói là khá đông tại Việt Nam hiện nay, chuyện mở Viện Khổng Tử tại Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức.

Ông Lại Nguyên Ân, người có nhiều tác phẩm về giai đoạn giao thời khi văn hóa Nho giáo bị Phương Tây lấn át tại Việt Nam đầu thế kỷ 20, cho rằng chỉ để nghiên cứu Khổng giáo thôi thì công việc của một viện như thế sẽ rất bó hẹp.

Còn nếu để quảng bá văn hóa chính thống hiện nay tại Trung Quốc, một trung tâm Khổng Tử, nếu được khai trương, sẽ dễ vấp phải các chủ đề nhạy cảm trong quan hệ chính trị và ngoại giao Việt - Trung hiện nay.

Trước hết, ông Lại Nguyên Ân, hiện ở Hà Nội cho BBC biết về bối cảnh các các nước khác quảng bá văn hóa của họ ở Việt Nam:

Ông Lại Nguyên Ân: Hiện nay các nước đều đang mở các trung tâm để giới thiệu, truyền bá văn hóa của họ ở các thành phố lớn của Việt Nam. Pháp có Alliance Francaise, Nga có nhà văn hóa Nga, Đức có Viện Goethe, Anh và Nhật cũng tương tự. Tôi nghĩ trung tâm văn hóa Khổng Tử, tuy mang tên Khổng Tử nhưng chắc là dạng như thế, sẽ để thỏa mãn nhu cầu giao lưu của những người muốn tìm hiểu văn hóa Trung Quốc ở Việt Nam thì ở khía cạnh đó là điều bình thường. 

Nhưng hiện nay trong quan hệ Việt Nam và Trung Quốc có những vấn đề khác, nhạy cảm như chuyện biên giới rên biển, trên đất liền, chuyện về kinh doanh, ảnh hưởng văn hóa hai bên. Ngoài những chuyện bình thường thì cũng có những vấn để nổi lên nên trong dư luận của giới trí thức Việt Nam có một số lo ngại. Người ta nghĩ rằng Viện Khổng Tử đó có thể lại là một bàn đạp để truyền hóa một văn hóa, mà trên thực tế văn hóa đó đã được chuyển hóa, truyền bá vào Việt Nam hàng ngàn năm.

Nhưng với ảnh hưởng của nó thì Việt Nam đã học được không ít nhưng đồng thời cũng vẫn giữ được những thuộc tính văn hóa của người Việt Nam. Ở khía cạnh đó thì cũng có những lo ngại và những lo ngại đó nói cho cùng có lý do chính đáng. Tuy nhiên, những lo ngại đó cũng không phải là đáng tới mức người ta phải ngăn chặn Viện đó nếu như nó được thành lập ở Việt Nam.

BBC: Ông và một số người quan tâm đến văn hóa châu Á ở Việt Nam có phải lo ngại rằng khi mở Viện Khổng Tử thì các ấn bản như như bản đồ Trung Quốc, cờ, và biển đảo mà Trung Quốc coi là của họ và Việt Nam cũng coi là của mình thì ngay lập tức sẽ gây ra tranh cãi?

Vâng, tôi tin là như thế. Những nước như Pháp, Anh, Nga chẳng hạn thì họ cũng phải xử lý các nhà văn hóa của họ để không làm mếch lòng, đụng chạm đến người Việt Nam thì nó mới hoạt động được. Còn nếu người Trung Quốc mở trung tâm văn hóa Khổng Tử ở đây mà lại truyền bá nguyên những chuẩn chính thống họ đang duy trì trên truyền thông của họ thì nó sẽ thành vấn đề với công chúng Việt Nam

BBC:Về các trung tâm dạy tiếng Trung tại Việt Nam thì chuyện tìm hiểu văn hóa Trung Quốc có được đón nhận rộng rãi không?

Ở Hà Nội, TP HCM đều có các trung tâm dạy tiếng Trung nhưng chủ yếu đều mang tính thương mại, đáp ứng cho những người có nhu cầu buôn bán, giao lưu qua biên giới. Ở TP. HCM còn có một cộng đồng tương –đối đông người Hoa nữa. Chuyện học tiếng Hoa chủ yếu là do nhuc ầu giao tiếp kinh tế thôi, chưa có gì là truyền bá văn hóa Trung Quốc cả. Còn các trường đại học dạy chuyên về ngoại ngữ thì cùng ngôn ngữ tiếng Trung cũng có nội dung văn hóa nhưng đó lại là chuyện khác.

Khổng Tử (551 - 479 trước Công nguyên) được thờ ở các văn miếu và văn chỉ tại Việt Nam thời phong kiến
BBC: Trong các nghiên cứu của ông về giai đoạn Tân thư, khi văn hóa Pháp du nhập Việt Nam đầu thế kỷ 20, và bỏ dần Nho giáo thì đã có câu hỏi về tính hữu dụng hay lợi ích của viêc duy trì một số nét của Nho giáo. Vậy bây giờ có nhu cầu đó không và nếu Viện Khổng Tử được mở trong tương lai do Trung Quốc lập ra chỉ truyền bá Nho giáo và những ưu điểm của Nho giáo thì ông thấy có được không?

Tôi nghĩ là nếu Viện đó chỉ bó gọn vào những vấn đề của Khổng giáo thôi thì chính viện đó nó sẽ thiếu sức sống rõ rệt. Tôi nghĩ là họ sẽ không chọn cách đó mà sẽ làm như người Đức chọn ông Goethe và thông qua tên ông Goethe để đặt viện cho giao lưu Đức – Việt. Có lẽ họ sẽ chỉ chọn tên ông Khổng tử để làm tất cả các việc liên quan đến văn hóa Trung Quốc, và ở đấy có giao lưu giữa người Việt và người Trung Hoa về văn hóa thôi. Chứ còn nếu khuôn lại trong phạm vi ông Khổng Tử và Khổng giáo thôi thì nó sẽ rất hẹp.

Vì hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà cả và trong vùng Đông Nam Á trong giới học thuật người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của Khổng giáo, từ nguồn cho đến suốt trong lịch sử xã hội.

Sự đánh giá cả tích cực và tiêu cực về ảnh hưởng đó vẫn còn mãi trong giới nghiên cứu không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các nước trong vùng Đông Á này. Thành thử ra tôi tin là họ sẽ không chọn góc độ đó, họ sẽ chỉ mượn cái tên thôi.

BBC: Liệu ý tưởng về một Khổng Tử kiểu mới có cần thiết cho Việt Nam bây giờ không?

Những ý tưởng trình bày về một Khổng Tử kiểu mới sẽ lạc lõng ở Việt Nam. Vì Khổng Tử kiểu cũ, trong truyền thống người Việt Nam đem về, tại các Văn Miếu, và Văn Chỉ ở các tỉnh, những người theo Nho học đến đó, giao tiếp xung quanh các học thuyết của Khổng tử. Nhưng thực ra, trong quá khứ chỉ có những người đi học ở các trường sở của Nho giáo đó mới trở thành môn đồ của những Văn Miếu, Văn Chỉ đó thôi.

 
Tượng Khổng Tử bị một cơ sở làm gốm sứ ở Khúc Dương, 
tỉnh Hà Bắc của Trung Quốc vứt bỏ

Nhưng Nho học đã bị chấm dứt từ những năm 1906 -1907 nên sau đó, dần dần thế hệ những môn sinh chính cống của Khổng tử đã không còn nữa, họ đã chết hết cả rồi.

Nên ngày nay tại các Văn Miếu hay Văn Chỉ có những người đến đó, theo tôi, vì họ có ngưỡng vọng thế thôi chứ rất ít người có thể giao lưu với nhau về các vấn đề học thuật của Khổng giáo. Những vấn đề đó trên thực tế chỉ còn có một số nhà nghiên cứu chuyên tâm biết. Cả nước Việt Nam có thể chỉ có đếm đấu đến con số 100 người là cùng.

Thành ra tôi không nghĩ ví dụ các Viện Khổng Tử nếu hoàn toàn gắn vào thuyết Khổng Tử lại có thể tạo học thuyết hay tạo ra ảnh hưởng gì đó tại Việt Nam.

BBC: Báo Anh, tờ The Economist cuối năm nay 2011 cũng nói ngay tại Trung Quốc, Đảng Cộng sản cũng không ủng hộ 100% Khổng Tử. Tượng Khổng Tử 9,5 mét ở Thiên An Môn bị bê đi sau một thời gian, còn giới doanh nhân Trung Quốc lại thích Tôn Tử, và muốn dùng binh pháp của ông vào bành trướng kinh doanh, vậy chuyện Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn truyền bá Khổng giáo ở Việt Nam, những người cộng sản Việt Nam có thích không?

Tôi nghĩ những người cộng sản Việt Nam ở thế hệ hiện nay họ cũng chỉ còn biết Khổng Tử một cách rất chung chung thôi. Trên thực tế họ vẫn tiếp tục những tôn chỉ của nó nhưng những phạm trù học thuyết thì họ đã xa lâu lắm rồi. Chỉ có cha ông họ biết thôi.

Thành thử tôi không nghĩ là thế hệ những người cộng sản chính thống hiện nay lại có bước ngoặt là quay lại học Khổng giáo, để lĩnh hội giáo lý, tôn chỉ của nó. Tôi không tin là họ sẽ làm như thế.


CHIỀU CUỐI NĂM, ĐỌC TÙY BÚT CỦA PHẠM CHUYÊN

Những dòng sông 

Tùy bút của Phạm Chuyên

Bốn con sông. Tranh HS Đinh Quân tặng Phạm Chuyên

Những dòng sông mang nặng phù sa cõng trên lưng biết bao thân phận người. Thế mà người đời cứ qua sông rồi là quên mất cả dòng sông. 

Còn nhớ lắm, ngày tôi sinh, nơi tôi sinh ở ngôi nhà ông bà ngoại, bờ phải phía trên khúc sông chảy qua kinh thành Thăng Long - Hà Nội. 

Tôi biết đến Hà Nội vào những năm sáu mươi, thời bao cấp, tôi được giáo dục cầm súng đi đánh Mỹ. Được tập huấn ở Cầu Chui, Gia Lâm - Hà Nội. Mang quân hàm binh nhì, phụ cấp hàng tháng 5 đồng. Số tiền vừa đủ mua xà phòng tắm 72%, díp đánh răng Ngọc Lan và tem thư. Còn lại, chỉ đủ đi bộ qua cây cầu Long Biên, lượn một vòng xung quanh Hồ Gươm, ăn một que kem Hồng Vân, lại đi bộ qua cầu, trở về Cầu Chui để học cách đánh Mỹ. 

Cây cầu Long Biên và dòng sông Hồng mang trong tiểu sử của nó biết bao sự kiện, bao chiến công, bao thương tích, lịch sử đã ghi chép lại khá cụ thể, khá đầy đặn. Còn với tôi cây cầu ấy, khúc sông ấy là những cuộc cuốc bộ, bụng đói, bước chân như ngắn lại, như con ngựa đi nước kiệu, thở hồng hộc để kịp về doanh trại. Điểm danh cho kịp trước khi tiếng kẻng vang lên. 

Năm mươi năm đã trôi qua. Vào một ngày của năm Đại lễ nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, ngày hội trên cầu Long Biên. Năm mươi năm tôi mới lại thả bộ trên cây cầu Long Biên bên người bạn đời xuống bãi giữa, cô ấy mua mấy bắp ngô nướng. 

Chúng tôi qua đầu cầu bên Gia Lâm, uống một trái dừa xiêm. Mua một con tò he. Cô ấy được ký họa một bức chân dung, bằng bàn tay của một họa sĩ trẻ đang hành nghề trên cầu. Tôi kể cho cô ấy những cuốc đi bộ trên cầu Long Biên mà chưa một lần cô ấy nghe, được chứng kiến nhiều việc tôi đã được phục vụ để trả nợ cho dòng sông Mẹ nơi tôi sinh ra, nơi tôi sống những năm tháng đáng sống nhất, gian nguy nhất và chan chứa yêu thương nhất mà người dân Hà Nội ưu ái dành cho tôi. 

Biết ơn mãi mãi là một cảm hứng đi suốt cuộc đời tôi. Dù thời khắc ấy là bình minh, là giông bão. Là thơm ngát mùi hương những loài hoa Hà Nội. Là gương mặt người. Là những bóng đêm. 

Có một lần tôi đề xuất với những người có trách nhiệm ở Thủ đô ta, xin đừng đặt tên nước cho tên quận... Cái quận Hoàng Mai bây giờ, các vị ấy dự định đặt tên là quận Vạn Xuân. Mọi việc như ván đã đóng thuyền. Tôi thức suốt một đêm để thuyết trình cái lý lẽ đừng có đặt tên nước làm tên quận. Xong việc bốn giờ sáng, tôi, hai nhà báo và một hoạ sĩ ngồi bên bờ hồ Trúc Bạch, ở nơi ranh giới giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch.

Tướng Phạm Chuyên. Ảnh: N.X.D
Thời ấy dân Hà Nội bảo là nơi ranh giới giữa cái hồ sống (hồ Tây) và cái hồ chết (hồ Trúc Bạch). Không rượu, không bia, chỉ có mấy chai lavie và thuốc lá, tôi thanh thản mà đọc mấy câu ghi lại cảm xúc biết ơn cái đêm ấy của anh em chúng tôi. 

Biết ơn nhiều cái đêm không ngủ
Đêm bàng hoàng đêm hốt hoảng về đâu
Trời chưa sáng mà mặt người ngời sáng
Đêm tưởng dài đêm có dài đâu! 

Sáng hôm sau tôi đọc tờ thuyết trình viết ở cái đêm ấy. Ý kiến của tôi được chấp thuận. Thế là có cái tên quận Hoàng Mai bây giờ. Còn tên nước Vạn Xuân từ thời vua Lý Bôn - Lý Bí vẫn là tên nước. Cái hồ sống và cái hồ chết mà chả bao giờ chết được vốn là một phần của con sông Mẹ đã xui khiến tôi và các bạn tôi làm được một việc thật ra là chả mang lại tiền của gì, nhưng nó là cái duyên mà phải làm để trả ơn, để biết ơn tất cả, biết ơn những con sông, những dòng sông, và những gương mặt người.
Hà Nội - bên dòng sông Cái
Tháng Chạp - Canh Dần
Phạm Chuyên
.

Con đê

Tùy bút của Phạm Chuyên


Người Việt Nam mình có ngàn ngàn cây số con đê. Đê sông, đê biển, đê ngòi… Tuổi thơ ai mà chả có những kỷ niệm về những triền đê và con đê. 

Tôi là ai là ai mà yêu quá đời này (Trịnh Công Sơn)... 

Triền đê tuổi thơ tôi. Cái con đê và triền đê kéo dài từ Trung Hà đến triền đê Thăng Long Hà Nội. Đã có thời tôi như một trẻ vô phúc chả làm sao đi lại trên triền đê của tuổi ấu thơ. Đến khi không nghèo như những người công nhân đứng máy, những nhà máy dệt may, nhà máy giày da, nhà máy kính đáp cầu, nhà máy Nai, nhà máy a di đát… Cũng không nghèo như người dân quê tôi giữa những năm hai nghìn - thôn Bài Nha, xã Cam Thượng, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây - mà nay di về Thăng Long - Hà Nội. Cũng không giàu có như các đại gia, xanh có, đỏ có, xanh vỏ đỏ lòng cũng có. Đủ tiền tôi gọi một cuốc xe đến thắp nhang bốn mươi chín ngày của cụ bà, quê Tản Hồng, Ba Vì, Hà Nội.


Người lái xe lầm lì và kiệm lời lắm. Nhờ có duyên trời cho, anh thổ lộ bảo em người núi Voi, Hải Phòng, là họa sĩ, lái tắc xi chỉ để chơi thôi. Tôi bảo thế cuốc xe này bao nhiêu tiền. Hai triệu. Trời ơi là trời. Có trên dưới bốn chục cây số mà những hai triệu. Họa sĩ lái cái giá nó khác đấy ông anh ạ. Hết biết rồi. Tôi trả anh triệu rưỡi.

Vàng hương xong, chúng tôi xuôi theo triền đê sông Hồng trở về Hà Nội. Tôi bảo chỉ đi trên đê, không đi trên đường thiên lý, trên đường cái quan. Ô kê đi. Họa sĩ nói thế.

Từ Tản Hồng, họa sĩ dừng xe đột ngột. Bảo rẽ vào đình Chàng (đình Chu Quyến) đi bác. Tôi bảo: Ừ. Cái ngôi đình này là cả tuổi thơ tôi. Ông bà già tôi. Ông cố nông - không một thước đất cắm dùi. Lấy mẹ tôi, con cụ tiên chỉ của làng. Hai người sau khi sinh ra tôi về ngụ cư trên chính vùng đất quê mình - chợ Chàng, Chu Quyến, Quảng Oai, Tùng Thiện, Sơn Tây.

Thế là tôi học A, B, C ở đình Chàng cho đến lớp hai. Đình Chàng có những cột đình to đùng, to đoàng. Vào tuổi ấy phải bốn đến sáu đứa trạc tuổi tôi mới ôm khít một cột đình. Còn nhớ chỉ học A, B, C mà ông giáo làng đã viết một tờ giấy dó mấy chữ Tổ quốc trên hết. Cứ mỗi ban mai, chúng tôi hái những bông hoa, họa dại có, hoa người ta trồng có, kết một vòng hoa xung quanh mấy chữ Tổ quốc trên hết của ông giáo làng.

Rời đình Chàng, chàng họa sĩ lại bon bon trên triền đê sông Hồng. Rồi chàng họa sĩ lại thắng gấp đánh hự một cái, rẽ trái một cái. Chúng tôi đứng trước cái cổng sắt nhà cụ tiên chỉ. Cổng đóng then cài. Mợ tôi (chủ nhà) đang mưu sinh trên đường thiên lý. Nhìn qua cánh cổng sắt tôi mơ màng thấy cái cuống rốn tôi bay bay trên vườn nhà ông ngoại.

Chúng tôi lại bon bon trên triền đê sông Hồng xuôi về Hà Nội. Trời vẫn mưa. Ổ trâu, ổ gà, ổ voi, cơ man nào là ổ. Chàng tắc xi - họa sĩ bảo, bác có biết lái không. Tôi bảo, cứ thử xem. Tôi cầm vô lăng chở chàng họa sĩ bon bon trên triền đê sông Hồng xuôi về Thăng Long Hà Nội. Bụng cứ bảo dạ, hai anh em mình về Hà Nội thôi. Hà Nội có những người chị, những người em, có cả Thắng ngớ đang chờ ta.

Khự một phát, người ta đắp ụ chắn đê, đành rẽ vào phố phường. Qua triền đê Liên Hà, Liên Mạc, tôi nằm phịch trên chiếc giường sau cùng, ngôi nhà sau cùng. Chắc sẽ cho đến lúc về chầu ông bà ông vải.

*Tác giả Phạm Chuyên, Thiếu tướng, nguyên GĐ Sở Công an Tp Hà Nội.