Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2011

THỦ TƯỚNG TRẢ LỜI CHẤT VẤN CÁC ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI (TRÍCH)


Về chủ trương của Chính phủ bảo đảm chủ quyền ở Biển Đông, bảo đảm ngư dân đánh bắt cá:

Quán triệt đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia của Đảng và Nhà nước ta và trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển 1982 LHQ, Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan ở Biển Đông - DOC đã ký giữa ASEAN và Trung Quốc, căn cứ vào thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên mà ta và Trung Quốc ký mới đây trong chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc.

Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam

Căn cứ chủ trương, đường lối nguyên tắc nêu trên, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với 4 loại vấn đề trên Biển Đông như sau:

Thứ nhất, đàm phán với Trung Quốc để phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Trong Vịnh Bắc Bộ, sau nhiều năm đàm phán, ta và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận, phân định ranh giới năm 2000. Còn vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, nếu theo Công ước Luật biển 1982, thềm lục địa của chúng ta chồng lấn với đảo Hải Nam của Trung Quốc. Từ năm 2006, hai bên đã tiến hành đàm phán. Mãi đến 2009, hai bên quyết định tạm dừng vì lập trường của hai bên rất khác xa nhau. Đến đầu 2010, hai bên thỏa thuận nên tiến hành đàm phán những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Sau nhiều vòng đàm phán, như tôi trình bày, nguyên tắc đó đã được hai bên ký kết trong dịp Tổng bí thư thăm Trung Quốc.

Trên nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển này, thì vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Vì vậy, hai nước cùng nhau đàm phán để phấn định ranh giới vùng biển này trên cơ sở Công ước Luật Biển, trên cơ sở DOC, trên cơ sở các nguyên tắc đã thỏa thuận để có một giải pháp hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được. Chúng ta đang thúc đẩy cùng Trung Quốc xúc tiến đàm phán giải quyết phân định này. Cũng xin nói thêm, trong khi chưa phân định, trên thực tế, với chừng mực khác nhau, hai bên cũng đã tự hình thành vùng quản lý của mình trên cơ sở đường trung tuyến. Cũng trên cơ sở này, chúng ta có đối thoại với Trung Quốc đảm bảo an ninh an toàn cho khai thác nghề cá của đồng bào chúng ta.

Thứ hai, chúng ta phải giải quyết khẳng định chủ quyền, đó là vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Thưa các vị đại biểu, Việt Nam khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự, ít nhất là từ thế kỷ 17, chúng ta làm chủ khi hai quần đảo này chưa có bất kỳ một quốc gia nào. Và chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục, hòa bình, nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo. Năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài gòn, tức chính quyền VN cộng hòa, chính quyền đã lên án việc làm này và đề nghị LHQ can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố khẳng định hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán, giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này của chúng ta phù hợp Hiến chương LHQ, Công ước luật biển, Tuyên bố DOC.

Thứ ba, quần đảo Trường Sa: Năm 1975, giải phóng miền Nam, hải quân ta tiếp quản 5 đảo thuộc quần đảo Trường Sa: Song Tử Tây, Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca... Còn xây dựng 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của VN ở vùng biển này, thuộc 200 hải lí vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. Trung Quốc chiếm 7 đảo đá ngầm. Đài Loan 1 đảo nổi. Philippines 5 đảo. Brunei đòi chủ quyền nhưng không.

VN có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất, cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà ta đang nắm giữ với 21 hộ, 80 khẩu, với 6 khẩu sinh ra và lớn lên ở các đảo này.

Chủ trương của ta với chủ quyền ở quần đảo Trường Sa như thế nào? Nghiêm túc thực hiện UNCLOS, DOC, và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây đã kí kết giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cụ thể, trước hết ta yêu cầu giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực.

Nâng cấp hạ tầng biển đảo, hỗ trợ ngư dân

Hai là, ta tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế - xã hội - kĩ thuật ở các nơi ta đang nắm giữ: đường sá, điện nước, trạm xá, trường học, cải thiện đời sống, tăng cường khả năng tự vệ của quân dân ở quần đảo này.

Ba là, có cơ chế chính sách, hiện đã có, đang sơ kết, đánh giá, để hỗ trợ đồng bào đang khai thác đánh bắt cá, thủy hải sản ở khu vực biển này, làm ăn sinh sống và thực hiện chủ quyền ở khu vực Trường Sa.

Nguyên túc thực hiện và yêu cầu các bên nghiêm túc thực hiện theo đúng UNCLOS và DOC, đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông, hòa bình và an ninh trật tự ở khu vực này. Đây là mong muốn và lợi ích của các bên liên quan. Biển Đông là tuyến đường vận tải hàng hóa từ Đông sang Tây, chiếm 50-60% tổng lượng vận tải hàng hóa trên biển.

Lập trường này được ủng hộ của quốc tế, thể hiện ở ASEAN và ASEAN và đối tác.

4. Giải quyết và khẳng định chủ quyền 200 hải lý thuộc EEZ và thềm lục địa Việt Nam theo UNCLOS 1982. Thực hiện chủ quyền đầy đủ và và hiệu quả hơn.

Vấn đề về quản lý vàng, báo cáo của tôi đã nói rõ rồi, nên xin không nhắc lại.

Phải làm Luật biểu tình

Ý kiến thứ ba về căn cứ đề nghị xây dựng Luật biểu tình, chủ trương của Chính phủ khi dân bày tỏ lòng yêu nước.



Căn cứ mà Chính phủ đề nghị QH đưa Luật biểu tình và chương trình, có mấy căn cứ sau đây:

Thứ nhất, thực hiện Hiến pháp. Hiến pháp điều 69 quy định công dân được quyền biểu tình theo pháp luật. Ta chưa có luật nên phải làm luật. Như vậy là theo Hiến pháp.

Thứ hai, ĐB ngồi đây đều thấy một thực tế trong cuộc sống nhiều cuộc đồng bào tụ tập đông người, bày tỏ nguyện vọng với chính quyền. Thực tế là vậy. Nhưng ta chưa có luật để quản lý, điều chỉnh nên khó cho người dân khi thực hiện quyền mà Hiến pháp quy định và cũng khó cho quản lý của chính quyền. Khó như vậy thì sẽ nảy sinh lúng túng trong quản lý, nên sẽ biểu hiện mất an ninh trật tự hoặc lợi dụng kích động xuyên tạc gây phương hại xã hội.

Trước thực trạng đó, Chính phủ đã có báo cáo kiến nghị với QH khóa trước, ban hành nghị định để quản lý hiện tượng này. Như nghị định chính phủ hiệu lực thấp chưa đáp ứng yêu cầu cuộc sống và Hiến pháp yêu cầu.

Nên Chính phủ mới thấy phải kiến nghị đưa vào làm luật, và luật đó phù hợp Hiến pháp, phù hợp đặc điểm văn hóa, điều kiện cụ thể của VN cũng như thông lệ quốc tế và đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân theo Hiến pháp, pháp luật, cũng để ngăn chặn các hành vi gây xâm hại an ninh trật tự, lợi ích của nhân dân.

Với tinh thần đó, chúng tôi đề nghị QH xem xét ý kiến của Chính phủ về Luật Biểu tình.

Đại biểu muốn hỏi về thái độ và chủ trương của Chính phủ về việc người dân biểu thị lòng yêu nước. Chủ trương nhất quán của Đảng và Chính phủ là luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Những hoạt động vì mục tiêu, mục đích đó đều được hoan nghênh và khen thưởng thích đáng. Nhưng cũng không hoan nghênh và buộc phải xử nghiêm pháp luật với những hành vi với động cơ lợi dụng danh nghĩa lòng yêu nước, bảo vệ chủ quyền để gây phương hại cho đất nước và xã hội. Tôi nghĩ với chủ trương nhất quán như vậy, đồng chí đồng bào cử tri cả nước sẽ ủng hộ.

Nguồn: VietNamnet.

THỦ TƯỚNG THUYẾT PHỤC QUỐC HỘI XÂY DỰNG LUẬT BIỂU TÌNH

Thủ tướng thuyết phục Quốc hội xây dựng Luật Biểu tình
25/11/2011 07:31:09
Bee.net.vn - Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho biết, có 22 đại biểu quốc hội xin chất vấn Thủ tướng. Ông đề nghị được điều hành linh hoạt để các đại biểu đều có thể hỏi được. Theo đó, mỗi đại biểu nên hỏi 1 câu và hỏi trong 1 phút.
Trước khi đi vào trả lời chất vấn trực tiếp, Thủ tướng Chính phủ đã báo cáo, giải trình thêm về một số nội dung mà nhiều đại biểu Quốc hội và cử tri, người dân quan tâm, chất vấn. Đây cũng là những công việc mà Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo trong thời gian tới...
Đại biểu Lê Bộ Lĩnh (An Giang) chất vấn Thủ tướng về vấn đề đối ngoại và đảm bảo an ninh quốc gia: Trong bối cảnh khu vực Biển Đông đang diễn biến phức tạp, xin Thủ tướng cho biết giải pháp cụ thể mà Chính phủ thực hiện để bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

ĐB Lĩnh cũng đề nghị Thủ tướng cho biết quan điểm của Chính phủ đối với việc người dân biểu thị lòng yêu nước trước những hành động xâm phạm của nước ngoài tại Biển Đông?
Đại biểu Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình): Xin Thủ tướng cho biết chủ trương của Chính phủ về quyền kinh doanh vàng và sở hữu của người dân. Căn cứ mà Chính phủ đề nghị Quốc hội xây dựng Luật biểu tình? Giảm lạm phát là tín hiệu vui, vậy có sớm nới lỏng lãi suất cho nông dân vay?
Đại biểu Lê Hồng Tịnh (Hậu Giang): Xin Thủ tướng cho biết chủ trương và giải pháp ngăn chặn tình trạng khai thác quặng trái phép, gây ô nhiễm môi trường, để không xuất khẩu thô, tiết kiệm tài nguyên bằng cách nào?
Đại biểu Trần Văn Minh đề nghị Thủ tướng cho biết xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan, việc tái cơ cấu Vinashin?
Đại biểu Lê Như Tiến (Quảng Trị) chất vấn: Báo cáo về xây dựng nhà Quốc hội, kịp phục vụ 1000 năm Thăng Long. Qua lễ kỷ niệm hơn 1 năm mà ngôi nhà này mới đang nhô lên khỏi mặt đất. Chính phủ là chủ đầu tư, chịu trách nhiệm trước QH, nguyên nhân và giải pháp để khắc phục chậm tiến độ công trình này? Bao giờ thì hết cảnh lạ đời, Quốc hội họp nhờ một bộ và đại biểu Quốc hội làm việc nhờ ở nhà khách Chính phủ?...
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh VNE
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, nghiên cứu Luật Biểu tình để thực hiện Hiến pháp. Ảnh VNE
Trả lời chất vấn của ĐB Lê Bộ Lĩnh (An Giang) về chủ trương của Chính phủ đảm bảo chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, đảm bảo cho ngư dân được đánh bắt ở Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói:
"Chủ trương của chính phủ là đảm bảo chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) mà ASEAN ký với Trung Quốc, Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Vấn đề đàm phán với Trung Quốc để phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ: Sau nhiều năm đàm phán, ta và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ. Với vùng ranh giới ngoài cửa vịnh Bắc Bô, Theo Công ước luật biển năm 1982 thì thềm lục địa của nước ta có chồng lấn với đảo Hải Nam của Trung Quốc. Năm 2009, hai bên quyết định tạm dừng vì lập trường còn khác xa nahu. Năm 2010, thỏa thuận nên tiến hành đàm phán những nguyên tắc đàm phán về biên giới trên biển. Sau nhiều vòng đàm phán, các nguyên tắc đã được thống nhất và ký nhân chuyến thăm của Tổng bí thư vừa rồi.

Vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ là quan hệ giữa Việt nam và Trung Quốc, vì vậy hai bên đàm phán để phân định ranh giới vùng biển này, trên cơ sở UNCLOS, DOC, các nguyên tắc đã thỏa thuận, để có giải pháp hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được.

Trong khi chưa phân định, trên thực tế, với chừng mực khác nhau, 2 bên đã tự hình thành vùng quản lý của mình, trên cơ sở đường trung tuyến, từ đó có đối thoại với Trung Quốc, đảm bảo an ninh, an toàn trong khai thác nghề cá của đồng bào.
VN khẳng định có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của VN. Đối với quần đảo Hoàng Sa, năm 1956 TQ đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông. Năm 1974, TQ dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa khi đó trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn (Việt Nam Cộng hòa). Việt Nam Cộng hòa đã phản đối, lên án việc làm này và đề nghị LHQ can thiệp. Chính phủ cánh mạng lâm thời miền Nam Việt Nam cũng ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này.

Chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với Hoàng Sa bằng giải pháp hòa bình, phù hợp với Hiến chương LHQ, Luật biển 1982, Tuyên bố DOC.

Đối với quần đảo Trường Sa năm 1975 giải phóng miền Nam, hải quân Việt Nam đã tiếp quản 5 hòn đào tại Trường Sa, sau đó chúng ta tiếp tục mở rộng lên 21 đảo, xây dựng 15 nhà giàn ở bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền ở vùng biển này, trong phạm vi 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN, theo Công ước Luật biển 1982.

Trung Quốc đã chiếm 7 đảo ngầm, Đài Loan 1 đảo nổi, Philppines 9 đảo, Malaysia 5 đảo, Bruney có đòi chủ quyền trên Trường Sa nhưng không giữ đảo nào.

Như vậy, trên Trường Sa, Việt Nam có số đảo đang nắm giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên đòi hỏi chủ quyền, là nước duy nhất có cư dân đang sinh sống làm ăn trên một số đảo với 21 hộ 80 khẩu, 6 khẩu đã sinh ra và lớn lên tại các đảo này.
Chủ trương của ta với chủ quyền ở quần đảo Trường Sa như thế nào? Nghiêm túc thực hiện UNCLOS, DOC, và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây đã kí kết giữa VN và TQ. Cụ thể, trước hết ta yêu cầu giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực.

Tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế - xã hội - kĩ thuật ở các nơi ta đang nắm giữ: đường sá, điện nước, trạm xá, trường học, cải thiện đời sống, tăng cường khả năng tự vệ của quân dân ở quần đảo này.

Có cơ chế chính sách, hiện đã có, đang sơ kết, đánh giá, để hỗ trợ đồng bào đang khai thác đánh bắt cá, thủy hải sản ở khu vực biển này, làm ăn sinh sống và thực hiện chủ quyền ở khu vực Trường Sa.

Nguyên túc thực hiện và yêu cầu các bên nghiêm túc thực hiện theo đúng UNCLOS và DOC, đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông, hòa bình và an ninh trật tự ở khu vực này. Đây là mong muốn và lợi ích của các bên liên quan. Biển Đông là tuyến đường vận tải hàng hóa từ Đông sang Tây, chiếm 50-60% tổng lượng vận tải hàng hóa trên biển.

Lập trường này được ủng hộ của quốc tế.
Đưa Luật Biểu tình vào chương trình Xây dựng Luật để thực hiện Hiến pháp
Trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội về Luật Biểu tình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một lần nữa đưa ra những lý do thuyết phục cần đưa Luật Biểu tình vào chương trình Xây dựng Luật.
"Thứ nhất, việc đưa Luật Biểu tình vào chương trình Xây dựng Luật để thực hiện Hiến pháp. Điều 69 Hiến pháp 92 sửa đổi quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
Hiến pháp như vậy nhưng thực tế chưa có Luật Biểu tình nên Chính phủ đề nghị bắt tay nghiên cứu Luật Biểu tình, nói ngắn gọn là để thực hiện Hiến pháp.
Thứ hai, trên thực tế, trong cuộc sống hiện nay, có nhiều sự việc đồng bào tụ tập đông người, để bày tỏ ý kiến, nguyện vọng với chính quyền. Nhưng chúng ta chưa có luật để quản lý và điều chỉnh vấn đề này. Điều đó gây khó cho người dân khi thực hiện quyền được Hiến pháp quy định và cũng khó cho quản lý của chính quyền. Mà đã khó như thế cũng nảy sinh những túng trong quản lý. Từ đó, xuất hiện biểu hiện mất an ninh trật tự, cũng xuất hiện việc lợi dụng để kích động xuyên tác gây phương hại cho xã hội.
Trước thực trạng như thế, Chính phủ cũng đã có báo cáo kiến nghị với QH khóa trước. Quốc hội cũng có công văn yêu cầu ban hành Nghị định để điều chỉnh hoạt động này. Chính phủ đã ban hành Nghị định 38 nhưng Nghị định hiệu lực pháp luật thấp, chưa đáp ứng được tầm mức như Hiến pháp quy định và thực tế cuộc sống đang đặt ra.
Vì vậy Chính phủ thấy nên kiến nghị QH xem xét đưa vài xây dựng luật để có Luật Biểu tình, phù hợp với Hiến pháp, phù hợp với đặc điểm lịch sử văn hóa và điều kiện cụ thể của VN, phù hợp với thông lệ quốc tế để đảm bảo quyền tự do dân chủ của người dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật, đồng thời ngăn chặn những hành vi gây xâm hại tới an ninh trật tự lợi ích của xã hội và nhân dân.



Với tinh thần như vây, chúng tôi đề nghị QH xem xét đề nghị của Chính phủ đưa Luật Biểu tình vào chương trình xây dựng Luật".
Trả lời về quan điểm của Chính phủ với những người tham gia tụ tập đông người để thể hiện lòng yêu nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: "Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước, Chính phủ là luôn luôn trân trọng biểu dương khen thưởng xứng đáng với tất cả những hoạt động, việc làm của tất cả người dân thật sự vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Những hoạt động vì mục tiêu mục đích đó đều được trân trọng, hoan nghênh, khuyến khích, biểu dương thích đáng.
Đồng thời Chính phủ không hoan nghênh, buộc phải xử lý nghiêm theo pháp luật đối với những hoạt động những hành vi với động cơ lợi dụng lòng yêu nước, bảo vệ chủ quyền, để thực hiện mục đích gây phương hại cho đất nước, cho xã hội. Tôi nghĩ, chủ trương nhất quán như thế sẽ được đồng bào ủng hộ".
Tiếp tục cập nhật...
PV
Nguồn: Bee.net.vn.

TÔI ỦNG HỘ THỦ TƯỚNG TRONG VIỆC NÀY!

Tôi ủng hộ Thủ tướng trong việc này

JB. Nguyễn Hữu Vinh

Từ khi còn nhỏ, thế hệ chúng tôi luôn được học thuộc lòng câu khẩu hiệu: “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương bác Hồ vĩ đại”. Thế là đủ cho cuộc sống học tập và phấn đấu của mỗi thanh niên khi lớn lên. Có câu khẩu ngữ đó, không lo lạc đường, không lo bị yếu kém về nhận thức chính trị, chậm tiến… và hầu hết trong mọi bài thi, mọi bản báo cáo, thu hoạch sau những đợt học tập, câu khẩu hiệu đó phải được nhắc đến một vài lần. Trên mọi bức tường, đường đi, hàng rào cơ quan, công xưởng, trường học… lượng sơn, vôi để kẻ câu khẩu hiệu đó phải kể đến là vô thiên lủng.

Tưởng rằng chỉ cần có thế thì xã hội sẽ tốt đẹp lên, đi lên không ngừng bằng “ba cuộc cách mạng song song, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt” và chẳng mấy chốc thì xã hội chúng ta sẽ là Thiên đường, bọn tư bản chỉ có nằm mơ cũng không với tới.

Đọc thì vậy, viết như thế nhưng quả thực là mấy thằng chúng tôi cũng chẳng hiểu muốn sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương bác Hồ thì làm những cái gì và làm như thế nào. Vì cả mấy thằng đều con nhà nghèo, là nông dân thì không thể theo gương bác Hồ đi làm phụ bếp trên tàu biển, không có chỗ làm bồi bàn, không thể lấy viên gạch nướng lên trong lò để chống lại băng giá nước Anh.

Thôi thì học tập gương bác Hồ nhưng sáng tạo theo kiểu Việt Nam vậy.

Hồi đó trời rét lắm, mức độ rét chắc hơn thời nay nhiều. Chắc chắn là vậy, dù hồi đó không có nhiệt kế để đo, chỉ biết là rét, rét lắm. Một thằng bạn tôi còn công phu thực tập cái việc nướng hòn gạch để ủ ấm mùa đông xem nó có tác dụng đến đâu. Hắn lấy đủ các loại gạch, gạch chỉ, gạch mộc, gạch ba banh… to nhỏ đủ cả đem nướng lên rồi bọc giấy báo đem ủ. Hóa ra làm kiểu nào cũng hỏng. Nướng kỹ quá, gói vào báo cháy báo và cháy cả ổ rơm, nướng không đỏ, gói bao lần cũng chỉ được chừng tiếng đồng hồ là nguội ngắt. Lại rét tái tê như ai đổ nước vào chỗ nằm.

Thế là hỏng, cái học tập này chẳng ăn thua, có lẽ nước Anh băng giá không lạnh bằng Việt Nam chúng ta thì phải. Nhưng thằng bạn tôi thì nhất định rằng đó chỉ là chuyện bịa, làm gì mà rét bên đó không bằng bên ta và làm gì có một viên gạch hồng lại chống được cả mùa băng giá.

Thế rồi cái việc học tập đó cũng không đi đến đâu, lớn lên đi học, mấy thằng bảo nhau: “À, thì ra phải xin đi xuất khẩu lao động chúng mày ơi, bác Hồ ngày trước cũng đi nước ngoài rồi mới về VN làm việc đấy thôi”. Thế là một số đứa đua nhau chạy xin đi xuất khẩu. Nhưng đâu phải ai cũng được đi.

Sau này lớn lên, vẫn câu khẩu hiệu ấy nhưng vào những công việc cụ thể thì chịu không biết làm gì cho đúng theo gương bác Hồ vĩ đại nữa. Mà hồi đó đâu đã có nảy sinh ra cái môn “Tư tưởng, đạo đức HCM” như sau này.

Chuyện đó rồi cũng dần quên đi, dù câu khẩu hiệu “bất hủ” kia vẫn còn mãi. Nhưng thế hệ thanh niên lớn lên hồi đó đã làm chủ xã hội thì càng đưa đạo đức xã hội đi xuống. Các ngành, các cấp căn bệnh tham nhũng lan tràn cũng từ lớp người đã từng “sống chiến đấu, lao động và học tập theo gương…” hồi đó mà ra.

Rồi một lần đưa cái thắc mắc này nói với anh bạn tôi – lão Phan- lão bảo: “Nếu có cuộc thi sáng tạo Việt Nam sẽ đứng cuối cùng, nhưng nếu có cuộc thi “học tập làm theo”, chắc chắn VN sẽ đứng đầu bảng. Mà chỉ có học tập làm theo thì chính là giết chết sự sáng tạo của thế hệ kế tiếp, giết chết cả một dân tộc”. Chẳng biết Việt Nam có đứng đầu bảng hay không, nhưng về mặt “học tập và làm theo”, chắc phải thua anh Tàu khựa. Bất cứ thứ gì, kể cả bộ khóa theo kiểu Nga, kiểu Mỹ… bạn chỉ cần đưa lên Phố Thuốc Bắc, đặt hàng và chỉ vài tuần sau đó lên nhận hàng trăm bộ y chang, không hề phát hiện ra đồ nào là “học tập làm theo” và đồ nào là đồ chính hiệu. Tất cả nhờ anh Tàu khựa chế tạo. Nghe nói kể cả máy bay, tàu chiến, anh Tàu khựa còn “học tập và làm theo” đến mức anh Nga, anh Mỹ còn phải sợ anh Tàu kia mà.

Xã hội càng tiến lên, việc “theo gương bác Hồ vĩ đại” càng khó. Mấy thằng thanh niên đầu tóc xanh đỏ đi xe máy thì nó học tập theo gương bác Hồ sao được, hồi bác Hồ làm gì có xe máy mà đi, vậy nên nó đua xe? Mấy đứa sinh viên học tin học muốn học tập làm theo cũng chịu, hồi xưa vi tính là chuyện vớ vẩn, hão huyền làm gì có để chúng nó thấy bác Hồ sử dụng vi tính như thế nào là làm theo… vì thế nên nhiều đứa biến thành tin tặc.

Nếu chỉ theo “gương” thì cả xã hội mặc quần ống đứng, cắt tóc ba phân, đi dép cao su có quai hậu và đội mũ cối tất như có thời công an đã đứng ở ngã ba đường lăm lăm cái tông đơ trong tay cắt trọc những tên đầu “đít vịt” và cái kéo sẵn sàng xẻ dọc ống quần những tên mặc quần “ống típ”. Rồi thỉnh thoảng công ai lại lôi đi mấy người dân chẳng cần luật, chẳng cần tòa án… cứ thế sống thì về, chết thì thôi.

Sau này, chừng như cái cách quản lý xã hội bằng cách buộc mọi người “sống chiến đấu, lao động, học tập theo gương bác Hồ vĩ đại” rất mơ hồ kia chẳng thể quản lý được xã hội. Và xã hội buộc có cách khác. Câu khẩu hiệu mới ra đời là: “Sống, làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”. Có lẽ từ đó, người ta chú ý đến “luật” hơn là “gương”.

Cũng ngày trước, với thế hệ chúng tôi, nói đến Luật là điều cũng mơ hồ như cái máy vi tính. Cả miền Bắc Việt Nam hồi đó chỉ có trường Đại học Pháp Lý, không có trường Luật. Sau này thành lập Đại học Luật nhiều đứa con cười bảo học cái gì không học lại đi học Luật thì làm được cái gì.

Rồi khi hội nhập với thế giới văn minh, người ta mới thấy luật lệ là quan trọng. Nếu một xã hội điều hành kiểu chiến tranh ngày xưa, cứ công an là chuẩn mực và quyền lực vô biên, thì xã hội không thể ổn định, xã hội không phải là một gia đình.

Thế rồi cái gì dùng nhiều rồi cũng quen, đến một khi nào đó, thì người ta mới ngã ngửa ra rằng nếu không có luật, thì xã hội hỗn loạn, không quản lý xã hội theo luật, thì xã hội không thể phát triển. Đến ngày nào đó, người ta mới nhận ra rằng: Xã hội loài người khác xã hội loài vật ngoài những điểm khác, còn có một yếu tố là có “Luật”. Luật đó do xã hội cùng đề ra và cùng chấp hành để duy trì xã hội.

Nếu không có luật, thì đương nhiên con người phải dùng đến một thứ luật của loài vật, đó là luật rừng “Mạnh được, yếu thua”.

Vì thế, dần dần ai cũng thấy điều không thể thiếu của một xã hội văn minh là phải có luật.

Ấy vậy mà mới đây, khi ông Thủ tướng Dũng yêu cầu Quốc hội có Luật Biểu tình, thì đã nhận được nhiều ý kiến trái, phải khác nhau.

Một số người cho rằng: Biểu tình là quyền Hiến định của mỗi người dân, Quốc hội không ra luật biểu tình được là mắc nợ người dân, không cho biểu tình là tự ý tước đoạt quyền của người dân và là vi hiến. Những cuộc biểu tình gần đây của những người yêu nước đã làm cho chính quyền lúng túng như gà mắc tóc, không thể xử lý tù tội hoặc bắt giữ họ vì họ đã và đang thực hiện quyền được Hiến pháp quy định. Mà để vậy thì những cuộc biểu tình không có sự lãnh đạo của đảng là “tự phát” thì càng không yên tâm. Vì thế ông Thủ tướng mới đặt ra cái việc có Luật Biểu tình cho dân.

Nhưng, ngược lại, có ông nghị Phước lại phản đối cái Luật này. Chỉ vì ông cho rằng dân trí VN thấp, nên biểu tình chỉ là để chống chính phủ và không cần thiết có luật biểu tình. À, thế ra ông nghị này cho rằng Luật sinh ra chỉ là để bảo vệ chính phủ, không phải vì quyền lợi của người dân, không phải vì Hiến pháp đã quy định như vậy?

Cứ tưởng trong Quốc hội của đảng ta có nhiều bộ óc thông minh, thì việc ông nghị kia có đưa ra cái ý kiến ngớ ngẩn kia sẽ ngay lập tức bị các vị khác vùi dập không thương tiếc vì cái ý tưởng muốn đưa xã hội trở về xài luật rừng. Thế nhưng, đáng buồn hay đáng giận đây khi một số “nghị” khác a dua theo ý tưởng quái gở này.

Thế mới hiểu được cơ quan lập pháp của ta đang chứa những bộ óc khá khôi hài. Trong đó có ông nghị IQ cao cần làm đường cao tốc, ông nghị Biển đảo, bà nghị “dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư sản”, ông nghị “cứ làm sai mà kỷ luật thì lấy đâu ra cán bộ làm việc”, nay lại thêm ông nghị “không cần luật”…

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng: Có luật, nhưng đưa luật sử dụng vào cuộc sống xã hội như thế nào là điều cần bàn, vì nhà nước ta thiếu gì luật, nhưng nhiều luật sinh ra chỉ để gác bếp, trong ngăn tủ… ngay cả Hiến pháp rành rành ra đó, còn không đưa thực hiện nữa thì nói chi đến Luật.

Nhưng, trước hết, hãy có luật đi đã, rồi sử dụng tính sau. Cũng như nhà nông dân, cứ mua chiếc xe máy đi đã, tập đi và sử dụng như thế nào sẽ bàn vào dịp khác, vì không ai có thể đi bộ mãi được chỉ vì dân trí thấp hoặc nhà ta còn nghèo.

Như trên đã nói, một xã hội muốn phát triển, cần có luật, những ý nghĩ đi ngược lại điều này, thực chất chỉ muốn xã hội đi xuống và được điều hành theo kiểu bản năng và luật rừng mà thôi.

Vì vậy, tôi ủng hộ ông Thủ tướng Dũng trong việc cần có luật Biểu tình.

Hà Nội, ngày 25/11/2011
J.B Nguyễn Hữu Vinh
Nguồn: JB Nguyễn Hữu Vinh-Blog.

VIDEO CLIP PHÁT BIỂU CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG
TRƯỚC QUỐC HỘI SÁNG NAY 25.11.2011:




Xin cám ơn bạn Nguyen Dzung đã đưa video clip này lên Youtube

THƯ GỬI ÔNG TRƯƠNG DUY NHẤT

Nguyên văn bài viết trên trang Trương Duy Nhất:

“Người phụ nữ của năm”: tôn vinh hay phỉ báng?

bieu tinh Dựng Bùi Thị Minh Hằng thành “người phụ nữ của năm”, tôn vinh cách yêu nước bằng “máu trên máu dưới” của người phụ nữ văng tục này thành “biểu tượng của lòng ái quốc” thì chẳng khác gì phỉ báng chính hình tượng người phụ nữ và phỉ báng lòng ái quốc của người Việt.         
Tôi ủng hộ các cuộc biểu tình của dân chúng và trí thức trong thời gian qua. Tôi kính trọng và ngưỡng mộ những tấm gương trí thức xuống đường. Tôi phản đối những hành động trấn áp, bắt bớ của chính quyền đối với những người biểu tình. Thậm chí, tôi cũng… tôn trọng cả cái cách “yêu nước” bằng “máu trên máu dưới” của người phụ nữ mang tên Bùi Thị Minh Hằng.
          
Nhưng tôn vinh Bùi Thị Minh Hằng thành “người phụ nữ của năm”, dựng hình tượng người đàn bà văng tục này thành “biểu tượng của lòng ái quốc của người Việt Nam hiện đại”, là “bà Trưng bà Triệu thời nay” thì chẳng khác gì phỉ báng chính hình tượng người phụ nữ và phỉ báng lòng ái quốc của người Việt.
          
Xem đoạn clip thể hiện “lòng yêu nước” bằng cả “máu trên và máu dưới” của “người phụ nữ của năm”, được tôn vinh là “biểu tượng của lòng ái quốc”: http://truongduynhat.vn/?p=4290

 Nguồn: http://truongduynhat.vn/?p=4290
 ______________________________________

Thư của Nguyễn Xuân Diện
KÍNH GỬI TRƯƠNG TIÊN SINH VÀ CHƯ VỊ ĐỘC GIẢ

Thưa Trương Tiên sinh,

Tại hạ được biết, vào giờ Tý đêm qua, bên trang nhà Trương Duy Nhất.vn của tiên sinh có đăng tải bài viết trên. Đây là phản ứng đầu tiên của cư dân mạng xung quanh cuộc bình chọn "Người Phụ nữ của năm 2011" mà NXD-Blog chủ trương. Thay mặt những người bình chọn, xin có đôi lời thưa cùng tiên sinh như dưới đây:

- Khi bình chọn, không phải những người tham gia không biết và không nhắc đến trong khi BÌNH để CHỌN.

- Chính vì có cái đoạn video clip đó được loan tải rộng rãi trên internet mà chúng tôi lại thêm quyết tâm bình chọn cho bà Bùi Thị Minh Hằng, vì lẽ, chúng tôi nhiều lần đi biểu tình cùng bà nên hiểu chuyện hơn ai hết. Khi bà bị bắt lên xe trong sự oan ức như vậy khiến bà có những lời lẽ tệ đến vậy, và khi clip đó được đưa lên mạng, bà đã nhận được sự phê bình nghiêm khắc của những thân hữu Hà Nội của bà. Ngay sau đó, chỉ trong một tuần, hình ảnh của bà thay đổi hoàn toàn. Điều này, khiến một nhà văn quân đội đã nhận xét ngay khi đó: "Trời! Cái bà này tài ghê cơ! Trong khi các em chân dài dính sì căng đan mãi không gột được, thì bà này, chỉ sau có mấy hôm đã thay đổi và cải thiện hình ảnh của mình đến bất ngờ. Đẹp và nữ tính. Áo dài và giọng nói cuốn hút". Và sau đó, không bao giờ thấy Bùi Thị Minh Hằng như trong clip đó nữa!

- Một người có thể có những khuyết điểm hoặc sai lầm. Sai mà sửa là điều quý lắm! Ở trường hợp này, người phụ nữ ấy là đáng trân trọng, nhất là khi những cuộc biểu tình khởi đầu cho việc hình thành một xã hội dân sự hiện nay.

Thưa tiên sinh, 
Chúng tôi tôn vinh người phụ nữ trần gian, chứ không định phong thánh. (Mà ngay trong các Thánh Mẫu của nước Việt, thì Thánh Mẫu Liễu Hạnh cũng trần gian hơn ai hết). 

Đối với phụ nữ, chúng tôi chỉ nhìn vào khuôn mặt của họ mà thôi!

Kính chúc Trương tiên sinh và phu nhân cùng quý quyến an khang - vạn phước!

Trân trọng
Ngu đệ: Lâm Khang Nguyễn Xuân Diện bái thư!



Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

TIN NÓNG: TRUNG QUỐC VI PHẠM CHỦ QUYỀN VIỆT NAM Ở HOÀNG SA

Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa 

Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm nay tuyên bố việc Trung Quốc cho phép khai thác du lịch ở quần đảo Hoàng Sa là vi phạm chủ quyền của Việt Nam.

Tuyên bố này được đưa ra sau khi có tin ngày 22/11, tỉnh Hải Nam của Trung Quốc đã cấp phép cho một công ty du lịch đưa khách đi tham qua từ đảo Hải Nam tới quần đảo Hoàng Sa. Người phát ngôn ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị khẳng định việc làm trên của Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam. 

"Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", ông Lương Thanh Nghị nói trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay. 

"Mọi hoạt động của nước ngoài tại khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và trái với tinh thần DOC", ông Nghị đề cập Tuyên bố chung về quy tắc ứng xử trên Biển Đông mà Trung Quốc ký với ASEAN. 

Người phát ngôn ngoại giao Việt Nam cũng nhắc lại rằng hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải ở Biển Đông là lợi ích chung trong khu vực và tất cả các nước trên thế giới.

"Các bên liên quan cần giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982)", ông Nghị nói. "Việt Nam hoan nghênh việc ASEAN và Trung Quốc nhất trí thực hiện đầy đủ Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, và hướng tới xây dựng một bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC)".

Cũng trong buổi họp báo hôm nay, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Mỹ triển khai quân đội ở Australia. "Chúng tôi mong rằng việc hợp tác giữa các quốc gia sẽ có đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào các nỗ lực chung nhằm duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới", ông Nghị cho hay.

Trong chuyến công du châu Á vừa rồi, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố sẽ triển khai tổng cộng 2.500 thủy quân lục chiến tới miền bắc Australia. 

Phan Lê
Nguồn: VNExpress.net.

TIN NÓNG: MIẾN ĐIỆN THÔNG QUA LUẬT BIỂU TÌNH

Miến Điện thông qua Luật Biểu tình 
Thanh Phương - RFI 

Trong khi ở Việt Nam vẫn còn tranh cãi với nhau là nên hay không nên có luật biểu tình, thì tại Miến Điện, Quốc hội nước này vừa thông qua luật cho phép người dân biểu tình ôn hòa, tiến thêm một bước trên con đường dân chủ hóa.

Hôm nay, 24/11/2011, Quốc hội Miến Điện đã thông qua Luật biểu tình, cho phép người dân kể từ nay được biểu tình ôn hòa. Luật này quy định là những người biểu tình phải báo cho chính quyền trước 5 ngày và không được phép tập hợp trước các trụ sở chính phủ, trường học, bệnh viện và các tòa đại sứ. Theo lời một dân biểu Miến Điện được hãng tin AFP trích dẫn hôm nay, một điều khoản cấm người biểu tình hô khẩu hiệu cuối cùng đã bị bác.

Luật Biểu tình hiện còn chờ được Tổng thống Thein Sein ký phê chuẩn để có hiệu lực. Theo nhận định của trang thông tin của người Miến Điện lưu vong Tiếng nói Dân chủ Miến Điện (DVB), nếu luật này được ban hành, như vậy là lần đầu tiên từ một thế kỷ qua tại Miến Điện, các cuộc biểu tình được hợp pháp hóa.

Cho tới nay, rất hiếm khi xảy ra biểu tình ở Miến Điện và phần lớn các cuộc biểu tình đều bị đàn áp. Vào tháng trước, nhiều người đã bị bắt giữ ở Miến Điện trong một cuộc tập hợp của nông dân có đất đai bị trưng thu. Tuy nhiên, vào tuần trước, 5 nhà sư đã biểu tình suốt hai ngày để đòi trả tự do cho toàn bộ tù chính trị, nhưng lực lượng an ninh đã không can thiệp.

Phải trở ngược đến năm 2007 mới thấy có những cuộc biểu tình lớn ở Miến Điện. Vào năm đó, các cuộc biểu tình, do các nhà sư Miến Điện chủ xướng, đã thu hút đến 100.000 người trên đường phố Rangoon, tạo thành một phong trào phản kháng lớn nhất kể từ khi giới tướng lãnh lên nắm quyền năm 1988. Phong trào đã bị chính quyền quân sự Miến Điện dìm trong biển máu, khiến ít nhất 31 người thiệt mạng.

Tháng ba vừa qua, tập đoàn quân sự đã chuyển giao quyền lực cho một chính phủ gọi là « dân sự », nhưng thực tế vẫn do quân đội kiểm soát. Tuy vậy, chính quyền mới trong những tháng gần đây đã có liên tiếp nhiều hành động theo hướng dân chủ hóa chính trị, có lẽ để nhằm phá vỡ thế bị cô lập trên trường quốc tế.

Ngoài quyền tự do biểu tình, cách đây một tháng, người dân Miến Điện cũng đã bắt đầu được hưởng quyền tự do công đoàn và tự do đình công, những quyền mà họ đã bị tước đoạt từ nửa thế kỷ qua. Việc kiểm duyệt báo chí cũng đã được giảm nhẹ. Thậm chí, chính quyền Miến Điện, vì muốn tuân theo « ý nguyện của nhân dân », đã không ngần ngại đình chỉ một công trình đập thủy điện do Trung Quốc tài trợ và xây dựng, mà không sợ làm mích lòng đồng minh Bắc Kinh.

Bên cạnh đó, giới lãnh đạo mới của Miến Điện đã bắt đầu đối thoại trực tìếp với nhà đối lập Aung San Suu Kyi và cho phép đảng của bà, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, được đăng ký hoạt động trở lại. Là một người đã từng ngồi tù và quản thúc tại gia nhiều năm, nay bà Aung San Suu Kyi có thể sẽ ra tranh chức dân biểu trong cuộc bầu cử Quốc hội một phần.

Những nỗ lực dân chủ hóa nói trên đã được quốc tế nhìn nhận, cụ thể qua việc Miến Điện sẽ được giao giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN vào năm 2014. Về phía Hoa Kỳ, Tổng thống Mỹ Obama quyết định gởi Ngoại trưởng Hillary Clinton đến thăm Miến Điện vào đầu tháng 12 tới để khuyến khích chính quyền nước này tiếp tục cải tổ chính trị. Đây sẽ là lần đầu tiên một người đứng đầu ngành ngoại giao của Hoa Kỳ đến thăm Miến Điện từ nửa thế kỷ qua. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon cũng sẽ đến Miến Điện trong những ngày tới.

Nhật Bản còn đi xa hơn khi hôm nay loan báo sẽ cử các quan chức đến Miến Điện vào tuần tới để bàn về việc tái lập viện trợ phát triển cho nước này, vốn đã bị đình chỉ vào năm 2003, do việc bà Aung San Suu Kyi bị bắt giam.

Tuy nhiên, hiện giờ, cánh cửa của quốc tế vẫn chưa thật sự rộng mở đối với Miến Điện, vì một trong những đòi hỏi chủ yếu của các nước phương Tây là trả tự do cho toàn bộ tù chính trị vẫn chưa được đáp ứng.

Nguồn: RFI Việt ngữ.
_____________________

BBC: Người Miến Điện sẽ được phép biểu tình? 

Một nghị sĩ Miến Điện nói quốc hội nước này vừa thông qua dự luật cho phép công dân biểu tình trong hòa bình - bước mới nhất trong tiến trình cải tổ ở Miến Điện.
Ông Aye Maung nói với hãng tin AFP rằng luật này sẽ còn chờ Tổng thống Thein Sein ký để chính thức thành luật.
Nó đòi người biểu tình phải "thông báo cho giới chức trước năm ngày".
Người biểu tình sẽ được phép cầm cờ và biểu tượng của đảng nhưng phải tránh các tòa nhà chính phủ, trường học, bệnh viện và sứ quán, theo lời vị nghị sĩ.
Dự luật được đưa ra quốc hội tuần này, bốn năm sau ngày xảy ra đợt biểu tình lớn do các nhà sư phát động mà đã bị đàn áp nặng nề.
Khi đó ít nhất 31 người chết và hàng trăm nhà sư bị bắt - nhiều người vẫn còn bị giam.
Quốc hội mới của Miến Điện khai mạc hồi tháng Giêng sau gần năm thập niên bị quân đội cai trị.
Cuộc bầu cử tháng 11 năm ngoái là cuộc bỏ phiếu lần đầu sau 20 năm.
Giới quan sát đã ngạc nhiên khi giới lãnh đạo đã có một loạt bước cải tổ mà có vẻ nhằm chấm dứt sự cô lập quốc tế.
Tuần rồi, Asean đồng ý để Miến Điện nắm chức chủ tịch luân phiên của tổ chức vào năm 2014.
Tháng 12, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton sẽ thăm Miến Điện - chuyến đi đầu tiên của một ngoại trưởng Mỹ sau 50 năm.
Tuy vậy, chính phủ Mỹ nói vẫn còn quá sớm để bàn về việc dỡ bỏ cấm vận.
Trong khi đó, hôm nay Nhật Bản nói sẽ gửi phái đoàn đến Miến Điện thảo luận việc nối lại viện trợ, đã bị ngừng từ năm 2003.
Đảng của bà Aung San Suu Kyi cũng nói sẽ quay lại chính trường sau khi tẩy chay cuộc bầu cử năm ngoái.

CẦN PHÂN BIỆT LUẬT BIỂU TÌNH VỚI QUYỀN BIỂU TÌNH


CẦN PHÂN BIỆT LUẬT BIỂU TÌNH VỚI QUYỀN BIỂU TÌNH

Nguyễn Tường Thụy

Hiện nay, nhiều người còn nhầm lẫn giữa quyền biểu tình với luât biểu tình. Họ cho rằng, khi có luật biểu tình thì mới có quyền biểu tình, nếu biểu tình là vi phạm pháp luật.

Đây là một quan niệm hết sức sai lầm mà cả đến ông thạc sĩ, đại biểu quốc hội Hoàng Hữu Phước cũng không tránh khỏi.

Chính vì ý nghĩ không có luật biểu tình thì không được phép biểu tình nên ông Phước tỏ thái độ rất gay gắt đối với biểu tình, nào là biểu tình chỉ nhằm vào chống chính phủ, nào là gây kẹt xe, nào là làm ô danh đất nước … Từ mớ lý luận kỳ quặc đó, ông đề nghị với Quốc hội loại bỏ Luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật. Nghĩa là ông cho rằng cứ treo cái luật đó lại là xong.

Những người mang quan niệm này dường như không để ý đến việc quyền biểu tình đã được ghi vào Hiến pháp. Hiến pháp là luật “mẹ” cho nên dù có luật biểu tình hay không thì vẫn không thể tước đi của công dân quyền biểu tình. Không thể nói trong khi chờ luật thì không được biểu tình. Tôi tin rằng, nếu Trung Quốc có hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam như hồi cuối tháng 5 năm nay một lần nữa hoặc có sự kiện nào bức xúc thì những người biểu tình lại xuống đường, dù Luật biểu tình có hay không.

Vì vậy, muốn tước đi quyền biểu tình của công dân chỉ còn cách sửa Hiến pháp. Nhưng tôi đố ông nghị nào dám đề nghị Quốc hội xóa quyền biểu tình của công dân ra khỏi Hiến pháp, nếu không muốn nước ta đóng biên giới ở nhà chơi một mình, cho dù có ghét biểu tình đến mấy.

Liên hệ với điều 4 của Hiến pháp về sự lãnh đạo của ĐCSVN. Rõ ràng, hiện nay chưa có luật về sự lãnh đạo của Đảng, thế nhưng ĐCSVN vẫn đương nhiên thực hiện quyền lãnh đạo của mình chứ Đảng đâu chịu ngồi chờ ra Luật thì mới dám thực hiện quyền ấy.

Trong sự kiện biểu tình Mùa Hè vừa qua, vì chưa có Luật biểu tình, chính quyền nhiều lúc tỏ ra rất lúng túng . Không thể cấm biểu tình, vì cấm là vi hiến, chính quyền liền có “sáng kiến” đưa ra điều khoản về việc cấm tụ tập đông người của Nghị định 38/2005/CP để giải tán những cuộc biểu tình nào họ muốn. Việc này đúng sai ra sao không thuộc nội dung của bài viết này.

Vậy ai là người cần luật biểu tình? Những người biểu tình hay chính quyền? Có thể nhiều người sẽ trả lời ngay là người biểu tình cần chứ Nhà nước thì không. Tôi lại nghĩ với ý thức công dân, với trách nhiệm đối với xã hội, với đất nước thì cả hai bên đều cần.

Chính quyền cần Luật biểu tình để quản lý hoạt động biểu tình, hướng hoạt động biểu tình sao cho vừa có ích cho đất nước, vừa đảm bảo được quyền của công dân. Người biểu tình cần Luật để thực hiện quyền công dân của mình, có căn cứ pháp luật để đấu tranh, cần thiết thì khởi kiện nếu chính quyền vi phạm.

Luật biểu tình sẽ có những điều khoản cụ thể bắt buộc người biểu tình và chính quyền phải tuân theo, đồng thời kèm theo chế  tài để đảm bảo cho Luật được tôn trọng.

Với các cuộc biểu tình vừa qua, chính quyền bí quá, đành phạm luật, cứ bắt rồi thả như cóc bỏ đĩa; chẳng ai sợ kể cả phải chịu vài cái đạp vào mặt, vài quả đấm vào mạng mỡ hay bị cho đi du lịch khắp các ngóc ngách của trại giam dăm ngày. Cùng lắm thì bị chụp cho cái tội gây rối trật tự công cộng hay tụ tập đông người. Tuy vậy, sự qui kết ấy khó mà thuyết phục được ai, đâu có dễ dàng đem xét xử. Rồi chính quyền truyền lệnh xuống các địa phương, cho người đi vận động, canh giữ, gây chuyện đối với người biểu tình. Kết quả là, chính quyền đạt được cái gì chưa thấy nhưng tin tức và hình ảnh được truyền đi khắp thế giới, các “thế lực thù địch” tha hồ “lợi dụng”. Còn người biểu tình thì hình như đông hơn, can đảm hơn, đoàn kết hơn. Dân và chính quyền xa nhau hơn.

Nhưng người biểu tình cũng coi chừng, khi ra luật có khi người biểu tình lại không thể làm những việc tùy thích như khi chưa có luật, lơ mơ vào tù như bỡn. Khi có Luật thì có thêm những khoản cấm. Không có luật thì không có những khoản cấm ấy, mà đã không cấm thì được phép làm. Vậy có khi chính quyền cần Luật biểu tình hơn ấy chứ.

Ông nghị Phước đừng tưởng ra Luật biểu tình tức là ban cho người dân cái quyền được biểu tình mà ra sức ghìm nó lại bằng cách“kính đề nghị Quốc hội loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật”. Quyền ấy là quyền đương nhiên của con người, đã được ghi vào Hiến pháp rồi, thưa ông.

23/11/2011
TƯỜNG THỤY


TẠP CHÍ XÂY DỰNG ĐẢNG: CÓ CẦN LUẬT BIỂU TÌNH?



Có cần Luật Biểu tình?
6:44' 23/11/2011
Trong phiên họp ngày 17-11-2011, khi Quốc hội thảo luận tại hội trường về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Quốc hội khóa XIII, đại biểu Hoàng Hữu Phước (TP. Hồ Chí Minh) đề nghị “Quốc hội loại bỏ Luật Lập hội và Luật Biểu tình khỏi danh sách dự án luật suốt nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII” với lý do: “Biểu tình là hành động để chống lại chính phủ nước mình hoặc chống lại một chủ trương của chính phủ của nước mình” và bản chất của biểu tình là “dễ bị lợi dụng để gây biến loạn” đã lập tức gây phản ứng trong dư luận.
Dư luận phản ứng trước hết bởi phát biểu của đại biểu Hoàng Hữu Phước thể hiện nhận thức ấu trĩ, lệch lạc về biểu tình. Trong thời đại ngày nay, biểu tình được hiểu là những hành vi hợp pháp, dân chủ, văn minh nhằm biểu thị thái độ, tình cảm, quan điểm ủng hộ những điều đúng đắn, tốt đẹp và có lợi cho nhân dân, cho đất nước, đồng thời phản đối những hành vi phạm pháp, có hại. Biểu tình là thước đo tâm tư, nguyện vọng của người dân, mức độ đúng, sai của các chính sách để qua đó, Đảng và Nhà nước có chỉnh sửa phù hợp, thúc đẩy xã hội phát triển.
Thứ hai, không phải đến bây giờ trên diễn đàn Quốc hội mới nói đến biểu tình mà chỉ 11 ngày sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, ngày 13-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 31 quy định về thể thức tổ chức các cuộc biểu tình. Hiến pháp năm 1959, Điều 25 ghi rõ: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình”. Hiến pháp 1980 xác định: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân”. Đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Điều 69 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Như vậy, biểu tình là một quyền cơ bản của người dân mà Hiến pháp đã quy định thể hiện tính tự do, dân chủ, nhân quyền của chế độ ta, không một ai có thể bác bỏ. 

Thứ ba, chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhân dân sống và làm việc theo pháp luật. Không có luật làm sao sống và làm theo luật? Trình độ dân trí, nhu cầu phát triển của xã hội, cuộc sống đặt ra yêu cầu khách quan cần có Luật Biểu tình. Không phải vô cớ Thủ tướng Chính phủ đề xuất cần xây dựng Luật Biểu tình trong chương trình xây dựng luật của Quốc hội khoá này. Luật Biểu tình khi được thông qua, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, sẽ tạo hành lang và chuẩn mực pháp lý, xác lập quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia, trang bị những biện pháp và chế tài cần thiết cho cơ quan quản lý nhà nước thực thi pháp luật. Một Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng phấn đấu vì mục đích dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh không sợ bất kỳ thế lực thù địch nào lợi dụng biểu tình để gây biến loạn.


Đại biểu quốc hội phải có trình độ, năng lực, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe, thấu hiểu ý kiến của nhân dân, không thể chỉ phản ánh mà còn tham gia giải quyết những yêu cầu chính đáng về quyền và lợi ích của dân, không thể là người giữ mãi những nhận thức ấu trĩ và lệch lạc.

Nguyễn Thuý Hoàn

BÀI ĐÃ ĐƯỢC GỠ, THEO YÊU CẦU CỦA NHÀ CHỨC TRÁCH


Theo yêu cầu của nhà chức trách, bài trên đã được gỡ vào chiều ngày 26.11.2011.
Kính mong chư vị thông cảm!

QUYỀN BIỂU TÌNH CỦA CÔNG DÂN


Quyền biểu tình của công dân
Hoàng Xuân Phú
Kẻ đúng thì rụt rè, do dự, vì e là phạm luật.
Người sai lại năng nổ, thẳng tay, bởi tin rằng có lý.
Biểu tình là một hoạt động hợp hiến và hết sức thông thường ở xã hội văn minh. Nhưng đến nay, biểu tình (ngoài sắp đặt của cơ quan Nhà nước) vẫn còn là một chuyện tương đối xa lạ ở Việt Nam, thậm chí như một điều „phạm húy“. Biểu tình bị ngăn cản, dù có diễn ra thì người ta vẫn quanh co, không dám gọi đúng tên. Đa số người dân nhìn nhận quyền biểu tình như một thứ xa xỉ phẩm, không liên quan đến cuộc sống của mình, thậm chí còn nhìn nó như một miếng mồi nhử nguy hiểm: Ừ thì Hiến pháp cho phép đấy, nhưng cứ thử động vào mà xem... Vốn dĩ thuộc phạm trù đối nội, quyền biểu tình được nêu trong Hiến pháp trên thực tế chỉ còn để đối ngoại.
Cản trở đối với quyền biểu tình của công dân không chỉ xuất phát từ ý muốn được „yên ổn“ của những người cầm quyền, mà còn bị ảnh hưởng nhiều bởi sự nhầm lẫn về mặt lô-gíc: Cả hai phía đều coi việc chưa có Luật biểu tình chính là nguyên nhân khiến quyền biểu tình chưa được hay chưa thể thực thi.
Phía người dân tưởng là khi chưa có Luật biểu tình thì không được biểu tình, nên đa số những người muốn bày tỏ chính kiến... vẫn im lặng. Ngay cả những người đã can đảm xuống đường vẫn cảm thấy chưa yên tâm, lo là hành động của mình có gì đó không ổn về mặt pháp luật, nên mới đề nghị Quốc hội sớm ban hành Luật biểu tình.
Phía chính quyền thì coi các cuộc biểu tình không do họ hoặc các cơ quan Nhà nước tổ chức là bất hợp pháp, là cố tình gây rối, thậm chí là do các thế lực thù địch tổ chức hoặc kích động, nên nếu có biểu tình thì chính quyền có quyền giải tán, có quyền bắt bớ... Có lẽ cũng do tin rằng chưa có Luật biểu tình thì không được biểu tình, nên một số người muốn trì hoãn việc ban hành Luật biểu tình, vì nếu có luật thì dù quy định ngặt nghèo đến đâu đi nữa, vẫn còn lại những quyền tự do tối thiểu, và không phải ai cũng muốn chấp nhận những quyền tối thiểu ấy của người dân.
Câu hỏi đặt ra là: Nên hiểu quyền biểu tình và mối quan hệ của nó với Luật biểu tình như thế nào cho đúng?
Quyền biểu tình trong Hiến pháp hiện hành
Cơ sở pháp lý để đánh giá về tính hợp pháp của hoạt động biểu tình Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.  Điều 69 của Hiến pháp hiện hành quy định:
Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.
Mệnh đề „theo quy định của pháp luật“ khiến người dân lúng túng, do dự khi thực hiện quyền biểu tình, và bộ máy chính quyền dựa vào đó để phủ nhận quyền biểu tình của công dân trên thực tế. Thật ra, từ „pháp luật“ xuất hiện 60 lần trong Hiến pháp 1992, nhiều khi chỉ là một phạm trù chung chung, không ám chỉ một luật cụ thể nào. Phải hiểu theo quy định của pháp luật“ hay trong khuôn khổ pháp luật“ là tuân theo những quy định thuộc về pháp luật – nếu đã có. Chưa có luật tương ứng thì có nghĩa là chưa có hạn chế, bởi không thể dùng cái chưa có để hạn chế thực tại. Sau khi Hiến pháp có hiệu lực, thì còn thiếu rất nhiều luật, và đến bây giờ vẫn còn thiếu, nhưng mọi tư duy lành mạnh đều hiểu rằng: Không thể bắt cuộc sống dừng lại, để đợi đến khi cơ quan lập pháp ban hành đủ luật.
Hiến pháp 1992 viết công dân có quyền biểu tình „theo quy định của pháp luật“, chứ không đòi hỏi cụ thể là „theo quy định của Luật biểu tình. Giả sử, nếu Hiến pháp quy định là công dân chỉ có quyền biểu tình theo quy định của Luật biểu tình, thì công dân có quyền chất vấn và phê phán Quốc hội: Tại sao mấy chục năm rồi mà vẫn chưa ban hành Luật biểu tình? Lúc đó nhân dân nhắc nhở và đòi hỏi Quốc hội phải ban hành Luật biểu tình, chứ không phải chỉ đề nghị, kêu gọi, hay xin xỏ, vì:
Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân, là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
(Điều 6, Hiến pháp 1992)
Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, ...
(Điều 53, Hiến pháp 1992)
Như vậy, khi không (hoặc chưa) có luật nào quy định cụ thể hơn về việc biểu tình, thì có nghĩa là pháp luật không (hoặc chưa) có hạn chế nào cả, và công dân hoàn toàn có quyền biểu tình, như Hiến pháp cho phép. 

Quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước đối với quyền biểu tình
Nếu Quốc hội muốn định hướng hay hạn chế hoạt động biểu tình của công dân trong một khuôn khổ nào đó, thì phải ban hành luật tương ứng. Nếu thấy cần kíp phải có luật để điều tiết hoạt động biểu tình, thì chính Quốc hội và các cơ quan giúp việc phải khẩn trương, chứ dân không phải sốt ruột xin Quốc hội ban hành. Cơ quan quản lý Nhà nước mới phải vội, chứ dân không cần vội. Việc một số công dân đề nghị Quốc hội sớm ban hành Luật biểu tình là một yêu cầu hoàn toàn chính đáng, nhưng điều đó lại góp phần làm cho người dân tiếp tục hiểu sai về quyền cơ bản của công dân, và làm cho những người thuộc cơ quan hành chính Nhà nước thêm ngộ nhận về quyền hạn của họ.
Nếu Chính phủ muốn quản lý hoạt động biểu tình của công dân theo một hướng nào đó thì Chính phủ phải soạn thảo và trình dự án luật (Điều 87, Hiến pháp 1992), để Quốc hội xem xét và ban hành luật, chứ Chính phủ không thể tự tiện đưa ra những quy định hay triển khai những hành động can thiệp trái với Hiến pháp. Hiến pháp 1992 đã quy định rõ:
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
(Điều 83, Hiến pháp 1992)
và Chính phủ là „cơ quan chấp hành của Quốc hội“ (Điều 109, Hiến pháp 1992).  Điều 115 của Hiến pháp 1992 cho phép
Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị
nhưng phải
Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
Trong tất cả 11 khoản của Điều 112, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính chủ, và cả 6 khoản của Điều 114, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính chủ, Hiến pháp 1992 không có bất cứ khoản nào cho phép Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản pháp quy để hạn chế hay can thiệp vào quyền tự do của công dân được Hiến pháp đảm bảo.
Trong Luật Tổ chức Chính phủ do Quốc hội khóa X thông qua ngày 25 tháng 12 năm 2001, Điều 8, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, được viết lại gần như nguyên văn Điều 112 của Hiến pháp 1992. Điều 20, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, là cụ thể hóa Điều 114 của Hiến pháp 1992. Quyền tự do của công dân được nhắc 3 lần trong Luật Tổ chức Chính phủ, trong đó chỉ khẳng định trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo vệ quyền của công dân tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền của mình, cụ thể là:
Thi hành những biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình...
(Điều 8, Khoản 5)
Quyết định những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình...
(Điều 18, Khoản 3)
Thực hiện chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân...
(Điều 13, Khoản 4)
Nghĩa là: Luật Tổ chức Chính phủ cũng không cho phép Chính phủ ban hành văn bản pháp quy để hạn chế quyền tự do của công dân được Hiến pháp đảm bảo. Tất nhiên là phải như vậy, vì Luật Tổ chức Chính phủ không thể có những quy định trái với Hiến pháp.
Nghị định của Chính phủ số 38/2005/NĐ-CP, do nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày 18/3/2005, quy định một số biện pháp đảm bảo trật tự công cộng, không đề cập đến khái niệm „biểu tình“ được nêu trong Hiến pháp 1992. Ngược lại, khái niệm „tập trung đông người“ được đề cập (21 lần) trong Nghị định số 38/2005/NĐ-CP không xuất hiện trong Hiến pháp 1992. Nghị định số 38/2005/NĐ-CP cũng không đưa ra định nghĩa hay giải thích về thuật ngữ „tập trung đông người“, không hề quy ước là „biểu tình“ thuộc phạm trù „tập trung đông người“. Tất nhiên, không thể tùy ý dùng thuật ngữ „tập trung đông người“ để chỉ hoạt động „biểu tình“ (cũng giống như không thể dùng thuật ngữ „tập trung 500 người“ để chỉ phiên họp Quốc hội), vì nếu như thế thì vừa thiếu tôn trọng công dân (hay thiếu tôn trọng Quốc hội), vừa thiếu tôn trọng Hiến pháp, bởi không được tùy tiện thay đổi thuật ngữ pháp lý cơ bản được sử dụng trong Hiến pháp và được dùng phổ biến trong thông lệ pháp lý trên toàn thế giới. Vì vậy, nếu hợp hiến, thì Nghị định số 38/2005/NĐ-CP cũng không chi phối quyền biểu tình của công dân được Hiến pháp đảm bảo.
Điều 50 của Hiến pháp 1992 khẳng định:
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.
Khi thực hiện các quyền con người (trong đó có quyền biểu tình), công dân chỉ phải tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành. Khi chưa có luật tương ứng thì công dân không phải chấp hành văn bản pháp quy nào khác ngoài Hiến pháp, bởi công dân chỉ phải „sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật“ (Điều 31, Hiến pháp 1992). Quyền biểu tình của công dân không phải chịu chi phối bởi các quy định nào đó, cho dù chúng có thể được đưa vào luật trong tương lai, lại càng không thể bị cản trở bởi các quy định tùy tiện của các cấp chính quyền, của bộ máy công an, của tổ dân phố, hay của một cấp trên chung chung nào đó. Cho dù là ai, to nhỏ ra sao, nhân danh tổ chức nào, thì họ cũng đều là công dân Việt Nam và cũng không nằm ngoài phạm vi chi phối của nguyên tắc:
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
(Điều 52, Hiến pháp 1992)
Không phải bất cứ một quy định phi lý nào được đưa vào luật cũng là thiêng liêng, bất di – bất dịch. Nếu có Luật biểu tình thì nó không thể chứa đựng những quy định trái với Hiến pháp. Nhân dân có quyền kiến nghị và Quốc hội có trách nhiệm hủy bỏ bất cứ quy định pháp luật nào trái với Hiến pháp, vì
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.
(Điều 146, Hiến pháp 1992)
Biểu tình – Quyền hiến định có hiệu lực cùng Hiến pháp hiện hành
Đã đến lúc dân ta (cả dân thường và cả những người đang thuộc bộ máy quản lý Nhà nước) phải chia tay với lối tư duy sai lầm là „trên“ cho làm gì thì „dưới“ mới được làm cái ấy, vì đấy là kiểu quan hệ giữa chủ nô và nô lệ, hoàn toàn trái với bản năng sống chủ động của mọi loài động vật tự do, trong đó có con người. Dù có muốn, dù có cố, thì cũng không bao giờ quy định được hết mọi chuyện trên đời. Hơn nữa, càng có nhiều quy định thì càng có nhiều điều bất hợp lý và càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa các quy định. Chính vì vậy, người dân có quyền làm bất cứ điều gì mà pháp luật không cấm và không vi phạm những chuẩn mực đạo đức thông thường đã được xã hội thừa nhận. Nhà nước có thể thông qua việc ban hành luật để hạn chế những mặt tiêu cực, nhưng sẽ không bao giờ khống chế được hoàn toàn. Không thể tiếp tục luận tội theo kiểu „lợi dụng sơ hở của pháp luật...“ Lập luận ấy không chỉ sai với thông lệ quốc tế, mà còn hài hước ở chỗ: Sao không trách phạt những người ăn lương của dân rồi làm ra luật... sơ hở, mà lại chỉ kết tội người dân áp dụng đúng luật sơ hở?
Căn cứ vào Hiến pháp và các văn bản pháp lý liên quan, với tư duy lô-gíc, chỉ có thể rút ra kết luận rằng: Quyền biểu tình của công dân được Hiến pháp hiện hành đảm bảo và có hiệu lực cùng lúc với Hiến pháp. Cho đến nay, chưa có luật  hay văn bản pháp lý hợp hiến nào hạn chế quyền biểu tình của công dân. Vì vậy, công dân hoàn toàn có quyền tự do biểu tình, theo đúng tinh thần của Hiến pháp, không phải đợi đến lúc có Luật biểu tình hay một văn bản tương tự.
Biểu tình là biện pháp hữu hiệu để nhân dân bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình và giải tỏa ức chế. Biểu tình cũng là một hình thức hợp lý để công dân bày tỏ chính kiến, góp phần xây dựng Nhà nước và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.
Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước là phải tôn trọng và bảo vệ công dân thực hiện quyền biểu tình, phải triệt để tuân theo Điều 12 của Hiến pháp 1992:
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.
Cách ứng xử với quyền biểu tình của công dân phản ánh mức độ tôn trọng nhân dân, tôn trọng Hiến pháp và trình độ hiểu biết pháp luật. Nó cũng thể hiện bản lĩnh lãnh đạo, mức tự tin vào sự trong sạch và chính nghĩa của bản thân. Một chính quyền vì dân, chỉ làm chuyện đúng, chắc chắn sẽ được đa số nhân dân tin yêu và bảo vệ, không việc gì phải sợ biểu tình. Nếu đi ngược lại lợi ích của nhân dân và dân tộc, làm những chuyện sai trái, thì không bạo lực nào có thể che chở vĩnh viễn.
Nếu thực sự cầu thị và muốn làm tròn bổn phận, lãnh đạo phải biết tận dụng hoạt động biểu tình như một chiếc cầu nối với nhân dân, làm nguồn cung cấp thông tin thực tế từ cơ sở, vốn dĩ hay bị bưng bít bởi bộ máy quản lý cấp dưới. Biểu tình là một phương tiện đắc lực để khắc phục tệ quan liêu – căn bệnh cố hữu của bộ máy chính quyền.
Chẳng có lý do chính đáng nào có thể biện hộ cho việc xâm phạm quyền biểu tình của công dân. Không thể cấm dân lên tiếng nhằm che dấu sự yếu kém. Không thể mượn cớ ổn định mà cản trở sự phát triển. Không được nhân danh bảo vệ chế độ để bảo vệ tham nhũng.
Xương máu của hàng triệu người Việt đã đổ xuống vì độc lập và tự do. Độc lập dân tộc chỉ có ý nghĩa khi gắn liền với tự do của nhân dân. Nếu dân không có tự do thì chính quyền mang quốc tịch nào cũng vậy. Do đó, muốn bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chế độ, thì phải tôn trọng các quyền tự do của nhân dân, trong đó có quyền biểu tình. Không thể khác!
Phụ lục (Dành riêng cho những người kiên định...)
Nếu quý vị nào vẫn cảm thấy chưa đủ thuyết phục và vẫn kiên định lập trường cho rằng công dân phải đợi đến khi có Luật biểu tình mới được biểu tình, thì xin dành riêng đoạn tiếp theo để quý vị suy ngẫm.
Hiến pháp 1992 có năm lần nhắc đến từ „Đảng“, trong đó có ba lần ở „Lời nói đầu“, hai lần đề cập đến lịch sử và công lao của Đảng CSVN, lần thứ ba trong câu:
Hiến pháp này... thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Hai lần còn lại là ở Điều 4, nguyên văn như sau:
Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Như vậy, mặc dù Hiến pháp 1992 khẳng định „Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật“, nhưng trong toàn bộ văn bản Hiến pháp không có quy định cụ thể nào về khuôn khổ mà Đảng CSVN được phép hoạt động, và cho đến nay vẫn chưa có „Luật về Đảng“ (hay tương tự) để quy định về quyền hạn, trách nhiệm, phạm vi và hình thức hoạt động của Đảng, cũng như hình thức xử lý khi tổ chức Đảng vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Rõ ràng, xét về lô-gíc, tính hợp pháp của việc Công dân... biểu tình theo quy định của pháp luật“ khi chưa có Luật biểu tình không hề yếu hơn so với tính hợp pháp của việc „Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật“ khi chưa có Luật về Đảng“. Vậy thì quý vị có cho là Đảng CSVN phải... đợi đến khi cóLuật về Đảng“ hay không?
Nếu ý vừa rồi vẫn chưa đủ, thì xin quý vị lưu ý thêm: Hiến pháp 1992 không đề cập đến chuyện ăn, chuyện ngủ... Việt Nam cũng không có luật về ăn, ngủ... Vậy mà hàng ngày 90 triệu người Việt vẫn ăn, vẫn ngủ..., dù biết là phải sống... theo Hiến pháp và pháp luật“ (Điều 31, Hiến pháp 1992).  Phải chăng, quý vị cũng coi đấy là hành vi cố tình vi phạm kỷ cương, coi thường phép nước? Vấn đề này có vẻ còn nghiêm trọng hơn cả chuyện biểu tình, vì quyền biểu tình của công dân còn được Hiến pháp ghi nhận đích danh. Vậy thì quý vị có định đòi hỏi mọi người cũng phải nhịn ăn, nhịn ngủ... cho đến khi có luật và được luật cho phép, giống như phải nhịn biểu tình hay không?
9/8/2011
*Bài viết do GS. TSKH Viện sĩ Hoàng Xuân Phú gửi trực tiếp cho NXD-Blog. 
Xin chân thành cảm ơn tác giả!


Giáo sư Tiến sỹ khoa học HOÀNG XUÂN PHÚ (ảnh: Nguyễn Xuân Diện)
Viện Toán học, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 
Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Heidelberg 
Viện sỹ thông  tấn Viện Hàn lâm Khoa học Bavaria 


Ông cũng đã từng vài lần tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc tại Hà Nội, và có một bộ ảnh rất đẹp gửi tặng Nguyễn Xuân Diện - Blog, tại đây:


Lắng nghe đồng bào tôi nói: Chùm 1- Chùm 2  -  Chùm 3


**Ông là tác giả của loạt bài về Điện Hạt nhân (trong mục Bài quan trọng của Blog này). Loạt bài này đã được gửi tới 63 đoàn Đại biểu Quốc hội Khóa XIII:

Bài 1: Mạn đàm về an toàn điện hạt nhân
Bài 2: Về huyền thoại điện hạt nhân giá rẻ

Bài 3: Phiêu lưu điện hạt nhân