Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

GS NGUYỄN MINH THUYẾT: TƯỞNG NHỚ BẠN HIỀN MAI XUÂN HẢI

TƯỞNG NHỚ BẠN HIỀN MAI XUÂN HẢI

Nguyễn Minh Thuyết

Thế là thêm một người bạn nữa ra đi. Giờ phút đau buồn này, không hiểu sao trong tâm tưởng tôi chỉ thấy hiện lên những hình ảnh đẹp nhất về anh - người bạn hiền Mai Xuân Hải.

Không có hình ảnh ốm đau. Không bình thở ô xy. Không bơm cháo bơm sữa. Chỉ có một Mai Xuân Hải tươi tắn, trẻ trung, dịu hiền, đôn hậu.

Anh hơn tôi 4 tuổi, lên Việt Bắc trước tôi 3 năm. Bạn bè cùng Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Việt Bắc trước đây thường gọi anh là Mai Hải để phân biệt với một anh Hải khác cùng tổ Trung văn (sau trở thành bộ môn Hán Nôm) là Thanh Hải. Năm 1976, tôi về Hà Nội học tiếng Nga chuẩn bị đi nghiên cứu sinh, còn anh chuyển về Hà Nội “hợp lý hoá gia đình”. Thân mẫu anh chỉ có mình anh. Phúc đức, những năm cuối đời Cụ được sống an bình bên con trai, con dâu và các cháu nội. Những năm ấy, ai đã đeo ba lô lên công tác Việt Bắc mà xin về quê được là may mắn lắm. Mai Hải là một trong những người may mắn như vậy. Không những thế, còn được về ngay Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một trung tâm nghiên cứu sang trọng.

Tính ra, tôi sinh hoạt cùng chi đoàn, ở cùng khoa với Mai Hải 7 năm, từ những ngày sơ tán ở Đức Lương, rồi tới Hái Hoa, Động Đạt, cuối cùng trở lại Mỏ Bạch, chỗ Trường có trụ sở nguy nga, bề thế bây giờ. Ngay từ những ngày đầu, tôi đã mến tính anh, một chàng trai Hà Thành tài hoa và nho nhã. Nói về sự nho nhã, có một kỷ niệm về những chàng trai Hà Nội chúng tôi trên “chiến khu” ngày ấy mà bây giờ nhớ lại tôi vẫn ngạc nhiên và buồn cười. Số là có lần, một anh trong chi uỷ – một người anh đôn hậu mà tôi rất mến – thành thật bảo tôi: “Cậu làm việc thì được, sống thì chan hoà. Anh em chi bộ không chê gì. Nhưng có người băn khoăn là cậu lịch sự quá, không biết có chân thật không.” Nhưng so với Mai Hải thì cái “lịch sự” của tôi ăn thua gì. Ở anh có cái lịch thiệp của một người xuất thân từ gia đình nề nếp, lại có cái lịch lãm của một trí thức và cái cốt cách nho nhã của một “ông đồ”. Anh cũng mấy lần được chi bộ nâng lên đặt xuống, nhưng hình như chưa kịp bén duyên.

Mai Hải có một sự ham học kỳ lạ. Anh tốt nghiệp Trung văn, tức là tiếng Hán hiện đại. Vốn Hán cổ và Nôm tự học là chính. Thế mà sau này anh trở thành một chuyên gia giỏi của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tác giả nhiều sách dịch và bài nghiên cứu. Ngoài Hán Nôm, anh còn ham đọc sách Phật, sách Lão và học thêm ngoại ngữ. Ngay những năm bom đạn đùng đoàng, anh hăm hở rủ tôi và mấy bạn cùng lứa tìm thầy học tiếng Anh, tiếng Pháp. Thầy tiếng Anh đầu tiên của chúng tôi là cụ Vy Quốc Bảo, thân phụ hoạ sĩ Vy Quốc Hiệp ở Đà Lạt. Còn thầy tiếng Pháp đầu tiên là thân phụ một sinh viên khoá 4 của Khoa. Bác là cán bộ kỹ thuật của Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, và cũng mở lớp dạy chúng tôi ở Nhà máy giấy luôn. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mấy bài học đầu tiên ấy với lòng biết ơn về sự khai mở của các thầy và sự khích lệ của người bạn đồng hương Mai Hải.

Nhưng kỷ niệm thú vị nhất của tôi về Mai Hải không phải là chuyện “phấn đấu”, học hành mà là một cái Tết trên núi rừng Đức Lương (Thái Nguyên). Hồi ấy không hiểu sao sát Tết, anh em về hết rồi mà mấy đứa trẻ trẻ như chúng tôi vẫn còn ở lại. Tôi đang ngồi làm việc thì Mai Hải sang, bảo: “Mày có biết thịt lợn không? Tao nuôi con lợn, bây giờ phải thịt mang về ăn Tết, mà bọn nó về hết rồi.” Qua mấy năm rèn luyện nơi sơ tấn, tôi cũng có biết cái món này nên nhận lời giúp anh. Hai anh em khiêng con lợn ra giữa đồng làm lông, rồi mổ. Chợt anh hỏi: “Mày có hay bị say xe không?”. Tôi đáp: “Có. Hay say, khổ lắm.” Anh nói tiếp: “Tao nghe nói uống tiết đọng trong lồng ngực con lợn mới mổ thì hết say xe. Mày dám uống không?” “Uống chứ.” Thế là hai cái bát sắt B52 to đùng được lấy ra, mỗi anh múc một múc rồi … uống. Chẳng hiểu có phải nhờ thế không mà sau Tết ấy, tôi đi xe khách liên miên không bị say xe.

Chuyện chia ngọt sẻ bùi với Mai Hải đã 40 năm rồi. Bây giờ anh đã thoát lên tiên. Còn tôi cũng đã xế chiều. Nhắc lại chỉ để nhớ tới anh, một người bạn được tất cả anh em chúng tôi quý mến.

Cầu chúc linh hồn người bạn hiền của tôi được siêu thoát cõi vĩnh hằng.

Thành kính phân ưu cùng chị Giang và các cháu.

VĨNH BIỆT NHÀ NGHIÊN CỨU HÁN NÔM MAI XUÂN HẢI

 Tin buồn:
Chúng tôi đau buồn báo tin: Nhà nghiên cứu MAI XUÂN HẢI
Sinh ngày 29 tháng 01 năm 1944; cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm từ năm 1976 đến năm 2004;
đã từ trần vào hồi 14h45 ngày 07 tháng 08 năm 2011 tại Hà Nội.
.
Lễ viếng từ 07h ngày 8 tháng 8 đến 07h ngày 9 tháng 8 năm 2011 
tại nhà riêng: Số 60 ngõ 5 đường Trường Chinh, Hà Nội,
 .
Lễ truy điệu vào hồi 08h ngày 9 tháng 8 năm 2011 tại nhà riêng.
An táng tại Đài hóa thân hoàn vũ Hà Nội cùng ngày.
 .
Xin gửi đến bà quả phụ Mai Xuân Hải và các con cháu lời chia buồn sâu sắc.
Nguyện cầu chư Phật tiếp dẫn anh linh NNC Mai Xuân Hải về miền tịnh thổ!
_____________________________-
Nguyễn Xuân Diện:
Mai Xuân Hải là một trong những nhà nghiên cứu xuất sắc của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về tác gia  - hoàng đế Lê Thánh Tông. Ông là người lĩnh hội được đầy đủ và trọn vẹn tinh thần của hoàng đế, thi sĩ Lê Thánh Tông qua từng câu chữ trong nguyên tác thơ văn. Mai Xuân Hải cũng là người am hiểu sâu sắc về Phật học, từng tham gia nhiều cuốn từ điển về Phật học và Tam giáo. 
Cuộc đời của ông, xuất thân từ lúc còn là giảng viên của  Đại học Sư phạm Việt Bắc (từ 1967 đến 1975) cho đến khi trút hơi thở cuối cùng trước sau vẫn là một thư sinh suốt đời tìm kiếm những giá trị nhân văn cao đẹp mà người xưa đã từng gửi gắm trên mỗi trang thư tịch cổ. Với phong cách và hành xử nhẹ nhàng, dí dỏm, tinh tế, ông luôn được đồng nghiệp nể trọng mến phục. 
Vĩnh biệt ông, Nguyễn Xuân Diện - Blog xin trân trọng giới thiệu một bài viết của ông, về Hoàng đế - thi sĩ Lê Thánh Tông, dưới đây:
BÀI VĂN KHUYÊN CHĂM HỌC CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
MAI XUÂN HẢI

Lê Thánh Tông là vị vua thứ 4 triều Lê. Ông là con thứ 4 của vua Thái Tông, sinh ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442)(2), lên ngôi vua từ năm Canh Thìn (1460), cho tới khi mất là ngày 29 tháng giêng năm ĐinhTị (1497), lấy niên hiệu là Quang Thuận (1460-1469), và Hồng Đức (1470-1497), ở ngôi 38 năm, hưởng thọ 55 tuổi. Sau khi mất được tôn phong miếu hiệu là Thánh Tông Thuần Hoàng Đế. Trong thời gian 38 năm trị vì, ông đã thực hiện nhiều cải cách, nhiều biện pháp đổi mới ở tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế cho tới văn hóa, giáo dục, trong vòng ba thập kỷ đã đưa nước ta trở thành một nước hùng mạnh vào bậc nhất trong khu vực thời bấy giờ. Nhiều chính sách, chế độ, luật lệ... của thời đại ông đã để lại ảnh hưởng sâu đậm đến các đời sau. Ông còn sáng tác nhiều thơ Hán, là một tác giả văn học lớn nhất trong lịch sử văn học nước ta giai đoạn nửa sau thế kỷ XV.

Tài năng và sự nghiệp của ông, cùng những đóng góp của ông cho đất nước được mọi người đánh giá cao. Nhà sử học đương thời Ngô Sĩ Liên nhận xét: “Nhà vua thực là bậc vua anh hùng tài lược; dù Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không hơn được”(3).

Nhà bác học Phan Huy Chú thế kỷ thứ XIX cũng nhận xét: “Tư chất và tính khí vua rất cao sáng, ham học không biết mỏi, tay không rời sách. Kinh, sử, chư tử, lịch số, toán chương đều tinh thông, văn thơ càng giỏi hơn các bề tôi. Về trị nước thì vua tôn trọng Nho thuật, cất nhắc anh tài, sáng lập chế độ, khôi phục và mở mang bờ cõi, văn vũ tài lược hơn cả các đời. Người ta cho rằng chính trị đời Hồng Đức là rất thịnh”(4)

Sứ giả Trung Quốc thời bấy giờ cũng gọi ông với thái độ kính trọng là “An Nam chân chúa”(5) .
Bác Hồ cũng ca ngợi ông rằng:


Vua hiền có Lê Thánh Tông,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành(6) 
 
Tài năng và sự đóng góp có hiệu quả cho đất nước của vua Lê Thánh Tông có phần là nhờ ông rất cần cù chịu khó học tập trong suốt cả cuộc đời của mình, cả khi đã lên ngôi vua. Ông viết về mình như sau:

Trống dời canh còn đọc sách,

Chuông xế bóng chửa thôi chầu(7) 
 
Có thể nói rằng, ông là người có kiến thức, có học vấn uyên bác nhất thời bấy giờ. Phải chăng đó là một trong những nhân tố để ông đưa đất nước đi theo con đường đổi mới, đạt đến sự thịnh trị tột đỉnh trong thời kỳ phong kiến. Ông không chỉ là một tấm gương sáng chói về học tập, mà còn khuyên mọi người nên chăm học nữa. Lâu nay có người đã đề cập đến bài Chiếu khuyến học, Dụ khuyến học của ông. Nhưng cho đến nay chúng ta chỉ được nghe nói, chứ chưa từng được đọc nội dung bài văn khuyến học đó.

Gần đây, tìm tòi trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, may mắn chúng tôi tìm được hai văn bản Hán Nôm có chép bài văn khuyến học đó. Đó là:

1. Giai văn tập ký: ký hiệu A.2397, sách chép tay, khổ 28x16cm, 28 tờ, không có tựa bạt, mục lục, không ghi tên tác giả. Như tên sách đã nói, sách này là tập hợp ghi chép những bài văn hay (giai văn), cả thảy gồm 33 bài, phần lớn của các tác giả đời Nguyễn như: Hoàng Cao Khải, Phan Đình Phùng, Bùi Hướng Thành, Nguyễn Trọng Hợp, Dương Lâm, Đỗ Đình Liên(8) , Ngô Thế Vinh v.v... và bài thứ 30 (tờ 20a-22a) có nhan đề là Thánh Tông Thuần Hoàng Đế khuyến học văn, dịch nghĩa là: Bài văn khuyên chăm học của vua Thánh Tông Thuần Hoàng Đế.

2. Chư đề hợp tuyển: ký hiệu VHv.552, sách chép tay, viết thảo, khổ 25x13cm, 58 tờ, do Vinh Phong Phạm Nam Sơn chép ngày 16 tháng 8 năm Thành Thái thứ 8 (1896). Tên sách cho ta biết đây là một loại sách hợp tuyển văn học. Sách tập hợp 56 bài văn cả Hán và Nôm thời Lê và Nguyễn về các thể tài như: Văn bia trùng tu đền Hưng Đạo Vương của quan kinh lược Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải; Bài văn khuyến hiếu của Văn Xương Đế Quân; Bài văn con rể tế bố vợ, vợ tế chồng, chồng tế vợ; Bài Quy khứ lai từ (Nôm); Bài văn tế cô hồn; Trần tình biểu; Bài phú Hàn Tín của Đặng Trần Thường; Bài phú Từ nông quy sĩ (Nôm) v.v... và bài thứ 55 (tờ 55a-56a) có nhan đề là Thánh Tông Thuần Hoàng Đế khuyến tiểu sinh văn, dịch nghĩa là: Bài văn khuyên học trò chăm học của vua Thánh Tông Thuần Hoàng Đế.

Cả hai văn bản đều có một số chữ, câu khác nhau. Trước khi dịch, chúng tôi có đối chiếu, khảo dị, để 2 bản bổ sung cho nhau những chỗ bất túc, tiến tới một bản hoàn thiện hơn. Khi khảo dị, chúng tôi gọi tắt bản Giai văn tập ký là GVTK, và bản Chư đề hợp tuyển là CĐHT.

Xét thấy bài văn khuyến học này là một tài liệu cần thiết để nghiên cứu về con người Lê Thánh Tông và tư tưởng giáo dục của ông, nay chúng tôi xin phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và công bố, cống hiến cho độc giả của Tạp chí Hán Nôm , nhân dịp kỷ niệm 550 năm ngày sinh của ông.

Phiên âm:
Thánh Tông Thuần Hoàng Đế Khuyến học văn(1)
 
Cái văn(2):
Quân tử thành đức chi danh, quý hồ hữu thể hữu dụng;
Nho giả vị kỷ chi học, yếu tại thành thủy thành chung.
Cẩu đán tịch chi(3) bất cần;
Tắc công phu chi(4) hữu gián.
Hạ Vũ đại thánh, tứ tứ do tích thốn âm;
Tăng Tử đại hiền, miễn miễn thượng gia tam tỉnh.
Hán Đồng Tử hạ duy nhi lệ sĩ(5)
Đường Xương Lê kế quĩ dĩ thành công.
Bỉ hà nhân, ngã diệc hà nhân, vi chi nhược thị;
Cổ thử lý, kim đồng thử lý, chí giả cánh thành(6).
Nhữ đẳng:
Sinh hồ thiên địa chi gian,
Đồng đắc âm dương chi khí.
Vật các phó vật(7), tuy vân hoặc thuần hoặc bác chi thù,
Nhân chi vi nhân, diệc hữu hi thánh hi hiền chi chí.
Tiên cẩn kì(8) sái tảo, ứng đối, tiến thoái chi tiết;
Thứ(9) cập phù lễ nhạc, xạ ngự, thư số chi văn.
Tọa như thi, lập như trai(10), học nhi thời tập;
Chính kỳ tâm, thành kỳ ý, đức cầu(11) nhật tân.
Hàm vịnh hồ, kì sở dĩ tri;
Mãnh miễn(12) hồ, kì sở vị chí.
Kinh giả, tải đạo chi khí, tất dụng lực dĩ(13) giảng cầu;
Sử giả(14), kí sự chi thư, tất dụng(15) tâm nhi suy cứu.
Dĩ khảo thánh hiền chi thành pháp;
Dĩ cầu(16) sự lí nhi đương nhiên.
Nhã ngôn mạc thiết ư Thi Thư, Thi Thư cần nãi hữu(17);
Hành đạo mạc tiên ư Lễ Nhạc, Lễ Nhạc bất khả vô.
Trầm tiềm hồ Bát quái, Cửu trù;
Xuất nhập hồ Bách gia chư tử.
Đại hiền vi sư, thứ hiền vi hữu, thân sư thủ hữu hữu phương;
Xuất sự kì trưởng, nhập sự kì huynh, kính trưởng ái huynh tân đạo.
Bất tuần tư dục nhi vi lý(19),
Đãn đương chủ thiện vi sư.
Khí tập sở di, đương giới phù kiêu chi nhất tự,
Đạo lý tối đại, giai thủ chư(20) thân chi lưỡng bàng.
Hữu chân thực tiễn lí chi công;
Vô liệp đẳng can dự chi thất(21).
Năng định(22) năng tĩnh, năng lự năng đắc, sở tạo giả thâm;
Như thiết như tha, như trác như ma, ích cầu kì chí.
Kí hữu đắc chi ư kỉ,
Hựu đương(23) suy dĩ cập nhân.
Tài dưỡng bất tài, trúng dưỡng bất trúng, tư chi giả chúng;
Thành bất độc thành, lập bất độc lập, đức tất hữu lân.
Nhân chi thục, nghĩa chi tinh;
Công chi sùng, nghiệp chi quảng.
Do thị nhi cùng kinh chí dụng(24)
Do thị nhi học cổ nhập quan.
Thủ Hán thất chi tử thanh, đãi đồng thập giới;
Trạc Tống triều chi khoa đệ(25), hữu nhược bạt tì(26).
Nhân tranh khán kim bảng(27) đề danh;
Thời cộng(28) đổ thanh vân đắc lộ.
Bộ ngọc đới kim chi khách, tiếp chủng liên(29) kiên;
Chấp tiên phụ nỗ chi đồ, hô tiên ủng hậu.
Đăng(30) hỏa chi sơ tâm bất phụ;
Công danh chi tố chí hoạch thường.
Dĩ văn chương nhi phủ phất hoàng du;
Dĩ đạo đức nhi sênh dung dã(31) hóa.
Tí dân tôn chủ, lợi trạch cập ư(32) đương thời;
Dương danh hiển thân, sự nghiệp thùy ư hậu thế.
Thị giai cần dĩ vi thượng(33);
Cố năng lộc tại kì trung.
Thảng hoặc:
Bất học bất tư;
Tự thí tự bạo(34).
Muội mục ư điển mô chi huấn, mậu mậu(35) hà tri;
Mê tâm ư phong nguyệt chi trường, yêm yêm võng giác.
Song khích chi quang âm(36) mị duyệt(37);
Thành nam chi đăng hỏa bất cần(38).
Nghiệp hoang vu hi(39), kê khuyển chi tâm dị(40) phóng;
Học tựu vị kỉ(41), hồng hộc chi chí dĩ di.
Tể Dư chi mộc bất khả điêu,
Từ Tử chi thủy mạc tri bản.
Sơn vi cửu nhẫn, nhất quĩ do(42) khuy;
Tỉnh vị cập tuyền, bán đồ nhi phế.
Ngoã phiến(43) chi tài mạc dụng;
Tì ô chi dịch cam vi.
Trì khu huy hạ chi binh, hung sinh cơ sắt;
Bôn tẩu mã tiền chi tốt, bối xuất trùng thư.
Ngũ phù xích tịch chi đồ lao;
Tì tất nô nhan chi khả quý(44).
Lỗ mãng nhi canh, lỗ mãng nhi hoạch, quyết cữu y thùy?
Khốn khổ kì thân(45), khốn khổ kì tâm(46), phệ tê hà cập !
Khởi thời tác thê noa chi lụy;
Ngưỡng diệc cô phụ mẫu chi ân.
Hồi khán ý cẩm chi vinh,
Không bão(47) hậu nhan chi sỉ.
Phù! nhân chi tiếu dữ bất tiếu, ư thị phán yên;
Tại học chi cần dữ bất cần, vi hà như nhĩ.
Ngô ngôn cập thử;
Nhữ đẳng kí chi !

Khảo dị:

1. Bản CĐHT: Thánh Tông Thuần Hoàng Đế khuyến tiểu sinh văn.
2. Bản CĐHT: Viết
3. 4. Bản CĐHT: Không có chữ “chi”
5. Bản CĐHT: Phát phẫn
6. Bản GVTK: Không có câu này
7. Bản CĐHT: phú
8. Bản CĐHT: hồ
9. Bản CĐHT: hậu
10. Bản CĐHT: Tề
11. Bản GVTK: Yếu tại
12. Bản CĐHT: Miễn cưỡng
13. Bản CĐHT: Nhi
14. Bản CĐHT: Nãi
15. Bản CĐHT: Tận
16. Bản CĐHT: Thức
17. Bản CĐHT: Sở cố hữu
18. Bản GVTK: Không có hai chữ “ái huynh”
19. Bản GVTK: Bất khả tuần vật lí
20. Bản GVTK: Kì
21. Bản CĐHT: Hoạn
22. Bản CĐHT: An
23. Bản CĐHT: Vưu khả
24. Bản GVTK: Không có câu này
25. Bản CĐHT: Khoa mục
26. Bản CĐHT: Trích tì
27. Bản CĐHT: Hoàng bảng
28. Bản CĐHT: Khoái
29. Bản CĐHT: Biên
30. Bản CĐHT: Hương
31. Bản CĐHT: Thường
32. Bản CĐHT: Vu
33. Bản GVTK: Thượng
34. Bản CĐHT: Tự bạo tự khí
35. Bản CĐHT: Minh minh
36. Bản CĐHT: Quang minh
37. Bản CĐHT: Lũ
38. Bản CĐHT: Bất thân
39. Bản CĐHT: Đường
40. Bản CĐHT: Dĩ
41. Bản CĐHT: Dịch học vị chí
42. Bản CĐHT: Thượng
43. Bản CĐHT: ủng thũng
44. Bản CĐHT: Khả sỉ
45. Bản CĐHT: Kì chí
46. Bản CĐHT: Kì thân
47. Bản GVTK: Bả

Dịch nghĩa:

Bài văn khuyên chăm học 
của vua Lê Thánh Tông Thuần Hoàng Đế
Từng nghe:

Người quân tử được gọi là “Thành Đức”, quý ở chỗ có đủ cả “thể” cả “dụng”(9);
Bậc Nho giả cầu “cái học vị kỉ”(10), thì cần phải có thủy có chung.

Nếu sớm tối không cần cù,
Thì công phu bị gián đoạn.

Kìa:

Bậc đại thánh như vua Hạ Vũ(11), còn tiếc nuối từng tấc quang âm;
Bậc đại hiền như ngài Tăng Sâm(12), vẫn mỗi ngày xét mình ba lượt.

Đổng Tử đời Hán(13), buông rèm mà khích lệ kẻ sĩ;
Xương Lê đời Đường(14), kiên trì mà đi tới thành công.

Kẻ kia là người, ta cũng là người, mà họ làm được như thế;
Xưa vẫn lý ấy, nay vẫn lý ấy, cốt có chí thì làm nên.

Các người:

Sinh ra ở trong vòng trời đất,
Cùng bẩm thụ khí âm dương.

Mỗi một sự vật, tuy trời phú có thuần tạp khác nhau;
Nhưng đã là người, ai cũng có chí noi theo bậc hiền bậc thánh.

Trước hết, phải tẩy rửa cho trong sạch, ứng đối, tiến lui cho phải phép;
Thứ đến, học các môn lễ nhạc, xạ ngự, thư số khác nhau(15).

Ngồi ngay ngắn, đứng trang nghiêm, học rồi thường xuyên luyện tập(16),
Tâm ngay chính, ý chân thành(17), đạo đức ngày càng thêm mới.

Đào sâu kỹ những điều đã học;
Hăng say tìm những điều chưa thông.

Thể loại “kinh” là thứ chở đạo, phải dốc sức mà giảng cầu;
Thể loại “sử” là sách ghi việc, phải dụng tâm mà suy cứu.

Từ đó, khảo cứu phép tắc của thánh hiền;
Từ đó, nắm vững quy luật của sự lý.

Lời đẹp chẳng gì bằng Kinh Thi, Kinh Thư(18) Thi, Thư cần phải có;
Hành đạo chẳng gì hơn Kinh Lễ, Kinh Nhạc(19), Lễ, Nhạc chẳng thể không.

Lặn ngụp nơi Bát quái, Cửu trù(20);
Ra vào chốn Bách gia chư tử(21).

Tìm bậc đại hiền làm thầy, tìm bậc thứ hiền kết bạn, gần gũi thầy bạn đúng phương châm;
Ra thờ bậc trưởng, vào thờ bậc anh, kính trưởng mến anh hết đạo.

Chớ chạy theo dòng tư dục mà làm trái sự lý;
Những nên coi việc thiện làm thầy.

Khí chất do thói quen mà đổi thay; Hãy răn giới một chữ kiêu mạn;
Đạo lý cao nhất, cốt ở chỗ giữ gìn quan hệ xung quanh.

Rèn công phu thực tiễn chân thành;
Chớ mắc lỗi săn lùng danh tiếng.

Có định có tĩnh, có lự có đắc(22), thành quả mới cao;
Như thiết như tha như trác như ma(23), cầu tiến bộ mãi.

Bản thân đã có sở đắc;
Lại mong mở rộng cho người.

Người tài dạy người bất tài, người đúng dạy người chưa đúng.
Giúp đỡ thêm đông đảo;

Thành tựu chẳng riêng mình, lập thân chẳng mình ta,
Đức vọng thêm bạn hữu.

Nhân càng thục, nghĩa càng tinh;
Công càng cao, nghiệp càng lớn.

Từ đó mà ra sức áp dụng điều sở học;
Từ đó mà noi theo cổ nhân học làm quan(24).

Giành chức quan cao nhà Hán xưa, khác nào cúi nhặt hạt cải(25);
Giật lấy khoa bảng nhà Tống nọ, chỉ như nhổ đứt sợi râu.

Người tranh xem bảng hổ đề tên;
Đời ngưỡng vọng đường mây nhẹ bước(26).

Cùng khách đai vàng bội ngọc, tiếp gót liền vai;
Một đoàn đeo nỏ cầm roi, tiền hô hậu ủng.

Tấm lòng đăng hỏa ngày xưa thật chẳng phụ;
Nguyện ước công danh thuở nọ được đền bồi.

Nhờ văn chương mà địa vị rõ ràng;
Nhờ đạo đức mà tục dân giáo hoá.

Giúp dân giúp chủ, lợi ích thấm khắp đương thời;
Bản thân cha mẹ vẻ vang, sự nghiệp lưu truyền hậu thế.

Tất thảy đều nhờ cần cù là trên hết,
Vậy nên bổng lộc sẵn ở trong(27).

Thế mà chẳng học, chẳng suy;
Chính là tự mình vứt bỏ.

Tối tăm lời dạy ở mô điển(28), ú ớ chẳng hay;
Ham mê say đắm chốn gió trăng, mịt mờ chẳng tỉnh.

Bóng quang âm nơi khe cửa thấm thoát chẳng tỏ;
Ngọn đèn nơi thành nam le lói chẳng chăm.

Ham mê các trò vui, cái tâm kê khuyển(29) dễ buông thả;
Học mới được mấy tý, cái chí hồng hộc(30) đã thay rồi.

Như Tể Dư, gỗ mục chẳng thể dùng(31),
Như Từ Tử, dòng nước chẳng biết mạch(32).

Núi cao chín nhẫn, thiếu một sọt đất chẳng thành(33);
Giếng chẳng có mạch nguồn, giữa đường đành vứt bỏ.

Cái tài cỏn con chẳng dùng được;
Công việc hèn mọn phải cam làm.

Rong ruổi làm quân dưới cờ, ngực sinh rận rệp;
Bôn tẩu làm lính trước ngựa, lưng đầy bọ giòi.

Vất vả thân đầy tớ dốt ngu;
Khúm núm hèn mọn thật xấu hổ.

Cẩu thả cày cấy, cẩu thả thu hoạch, lỗi ấy vì đâu?
Khốn khổ cái thân, khốn khổ cái tâm, hối hận sao kịp !

Há chỉ làm lụy tới thê tử;
Mà còn phụ ơn cả mẹ cha.

Ngoảnh nhìn người áo gấm vẻ vang;
Thật đáng xấu hổ và sỉ nhục !

Kìa:

Làm người tốt và không tốt, phân biệt chỉ chỗ đó mà thôi;
Học chăm hay không chăm, còn gì khác như thế nữa!

Ta có vài lời như vậy;
Các ngươi hãy nhớ lấy!
 
M.X.H

CHÚ THÍCH
(1) Công bố nhân dịp kỷ niệm 550 năm ngày sinh của vua Lê Thánh Tông (1442-1992).
(2) Theo Lê hoàng ngọc phả, ký hiệu Thư viện Viện Hán Nôm A.678.
(3) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, Hà Nội, 1972, T.3, tr.173.
(4) Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, T.1, tr.201.
(5) Theo Lê kỷ tục biên, ký hiệu Thư viện Viện Hán Nôm VHv.1303, tờ 26b.
(6) Hồ Chí Minh: Lịch sử nước ta.
(7) Thơ Nôm - Tự thuật.
(8) Đúng ra là Đỗ Huy Liêu, người xã La Ngạn, huyện Đại An, nay thuộc tỉnh Ninh Bình.
(9) Thể dụng: vốn là thuật ngữ của Tống Nho. ở đây “thể” có nghĩa là thể chất, có thực học, thực tài; “dụng” là tác dụng, là sự phát huy tác dụng của cái thể chất, cái thực học đó.
(10) Vị kỷ: vì mình. “Vị kỷ chi học”, là cái học cốt cầu tiến bộ ở nơi bản thân mình, có xuất xứ từ sách Luận ngữ, thiên Hiến vấn thứ 14: “Cổ chi học giả vị kỷ, kim chi học giả vị nhân” (người học ngày xưa cầu sở đắc ở nơi bản thân mình, người học ngày nay cầu để người khác biết mình).
(11) Hạ Vũ: tức vua Đại Vũ nhà Hạ, còn gọi là Hậu Vũ, là một ông vua hiền nổi tiếng trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, khai sáng ra nhà Hạ. Cha là Cổn trị thủy không có công, bị giết. Ông nối sự nghiệp, 8 năm ở ngoài, 3 lần đi qua cửa mà không vào, tranh thủ thời gian để hoàn thành sự nghiệp trị thủy.
(12) Tăng sâm: một trong 72 học trò giỏi của Khổng Tử, nổi tiếng về giữ đạo hiếu. Ông là tác giả các sách Hiếu kinh, Đại học v.v... Tống Nho cho rằng chỉ có một mình ông là chân truyền được đạo thống của Khổng Tử. Câu “Mỗi ngày xét mình ba lượt” (Ngô nhật tam tỉnh ngô thân) có xuất xứ từ sách Luận ngữ, thiên Học nhi thứ nhất.
(13) Đổng Tử: Tức Đổng Trọng Thư, là một nhà triết học nổi tiếng thời Hán, giữ chức Bác sĩ thời Hán Cảnh Đế. Ông buông rèm dạy học, ba năm liền mắt không nhìn ra ngoài vườn, được mọi người suy tôn là thầy. Tác phẩm có Xuân thu phồn lộ v.v...
(14) Xương - Lê: tức Hàn Dũ, là nhà triết học, nhà văn nổi tiếng thời Đường. Ông thuở nhỏ mồ côi cha, nhờ khắc khổ kiên trì học tập mà thành đạt, đỗ Tiến sĩ đời vua Đường Đức Tông. Ông là người bác thông kinh sử, bách gia, văn chương có phong cách riêng, là một trong “Đường, Tống bát đại gia” (8 nhà văn lớn đời Đường, Tống).
(15) Lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số: tức “lục nghệ” (6 nghề) trong sách Chu Lễ . Đó là: Lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (đánh xe ngựa), thư (viết chữ), và số (tính toán).
(16) Học rồi thường xuyên luyện tập: lấy ý câu nói của Khổng Tử: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” (Học mà được thường xuyên luyện tập, thì không vui hay sao?) trong sách Luận ngữ, thiên Học nhi thứ nhất.
(17) Tâm chính, ý thành: giữ cho tâm được ngay chính, cho ý được chân thành. Đó là những phương pháp tu dưỡng thân tâm, có xuất xứ từ sách Đại học.
(18) (19) Thi, Thư, Lễ, Nhạc: tên bốn kinh: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, trong Ngũ kinh (thêm Kinh Dịch) của đạo Nho.
(20) Bát quái, Cửu trù: “Bát quái” là 8 quẻ, gồm: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài trong Kinh Dịch . “Cửu trù” tức chín trù, gồm: 1. Ngũ hành, 2. Kính dụng ngũ sự, 3. Nông dụng bát chính, 4. Hiệp dụng ngũ kỷ, 5. Kiến dụng hoàng cực, 6. Ngải dụng tam đức, 7. Minh dụng kê nghi, 8. Niệm dụng thứ trưng, 9. Hưởng dụng ngũ phúc, uy dụng lục cực, có xuất xứ từ thiên Hồng phạm, Kinh Thư. Bát quái, Cửu trù ở đây chỉ Kinh Dịch, Kinh Thư.
(21) Bách gia chư tử: thuật ngữ chỉ 10 môn phái triết học tiêu biểu thời cổ đại Trung Quốc, gồm: Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia, Âm dương gia, Tung hoành gia, Tạp gia (Lã Thị Xuân Thu, Hoài Nam Tử ...), Nông gia, Tiểu thuyết gia.
(22) Có định có tĩnh, có lự có đắc: chỉ sự tập trung tư tưởng cao độ (định tĩnh), đào sâu suy nghĩ (lự) thì học tập mới có kết quả (đắc), có xuất xứ từ sách Đại học.
(23) Như thiết như tha, như trác như ma: như cắt như cứa, như mài như giũa. Chỉ người học có nhu cầu bức xúc, thôi thúc học tập (như thiết như tha) và hàng ngày cần cù chăm chỉ (như trác như ma), có xuất xứ từ sách Đại học và sách Luận ngữ, thiên Học nhi thứ nhất.
(24) Câu này lấy ý từ câu “học muốn hay thì ra làm quan” (học nhi ưu tắc sĩ), có xuất xứ từ sách Luận ngữ, chương Tử Trương thứ 19. Người xưa cho rằng, làm quan là cách tốt nhất để có cơ hội thi thố, ứng dụng những điều sở học của mình, góp phần đóng góp cho xã hội. Bên cạnh đó giúp mình được hưởng bổng lộc, vinh hoa, là thành quả chính đáng gặt hái được nhờ học tập mà có.
(25) Giành chức quan cao: dịch thoát chữ “thanh tử” tức là hai màu xanh, tía, mầu áo của bậc khanh, đại phu đời Hán, Cúi nhặt hạt cải: Hạ Hầu Thắng khi dạy học thường bảo học trò rằng: “Kẻ sĩ chỉ lo việc không sáng tỏ kinh thuật. Một khi kinh thuật sáng tỏ rồi, thì việc giành lấy chức quan cao, chỉ dễ như cúi nhặt hạt cải vậy” (Hán Thư, Hạ Hầu Thắng truyện).
(26) Đường mây nhẹ bước: dịch câu “thanh vân đắc lộ”, chỉ những người may mắn, học giỏi đỗ đạt, có địa vị cao trên con đường hoạn lộ.
(27) Bổng lộc sẵn ở trong: lấy ý từ câu nói của Khổng Tử “Học dã, lộc tại kỳ trung hĩ”, trong sách Luận ngữ, thiên Vệ Linh Công thứ 15.
(28) Lời dạy ở mô điển: “mô điển” là những thể văn răn giới về chính sự ở các đời Hạ, Thương, Chu chép trong Kinh Thư.
(29) Cái tâm kê khuyển: chỉ những ham muốn vật dục trong con người, nếu không biết chế ngự thì rất dễ bị buông thả, sa ngã.
(30) Chí hồng hộc: hồng hộc là hai loài chim bay cao, bay xa, chí hồng hộc là chỉ những người có chí, có hoài bão, có lý tưởng lớn lao.
(31) Tể Dư, gỗ mục chẳng thể dùng: Tể Dư là học trò của Khổng Tử, có tài nói năng, theo học khoa ngôn ngữ, nhưng kém ý chí, hay ngủ ngày, nên bị Khổng Tử chê là khác nào cây gỗ mục, không thể dùng để đẽo gọt, chạm trổ được. Chuyện này, có xuất xứ từ sách Luận ngữ, thiên Công Dã Tràng thứ 5.
(32) Từ Tử: chưa rõ.
(33) Câu này ý khuyên người học phải tự cường, cố gắng không biết ngừng nghỉ, tích thiểu thành đa, nếu giữa đường dừng lại, thì công phu trước vứt hết, như quả núi cao, thiếu một sọt đất cũng chẳng thành, có xuất xứ là sách Luận ngữ thiên Tử Hãn thứ 9: “Thí như vi sơn, vị thành nhất quĩ, chỉ, ngô chỉ dã” (Ví như đắp một ngọn núi, còn thiếu một sọt đất nên chưa thành, dừng lại, là ta tự dừng vậy)./.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 2 / 1992

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

PHÁT BIỂU CỦA ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC TẠI QUỐC HỘI VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ BÔ-XÍT

Ảnh sưu tầm từ Internet
 Bài phát biểu trước Quốc hội của ông Dương Trung Quốc về Biển Đông, bô-xít


(Tamnhin.net): Kỳ họp thứ nhất nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khép lại. Nhân dân ta được chứng kiến những hoạt động của kỳ họp đặc biệt quan trọng này mà 2/3 thời gian kỳ họp bàn về vấn đề sắp xếp phân công nhân sự. Thật may mắn trong số thời gian còn lại đài truyền hình VTV1 đã kịp thời truyền tải những ý kiến của các đại biểu của dân đến được với nhân dân cũng như cử tri của cả nước thấy, nghe để cũng được yên lòng và củng cố lòng tin.  

Kính thưa QH,

Với kỳ hợp thứ Nhất của Quốc hội khoá XIII này, chúng ta được chứng kiến một hiện tượng hy hữu trong lịch sử QH. Một vị Phó Thủ tướng thường trực trình bày bản Báo cáo của Chính phủ ở đầu kỳ họp lại trở thành Chủ tịch QH chủ trì giám sát ngay chính bản báo cáo của mình. Lần đầu tiên có một nhà hành pháp lại trở thành nhà lập pháp và hơn thế nữa chúng ta cũng chứng kiến nhiều  thành viên của Chính phủ lại “hoá thân” vào QH.

Tôi muốn nhìn nhận khía cạnh tích cực của hiện tượng này. Là người tham gia hoạt động rất lâu năm trong Chính phủ, ở vào những vị trí then chốt nhất của CP, hiểu rõ “chân tơ kẽ tóc” của CP, Chủ tịch QH biết được tất cả những chỗ mạnh, chỗ yếu của CP, từng chiụ trách nhiệm về hoạt động của CP sẽ thực thi trách nhiệm cùng QH giám sát CP sẽ chặt chẽ hơn. Giám sát hiểu theo nghĩa là sẽ phát hiện được những yếu kém để điều chỉnh những hoạt động hành pháp của CP, cũng như  với vai trò lập pháp sẽ tạo những hành lang pháp lý chuẩn xác góp phần cho CP thực thi hiệu quả trách nhiệm hành pháp của mình… Đó là hy vọng của tôi và nhiều cử tri. 
 
Tôi cũng mong muốn báo cáo của CP bên cạnh những đánh giá chủ yếu về kinh tế, một lĩnh vực quan trọng nhưng cũng nên quan tâm nhiều hơn đến một lĩnh vực cũng không kém phần quan trọng là những đánh giá về các vấn đề xã hội. Các vấn đề xã hội không chỉ là các chính sách an sinh, con số thống kê thu nhập, giàu nghèo, tệ nạn, tai nạn v.v… mà còn về lòng tin của dân. 

Nếu đánh giá về kinh tế có thể biểu thị được bằng con số định lượng (như GDP, chỉ tiêu, sản lương…)  thì cũng nên đánh giá chỉ tiêu về lòng tin của dân đối với CP. Những phương pháp điều tra, thống kế hiện đại có thể làm được điều này. Thế giới họ làm nhiều rồi. Một nhà nước của dân,vì dân càng phải quan tâm đến lòng tin của dân. Tôi thấy có đại biểu lấy hiện tượng ở Bắc Phi để đánh giá, theo tôi không thể so sánh vì chúng ta đã có một truyền thống xây dựng được sự đồng thuận trên dưới, giữa nhân dân và chính phủ và phải biết gìn giữ nó như gìn giữ con mắt của mình. Tôi xin đưa ra  một thí dụ để làm rõ quan điểm của tôi cũng là đề cập tới một vấn đề hệ trọng chưa được CP quan tâm đúng mức xét theo khía cạnh quan tâm đến lòng tin của dân. 

Đó là vấn đề Biển Đông. Không thể không thừa nhận rằng vấn đề Biển Đông trong đó có cả vấn đề bảo vệ chủ quyền cũng như vấn đề phát triển quốc gia là một vấn đề đang nổi bật. Sự tranh chấp, sự đe doạ, sự không ổn định là vấn đề không chỉ các nước có liên quan mà cả thế giới quan tâm. Vậy mà báo cáo của CP tuy có đề cập thể hiện quan điểm mang tính nguyên tắc của CP, nhưng rõ ràng là chưa thể hiện đúng tầm mức. Chúng ta không thổi phồng, không kích động, không để hoang mang là cần thiết, nhưng không thể coi đó là chuyện bình thường được. Nó phải được thể hiện trong báo cáo của CP đúng tầm mức, phải được phản ảnh trong chương trình nghị sự của QH đúng tầm mức để nhân dân tin tưởng, thông suốt… 

Ngay chương trình làm việc của QH ban đầu hầu như chẳng có vấn đề gì xảy ra ở Biển Đông cả, phải đến lúc dư luận và đai biểu QH yêu cầu thì QH mới đưa vào chương trình một buổi báo cáo không đầy 1 tiếng và không có thảo luận.  Tôi xin bày tỏ điều tôi suy nghĩ về nội dung buổi báo cáo đó, và tôi đã nói với bộ trưởng ngoại giao ý kiến của tôi rằng : Trừ một vài nội dung chi tiết , còn về căn bản nếu những nội dung báo cáo đó được trình bày cho dân chúng thì chỉ có tốt trở lên, dân sẽ tin hơn vào những gì CP đã làm,  nó làm sáng tỏ phần nào những băn khoăn , trăn trở của dân và quan trọng hơn là sự ủng hộ của dân được tổ chức, được huy động có hiệu quả.

Cái gì cần tế nhị trong quan hệ ngoại giao ta phải giữ, nhưng với dân thì không cần đến sự tế nhị mà cần sự tin cậy, thẳng thắn. Cái gì cần mềm mỏng với ngoại giao thì cũng cần mềm mỏng trong “nội giao”, đừng tạo ra những khoảng cách, những xung đột không đáng có giữa CP và nhân dân, cho dù sự cảnh giác là cần thiết.

Tôi cũng muốn nêu thêm về một ví dụ mà  ngay trong buổi báo cáo ngày hôm qua cũng không  đề cập tới. Đó là văn bản của Thủ tướng Việt Nam cách đây nửa thế kỷ. Vấn đề đó, chúng ta hoàn toàn có đủ lập luận để phản bác những ý đồ xuyên tạc. Dường như chúng ta chỉ quan tâm đến bàn hội nghị mà không quan tâm giải thích cho dân biết. Tài liệu ấy họ đã phát tán thành giấy gói hàng,  đưa lên mạng vậy mà không có cơ quan nào chính thưc lên tiếng phản bác, giải thích cho dân (mới đây mới được tờ báo của Mặt trận Tổ quốc đề cập tới). 

Là người làm nghề sử, tôi muốn nhắc lại một sự kiện cách đây đã 65 năm. Đầu năm 1946, khi cần phải đối phó với một tình huống “ngàn cân treo trên sợi tóc” liên quan đến vận mệnh của Tổ Quốc, Chủ Tịch  Hồ Chí Minh đã đi một nước cờ táo bạo một cách sáng suốt là ký Hiệp định Sơ Bộ 6-3.

Thấy nước cờ ấy dân chưa hiểu, thắc mắc, hoang mang… Chính quyền cách mạng tổ chức cả một cuộc biểu tình có hàng vạn người tham gia trên Quảng trường Nhà Hát Lớn (hình ảnh vẫn còn để ta thấy dân quan tâm đến việc nước như thế nào, có cả dân quê, có cả anh phu xe, công chức hay thợ thuyền, trí thức…).

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp giải thích cả mấy tiếng đồng hồ, rồi vị Chủ tich nước đứng trước quốc dân nói lên rằng : “Đồng bào hãy tin tưởng ở Nhà nước, Hồ Chí Minh không khi nào bán nước”.

Học tập Bác Hồ nên nhớ cách ứng xử với dân của Bác khi vận nước khó khăn. Cho dù thời đại có nhiều thay đổi, mọi so sánh có thể là khập khiễng thì cái nguyên lý “dân biết” thì “dân mới làm” và dân có điều kiện “kiểm tra” CP là chuyện của muôn đời.

Tại sao phải là đại biểu QH với một phiên hop kín mới được nghe những thông tin mà theo tôi nếu để dân biết thì tốt biết bao. Tôi tin chắc là dân sẽ tin, còn người ngoài có tin hay không thì là việc là thứ yếu.

Thưa QH,

Hướng ra Biển Đông nhưng cũng phải luôn quan tâm đến đất liền, trong đó có nền kinh tế của chúng ta. Chúng ta muốn giữ được chủ quyền chính trị thì cũng phải giữ được chủ quyền kinh tế. Tại kỳ họp cuối cùng của khoá trước, tôi đã đặt câu hỏi chất vấn CP rằng nền kinh tế của ta bên cạnh việc khai thác có hiệu quả những nguồn lực nước ngòai thông qua việc phát triển những mối quan hệ hơp tác, nhưng có lành mạnh không, có bị lệ thuộc không?

Biết bao nhiêu vấn đề đã được nêu lên ngay trong QH với những định lượng rất đáng lo lắng về những khả năng bị lệ thuộc đặc biệt là với Trung Quốc cần phải được quan tâm để điều chỉnh, vì chưa thấy những dấu hiệu tích cực. Nếu vấn đề có vẻ tế nhị này nhưng phải trên nguyên tắc “tiên trách kỷ hậu trách nhân” còn thiên hạ thì bao giờ cũng quan tâm đến lợi ích, (lợi ích kinh tế, kể cả lợi ích chính trị) bằng mọi giá. Tại sao nông dân trồng vải đến vụ thu hoạch mà các cơ quan quản lý, doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng cửa im ỉm (như một phóng sự truyền hình phản ảnh), trong khi  thương lái nước ngoài  tung hoành và thực sự lại trở thành cứu cánh cho dân.

Đấy mới là quả vải nhỏ bé còn chỉ cần nhìn vào nhiều công trình thắng thầu, dòng chẩy của hàng hoá mà tình trạng nhập siêu là tiêu biểu nhất ,đủ thấy nhiều thông điệp đáng lo ngại khác. Nhìn  ngoài thị trường tất cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu kể cả những mặt hàng nông sản, thực phẩm mà tại Việt Nam thừa khả năng sản xuất cũng nhan nhản ngoài thị trường là hàng Trung Quốc.

Cuối cùng, tôi đề cập tới một nội dung mà đại diện Đoàn Đồng Nai và Đại biểu Lâm Đồng đã đề cập nhưng chưa đủ thời gian, hơn nữa đó lại là chương trình vận động bầu cử của tôi với bà con cử tri sống ven con đường Quốc lộ 20 trước nguy cơ nhãn tiền là việc vận chuyển bô xít liên quan đến một dự án mà QH đã thông qua  mà CP cũng cam kết chỉ khai thác bô xit nếu có hiệu quả kinh tế và bảo đảm an toàn môi trường. QH có trách nhiệm giám sát trong quá trình triển khai thực hiện. Đó là mới quan tâm đến việc khai tuyển mà chưa quan tâm đến tác động của việc vận chuyển.

Về việc này, vị đại diện TKV vừa phát biểu. Tôi lấy làm lạ là học sinh đã kém sử mà chúng ta lại kém toán hay sao mà không nhận ra lộ trình đến 15 tháng 8 này phương án mới chuyển Phó Thủ tướng Chính phủ xem xét mà cuối năm xe chở bô xít đã phải lăn bánh rồi. Các chiến sĩ Công an Đồng Nai (?) chúng tôi chỉ đặt một câu hỏi : Liệu xe trọng tải 40 tấn có được cho phép đi trên cầu 25 tấn không? Đây không phải là bài toán kinh tế mà là bài toán kỷ cương, bài toán pháp luật . Là cơ quan lâp pháp và giám sát thực thi pháp luật, để xẩy ra tình trang nan giải này, có trách nhiệm của cả QH.

Hy vọng với môt QH khoá mới, có CTQH mới QH sẽ khắc phục một cách căn bản những tình huống tương tự làm giảm lòng tin của người dân vào QH và CP. 


Nguồn: Tầm nhìn.net (tựa bài do BS đặt)
Nguồn: Ba Sàm.

NHỮNG HÌNH ẢNH ĐẸP CỦA CUỘC BIỂU TÌNH NGÀY 07.08.2011

CHÙM ẢNH CỦA NGUYỄN LÂN THẮNG GỬI TẶNG 
NGUYỄN XUÂN DIỆN-BLOG
.


































  






























































 Xin chân thành cảm ơn Anh Lân Thắng!
Chúc anh và tất cả mọi người một đêm cuối tuần an lành - hạnh phúc!