Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

GS. HOÀNG TỤY: BẢN LĨNH LÃNH ĐẠO

Bản lĩnh lãnh đạo 
Hoàng Tụy

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm phòng thí nghiệm
thuộc Viện Khoa học vật liệu Ảnh: TTXVN




















Trong cuộc gặp mặt hồi tháng trước của Tổng Bí thư với Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam đã có nhiều trí thức bày tỏ những ưu tư, trăn trở trước hiện tình đất nước đang trải qua những giờ phút nghiêm trọng như cách đây ba mươi năm. Vì không có cơ hội tham gia buổi gặp mặt, tôi xin góp  câu chuyện sau để hưởng ứng cuộc trao đổi ý kiến đáng nhớ đó. 

Chúng ta đều biết, trong quá trình hoạt động cách mạng, Đảng đã giành được những thắng lợi vẻ vang, đồng thời cũng đã có lúc phạm sai lầm lớn. Đặc biệt, những sai lầm trong khoảng mười năm sau thống nhất đất nước đã khiến lòng tin của dân đối với Đảng sa sút trầm trọng. 

Nhưng ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng ấy tôi vẫn giữ được niềm tin.  Đó là nhờ giữa lúc bế tắc đó, tôi đã được may mắn nhìn thấy ở các lãnh tụ Đảng một tinh thần thật sự cầu thị, bình tĩnh tiếp thu ngay cả những ý kiến mà thoạt nghe tưởng như rất khó chấp nhận. 

Số là khoảng tháng 5-6 năm 1979,  tôi cùng với 4 anh em trí thức khác được Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn mời xuống Đồ Sơn gặp để trao đổi ý kiến về tình hình kinh tế xã hội. Kế hoạch trù định làm việc trong 2 tuần nhưng nửa chừng phải dừng lại để về Hà Nội vì có tin Phó Chủ tịch Nguyễn Lương Bằng vừa mất.     
Cuối kỳ họp đầu tiên Quốc Hội khoá XIII nhiều vị lãnh đạo sau khi được bầu vào các chức vụ cao nhất  đã long trọng hứa sẽ lắng nghe ý kiến, nguyện vọng người dân.  Lời hứa đó nên được coi như lời thề, vì lịch sử cho thấy thời nào mà lãnh đạo biết gần dân, nghe dân, thì dù đất nước khó khăn đến mấy dân cũng không mất niềm tin. Mà còn niềm tin thì còn tất cả, khó khăn sẽ được khắc phục, đất nước sẽ vững bước đi lên.
Trong mấy ngày đó chúng tôi đã có điều kiện góp ý trực tiếp và thẳng thắn với TBT. Phát biểu đầu tiên tôi nêu thắc mắc: cùng với nhiều anh em khoa học, tôi đã cố gắng tìm hiểu nhưng vẫn chưa hiểu lý luận làm chủ tập thể là thế nào.  Sau khi được TBT giải thích kỹ càng, tôi thưa lại: tất cả sự giải thích ấy tôi đã được nghe trong nhiều cuộc thảo luận chính trị, song tôi vẫn băn khoăn một điều cơ bản: ta nói làm chủ tập thể là hình thức dân chủ cao hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong lúc đó ngay dân chủ tư sản ta cũng chưa đạt được. Và để dẫn chứng tôi nêu ra nhiều việc và đọc lên cho TBT nghe mấy câu truyền miệng mà hồi đó khá phổ biến ở vỉa hè Hà Nội: năng làm thì đói, biết nói thì no, biết bò thì sướng, càng bướng càng khổ. Hồi ấy lý luận làm chủ tập thể được coi là cơ sở lý luận và điểm mấu chốt trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, một sáng tạo lớn của Đảng, cho nên tôi hiểu rằng tôi đã chạm một điểm nóng, cực nóng, chưa biết rồi sẽ gặp phản ứng gì.

Hôm sau, TBT nêu câu hỏi: làm thế nào chống tiêu cực (hồi ấy tiêu cực là từ dành để nói tham nhũng). Tôi đáp: với cách quản lý kinh tế như ta, không thể chống tiêu cực được. Bởi  công chức cán bộ lương quá thấp, không sống nổi thì họ phải xoay xở mọi cách để sống và khi xoay xở tất nhiên không tránh tiêu cực. Bắt đầu là tầng lớp cán bộ công chức cấp thấp nhất, rồi leo dần lên cấp cao hơn vì kinh tế càng khó khăn thì cấp cao hơn cũng dần dần không sống nổi bằng lương. Cứ thế tiêu cực sẽ đi từ cấp thấp nhất lên cấp cao dần. Có thể lúc bấy giờ tiêu cực chỉ mới lên tới cấp trung gian - cái cấp mà, như người dân mô tả, “trung ít gian nhiều” - nhưng nguy hiểm là một khi tiêu cực đã bắt đầu có chút lý do dựa vào cuộc sống để được dung thứ, thì nó sẽ phát triển không biên giới, và lây dần sang cả những cán bộ công chức mà hành vi tiêu cực hoàn toàn không thể biện minh bằng lý do cuộc sống. Không ai có thể cưỡng lại cái quy luật đó, cũng không ai dám chắc với cơ chế này tiêu cực sẽ dừng lại ở cấp nào. Nói cách khác, tiêu cực, tham nhũng gắn liền với cách quản lý, nó là một khuyết tật hệ thống của cơ chế quản lý. Vậy vấn đề là phải thay đổi cơ chế quản lý thì mới chống được tiêu cực, mới chống được tham nhũng.

Một hôm khác TBT nêu băn khoăn: ta có nhiều đơn vị tiên tiến: Duyên Hải, Đại Phong, rồi Vũ Thắng, v.v… tại sao không nhân lên nổi? Tại sao phong trào thi đua cứ đi xuống dần, cứ nhạt dần? Tôi thưa lại: lấy ví dụ hợp tác xã Vũ Thắng là đơn vị tiên tiến trong nông nghiệp, hằng năm được Nhà nước cấp không 1000 tấn than, lại còn bao nhiêu ưu ái khác về cán bộ, v.v…, nếu nhân lên thì cả nước lấy đâu ra đủ than, đủ cán bộ tốt, v.v... cấp cho mọi hợp tác xã? Theo tôi, cách quản lý kinh tế như vậy chỉ có Trung Quốc và ta làm, mà cả hai đều thất bại. Còn về thi đua thì phải thấy rằng ở Liên Xô phong trào stakhanovit có thể thành công vì đó là thi đua giữa công nhân nhà máy, ở đó năng suất lao động từng người có thế đánh giá bằng những số liệu khách quan. Nếu áp dụng cho các ngành khác, ví dụ giáo dục, thì làm gì có những số liệu khách quan như thế, cho nên thi đua sớm muộn sẽ dẫn đến báo cáo thành tích giả tạo (chẳng hạn, nếu lấy tiêu chí thi đua là ít học sinh bị đúp lớp thì chắc chắn mau chóng sẽ không còn học sinh bị đúp nhưng không vì thế mà chất lượng giáo dục tăng lên, trái lại). Cho nên ở Liên Xô ngay từ 1935 đã có chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng bãi bỏ thi đua trong giáo dục. Tại sao ta không rút kinh nghiệm việc ấy mà cứ máy móc áp dụng thi đua trong mọi ngành? Trong kháng chiến khi tinh thần yêu nước, hy sinh chịu đựng rất cao, hơn nữa thành tích thi đua không gắn liền với quyền lợi vật chất thiết thực thì thi đua ít bị méo mó, còn ngày nay, khi lợi ích vật chất ngày càng lấn át lợi ích tinh thần, thì thi đua trong nhiều ngành rất dễ trở thành không lành mạnh. Vì vậy tôi đề nghị nên xem lại việc mở rộng máy móc thi đua trong mọi ngành, đặc biệt trong giáo dục.

Điều bất ngờ với chúng tôi là trước những ý kiến gai góc mà trước đó lãnh đạo chưa từng nghe bao giờ, TBT Lê Duẩn dù rất buồn vẫn không tỏ ý bực dọc mà vẫn bình tĩnh, đĩnh đạc cùng chúng tôi trao đổi, thảo luận trong không khí cởi mở, thân thiện.

Sau đó một thời gian ngắn có Hội nghị TƯ thứ 6. Vào lúc đó tôi chuẩn bị đi Canada. Ngay trước ngày lên đường, tôi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng  mời cơm và căn dặn mấy điều nhờ tôi nhắn nhủ với anh chị em trí thức Việt kiều. Thủ Tướng cho biết: những ý kiến các anh góp vừa qua ở Đồ Sơn rất tốt, kỳ này chúng ta sẽ chuyển hướng mạnh. Về sau tôi được biết Hội nghị TƯ 6 đã có nghị quyết lịch sử, với nhiều thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và chủ trương.  Bỏ ngăn sông cấm chợ, nhân dân được tự do làm ăn hơn, lợi ích vật chất được coi trọng hơn, không còn xây dựng các điển hình tiên tiến theo kiểu hợp tác xã Vũ Thắng.

Ngoài ra dĩ nhiên chúng tôi còn góp nhiều ý kiến khác, xung quanh việc coi trọng lợi ích vật chất, mở rộng quyền tự chủ của các xí nghiệp, bãi bỏ ngăn sông cấm chợ, v.v… Thậm chí khi bàn về chính sách nông nghiệp có người đã không ngần ngại chỉ rõ: chính sách của Đảng đã bần cùng hóa nông dân. Tóm lại, thật sự đã có không khí nói thẳng nói thật trong mấy ngày đó.

Điều bất ngờ với chúng tôi là trước những ý kiến gai góc mà trước đó lãnh đạo chưa từng nghe bao giờ, TBT Lê Duẩn dù rất buồn vẫn không tỏ ý bực dọc mà vẫn bình tĩnh, đĩnh đạc cùng chúng tôi trao đổi, thảo luận trong không khí cởi mở, thân thiện.

Sau đó một thời gian ngắn có Hội nghị TƯ thứ 6. Vào lúc đó tôi chuẩn bị đi Canada. Ngay trước ngày lên đường, tôi được Thủ Tướng Phạm Văn Đồng  mời cơm và căn dặn mấy điều nhờ tôi nhắn nhủ với anh chị em trí thức Việt kiều. Thủ tướng cho biết: những ý kiến các anh góp vừa qua ở Đồ Sơn rất tốt, kỳ này chúng ta sẽ chuyển hướng mạnh. Về sau tôi được biết Hội nghị TƯ 6 đã có nghị quyết lịch sử, với nhiều thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và chủ trương. Bỏ ngăn sông cấm chợ, nhân dân được tự do làm ăn hơn, lợi ích vật chất được coi trọng hơn, không còn xây dựng các điển hình tiên tiến theo kiểu hợp tác xã Vũ Thắng, còn chuyện thi đua thì cũng lắng xuống vài năm rồi lại được dựng lại do sự trỗi dậy của tư tưởng thành tích, gây biết bao tiêu cực, hệ lụy.

Ngày nay trong giới trí thức và các tầng lớp nhân dân những tấm lòng yêu nước, yêu dân, những ý kiến xác đáng, những việc làm đẹp đẽ vì Tổ quốc thân yêu ngày càng  nhiều và dễ thấy, miễn là chịu nhìn, chịu thấy, chịu lắng nghe. Đó là niềm tin và hy vọng của chúng ta.
Theo tôi tư duy đổi mới đã thật sự hình thành từ Hội nghị TƯ 6, tuy chưa quyết liệt và còn phải vất vả mấy năm nữa mới trở thành đường lối đổi mới chi phối toàn bộ hoạt động của Đảng mà nhờ đó chúng ta đã vượt qua được khủng hoảng gay gắt những năm 80.

Kể lại câu chuyện trên tôi muốn nói rằng ngay khi khó khăn nhất, nếu lãnh đạo chịu khó lắng nghe những tiếng nói tâm huyết ngược với lời ca tụng thông thường thì không những lấy lại được niềm tin mà còn tìm ra được lối thoát. Còn như cứ thích nghe những lời tán tụng đường mật thì đó chính là con đường dẫn tới hủy hoại niềm tin, mà mất niềm tin thì mất hết, đúng như Nguyên Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã cảnh báo.

Điều làm tôi lo lắng là thái độ thật sự cầu thị của các lãnh đạo  ngày nào dường như ngày càng ít thấy trong bộ máy quyền lực. Đã có biết bao ý kiến, đề nghị tâm huyết của trí thức am hiểu đã bị bỏ qua mà cái giá phải trả ngày càng lộ rõ.

Trong khi đó tệ nạn tiêu cực, tham nhũng đã diễn biến đúng như dự báo, nghĩa là từ cấp thấp nhất đã leo dần lên nhiều cấp và lan ra toàn xã hội. Đến mức mà khi kỷ niệm ngày sinh thứ 90, Cố vấn Phạm Văn Đồng đã phải thốt ra: căn nhà của chúng ta quá nhiều rác rưởi dơ bẩn, phải quét sạch đi thì sự nghiệp cách mạng mới có thể thành công.

Đã qua hơn một phần ba thế kỷ từ ngày thống nhất đất nước mà trước mắt vẫn còn đó các vấn đề hệ trọng sống còn, với những khó khăn, thách thức có phần, có mặt phức tạp gay gắt hơn.

Nhưng cũng thật kỳ diệu: ngày nay trong giới trí thức và các tầng lớp nhân dân, những tấm lòng yêu nước, yêu dân, những ý kiến xác đáng, những việc làm đẹp đẽ vì Tổ Quốc thân yêu ngày càng  nhiều và dễ thấy, miễn là chịu nhìn, chịu thấy, chịu lắng nghe. Đó là niềm tin và hy vọng của chúng ta.

Nguồn: Tia Sáng.
Bản gốc của bài viết này, xem tại: http://www.viet-studies.info/HoangTuy_BanLinhLanhDao.htm

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

CHÚC MỪNG GIÁO SƯ HOÀNG TỤY

GS Hoàng Tụy vừa được tăng thưởng giải Caratheodory

dành cho lĩnh vực TỐI ƯU TOÀN CỤC

hoang-tuy2

Chúc mừng Giáo sư Hoàng Tụy

GS Nguyễn Đăng Hưng


Chúng tôi vừa được tin sáng nay là GS Hoàng Tụy đã được Giải thưởng Constantin Caratheodory!
Đây chính là niềm vinh hạnh của giới khoa học Việt Nam, đặc biệt giới toán học, Viện toán học Hà Nội.
Lĩnh vực tối ưu toàn cục ngoài phần lý thuyết có phần ứng dụng có tác động rất lớn đến khoa học kỹ thuật hiện đại.
Riêng ứng dụng lý thuyết tối ưu vào lĩnh vực mô hình mô phỏng sẽ là cơ sở cho biết bao hướng phát triển trong tương lai trước mắt và lâu dài!
Đây thật là một tin vui, xác định chỗ đứng hàng đầu của GS Hoàng Tụy trong một hướng nghiên cứu mà tương sẽ rất là hoành tráng.
Chúc GS Hoàng Tụy nhiều sức khỏe và tiếp tục là cây đại thụ của nền toán học Việt Nam, là chỗ tựa của trí thức Việt Nam.
GS Nguyễn Đăng Hưng,
Sài gòn 22/9/2011

Vài lời về giải thưởng Caratheodory

 Nhà toán học Constantin Caratheodory 


Giải thưởng Constantin Caratheodory do Tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục cứ hai năm một lần dành cho cá nhân hay tập thể xuất sắt có cống hiến căn bản cho lý thuyết, lập trình và ứng dụng trong lĩnh vực tối ưu toàn cục.

Giải có tên nhà toán học lừng danh Constantin Caratheodory người Hy Lạp (1873-1950), đặc biệt vinh danh những cống hiến đã qua được thử thách của thời gian. Tiêu chuẩn bao gồm tính xuất sắc, độc đáo, ý nghĩa, chiều sâu mà ảnh hưởng của cống hiến khoa học. Giải “Constantin Caratheodory Prize” vừa được Tổ chức quốc tế Tối ưu Toàn cục, đề xướng năm nay 2011. Việc bầu chọn đã xảy ra tại Hội nghị Tối ưu Toàn cục tổ chức tại CHANIA, Hy Lạp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng bảy 2011, vừa qua.

GS Hoàng Tụy người được giải đầu tiên cũng chính là người đã có những công trình căn bản và khai sáng cho lĩnh vực Tối ưu Toàn cục. 

______________________________________________

Một vài hình ảnh Giáo sư Hoàng Tụy:
Giáo sư Hoàng Tụy tại nhà riêng
 
 

Ba ảnh trên: GS Hoàng Tụy cafe 36 ĐBP (bên cạnh Bộ Ngoại giao)
 

Hai ảnh trên: Nguyễn Xuân Diện và Nguyễn Văn Phương đến chuyển lời mời miệng 
của Bộ Ngoại giao tới GS Hoàng Tụy

Nguyễn Xuân Diện - Blog và bạn bè hân hoan bày tỏ lòng kính trọng, ngưỡng mộ và gửi đến Giáo sư Hoàng Tụy
lời chúc mừng nồng nhiệt và lời cầu chúc Sức khỏe - Hạnh phúc!


BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH ĐÂU RỒI?

Treo đèn lồng ở các tuyến phố – một biểu hiện của văn hóa lai căng 
Nguyễn Duy Xuân
 
Trên báo Lào Cai ngày 21-9-2011 đưa tin một số tuyến phố ở thành phố Lào Cai khởi động việc thắp đèn lồng đỏ nhân dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh Lào Cai (1/10/1991 - 1/10/2011). Đây là chủ trương của thành phố Lào Cai đã được làm thí điểm ở 5 phường nội thị từ dịp Quốc khánh 2-9. Điều đáng nói là chủ trương này không được sự đồng thuận của dân vì văn hóa đèn lồng xa lạ với phong tục tập quán của dân tộc. Thế nhưng bất chấp dư luận, lãnh đạo thành phố Lào Cai vẫn quyết tâm để chủ trương này được triển khai trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh và từ 25/9/2011 sẽ triển khai đồng loạt trên những tuyến phố chính.
 
Làm đẹp cho thành phố thì ai chả muốn. Nhưng làm đẹp một cách lai căng, kệch cỡm thế này, lại bất chấp phản ứng của dư luận thì đấy là một sự thấp kém về thẩm mĩ, về văn hóa và coi thường nhân dân.
 
Không riêng gì Lào Cai mà các thành phố, thị xã khác trong cả nước cũng có những dãy phố đèn lồng đỏ treo cao. Từ vài ba năm nay nó không còn là hiện tượng đơn lẻ nữa mà đang có xu hướng phổ biến, trở thành cái “gu” thẩm mĩ lệch lạc của chính quyền nhiều địa phương. Báo chí cũng đã tốn giấy mực phản ánh và phê phán. Trong lúc đó, ngành chức năng là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch vẫn không có một động thái gì để chấn chỉnh ?
 
Thử hỏi thái độ và hành động của các cấp quản lí như thế thì làm sao có thể giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc ?
 
22-9-2011
Nguyễn Duy Xuân

BÀ PHƯƠNG BÍCH YÊU CẦU KHỞI TỐ HÌNH SỰ

Bà Đặng Bích Phượng (Phương Bích). Ảnh: GS.TSKH Hoàng  Xuân Phú

Thưa chư vị,

Chiều qua, với sự giúp đỡ tư vấn của các luật sư, bà Đặng Bích Phượng (Phương Bích - tác giả của ghi chép: Bước chân vào chốn ngục tù, đăng trên NXD-Blog) đã chính thức gửi đơn Yêu cầu Khởi tố hình sự. Trong đơn và các tài liệu gửi kèm, bà yêu cầu khởi tố hình sự:

1- Trưởng công an quận Hoàn Kiếm Hoàng Quốc Định;
2- Giám thị trại giam số 1 Tp Hà Nội Bùi Ngọc Bình.

Văn thư yêu cầu khởi tố đã được chuyển phát nhanh tới: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tp Hà Nội và Ông Giám đốc Công an Tp Hà Nội lúc 17h chiều qua, 21 tháng 9 năm 2011.

Qua đơn thư yêu cầu khởi tố của bà Đặng  Bích Phượng, chúng ta biết: máy tính xách tay và nhiều đồ đạc cá nhân của bà hiện vẫn đang bị công an Hoàn Kiếm giữ, chưa trao trả cho bà. 

Dưới đây là toàn bộ hồ sơ yêu cầu Khởi tố hình sự:














Nguyễn Xuân Diện -Blog

TP LÀO CAI SẮP CHUYỂN QUỐC TỊCH?

TP Lào Cai: Một số tuyến phố khởi động việc thắp đèn lồng
Lời dẫn của Thảo Dân:


Báo Lào Cai vừa đưa tin, lãnh đạo TP Lào Cai chỉ đạo các phường thắp đèn lồng (Trung Quốc) ở các công sở và một số tuyến phố nhân kỷ niệm 20 năm ngày tái lập tỉnh Lào Cai (1/10/1991-1/10/2011). Nhiều hộ dân phản đối vì treo đèn lồng không phải là văn hoá, kiến trúc người Việt Nam. Có lẽ lãnh đạo TP Lào Cai muốn làm vui lòng các vị khách Trung Quốc sẽ sang dự lễ kỷ niệm 20 năm ngày Lào Cai tái lập bằng việc thắp đèn lồng? Hay muốn nói rằng: Nhân Quốc khánh Trung Quốc (1/10/1949) Lào Cai sắp sáp nhập vào Trung Quốc, chúng tôi xin tự nguyện làm nô dịch văn hóa trước khi tự nguyện làm nô dịch quốc gia và thân thể? Mời bạn đọc xem báo Lào Cai tại địa chỉ: baolaocai.vn, để thấy điều này.
Thảo Dân

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh Lào Cai (1/10/1991 - 1/10/2011), thành phố Lào Cai đã bắt đầu khởi động chương trình chỉnh trang đô thị, trong đó có việc thắp đèn lồng tại các công sở và nhà dân trên một số tuyến phố.

                 Đèn lồng trên phố Trần Nhật Duật (phường Kim Tân). 

Năm phường nội thị là Cốc Lếu, Lào Cai, Phố Mới, Kim Tân, Duyên Hải được chọn làm điểm, mỗi phường có ít nhất 1 tuyến phố thắp đèn lồng từ dịp Quốc khánh 2/9/2011. Tại phường Kim Tân, phố Trần Nhật Duật (từ quảng trường cũ tới đầu đường Trần Hưng Đạo), từ dịp Quốc khánh trở lại đây, vào mỗi tối, người dân lại đồng loạt thắp đèn lồng đỏ trước hiên nhà đã gây sự tò mò của nhiều người. Ngoài đèn lồng, đèn trang trí cũng được thắp trên các rặng cây cảnh quan tại khu vực quảng trường cũ và một số công sở, khiến cảnh quan về đêm thêm lộng lẫy.
Tại phường Lào Cai, trên phố Nguyễn Huệ từ đầu cầu Cốc Lếu qua khu vực Cửa khẩu Quốc tế đến Đền Thượng, các công sở đồng loạt treo đèn nháy trên cây cảnh quan phía trước trụ sở. Hơn 10 hộ dân giáp  chùa Tân Bảo cũng đã thắp đèn lồng đỏ từ dịp Quốc khánh 2/9. 
Đèn treo trên phố Hoàng Liên (khu vực phường Cốc Lếu) có kích cỡ quá nhỏ.

Theo bà Lưu Thị Nụ, Chủ tịch UBND phường Kim Tân thì từ tối 25/9, tuyến phố Trần Nhật Duật (đoạn từ đầu đường Trần Hưng Đạo đến đường Quy Hoá), các hộ dân sẽ đồng loạt thắp đèn lồng. Bà Nụ cho biết, việc thắp đèn trang trí trên 3 tuyến phố chính thuộc địa bàn phường là việc nên làm trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh để nâng cao mỹ quan đô thị, làm đẹp thêm hình ảnh thành phố biên cương trong mắt người dân và du khách.
Vừa qua, thành phố Lào Cai đã có công văn triển khai tới các phường, từ đó các tổ dân phố, chi bộ tổ chức họp lấy ý kiến nhân dân về việc treo đèn lồng. Tuy vậy, chương trình treo đèn lồng đã không hoàn toàn nhận được sự đồng thuận của người dân.
                  Chiếc đèn lồng này có giá gần 200.000 đồng.



Dù sao, thành phố Lào Cai vẫn quyết tâm để chủ trương này được triển khai trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh và từ 25/9/2011 sẽ triển khai đồng loạt trên những tuyến phố chính. 

* Anh Phạm Đình Sơn, tổ 14 phường Kim Tân: Treo đèn lồng là không phù với kiến trúc và văn hóa Việt Nam
Là hộ tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ giải trí trên địa bàn nên gia đình rất ủng hộ chủ trương làm đẹp của thành phố. Tuy nhiên, tôi không đồng tình với chủ trương đưa đèn lồng vào treo ở một số tuyến đường trên địa bàn, bởi treo đèn lồng không phù hợp với điều kiện kiến trúc của thành phố, phong tục, tập quán, văn hóa của người Việt.
Đơn cử, trên tuyến đường Trần Nhật Duật, hầu hều các hộ dân đã treo đèn lồng, nhưng nhiều gia đình do xây dựng không có sự thống nhất về thiết kế (nhà thò ra, nhà thụt vào, nhà cao, nhà thấp...), nên treo đèn lồng trông không phù hợp. Hơn nữa, nhiều nhà không thiết kế hệ thống điện, nên chỉ treo làm vì, trong khi đó đèn lồng phải được thắp sáng mới đẹp. Cũng với giá thành ấy, nên chăng thành phố tiến hành làm một biểu tượng hoặc hình thức khác phù hợp hơn…
* Ông Trần Ngọc Dân, tổ trưởng tổ 14, phường Kim Tân: Hầu hết các hộ dân trong tổ không đồng tình với chủ trương treo đèn lồng
Tổ 14 có 65 hộ dân nằm dọc tuyến đường Lý Công Uẩn. Trong buổi họp tổ (16/9/2011) để lấy ý kiến nhân dân về thực hiện chủ trương của thành phố treo đèn lồng nhân kỷ niệm 20 năm ngày tái lập tỉnh Lào Cai thì hầu hết các hộ dân không đồng tình vì cho rằng treo đèn lồng là không phù với văn hóa người Việt Nam cũng như cảnh quan, không gian, kiến trúc ở tổ dân phố nên dễ gây phản cảm. Với trách nhiệm, tổ cũng chỉ phố tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia, đối với cán bộ, đảng viên thì phải gương mẫu thực hiện chủ trương của thành phố.
* Chị Huệ, số nhà 411, đường Nguyễn Huệ, phường Phố Mới: Tổ dân phố bắt buộc các hộ dân trên địa bàn mua đèn lồng
Tổ dân phố không tổ chức họp dân lấy ý kiến về chủ trương treo đèn lồng mà chỉ gửi giấy thông báo và cho người mang đèn lồng đến yêu cầu các hộ dân phải mua để treo, nên người dân bất bình. Nếu ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn thì treo cờ Tổ quốc là phù hợp nhất, chứ nhà cửa như thế này treo đèn lồng sẽ gây phản cảm và lãng phí.
             Thông báo về chủ trương treo đèn lồng tại các hộ dân.
Mỗi vỏ chiếc đèn lồng có giá 125 nghìn đồng, nhưng để treo và thắp sáng được, mỗi chiếc phải đầu tư thêm gần 100 nghìn đồng để mua bóng điện, dây, phích cắm, mà không phải gia đình nào cũng có điều kiện cả.
* Ông Hà Văn Hòa, Tổ trưởng tổ 23, phường Phố Mới: Đây là chủ trương của thành phố, người dân phải chấp hành
Cho dù một số hộ không đồng ý, nhưng đây là chủ trương của thành phố nên bắt buộc các hộ dân trong tổ dân phố phải nghiêm túc chấp hành. Do điều kiện về thời gian nên thay vì phải tổ chức họp dân, tổ dân phố đã gửi thông báo xuống các hộ dân về việc treo đèn lồng, đồng thời hướng dẫn người dân cách thức, quy cách treo đèn. Đến nay, tổ đã phát đèn cho 60/65 hộ dân trong tổ để sẵn sàng treo đồng loạt vào tối ngày 29/9.
Nhóm PV Thời sự  
Cập nhật: Thứ tư, 21/09/2011, 17:04:51 PM
Nguồn: Trần Nhương.com.




Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

MỘT CẢNH TƯỢNG QUÁ ĐAU LÒNG TRÊN ĐẤT NƯỚC TA!

Ảnh: Sưu tầm
 CẢNH TƯỢNG ĐAU LÒNG TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM



Trên VTV tối nay đưa tin này. Tôi đã thót tim khi xem đoạn phim này! 
Có gì như là dấu hiệu của sự tận cùng của sự chịu đựng.
.
Tượng Mẹ Việt Nam mà làm gì? Thôi! Xin hãy đem tiền hóa đá mẹ Thứ để làm cây cầu, cho lũ trẻ con hàng ngày đi qua cây cầu - cánh tay của mẹ - đến trường!
_____________________________

Học sinh phải bơi qua sông đến trường

Sáng sớm, khi sương mù còn giăng khắp bản làng, hàng chục học sinh ở xã miền núi Trọng Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình) vội cởi quần áo ngoài cho vào túi nylon, mặc quần cộc bơi qua dòng Khe Rào để tới trường học.

*Clip: Vượt sông đến trường

Nằm cách trung tâm xã Trọng Hóa chừng 7 km, bản Ông Tú có 20 hộ dân với 106 nhân khẩu, trong đó có 14 em đang học tiểu học. Bản Ka Óoc gần đó cũng có hơn chục em học tại trường THCS Trọng Hóa. Do nằm bên kia sông Khe Rào (thượng nguồn sông Gianh), hai bản trở nên biệt lập với thế giới bên ngoài. 

Ngày nào cũng vậy, học sinh bản Ông Tú và Ka Óoc phải thức dậy thật sớm vượt quãng đường đồi dốc xuống sông Khe Rào. Như một thói quen, các em cho cặp sách, quần áo vào vào túi nylon chuẩn bị từ trước rồi cùng bơi qua sông. Nhiều em không mang theo túi nylon thì bơi một tay, tay còn lại giơ cao cặp sách lên đầu cho khỏi ướt.

Gần một năm nay, học sinh bản Ông Tú và Ka Oóc xã Trọng Hóa phải bơi qua sông học chữ. Ảnh: Văn Nguyễn.

"Vào mùa lũ, tụi em phải nghỉ học chừng một tháng vì nước sông Khe Rào chảy xiết, không thể bơi qua được”, em Hồ Danh, học sinh lớp 4A, trường tiểu học Hưng nói. Danh cho biết, em và các bạn đều sợ bơi qua sông, nhưng vì muốn học cái chữ nên phải cố rướn mình qua những đoạn nước sâu, chảy xiết. "Mùa đông nước cạn bớt nhưng tụi em vẫn phải lội qua những chỗ nước sâu. Vào lớp học chân tay ai cũng run cầm cập", Danh kể.

Việc bơi qua đoạn sông rộng chừng 20 mét với học sinh nam chỉ mất vài phút, nhưng với em nữ là thử thách. Hồ Thị Thoi, học sinh lớp 8 trường THCS Trọng Hóa vẫn nhớ như in ngày tập bơi để đi học.

“Ngày đó mấy đứa bạn dẫn em ra bờ sông nói muốn đi học thì phải biết bơi qua bên kia sông. Em thích đi học nhưng nhìn nước chảy mạnh quá nên cứ bước xuống lại nhảy lên bờ. Mấy bạn vừa bơi vừa kéo em qua, uống mấy hớp nước liền. Sau đó em nhờ bạn dạy bơi để được đi học”, Thoi kể.

Bản Ông Tú có 8 em đang học mẫu giáo ngay tại bản, các cô giáo lại phải tìm cách qua sông để đến lớp. Năm 2009, cô Đinh Thị Thức, giáo viên trường mầm non Trọng Hóa, ngồi thuyền qua sông Khe Rào vào bản Ông Tú dạy học, bất ngờ thuyền lật úp, cô giáo ngã xuống sông. May mắn một người dân phát hiện, kịp thời bơi ra cứu. 

Ông Hồ Nhung, 79 tuổi, trưởng bản Ông Tú cho biết tình trạng học sinh đi học phải bơi qua sông diễn ra từ mùa đông năm 2010. Trước đây, xã cấp thuyền cho bản nhưng đến mùa lũ do bảo quản không tốt nên thuyền bị cuốn trôi. Sau đó học sinh ở bản muốn đi học thì phải biết bơi, không kể lớn hay nhỏ. 

“Người ở bản chưa ai gặp nạn ở đoạn sông này nhưng hiểm nguy có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Bà con ai cũng muốn có được một cây cầu để cho tụi nhỏ đi học, người lớn đi làm mà mong hoài chưa được”, ông nói. 

Xã mới được cấp một chiếc thuyền để học sinh qua sông. Tuy nhiên, vào mùa lũ, nước sông dâng cao, việc chèo thuyền vẫn rất nguy hiểm. Ảnh: Văn Nguyễn.

Ngày 17/9, học sinh bản Ông Tú đã được huyện cấp cho một chiếc thuyền và áo phao để qua sông. Tuy nhiên, ông Đinh Xuân Tiến, Chủ tịch UBND xã Trọng Hóa cho rằng việc cấp thuyền và áo phao cho học sinh qua sông chỉ là giải pháp tạm thời. 

“Xã đã kiến nghị lên cấp trên xây cầu cho dân bản. Nếu có kinh phí, phía xã sẽ mở tuyến đường thông từ bản Ông Tú lên bản Ka Óoc (cách nhau chừng 3 km) để người dân đi lại thuận tiện hơn. Riêng phương án di dân, chúng tôi cũng đã tính đến nhưng không khả thi vì muốn người dân bám bản, giữ rừng”, ông Tiến nói.

Trao đổi với VnExpress, ông Đinh Quý Nhân, Chủ tịch huyện Minh Hóa cho biết Sở Giao thông Vận tải tỉnh Quảng Bình đã đi khảo sát và báo cáo Bộ Giao thông Vận tải. Tuy nhiên, kinh phí xây cầu ở bản Ông Tú quá cao, trong khi huyện còn nghèo nên giải pháp trước mắt là tăng cường phụ huynh đưa đón con em đi học và cấp áo phao.
Văn Nguyễn
Nguồn: VNExperss.



TRÒN MỘT NĂM Y MOAN VẮNG XA TRẦN GIAN


Viết nhân ngày giỗ đầu Nghệ sĩ Nhân dân Y Moan

Nguyễn Duy Xuân

Thấm thoắt mới đó mà Nghệ sĩ Nhân dân Y Moan đi xa đã trọn một năm rồi. Ngày này năm ngoái khi nghe tin dữ, tôi đã không giấu được nỗi xúc động của lòng mình:
Dẫu biết trước
Đời anh
Đang từng ngày ngắn lại,
Dẫu biết rằng
Thần chết
Chẳng ưu ái riêng ai
Thế mà sống mũi vẫn cay
Có chi nhói ở tim này, Moan ơi!

Với tôi, Y Moan là đứa con của núi rừng Tây Nguyên. Chất đại ngàn thấm đẫm trong con người anh, trong lời ca tiếng hát của anh để luôn luôn bừng cháy một ngọn lửa bất diệt cho đến những phút giấy cuối của cuộc đời:

Anh sống trọn đời
Cho ca hát
Còn chút hơi tàn, sức kiệt
Bừng cháy trong đêm diễn
Tha thiết tình đời.

Tiếng hát anh lay động hồn người
Vang vọng giữa đất trời Tây Nguyên hùng vĩ

Y Moan là thế. Sống là để hát ca. Sống là để cháy hết mình cho sự sống. Để khi không còn trên thế gian này nữa, người đời vẫn còn nghe vọng mãi tiếng hát anh trong âm hưởng của đại ngàn bất diệt:

Nhớ anh – chàng ca sĩ
Cháy bỏng “Giấc mơ Chapi”
Để được “sống bên em trọn đời”
Và gọi mãi “Ơi M’Drak”
Cho “Xôn xao cao nguyên Đắc Lắc” một thời.

Trước ngày giỗ đầu của anh, tôi về buôn Đha Prong, xã Cư Ebur thành phố Buôn Ma Thuột để thắp cho anh nén nhang. Nơi ngôi nhà giản dị ở cuối buôn tưởng như còn thấp thoáng đâu đây bóng dáng người ca sĩ thân yêu. Vợ con anh, họ hàng và bà con trong buôn đang tất bật chuẩn bị cho lễ giỗ ngày mai. Tiếp chuyện tôi, chị Ngẫu cho biết hôm qua bà con buôn làng đã làm lễ tưởng nhớ anh tại mộ phần ở nghĩa trang. Chiều nay, những người thầy, người bạn nổi tiếng của anh là các ông Nguyễn Văn Lạng, nguyên Chủ tịch tỉnh Đắc Lắc, nhà sử học Dương Trung Quốc, nhạc sĩ Nguyễn Cường từ Hà Nội sẽ bay vào. Nhân giỗ đầu của anh, nhạc sĩ Nguyễn Cường đã cùng bạn bè đúc tượng bán thân anh, một bằng đồng và một bằng thạch cao. Không thể nói hết tình cảm của mọi người dành cho anh trong những ngày này.

Chia tay chị Ngẫu và các cháu, trên đoạn đường mười cây số trở về nhà, tôi cứ nghĩ mãi về anh. Con người ta sinh ra không phải chỉ sống cho riêng mình. Y Moan là như thế. Anh đã hóa thân vĩnh hằng trong tâm tưởng của hàng triệu người hâm mộ, để làm nên một hình ảnh đẹp mang đậm bản sắc văn hóa Tây Nguyên thời hiện đại.

Chàng Y Moan
Con của núi rừng
Tiếng vọng của đại ngàn
Nghệ sĩ của nhân dân…

                                                                   Buôn Ma Thuột, 21-9-2011
                                                                            Nguyễn Duy Xuân

VÌ SAO NHÀ THƠ HỮU THỈNH CA NGỢI NHỮNG CÂU THƠ TẺ NHẠT ẤY?

VÌ SAO NHÀ THƠ HỮU THỈNH HẾT LỜI CA NGỢI 

NHỮNG CÂU THƠ TẺ NHẠT CỦA TRẦN GIA THÁI

.

Trần Mạnh  Hảo

.

Tạp chí “Nhà Văn” số 9-2011 ( tạp chí của Hội nhà văn Việt Nam) trang 144 đến 146 có in bài “MỘT TẬP THƠ TƯƠI LÊN NHIỀU HI VỌNG” của nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam kiêm chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, ca ngợi hết lời tập thơ “Lời nguyện cầu trước lửa” (NXB Hội nhà văn 2011) của ông Trần Gia Thái – Tổng giám đốc Đài Phát thanh và truyền hình Hà Nội, kiêm chủ tịch Hội nhà báo Hà Nội. Bài viết trên của ông Hữu Thỉnh cũng vừa được trang mạng của nhà văn Phạm Viết Đào phổ biến, xin  in kèm dưới bài viết này của chúng tôi để rộng dường dư luận. 

.

Vì chưa có tập thơ này của ông Trần Gia Thái trong tay, chúng tôi chỉ căn cứ trên những câu thơ được ông Hữu Thỉnh trích ra bình phẩm, ngợi ca để đánh giá bài viết khác thường này của ông Hữu Thỉnh thực hư ra sao.

.

Mở đầu bài tụng ca thơ Trần Gia Thái, ông Hữu Thỉnh lập ngôn, bằng cách xác định lại bản chất của thi ca.

Câu văn đầu tiên Hữu Thỉnh viết đã không chuẩn về tu từ : “ Tôi kiên trì thói quen đọc thơ để hiểu người”(chữ nghiêng đậm do TMH nhấn mạnh). Nên chỉnh sửa câu văn này cho trong sáng tiếng Việt: “ Tôi có thói quen đọc thơ để hiểu người”. Ngay sau đó, Hữu Thỉnh tung ra một quan niệm chưa chuẩn về thơ: “Bởi vì thơ là nghệ thuật ít giấu mình được nhất”. Thơ giấu mình tài lắm ông Thỉnh ạ. Có người tâm ác mà toàn làm thơ về sự ngay lành, thánh thiện. Có người tâm Phật mà thơ thì khẩu nghiệp, chướng tai. Có người giả dối còn hơn cuội mà thơ thì nói toàn chuyện thật thà. Người Trung Hoa từ thời thượng cổ đã có quan niệm:” Thi tại ngôn ngoại”, một định nghĩa rất hay và rất đúng về thơ. Người Việt ta từ xưa đã cho thơ là nghệ thuật kỳ ảo, diệu vợi, hàm súc, dư ba, ẩn chứa khôn cùng tình cảm tư tưởng của nhà thơ trong và ngoài câu chữ. Nói cho cùng, ngược lại với quan niệm chưa đúng của Hữu Thỉnh, thơ chính là nghệ thuật giấu mình, giấu tư tưởng tâm hồn, cảm xúc, thông điệp của nhà thơ tới muôn vàn mai hậu, để chỉ dành riêng cho tri âm tri kỷ thưởng thức mà thôi. Nếu cứ nói toẹt ra hết thì còn gì là thơ?

Hàng trăm năm đã trôi qua, dễ gì chúng ta đã hiểu hết nghệ thuật giấu mình, đa ngữ nghĩa, đa chiều kích, đa nội hàm của câu ca dao tuyệt vời: “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”? Hàng trăm năm đã qua, dễ gì chúng ta đào hết được chiều sâu của tư tưởng tâm hồn Nguyễn Du giấu mình trong câu Kiều tráng lệ: “ Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao”?

Cổ xúy cho lối thơ nói toẹt ra, phơi cạn kiệt mình trên trang giấy như những câu nói thông thường phi hình ảnh, phi hình tượng, đơn nghĩa để Hữu Thỉnh có “cơ sở lý luận” ca ngợi thơ của Trần Gia Thái là việc không thể làm ngơ. Chúng tôi sẽ chứng minh cụ thể sau.

Hữu Thỉnh tiếp tục lập ngôn không chuẩn về thơ : “Cho nên, trong các châm ngôn về sự viết, tôi quý nhất lời dạy này : “Chân thành là nghệ thuật cao nhất của thơ” “. Đại từ điển tiếng Việt ( NXB Văn hóa &Thông tin 1999, trang 326) định nghĩa từ “Chân thành” như sau: “Chân thành tt. Thành thực, không khách sáo, không giả dối : tấm lòng chân thành , chân thành với bạn bè”. Thưa nhà thơ Hữu Thỉnh, chân thành là thái độ sống, đạo đức sống; nó không phải là nghệ thuật. Chỉ có kẻ quen sống giả dối mới coi chân thành là một nghệ thuật để đóng vở kịch thật thà đặng lừa tha nhân.

Thơ là nghệ thuật của CHÂN-THIỆN MỸ. Nếu chỉ có CHÂN ( thật, đúng), thậm chí kèm thêm THIỆN ( tốt), thì chưa thể gọi là thơ được. MỸ ( hay, đẹp) mới là phẩm chất cao quý nhất của thơ nói riêng và nghệ thuật nói chung, chứ không phải “CHÂN THÀNH là nghệ thuật cao nhất của thơ” như Hữu Thỉnh nhầm lẫn. Nếu nghệ thuật đã đạt được yếu tố MỸ ( hay, đẹp, xúc động) nó đồng thời đã mang được cả nội hàm CHÂN và THIỆN vậy. Những quan niệm A, B, C về mỹ học sơ đẳng này, người ta đã dạy cho học sinh từ thời trung học, ông Hữu Thỉnh chưa học qua hay sao ? Nhất là Hữu Thỉnh từng làm các chức vụ quan trọng của đảng, nhà nước, từng đi đến các hội trường quan trọng để đọc diễn văn, để huấn thị, để khơi mào các hội thảo lớn về văn học nghệ thuật, về triết học, lẽ nào chưa thông bài học vỡ lòng mỹ học Mác-xít ; rằng văn học nghệ thuật coi tính đảng, tính giai cấp, coi định hướng chính trị là bản lề, là cốt lõi nhất của tác phẩm, nhưng nếu nó không có tính nghệ thuật thì cũng chỉ có cách là …vất đi thôi. Bàn về thơ thì phải lấy tiêu chí câu thơ bài thơ có hay không, có đẹp không, có xúc cảm hàm súc dư ba không, nghĩa là có tính nghệ thuật không, chứ sao chỉ lấy sự chân thành làm thước đo quan trọng nhất của thơ như Hữu Thỉnh ngộ nhận?

Với những quan niệm sai lầm về thơ như thế này, nền thơ Việt Nam hôm nay quá bất hạnh vì Hữu Thỉnh thường là chủ tịch các ban giám khảo thi thơ văn, bình chọn thơ văn, chấm giải thơ văn trong tất cả các giải thưởng về thơ văn lớn nhỏ suốt 15 năm nay.

Ca ngợi Trần Gia Thái sống và viết theo quan niệm lấy chân thành làm nghệ thuật, làm gốc, làm “nguyên tắc nhất quán “Hữu Thỉnh trích hai câu nói thông thường mạo nhận thơ của Trần Gia Thái ra khen:

Thật đáng sợ khi mọi thứ đều trơn tuột
Và trong ta xúc cảm chết trong mồ”  ( Sợ)

Thưa rằng, hai câu gọi là thơ trên của Trần Gia Thái chỉ là câu nói vụng về, dễ dãi, rằng sợ nhất là cái ta viết không có gì đọng lại, viết không cảm xúc. Câu nói rất tầm thường này không ai cần đặt ra khi cầm bút; vì đó là lẽ đương nhiên. Cũng như không ai đặt ra khi viết ta phải có giấy mực, hay phải có bàn phím máy tính. Một đứa trẻ đói bụng cần ăn, đâu có băn khoăn chuyện dông dài vô nghĩa rằng: “ Thật đáng sợ nếu như ta nhịn đói / Và trong miệng ta cơm biến mất khi nào”.

 Thế mà Hữu Thỉnh bình hai câu nói ngô nghê trên của Trần Gia Thái, coi đó là “nguyên tắc nhất quán”, đao to búa lớn như sau : “Đây là một quan niệm nghiêm túc nhưng nguy hiểm đấy Trần Gia Thái ạ. Bởi vì nó đòi hỏi sự hết mình, đòi hỏi sự tận cùng, đòi hỏi vô tận sự tâm huyết” (hết trích).

Khen ngợi kiểu rất phường tuồng ba câu gọi là thơ: sáo, nhạt, vô hồn của Trần Gia Thái, Hữu Thỉnh viết không đâu nhập vào đâu, như sau: “Khi yêu, anh cho ta thấy mọi cung bậc sắc màu, hương vị, thậm chí có thể đo được độ nóng của trái tim anh. Nào là trách móc, nào là nhớ nhung, nào là say đắm, và cái được nhất của anh là được một không gian, một từ trường của cảm xúc :
“Gần đến thế mà sao không tới nổi
Bến bờ ơi
Em ảo ảnh đến muôn nghìn” ( Ảo ảnh)

“ Đây chưa hẳn đã là thất tình, càng chưa phải là tuyệt vọng. Ngẫm cho kỹ , đây là thước đo. Tôi không thấy mùi vị của sự chán nản, ngược lại, tôi nhận ra sự cao giá của người tình” (hết trích).

Than ôi, bình thơ theo kiểu đồng bóng, áo thụng vái nhau, chân giả lẫn lộn, bốc một tấc lên trời như Hữu Thỉnh là một cách treo cổ thơ hữu hiệu nhất vậy. Ba câu thơ dở kia của Trần Gia Thái đọc lên không thể nhịn cười, lại càng không thể nhịn cười khi Hữu Thỉnh khát quát “ ảo ảnh” chính là thước đo. Cầm thước đo ảo ảnh siêu hình trên tay, Hữu Thỉnh đo thơ kiểu thày cúng thày mo đo hồn vía người ốm, thì thơ ơi, ta chào mi, mi chỉ còn nước biên sắc biến !

Để bình bốn câu thơ toàn nói của Trần Gia Thái sau đây, Hữu Thỉnh lại bộc lộ một nhận thức sai về nghệ thuật làm thơ, khi ông viết : “Ở trong thơ, nói và hiểu là hai việc khác nhau. Đó là nghệ thuật phô diễn”. Thế thì chẳng lẽ THƠ lại là phường nói một đàng, hiểu nột nẻo, nói một đàng làm một nẻo hay sao ? Không, thơ hay là thơ phải có nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen ( hiểu) đi cùng câu chữ, bám sát lời thơ, trung thành với lời thơ, chứ không phải khác nhau với câu chữ như Hữu Thỉnh quan niệm. Từ cơ sở của hiểu đúng nghĩa đen, thơ bước vào hành trình nghĩa bóng; nghĩa là một lối hiểu và cảm đa chiều, tượng trưng, biểu cảm, nhòe mờ, mở rộng hiểu ra cõi dư ba, vô bờ, có cảm tưởng như phi ngữ nghĩa, phi lý trí, phi hiểu vậy. Có thể nói, thơ vừa đồng điệu với sự hiểu của thực-tại-lời ( ngôn từ) vừa bước qua giới hạn của hiểu để vào thế giới ảo diệu, vô bờ của cảm, của hư ảo, siêu nhiên. Đó là một quá trình đồng thời chứ không phải bước một là hiểu, là nghĩa đen, bước hai là cảm, là nghĩa bóng.

Xin xem Hữu Thỉnh “thổi” Trần Gia Thái lên tiên: “Trần Gia Thái cho ta thấy biết bao nhiêu cung bậc của tình cảm anh khi yêu, kể cả khi anh nói nhún, anh tự ti, anh bơ vơ,mộng du, đau khổ…thì đấy là một trường tình, tất cả hiện ra, nhưng không một lần ta thấy anh nhỏ bé. Kể cả khi anh thú nhận:
“ Cơn bão giữa lòng người
Cơn bão trong trời đất
Bão quật anh tơi bời
Giữa hai bờ còn? mất ? ( Em đi)

Ôi, chàng trai si tình ! Anh có thể bước đi không vững trong cơn say nhưng tình yêu của anh thật cường tráng”. ( hết trích)

Thơ hết biết nên lời bình cũng một đồng một cốt, hết biết luôn ? Chỉ có Hữu Thỉnh mới phát hiện ra thứ “tình yêu thật cường tráng” của thơ Trần Gia Thái mà thôi. Ôi “người yêu ảo ảnh”, nàng thơ sương khói của Trần Gia Thái lẽ nào lại nhận được lời tỏ tình rất phồn thực rằng, em yêu ơi,  anh sẽ chứng tỏ ngay bây giờ cho em thấy tình yêu của anh rất chi là cường…tráng !

Hữu Thỉnh còn dùng nhiều lời có cánh rất ngoa ngôn, rất hoành tráng để ca ngợi những câu thơ vô cùng nhạt nhẽo và dễ dãi của Trần Gia Thái; hầu như coi ông này là một phát hiện về thơ nói thật, lấy thật là gốc, lấy thật làm thước đo, lấy sự nói toẹt ra làm tiêu chí hay dở. Có khi quên mất mình vừa viết như trên, Hữu Thỉnh bèn nói ngược với mình, rằng Trần Gia Thái lấy “ẢO ẢNH” LÀM THƯỚC ĐO”…Lạy trời, sự đãng trí của nhà bình thơ thật là cao qúy.

Xin trích lời tụng ca của Hữu Thỉnh với những câu thơ nước ốc quá nôm na, quá dễ dãi tầm thường của Trần Gia Thái như sau:

“ …Ở mảng thơ này, anh biến hóa sinh động, tươi tốt hẳn lên. Có lúc rất mộc : “Ổ rơm chân đất manh chiếu rách / Một mùa được mấy bữa no nê” ( Sao mà nhớ). Có lúc xót xa, cay đắng : “ Năm mươi ba tuổi ta bầm dập thương tích/ Đòn vu hồi từ những kẻ vẫn xưng là bạn là anh” ( tuổi 53). Có lúc vô cùng thương cảm viết về người cha đã khuất :
“ Cứ tưởng người đi dạo lúa dạo đồng
Người đi chở cát với vôi nồng
Người đi đội đá xây mương nối
Đong bát mồ hôi đổi cháo không

Bát cháo đồng chiêm cơ cực ơi
Nuốt vào cay đắng nuốt không trôi
Mồ hôi thì mặn nước mắt chát
Đeo đẳng đời cha từng giọt rơi ( Nhớ cha)
 (hết trích)

Chúng tôi không dám trích lời Hữu Thỉnh khen ngợi thơ Trần Gia Thái thái quá làm đoạn kết cho bài viết tụng ca thứ thơ giả, thơ dởm của ông, sợ làm phiền thêm bạn đọc.

Bài viết “Một tập thơ tươi lên nhiều hi vọng” của Hữu Thỉnh hết sức sai về quan niệm thơ, lại bốc thơm một thứ thơ dở của Trần Gia Thái lên mây xanh, gây tai hại vô cùng cho định hướng thẩm mỹ thơ lớp trẻ. Bằng sự đánh tráo hay-dở, thật-giả trong thưởng thức thơ kiểu này, hình như ông Hữu Thỉnh muốn xui bọn trẻ cứ làm thơ như Trần Gia Thái, chắc chắn sẽ được giải thưởng lớn? Có phải đây là thời cái dở lên ngôi, cái xấu lên ngôi, cái giả lên ngôi hay không thưa nhà thơ Hữu Thỉnh ?

Sài Gòn ngày 21-9-2011
T.M.H.
Nguồn: Phạm Viết Đào-Blog
Ảnh trong bài chỉ có tính chất trang trí, không liên quan đến bài viết.