Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

VTV CHUẨN BỊ CÔNG CHIẾU BỘ PHIM PHẢN QUỐC - Bài 1

Chuẩn bị công chiếu phim "Lý Công Uẩn - đường tới thành Thăng Long"
19.10.2011 14:36

(NHN) Cuối cùng thì, như số phận nổi chìm của nó - trước bao sóng gió của dư luận, bộ phim "Lý Công Uẩn - đường tới thành Thăng Long" (LCU-ĐTTTL) từng bị phản đối dữ dội ròng rã suốt một năm trời, đến nay "số phận" đó được định đoạt một cách có hậu: đó là, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch đã có văn bản chính thức về việc phổ biến bộ phim, sau ba lần "nâng lên đặt xuống" của Hội đồng duyệt phim Quốc gia

"Vì nước mạnh thế như rồng hổ/ Vì phồn vinh con cháu muôn đời/ Tầm nhìn xa vượt ngoài kim cổ/ Dời đô Hoa Lư về Đại La/ Thăng Long trường cửu/ Vận nước dài lâu/ Giang sơn muôn thủa vững bền..."

Những ca từ được phổ nhạc trong phần đầu bộ phim LCU- ĐTTTL mà lẽ ra, chúng ta phải được nghe, được xem vào những ngày này năm trước - những diễn ra Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, khi lịch sử được tái hiện hoành tráng, hào hùng. Dù lỡ hẹn nhưng vẫn chưa muộn. Bởi lịch sử và những người làm phim lịch sử luôn tin và tôn trọng lịch sử, thông qua đó muốn gửi gắm, ký thác những tư tưởng, triết lý về cuộc sống con  người, xã hội và dân tộc mà thông điệp bộ phim sẽ mang đến cho công chúng.

Bộ phim truyện video nhiều tập "LCU-ĐTTTL" được xây dựng gồm 19 tập do Đài Truyền hình Việt Nam và Công ty CP Truyền thông Trường Thành phối hợp sản xuất. Đây là một bộ phim được xây dựng công phu, đầu tư lớn vì phải thuê trường quay, bối cảnh và thực hiện nhiều cảnh quay ở nước ngoài (Trung Quốc). Tư tưởng chủ đạo của phim là khắc hoạ và khẳng định quá trình hình thành nhân cách và tài năng của Đức Thái tổ Lý Công Uẩn, từ nhỏ đến khi lên ngôi Hoàng đế, quyết định rời đô từ Hoa Lư về Đại La rồi đổi tên thành Thăng Long.

Như đã nói, là một trong số ít ỏi bộ phim truyền hình được hoàn thành sớm và lẽ ra được trình chiếu rộng rãi vào dịp Đại lễ, nhưng phim "LCU-ĐTTTL" đã vấp phải sự phản ứng của dư luận do một số báo đã đưa tin không chính thống (lấy từ ý kiến của một số cá nhân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và blog cá nhân).

Tiếp thu và tôn trọng những ý kiến đóng góp của các thành viên Hội đồng duyệt phim quốc gia tại lần thẩm định thứ ba, nhà sản xuất đã khắc phục những tồn tại, tiếp tục chỉnh sửa, biên tập, cắt bớt một số cảnh theo yêu cầu của Hội đồng.

Và không phải bàn cãi gì, khi ra văn bản phổ biến bộ phim, Bộ VH-TT&DL còn khẳng định một lần nữa: "Bộ phim LCU-ĐTTTL không vi phạm các điều cấm phổ biến tác phẩm văn học nghệ thuật" để "Đài Truyền hình Việt Nam xem xét, quyết định việc phát sóng bộ phim theo quy định của Luật Điện ảnh và Luật Báo chí”.

Căn cứ pháp lý chắc như đinh đóng cột là vậy. Và phim "LCU-ĐTTTL" dự kiến phát sóng vào ngày 30/6/2011 sau khi VTV có kế hoạch tạm dừng phim "Huyền sử thiên đô” thì lại tiếp tục hứng chịu búa rìu dư luận. Và "Đường tới công chúng" của bộ phim một lần nữa hết gặp phải chông gai này đến ghềnh thác khác..

Trước tiên, xin nói ngay: người phản đối quyết liệt nhất vẫn là Nhà sử học Lê Văn Lan. Theo phát ngôn của Nhà sử học trên các phương tiện thông tin đại chúng, ông Lan bày tỏ ý kiến với việc duyệt và công chiếu phim này, bởi bộ phim có một số yếu tố không mang tinh thần lịch sử và văn hoá Việt Nam; Phim không lột tả được tinh thần của một số sự kiện lịch sử, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (980-981). Ông Lan còn thẳng thắn rằng "không nên chiếu bộ phim này"!

Nhằm phản biện với những ý kiến của Nhà sử học Lê Văn Lan xoay quanh điện ảnh - kịch trường, những kiến thức và chi tiết lịch sử..., Giám đốc sản xuất kiêm tác giả kịch bản bộ phim - ông Trịnh Văn Sơn, Công ty CP Truyền thông Trường Thành đã tỏ rõ sự thẳng thắn về vấn đề này với ông Lan trên báo Gia đình & Xã hội (số 68, ngày 8/6/2011), một số tờ báo điện tử và đặc biệt là bài trả lời phỏng vấn trên báo Nhà báo & Công luận (số 24 từ 10-16/6/2011) GS. sử học Lê Văn Lan đã có sự nhầm lẫn?

 Chúng tôi không nhắc lại những đối thoại của ông Trịnh Văn Sơn. Bởi tất cả đã rõ. Hơn nữa, chính ông Lan đã thừa nhận với báo Gia đình & Xã hội (ra ngày 10/6/2011) về sự nhầm lẫn, sai sót một số chi tiết của mình. Chúng tôi chỉ nhắc lại lời ông Sơn "Ông Lê Văn Lan là người có vai trò "tu chỉnh kịch bản" ban đầu của phim, nhưng trong lần cuối cùng không hề được mời tham dựduyệt phim do Bộ VH-TT&DL tổ chức để thẩm định phim khi phát sóng".

Vậy thử hỏi Nhà sử học không được mời thì đâu biết phim được chỉnh sửa, biên tập thế nào mà... phản đối? Nhà sử học Dương Trung Quốc- người cố vấn nhiều phim lịch sử - cũng đã chia sẻ đại ý rằng: "người cố vấn đừng nên can thiệp quá sâu vào tiến trình làm phim của đạo diễn; phải tôn trọng sự sáng tạo của người nghệ sĩ"!

Sau đó một vài cá nhân khác trong và ngoài ngành Điện ảnh cũng "tát nước theo mưa" trên báo chí và blog cá nhân chỉ trích không ngoài động cơ hạ bệ bộ phim "LCU-ĐTTTL" do một tập thể làm phim đầy trách nhiệm, giàu ý tưởng, khát vọng về một tác phẩm điện ảnh cổ trang độc đáo mang tầm vóc lịch sử - vì giá trị nghệ thuật đích thực.


Các cá nhân đó phản đối phim kịch liệt, vì cho rằng xuyên tạc lịch sử, "thân Tàu", trang phục, bối cảnh đều của Tàu cả. Riêng phần phục trang, chúng tôi đã tận mắt xem tập mẫu thiết kế của TS, Hoạ sĩ Đào Thị Tình cho từng nhân vật trong phim từ long bào, giáp trụ đến các bộ thường phục.

Chỉ riêng nhân vật Lý Công Uẩn đã có hàng loạt các thiết kế phục trang như các cảnh: ở chùa khi còn nhỏ, xuống núi, làm lễ thành hôn, luyện võ, giáp phục ra trận hay long bào khi thiết triều, khi dời đô... Việc sản xuất trang phục  đơn cử như may giáp phục trong điều kiện và sức ép về thời gian như vậy khó mà thực hiện được nên việc đặt may và thuê tại Trung Quốc là hướng mà nhiều nhà làm phim Việt đã lựa chọn. Vấn đề là làm theo bản vẽ thiết kế mà các chuyên gia của chúng ta đã thẩm định.


Cảnh trong phim: Lý Công Uẩn tháp tùng Vua Lê Hoàn "Vi hành"

Còn việc nội dung phim có xuyên tạc lịch sử, có "thân Tàu" hay không thì, Văn bản số 738/BVHTTDL-ĐA của Bộ VH-TT&DL cũng thể hiện rõ: "Về cơ bản tinh thần lịch sử trong phim được tôn trọng, không bị bóp méo, luôn đề cao tầm vóc và tình cảm của một vị vua vì dân, thương dân, biết đặt lợi ích của dân tộc lên lợi ích cá nhân. Nội dung không có gì vi phạm về chính trị, cũng như mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc".

Nhà phê bình điện ảnh Ngô Phương Lan từng viết: "Một bài phê bình điện ảnh chỉ thực sự cần thiết cho khán giả và người sáng tác điện ảnh khi người viết bàn thẳng vào những gì có trên màn ảnh một cách khách quan và sâu sắc, từ đó nhìn nhận công bằng ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật của bộ phim...".

Bởi vậy, thiết nghĩ hãy để bộ phim ra mắt khán giả! Công chúng là người thẩm định công minh nhất, đầy đủ và chính xác nhất. Vì nghệ thuật đích thực là phục vụ số đông công chúng, chứ không phải là "chiều" theo một số ít hoặc một nhóm người nào! Cũng thiết nghĩ, Đài THVN nên sớm triển khai kế hoạch phát sóng công chiếu bộ phim để khán giả sớm được thưởng thức và thẩm định giá trị đích thực đó.

Đối với nhà làm phim - Giám đốc sản xuất kiêm tác giả kịch bản Trịnh Văn Sơn, một năm qua báo chí tốn không ít thời gian và giấy mực xoay quanh bộ phim "LCU-ĐTTTL" mà ông là người chịu trách nhiệm cao nhất của dự án, đã phải đối đầu với bao thách thức. Nhưng ông cùng tập thể 40 "tinh binh" đã vượt lên tất cả vì cái TÂM, cái TẦM và cái nhạy cảm của người làm truyền thông, làm kinh doanh lẫn nghệ thuật

Bằng chứng là: "Trong khi các hãng phim tư nhân đều hướng đến làm phim giải trí để thu hồi vốn nhanh, để hấp dẫn khán giả thì việc một đơn vị tư nhân dám chấp nhận thử thách, đầu tư để làm phim lịch sử một cách quy mô, hoành tráng theo tôi cần được trân trọng" - như lời của GS, TS Đinh Xuân Dũng - Phó Chủ tịch HĐLL, PBVHNT Trung ương.

Nhân đây cũng được nói thêm: người ta chỉ biết đến Trịnh Văn Sơn và tập thể Công ty "táo gan" lần đầu tiên bung phá trong làng điện ảnh nước nhà mà không biết rằng đồng thời với dự án phim này và trước đó, ông và doanh nghiệp cũng đã triển khai một số dự án lớn mà tiêu biểu Đề án “Sức nước ngàn năm”.

Đề án được triển khai thành nhìều sản phẩm trong đó có cuốn sách mang tên “ Sức nước ngàn năm - Cẩm nang pháp luật trong cuộc sống hằng ngày” đã được in dưới sự chủ trì của Ban Tuyên giáo TW và Bộ Tư pháp, do NXB Chính trị quốc gia ấn hành năm 2009. Với việc cuốn "Sức nước ngàn năm" được đưa vào kỳ họp Quốc hội khoá XIII cho các đại biểu, đã gây một tiếng vang lớn về tính thuyết phục của nó.

Đặt ra được những vấn đề lớn lao tầm cỡ như thế, với mong muốn được áp dụng nhằm xoay chuyển quốc kế dân sinh thông qua con đường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, rõ ràng, không phải mơ hồ, phiêu lưu và mạo hiểm để Nhà sản xuất và tập thể Công ty ông làm phim "LCU-ĐTTTL"? Chúng ta có quyền tin tưởng, có quyền hy vọng ở bộ phim sắp sửa được trình chiếu - từ những cơ sở, tiền đề vững chắc ấy - như ông và tập thể luôn tin ở chính mình, "dù ai nói ngả nói nghiêng"!  


Đức Dũng – Quý Thích


Kính mời chư vị độc giả cùng xem lại HỒ SƠ bộ phim phản quốc dưới đây:












Thư giãn cuối tuần: 7777777 VÀ DANH THIẾP

Trên màn hình Nguyễn Xuân Diện -Blog lúc 0h21 phút ngày 13/11/2011.
(Chùm ảnh do bác Trần Trung gửi tặng)

và những thời khắc trước đó:









  Xin chân thành cảm ơn bác Trần Trung (Sài Gòn) gửi tặng chùm ảnh thú vị!

Nguyễn Xuân Diện
_______________

Ấn tượng danh thiếp

Cuối tuần, xin giới thiệu bạn đọc thư giãn với hai tấm danh thiếp ấn tượng: một của tiến sĩ, bác sĩ, nhà văn, đại biểu quốc hội Nguyễn Minh Hồng với dự án “luật nhà thơ” đang ồn ào dư luận, một của vị phó giáo sư, tiến sĩ, nhạc sĩ kiêm nhà nhân chủng học cũng khá… nổi tiếng: Nguyễn Lân Cường.
 %E1%BA%A2nh 4 - Copy

cacvidit
(ảnh:webtretho)

Liệu còn những tấm danh thiếp nào ấn tượng hơn? Bạn đọc nào sưu tầm được xin gửi bổ sung cho xôm tụ. Chân thành cảm ơn!
_______________ 

Bổ sung danh thiếp của hòa thượng (mô Phật) Thích Thanh Tứ, Phó chủ tịch thường trực trung ương giáo hội phật giáo Việt Nam: 

danh thiep cua cu Tu

(ảnh bổ sung bởi Nguyễn Thông blog)

2 TRANG SÁCH GỬI TẶNG CÔNG AN HÀ NỘI

Gửi tặng các lực lượng an ninh Hà Nội:

 

Bản sách này, do anh Phạm Chuyên tặng em Nguyễn Xuân Diện - đồng hương xứ Đoài.


Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

3 CÔNG AN BỊ ĐÌNH CHỈ CÔNG TÁC VÌ BẮT NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT ...


LONG AN:

3 cán bộ công an bị đình chỉ công tác

Thứ Sáu, 11.11.2011 | 10:11 (GMT + 7) 

Ngày 11.11, lãnh đạo Công an TP.Tân An cho biết, cơ quan này đã quyết định tạm đình chỉ công tác 3 cán bộ điều tra để làm rõ việc họ bị tố cáo bắt người trái pháp luật và dùng nhục hình đối với người bị bắt.

Trước đó, gia đình của anh Nguyễn Hoàng Tuấn (SN 1985, ngụ phường 2, TP Tân An) đã có đơn tố cáo việc bắt người nói trên. Theo đó, vào ngày 2.10, khi Nguyễn Hoàng Tuấn đang ngồi uống cà phê với bạn trong quán nước ở phường 6, TP Tân An, bất ngờ có 3 người mặc thường phục tự xưng là công an đến khống chế, bắt còng tay đưa về Công an TP.Tân An.
Cũng theo đơn tố cáo, tại đây Tuấn bị 3 điều tra viên dùng nhục hình, đến khi được thả, Tuấn đã điện thoại cho gia đình đến chở đi bệnh viện điều trị. Sau đó, có người tự nhận là cán bộ Công an TP.Tân An đến hỗ trợ gia đình Tuấn 4 triệu đồng để điều trị.

Viện KSND Tối cao đã yêu cầu Công an Long An làm rõ nội dung tố cáo của người dân. Theo Công an TP.Tân An, Thanh tra Công an tỉnh Long An đang tích cực cùng với Công an TP.Tân An làm rõ vụ việc. Cũng theo vị lãnh đạo này, vụ việc sẽ được xử lý dứt điểm trong tháng 11, nếu cán bộ có sai phạm sẽ xử lý nghiêm khắc, đúng với qui định của ngành.
  Kỳ Quan
Nguồn: Lao Động

CON TRAI THỦ TƯỚNG ĐƯỢC BỔ NHIỆM THỨ TRƯỞNG BỘ XÂY DỰNG

Ông Nguyễn Thanh Nghị làm thứ trưởng bộ Xây dựng

SGTT.VN - Ngày 11.11.2011, thay mặt Thủ tướng Chính phủ, phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký quyết định số 2011/QĐ-TTg về việc điều động, bổ nhiệm ông Nguyễn Thanh Nghị, Uỷ viên dự khuyết trung ương Đảng, phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng trường đại học Kiến trúc TP.HCM, giữ chức thứ trưởng bộ Xây dựng. 

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Theo chinhphu.vn


 ĐỘT PHÁ TRONG CÔNG TÁC TỔ CHỨC - CÁN BỘ:TỪ HIỆU PHÓ, LÊN PHÁT THỨ TRƯỞNG BỘ XÂY DỰNG


Đây quả thực là bước chuyển biến cực kỳ mạnh mẽ trong Công tác Tổ chức - Cán bộ của nước CHXHCN Việt Nam, từ năm 1945 đến giờ. Này nhé: Ngày 09/9/2011, Ban Cán sự Đảng Bộ Xây dựng có Tờ trình đề nghị; 11 ngày sau, Bộ Nội vụ có ý kiến thông qua và đồng ý với đề nghị; chưa đầy 2 tháng sau, Bộ Chính trị có ý kiến đồng ý và chỉ 24 tiếng đồng hồ sau, Phó Thủ tướng theo dõi công tác... Nội chính Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định điều động, bổ nhiệm. Tờ Quyết định này hơi bị oách: Số đẹp (2011), ngày đẹp (11/11/2011), chắc là may mắn và nhiều lộc lắm đấy. Nếu trường hợp bổ nhiệm cán bộ nào cũng thần tốc thế này, đất nước chả mấy chốc giàu mạnh. Hoan hô Công cuộc Cải cách Hành chính!. Hoan hô bước tiến vượt bậc trong công tác Tổ chức Cán bộ!. Hoan hô và chúc mừng tân Thứ trưởng 35 mùa xuân xanh nhưng "tuổi trẻ, tài cao"!.. Tân Thứ trưởng (chỉ qua 1 đêm, ngủ dậy phát đã lên chức Thứ trưởng chót vót) cố lên!.. Xin chúc mừng!..


TT TRỰC TIẾP: VỤ CÔNG AN BẮT NGƯỜI TRÁI PHÉP TẠI HÀ ĐÔNG

Lúc 07h10 sáng nay, 11 tháng 11 năm 2011, tại cafe 8 Quang Trung, Hà Đông

Thưa chư vị,

Sáng nay LS Lê Quốc Quân và blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh đã đến cơ quan an ninh điều tra Công an Hà Nội tại số 6 Quang Trung, Hà Đông theo giấy triệu tập để thẩm vấn. Một số thân hữu đã tập trung tại một quán cafe bên ngoài (8 Quang Trung), bị công an tới thăm hỏi, kiểm tra … kể cả đồ dùng cá nhân, máy ảnh.

Blogger Lê Dũng bị đưa về công an công an Quận Hà Đông. Sau đó, công an tiếp tục cưỡng chế các anh Lã Việt Dũng, Phạm Chính và Nguyễn Lân Thắng để đưa về đồn. Hiện tại các anh này đều đang ở trụ sở công an quận Hà Đông. Trong quá trình cưỡng chế, anh Lân Thắng bị va chạm vào đầu nên bị đau và choáng.

Những người chứng kiến cho biết, có khoảng 100 công an chìm nổi tham gia và cưỡng chế, bắt bớ.

Cơ quan công an lấy cơ nghi xe của mọi người gây tai nạn nên mời về đồn, sau đó mọi người đòi lệnh mời về đồn thì không có. Khoảng 12h trưa mọi người bị cưỡng chế. Anh Lã Việt Dũng bị 4 người khiêng đi (mỗi người 1 tay 1 chân cho lên ô tô). Anh Nguyễn Lân Thắng bị túm tóc đẩy đi; anh Chinh Pham bị đẩy đi rất thô bạo. Tại hiện trường có nghe thấy tiếng bộp rất to như là bị đánh. Sau đó anh Chính hô lên không được đánh người, họ cưỡng chế tất cả về đồn Quận Hà Đông.

Hiện băng ghi âm và video quay được đang được xử lý để đưa lên mạng...

12h00 chưa thấy JB Nguyễn Hữu Vinh ra khỏi trụ sở cơ quan điều tra (6 Quang Trung).

Một nguồn tin cho biết: Những người mặc thường phục xông vào đánh đập các anh Chính Phạm, Lân Thắng, Lã Việt Dũng. Công an mặc sắc phục đứng nhìn và sau đó nói: -Thôi không cần đánh nữa, lôi chúng nó đi. Những người kia ngừng đánh và không chế bằng vũ lực đưa 3 công dân vô tôi về công an quận Hà Đông, 15 Ngô Thì Nhậm, quận Hà Đông.

Được biết đến lúc này, 13h20, toàn bộ thông tin về vụ bắt giữ đã được loan báo ...Các cá nhân và tổ chức quan sát đang dõi theo từng phút về vụ bắt giữ nghiêm trọng này.

13h58: Đã thấy có các sếp béo trên TP hoặc Bộ đi vào đồn quận Hà Đông.

14h13: Những người bạn đầu tiên đã tiếp cận cửa đồn để hỏi về việc giữ người và xin đưa đồ ăn vào. Người giữ cửa nói họ không biết gì về việc bắt giữ.

14h20: Nguyễn Lân Thắng ngất đi. Nếu Nguyễn Lân Thắng có chuyện gì thì Công an Hà Đông hoàn toàn chịu trách nhiệm trước liệt tổ liệt tông Cụ Nguyễn Lân và dòng họ Nguyễn Lân.

14h31: Xe Công an biển số 29A 00072 chuẩn bị đưa Nguyễn Lân Thắng rời trụ sở công an quận Hà Đông. Xe chuyển bánh. Rất nhiều xe máy đuổi theo để xem việc công an Hà Đông đưa Lân Thắng đi đâu và làm gì với Lân Thắng.

14h34: Xe công an quận Hà Đông đưa Nguyễn Lân Thắng vào Bệnh viện Đa khoa Hà Đông.

14h55: Tình hình của Nguyễn Lân Thắng vẫn chưa được cải thiện.

15h00: Tình trạng của Lân Thắng ngày càng nặng. Vẫn nằm ở BV Đa khoa Hà Đông.

15h12: Công an đang khám laptop của Lê Dũng.

15h14: Nguyễn Lân Thắng mê sảng. Mẹ Lân Thắng đã ở bên cạnh. Bác sĩ bệnh viện vu rằng Lân Thắng sử dụng thuốc lắc nên sốc thuốc.

15h40: Bố của Nguyễn Lân Thắng cùng các bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai vào BV Đa khoa Hà Đông để can thiệp.

15h40: Biên bản làm việc với Phạm Chính đã hoàn tất. Biên bản làm việc do công an TP Hà Nội lập với riêng từng người. Và được lập tại trụ sở công an quận Hà Đông, số 15 Ngô Thì Nhậm, Hà Đông.

Hiện các anh Lê Dũng, Lã Dũng, Phạm Chính đang ngồi chờ được ra khỏi trụ sở CA HN.




16h17: NGƯNG cập nhật
___________________

Một số hình ảnh từ Hà Đông:
.





Nguyễn Lân Thắng trên giường cấp cứu
.


Video Công an canh cửa và Nguyễn Lân Thắng trong phòng cấp cứu.


Trích đoạn video cảnh công an bắt người vô cớ tại cafe 8 Quang Trung, Hà Đông




ĐIỀU MONG MUỐN CỦA GIA ĐÌNH CÔ TRỊNH KIM TIẾN VỀ PHIÊN TÒA SẮP TỚI

Việc tham dự phiên tòa: xử kín hay công khai?
Trịnh Kim Tiến

Từ khi chúng tôi được biết Tòa án sẽ đưa vụ án liên quan đến bố tôi – ông Trịnh Xuân Tùng, người bị trung tá Nguyễn Văn Ninh và dân phòng phường Thịnh Liệt đánh gãy cổ chết- xét xử vào ngày 17/11 tới, chúng tôi luôn có một nỗi lo ngại thường trực. Đó là việc tham dự phiên toà của gia đình tôi, có thể bị cản trở.

Điều lo ngại đó không phải là không có cơ sở, bởi thực tế có không ít phiên tòa đúng ra phải xét xử công khai nhưng các cơ quan hữu quan cố tình ngăn cản người dân vào xem, thậm chí gia đình những người có liên quan cũng bị cản trở vào tham dự phiên tòa.

Càng đến gần ngày phiên tòa diễn ra, càng có nhiều người nói với tôi rằng, họ lo ngại người thân cũng không được vào chứ đừng nói là người ngoài muốn vào xem, rằng gia đình chắc chỉ được vài người vào thôi.

Trước đây, tôi chưa từng biết đến những cơ sở pháp luật nào cho việc Tòa án xét xử công khai hay xử kín. Tôi chỉ nghe loáng thoáng trên báo rằng vụ này công khai, thậm chí xử lưu động, vụ này vụ khác lại kín.

Nhưng sau khi tìm hiểu , vụ án liên quan đến vụ việc của bố tôi KHÔNG THUỘC DIỆN XỬ KÍN. Theo tôi được biết,điều 18, Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định như sau: “Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.”

Vụ án này không thể có bí mật nhà nước gì cần giữ, không liên quan gì đến thuần phong mỹ tục và đương sự cũng chẳng thể có bí mật chính đáng gì để yêu cầu xử kín. Rất nhiều vụ án liên quan đến tính mạng khác, nghiêm trọng hơn vụ của cha tôi nhiều, họ vẫn xét xử công khai, thậm chí xét xử lưu động cho toàn thể nhân dân xem.

Đương nhiên tôi biết, họ có thể sẽ tuyên bố xét xử công khai, nhưng thi hành thì chẳng khác nào xử kín, với việc chỉ cho phép một số rất ít người của gia đình tôi tham dự, huy động lực lượng công an cản trở tất cả những người khác muốn tham dự và cách ly khu vực tòa án với phần còn lại của Hà Nội. Khi đó, một vụ án liên quan đến nạn nhân bị đánh chết mà đến mẹ, vợ, con cái, anh em họ hàng của nạn nhân cũng không được tham dự; báo chí (đặc biệt là báo chí nước ngoài) thì càng ít cơ hội.

Tôi tưởng tượng rằng, nếu điều đó xảy ra, thì các cơ quan công quyền sẽ tự thừa nhận rằng vụ án này có điều gì đó họ cần bưng bít. Bởi chỉ có kẻ ăn vụng mới cần phải giấu giếm. Người đàng hoàng sẽ làm những việc đàng hoàng, không cần phải  che giấu , nhất là khi pháp luật không cho phép họ làm điều đó.

Gia đình chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng tâm lý và phương án hành xử trong trường hợp Tòa án tuyên bố xử kín hoặc tuyên bố xử công khai nhưng cố tình cản trở gia đình, người thân, bạn bè và các công dân khác muốn tham dự phiên tòa. Lẽ dĩ nhiên, chúng tôi không muốn điều đó xảy ra.

 Tôi mong rằng phiên tòa sẽ diễn ra một cách công khai minh bạch theo đúng quy định pháp luật. Chúng tôi tôn trọng pháp luật và mong muốn pháp luật sẽ được thực thi.


NGUYỄN GIA THIỀU - HỒN THƠ ẤY, CHIẾC PHAO TRÊN CẠN...

Nguyễn Gia Thiều - hồn thơ ấy, chiếc phao trên cạn...
Trần Mạnh Hảo

Khi tiếp cận một số tác gia văn học lớn thời phong kiến như Nguyễn Trãi, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương...hầu như giới nghiên cứu văn học "quy phạm" ở nước ta đều dùng khái niệm "trung đại" (trung cổ) là phạm trù văn hóa khu biệt của phương Tây để làm hệ quy chiếu đo đạc, thậm chí còn làm phương pháp luận tiếp cận nữa.

Chính sự lầm lẫn "lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia" trong phương pháp luận ấy đã dẫn đến những đánh giá khá sai lạc về 9 thế kỷ văn học dân tộc thời phong kiến của ông cha ta. Chúng tôi xin vứt bỏ cái kính chiếu yêu trung cổ - kinh viện lầm lạc kia để nhìn nhận các tác gia văn học thời phong kiến của ta dưới một cái nhìn khác, không phụ thuộc vào những định kiến hay những bùa chú, những công cụ tiếp cận gông cùm lỉnh kỉnh ngoại lai nào. Trước hết, chúng tôi xin đề cập tới một đại tác gia: Nguyễn Gia Thiều.

Có lẽ, đại thi hào Nguyễn Du, người kém Nguyễn Gia Thiều 25 tuổi, kém Đoàn Thị Điểm 51 tuổi, là người đã từng mê đắm Chinh phụ ngâmCung oán ngâm khúc? Vì vậy, trong Truyện Kiều, chúng ta còn gặp đâu đó hồn lục bát Nguyễn Du phảng phất khói sương, hơi hướng hai kiệt tác trước đó. Ví phỏng như không có Chinh phụ ngâmCung oán ngâm khúc, liệu ngày nay chúng ta đã có một tuyệt tác như đang có trên tay: Truyện Kiều không? Nhất là tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ của Nguyễn Gia Thiều đã ảnh hưởng đến hồn lục bát Nguyễn Du hơn cả. Đoàn Thị Điểm phải nhờ vào bản Hán văn của Đặng Trần Côn, Nguyễn Du dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mới thành hồn Việt, tiếng Việt tuyệt vời. Nguyễn Gia Thiều không cần vịn tạm vào cây cầu Hán tự, hay mượn lốt Trung Hoa mà Việt hóa hồn người. Ông viết trực tiếp bằng chữ Nôm, bằng tiếng Việt, một thứ tiếng Việt rất đài các hàn lâm, rất thâm sâu thông tuệ: "Trải vách quế gió vàng hiu hắt", kết hợp với tiếng Việt bình dân, vừa hoa hèn cỏ nội, vừa muối mặn gừng cay, rất đời thường dung dị: "Lau nhau ríu rít cò con cũng tình". Chỉ vỏn vẹn 356 câu thơ song thất lục bát, diễn tả nỗi lòng ai oán của cung nữ mà tỏ bày chuyện nhân tình thế thái, chuyện trời đất, tử sinh của thân phận làm người; Cung oán ngâm khúc quả là một kiệt tác được thể hiện với một nghệ thuật thơ trác việt, xuất chúng, mang tính tư tưởng và thẩm mỹ vào loại cao sang nhất, sâu sắc nhất, mỹ lệ nhất trong kho tàng văn học cổ Việt Nam. 


Nguyễn Gia Thiều mượn tâm trạng cung nữ mà nói chí hướng mình, mượn mình mà đối chất, ỉ ôi ta thán thời thế, mượn thời thế mà vẩn vơ nghĩ ngợi kiếp người, mượn kiếp người mà đối thoại, ầu ơ cùng trời đất, mượn trời đất mà rong ruổi nỗi hư không, mượn hư không mà an ủi, xẻ chia nỗi buồn cung nữ. Chính vì vậy, mỗi câu thơ của bậc thiên tài không chỉ đa ngữ nghĩa, đa tầng đa vỉa như vân gỗ trong cây chò chỉ nghìn năm, mà còn nghĩa ở ngoài nghĩa, chữ ở ngoài chữ, tư tưởng ngoài tư tưởng, như khói sương ngoài lại khói sương. Vì vậy, khi đọc Cung oán ngâm khúc, chúng ta không chỉ phải dùng thị giác, thính giác, tri giác, cảm giác, trực giác mà còn phải huy động cả linh giác, huệ giác, vô giác, thiên địa giác, tổng hợp lại trong mơ hồ THI GIÁC mới có cơ gặp được hồn thơ bách tuế thiên tuế này. Ví dụ như khi đọc câu thơ huyền nhiệm này của Ôn Như hầu: "Cái quay búng sẵn trên trời / Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm" mà chỉ tựa vào "cái quay" luân hồi sắc không, bào ảnh Phật giáo, hoặc tiêu dao vô vi với "người đi đêm" áo gấm Lão Trang kia cũng chưa thấu được bờ bến câu thơ. Chừng như cái huyệt, cái rốn, cái thần của câu thơ mang mang rất đạo này lại nằm trong một động từ "búng" rất bé, rất đời, rất ngẫu nhiên ; như thể trên biển cả vô cùng của thế giới đèn cù hư ảnh, vang lên rất đanh, rất sắc một tiếng con tôm nhân tình chợt búng tanh tách. Và cái quay Phật giáo kia, cái "người đi đêm" kia, hóa ra chỉ là trò búng con quay của đứa trẻ con - tạo hóa có tên là thi ca.

Một cái búng tay tí tẹo thi ca lại có thể mở khép được cái vô cùng, chạm vào cái lênh đênh, như chạm vào cái Không của Phật và cái Vô của Lão, hóa giải nỗi siêu hình bằng nghịch ngợm nhân sinh. Từng câu thơ của bậc thi hào là một khối thống nhất các mâu thuẫn lớn trong quy luật đồng nhất, phản phục, thoắt có, thoắt không, lúc thuỷ, lúc hỏa, vừa có nghĩa lại vừa phản nghĩa, như trong phân tử vật chất đã mang sẵn hạt phản vật chất, trong sự sống nào cũng mang sẵn một mầm chết. Chính vì vậy, dùng phương pháp luận cắt lát của phê bình văn học nặng về xã hội học, phê bình lý trí hay phê bình trực giác, phê bình đạo đức học, ngôn ngữ học, phê bình phân tâm học, phê bình cấu trúc... đối với Cung oán ngâm khúc e rằng chưa thể tất.

Phê bình xã hội học từ bấy nay đã chỉ ra rằng Cung oán ngâm khúc tố cáo chế độ phong kiến tàn bạo, vô nhân đạo, chà đạp tình yêu hạnh phúc con người. Cái chế độ tự nhiên đi bắt nhốt hết con gái đẹp thiên hạ vào một cung cấm như tù chung thân, cho một người sợ nắng sợ gió, hom hem, bệnh hoạn gọi là vua độc quyền hưởng lạc, bảo không ác sao được? Đúng quá. Lại bảo tác phẩm này đầy tính nhân đạo chủ nghĩa. Nhà thơ bênh vực, cảm thông, chia sẻ với nỗi buồn đau, nỗi khát vọng hạnh phúc, nỗi tuyệt vọng về tương lai của hàng trăm cung nữ, nhất định là thương người quá đi chứ. Đúng quá. Lại bảo nghệ thuật của thi phẩm này cao siêu, tuyệt vời. Vì hơn hai trăm năm nay rồi, những áng thơ còn rung động, xúc cảm hàng triệu con tim yêu hồn Việt ngữ ông cha. Lại đúng quá. Mà đúng cả với Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều và thơ Hồ Xuân Hương nữa.

Phái phê bình phân tâm học thì dùng ông Freud để lý giải tình cảm bị ức chế tình dục của các cung nữ và ngay cả với Nguyễn Gia Thiều, người bị coi là quan hoạn, nên mới tạo ra nỗi khổ, nỗi thèm khát, nỗi hay đầy cảm giác nhục tính của tác phẩm. Nghe ra, cũng có vẻ có lý. Người khác cho rằng, Ôn Như Hầu là đệ tử của Phật, của Lão, trình bày cuộc đời như các cung nữ bị ông vua tạo hóa nhốt chơi, khổ lắm, nhục lắm, mất tự do lắm, nên khuyên ta phải tìm vào cửa Không, cửa Vô mà lánh cho qua bể trần gian. Lại có vẻ đúng. Có người chứng minh Ôn Như hầu yếm thế, chán đời. Có người lại bảo không, bên ngoài thì thở vắn than dài thế thôi, nhưng bên trong còn ham hố lắm, còn yêu đời lắm, còn hy vọng, thèm khát ái ân lắm, cầu mong ơn mưa móc cửu trùng lắm... Phê bình duy mỹ thì bảo: vứt hết những cái đó đi, chỉ lấy cái mỹ lệ văn chương làm tiêu chuẩn thôi, tuyệt đẹp từng câu, từng chữ. Rồi phê bình hình thức, phê bình ngôn ngữ học, phê bình trường ngôn ngữ... đều lôi thiên tài Ôn Như hầu về phía mình như honda ôm giành khách. Trong Cung oán ngâm khúc có tất cả những điều trên và còn nhiều điều hơn nữa, nhưng hình như rồi chẳng có một điều nào cả.

Kìa hàng trăm cung nữ thở than, đau khổ , ám ảnh chuyện mây mưa, hy vọng, tuyệt vọng, rồi níu lấy Phật, lấy Lão, níu cả ông Khổng, thậm chí níu cả ông Táo, ông Tơ như người chết đuối bám cọc. Nghĩa là trong 356 câu thơ song thất lục bát, ta thấy hiện lên cả một thế giới người khổ ải xin tan hòa vào thế giới thần thánh như mực mong hòa trong nước để được sống đời chữ nghĩa. Nhưng rồi quay đi, quay lại, thoắt biến đâu như đèn cù, chẳng còn ai. Cả người đọc thơ bồi hồi, rơi lệ một lúc cũng biến đi. Chỉ còn một mình nhà thơ lặng lẽ trong từng câu chữ, ép hồn vào trang giấy như con bướm khô mà gánh chịu bể khổ kiếp người, gánh chịu cả cái không đâu vô cùng của triết học và tôn giáo. Khiếp quá. Cô đơn quá. Sầu thảm quá.

Khi các cung nữ khóc than khản giọng thì nhà thơ lên tiếng, phủ nỗi buồn vạn cổ lên cỏ cây, lên muôn vật, thậm chí lên cả hậu thế nữa: "Phong trần đến cả sơn khê / Tang thương đến cả hoa kia cỏ này". Câu lục bát hay đến rớm lệ hai thế kỷ thi ca. Chừng như nỗi "phong trần, tang thương " của dân tộc suốt hơn hai trăm năm qua chưa đi hết câu thơ thần diệu này của Ôn Như hầu? Tưởng như chỉ dùng hai câu thơ trên cũng có thể bình được hồn thơ Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan...thuở ấy. Câu lục bát kia bảo nó là tâm hồn thời đại thì cũng là đệ nhất tâm hồn, bảo nó là tư tưởng thời đại thì cũng là đệ nhất tư tưởng.

Có thể nói, Ôn Như hầu là nhà tư tưởng lớn nhất của thi ca Việt Nam từ trước tới nay. Tất cả tư tưởng của thi hào đã được hồn vía hóa, Việt hoá, thi ca hoá. Thân gỗ của cây triết học, thần học cứng ngắc, khô khan qua cảm hứng thi ca Ôn Như hầu, đã trổ hoa tư tưởng. Thi ca đã biến triết học trong ông thành mỹ học, biến bộ óc tràn đầy sách vở kinh điển, già giặn, siêu hình, siêu việt của ông thành nỗi oe oe chào đời tơ non của trái tim con người. Ngay cả nỗi thống khổ trần gian đi qua thi ca ông cũng thành đẹp thế, cảm động và ngây thơ thế, thương thế: "Thảo nào khi mới chôn nhau / Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra". Câu thơ thuần Việt, không một từ Hán chen vào, dung dị như nhọ nồi rau má mà sâu thăm thẳm những vực cùng đỉnh. Con người ra đời phải chăng vì sợ quá mà cất tiếng khóc đầu tiên? Tiếng khóc ấy như một tiếng thét báo hiệu, báo nguy, báo thức, báo yên và báo động. Khi tư tưởng được phát giác bằng thi hứng, bằng trực cảm, bằng hình ảnh, hình tượng ngôn từ, tư tưởng ấy sống động và bền vững mãi. Trẻ sơ sinh kia sao giống hệt thi ca, vừa ra đời đã cất tiếng khóc? Tiếng khóc ấy phải chăng chính là tiếng hát đẹp nhất của con người trên mặt đất?

Ôi chao, loài người sẽ thế nào đây, nếu mỗi chúng ta vừa ra khỏi bụng mẹ đã hí lên cười hềnh hệch đến méo mó cả phận mình? Cung oán ngâm khúc quả tình đã trở thành một trong những "tiếng khóc ban đầu " của tinh thần văn hóa Việt. Con người sơ sinh - thi ca đã đi qua tiếng khóc thứ nhất dữ dội của mình một cách bi tráng dễ sợ như thế, phỏng còn tiếng khóc nào, nỗi thống khổ nào trên đời dọa nạt được nó? Hơn hai trăm năm nay rồi và nghìn vạn năm nữa, các thế hệ người Việt Nam đều lần lượt dìu nhau đi qua câu thơ này của Nguyễn Gia Thiều, như dìu nhau leo cây cầu kiều bắc qua bể khổ, để suốt những năm ở trọ trên mặt đất không còn lạ gì, ngại gì nước mắt với đau thương, cái mà trong bụng mẹ, thai nhi đã nghiền ngẫm, đã nhấm nháp qua chiếc cuống nhau trần thế. Con người bị vây bủa bởi "tiếng khóc ban đầu" và "nấm cỏ khâu xanh rì", có vẻ như sợ hãi quá, hư vô quá, nhưng mà hay quá, thấm thía quá, đương nhiên quá: "Trăm năm còn có gì đâu / Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì".

Hãi thật, phàm là người, xưa nay có ai vượt qua nấm đất cuối của mình đâu? Bản thân cái chết cũng rất tự nhiên như cái sinh, chẳng có gì đáng sợ. Ôn Như hầu gánh trên đôi vai thi ca: một bên là cái sinh: " tiếng khóc ban đầu", một bên là cái diệt: "nấm cỏ khâu xanh rì" mà đi tiêu dao qua tôn giáo và triết học, đi qua cả nỗi yếm thế cùng nỗi yêu đời, đi vào tận sâu cái Không để xóa cái Không, đi hết cái khiếp sợ để không còn khiếp sợ nữa. Vậy thì cái đau về nỗi người bèo bọt nào có xá gì: "Nghĩ thân phù thế mà đau / Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê". Ơ hay, không đi qua hết mê lầm thì làm sao diệt được mê lầm, không đi qua "sóng cồn" thì sao biết được mình là "con thuyền bào ảnh": "Sóng cồn cửa bể nhấp nhô / Chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh". Hóa ra, ngay trong cái Không này, thi ca đã tìm thấy cái Hữu từ trong cảm giác, từ cảm xúc thẩm mỹ của nỗi "nhấp nhô", "gập gềnh" của cuộc đời bồng bềnh, nhún nhảy như sóng gió, như võng đưa, như những câu lục bát sâu sắc mang tính tư tưởng cao nhất của thi ca Việt Nam vừa trích dẫn.

Ôn Như Hầu dắt díu một đoàn cung nữ đang chết khát yêu đương vượt qua sa mạc của cõi Mộng hướng vào nguồn suối cõi Thực, qua cõi Tâm lần tìm cõi Vật, cũng là dắt díu chính bản thân mình vượt qua siêu hình, vượt qua biển bờ tôn giáo hư không để oà ra gặp cái Ngã, rằng Tôi là có thật, Tôi là chính của Tôi, không phải bào ảnh, ảo giác, không phải mê lầm : "Giấc Nam Kha khéo bất tình / Bừng con mắt dậy thấy mình tay không". Sau giấc hòe ma mị, bèo bọt , nhà thơ trong lốt cung nữ đã kinh ngạc "thấy mình" dù "tay không", không còn gì cả, không còn hư mê, chỉ còn chính bản thân mình, trả cho vô biên cái hư ngã, chỉ mang theo cái chân ngã mà thành thi ca. Nguyễn Gia Thiều rốt ráo chẳng hư vô chủ nghĩa tí nào cả.

Cứ tưởng ông tuyệt vọng chán đời, lánh đời, ai ngờ ông chỉ núp vào Phật Lão chơi tí như trưa nắng núp nhờ bóng cây, đoạn an ủi các cung nữ một chút rồi lại sà ngay vào kiếp người mà hy vọng, mà tình tứ, mà kén vợ gả chồng cho từ hoa cỏ đến chim muông. Những câu thơ viết về khát vọng lứa đôi hài hòa âm dương vũ trụ hay nhất từ xưa đến nay của thi ca Việt Nam trong Cung oán ngâm khúc, khiến trời đất, cát bụi cũng muốn hoá vợ chồng: "Kìa điểu thú là loài vạn vật / Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng / Có âm dương có vợ chồng / Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê".

Tiếng Việt của ca dao tục ngữ được Nguyễn Gia Thiều nâng cao thành chú rể Việt Nam cưới cô dâu từ ngữ Hán, điển tích Hán, nhập quốc tịch chữ Nôm mà hóa hồn Việt thuần thục đoan trang, bình dân đại chúng mà vẫn yêu kiều thục nữ, vẫn mỹ lệ, tài hoa đến không ngờ. Thành ra Ôn Như hầu chính là ông tơ hồng của văn học, lấy thi ca mà trói buộc chữ duyên tình lên cả vần điệu, lên cả càn khôn. Vượt qua mọi cấm đoán thời phong kiến, cấm đàn bà con gái không được bày tỏ ham muốn xác thịt cả trong đời và trong văn học, Nguyễn Gia Thiều đã ném toàn bộ chăn gối của tinh thần giải phóng phụ nữ vào chính mặt vua chúa, cũng là ném cảnh phòng the vào vẻ đạo mạo giả dối của thời đại, giật tung tấm bình phong, tấm màn che phong kiến xuống tưởng không còn manh giáp: "Chốn phòng không như giục mây mưa", " Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt", "Mây mưa mấy giọt chung tình", "Lối đi về ai chẳng chiều ong"... hoặc câu thơ mà phái phân tâm học cũng phải gọi bằng thầy, thơ hay đến nỗi chim chuột cũng phải ngẩn ngơ, mê mẩn: "Bóng gương lấp loáng dưới mành / Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa".

Đối với cái dục, càng diệt, càng ý thức về diệt dục nó càng phát lộ. Thế thì làm sao hàng trăm cung nữ ngày đêm chết khát chờ "ơn mưa móc cửu trùng" có thể hóa các ni cô mà tu thành chính quả trong ngôi chùa "Cung oán"? Thành ra, muốn dắt đoàn cung nữ của mình tới cõi Phật, Nguyễn Gia Thiều phải đưa họ đi hết cõi dục, cõi mà họ đang chết khát, đang bị đày đọa trong địa ngục dục vọng. Đấy là bi kịch đớn đau nhất, tang thương nhất của kiếp người, kiếp làm vợ vua trong thế giới "Cung oán". Để muôn đời, những thân phận cung nữ kia sẽ nhờ buồn thương mà bất tử với thi ca Ôn Như hầu, đặng khóc than về sự trớ trêu của kiếp vợ vua: "Dẫu nhan sắc mấy cũng thừa / Lấy chồng vua lại thành chưa có chồng" (thơ Trần Mạn Hảo).

Thương thay những kiếp hồng nhan bạc phận, dẫu hóa cát bụi vẫn còn thèm khát hạnh phúc chính ra họ đã được hưởng nơi quê mùa, dân dã, điều không thể có trong cung vàng điện ngọc: "Thà rằng cục kịch nhà quê / Dẫu lòng nĩu nịu nguyệt kia hoa này". Chao, thi pháp Ôn Như hầu đâu chỉ rực rỡ những lầu son gác tía. Hồn ông, thơ ông, qua khát khao niềm chăn gốì quê mùa của người cung nữ, đã chớm ánh lên sắc vàng rơm rạ bình dân trong tinh thần "cục kịch nhà quê" rất "oé oẹ", rất nôm na mà vẫn cứ sang trọng, quý phái kiểu "má đào chon chót" ("Giải kết đều oé oẹ làm chi".../ "Song đã cậy má đào chon chót" ).

Có phải Nguyễn Gia Thiều muốn qua lời cung nữ mà ngụ ý, mà bóng gió nói về cuộc trở dạ, cuộc lột xác, thoát thai của văn học Việt Nam từ Hán sang Nôm từng quằn quại mấy thế kỷ từ thời Hàn Thuyên? Ấy là khi dòng thi ca dân tộc bắt đầu tìm cách chia tay với thi pháp "bắt voi bỏ rọ" Hán, tâm thức mực thước Hán cung đình, để bước ra bầu trời tự do, bước sang thi pháp lục bát phóng khoáng, uốn lượn bay bổng Việt, tâm thức nâu sồng Việt bình dân đại chúng, chuyển từ phong cách "phong lưu" qua phong cách "thanh đạm": "Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm / Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon"?

Hàng trăm cung nữ chết sầu chết héo, chôn má đào trong nấm mồ chung "vách quế, tiêu phòng" chỉ vì "miếng cao lương phong lưu" giả hiệu ấy! Đến khi biết nuốt vào "lợm" quá, tanh tưởi quá nhưng không nôn ra được nữa rồi, đành ngồi mơ "mùi hoắc lê" dân dã hoa hèn cỏ nội như mơ cảnh Niết Bàn. Mãi mãi, những cung phi ấy không còn được hưởng hạnh phúc "mùi hoắc lê" nôm na tuyệt vời, để chúng ta, hậu thế được hưởng trọn vẹn 356 câu thơ nôm thuần Việt, hồn Việt "thanh đạm mà ngon" của Ôn Như hầu tiên sinh tặng lại.

Giấu nỗi buồn đau của hàng trăm cung nữ bạc phước, bất hạnh trong gan ruột mình, rồi cất lên tiếng ta thán của nghìn năm cung cấm, tâm hồn Nguyễn Gia Thiều quả là nhức nhói, quặn thắt đến cả trời đất, đành nhờ thi ca chuyển tải xót thương tới muôn vàn mai hậu. Thương thay một thời đại cung nữ, một thời đại song thất lục bát, một thời đại của thi pháp vàng son đã biết cách nghiêng xuống tìm tình duyên nơi "Lau nhau ríu rít cò con" nôm na dân tộc, mà vẫn phải mếu máo cười khóc khi hát khúc ngâm "Cung oán": "Cười nên tiếng khóc hát nên giọng sầu".

Đau quá, không chỉ kêu lên một tiếng cô đơn như tiếng kêu "hàn thái hư" Không Lộ thiền sư xưa, mà là một tiếng kêu căm uất dài tới hai trăm năm có lẻ: "Chống tay ngồi ngẫm sự đời / Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm". Ôn Như hầu dồn cả nỗi oán hận chế độ phong kiến tàn ác, chà đạp tình yêu hạnh phúc con người của không chỉ nghìn muôn cung nữ vào trọn tâm can mình. Ông muốn đập tan thời đại vô luân đó, muốn đập tan cả nền móng những khổ đau, muốn đập tan ngay cả thân xác nặng nề đang chịu thay cái đau quằn quại của bao cuộc đời, để tinh thần được tự do bay lượn trong vô cùng thế giới: "Dang tay muốn dứt tơ hồng / Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra". Tưởng như hai câu thơ này viết về nỗi niềm dân tộc Việt Nam hôm nay đang muốn “dứt tơ hồng”- (tơ đỏ trói buộc), “muốn đạp tiêu phòng” - (chủ nghĩa) mà ra với lồng lộng nhân loại tự do, nhân loại dân chủ ? Thương thay cho người Việt chúng ta hôm nay hình như vẫn còn bị nhốt trong hai câu thơ đau đáu xa xưa của Ôn Như hầu ?

Có thể cùng với bao cung nữ, thân xác Nguyễn Gia Thiều đã nằm lại trong "tiêu phòng" của chế độ phong kiến, nhưng tinh thần ông, kiệt tác của ông là Cung oán ngâm khúc, thực sự đã đạp đổ tung thời đại đau thương ấy mà bay về phía chúng ta, về phía con người. Ở đó, linh hồn nhà thơ đã thực hiện được giấc mơ của hơn hai trăm năm trước, cùng tiêu dao trong thế giới Lão Trang mà con bướm hoài nghi không còn ngơ ngác giữa mộng và thực nữa :"Thoát trần một gót thiên nhiên / Cái thân ngoại vật là tiên trong đời". Chừng như tất cả chúng ta, thông qua tâm sự nghìn thu cung nữ - Nguyễn Gia Thiều, đều chỉ là những cung nam, cung nữ của vì vua tạo hóa?

Được kiệt tác Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm gợi hứng, Nguyễn Gia Thiều, một đại quý tộc, một đại trí thức, một tâm hồn thơ xuất chúng đã mượn nỗi đau cung nữ mà hát lên tiếng thơ nôm tuyệt diệu, vừa cao siêu đỉnh trời tư tưởng, vừa diễm lệ tận cùng tình cảm cỏ hoa, vừa quý phái hàn lâm, vừa nâu sồng dân dã. Cung oán ngâm khúc quả tình có thể xếp ngang hàng với hai kiệt tác Chinh phụ ngâmTruyện Kiều, như tam vị nhất thể, như ba đỉnh núi thi ca trong một quần thể tinh thần văn hóa Việt cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX còn sừng sững giữa trời, cùng vòi vọi với đỉnh thi ca đơn độc Ức Trai trên dưới bốn trăm năm trước.

Rất tiếc, trong chương trình văn học từ bậc phổ thông đến bậc đại học, kiệt tác Cung oán ngâm khúc chừng như chưa được đánh giá đúng mức? Tất cả chúng ta, như lớp lớp người xưa, kể cả những tay bơi cự phách nhất như "rái tướng" Yết Kiêu và Dã Tượng đời Trần, đều sẽ lần lượt, kẻ trước người sau bị sự "đành hanh" của tạo hóa chòng ghẹo, đến độ phải chết đuối trên mặt đất, như câu thơ hay đến kỳ lạ của Nguyễn Gia Thiều: "Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán / Chết đuối người trên cạn mà chơi". Nhưng may mắn thay, trò con tạo đùa chơi không thể đánh chìm được hồn thơ Cung oán ngâm khúc, dù là sự đánh chìm "trên cạn". Thi phẩm này cứ trôi lênh đênh như một cái phao tâm linh cứu nạn trên mặt đất, sẵn sàng cho những chơi vơi níu bám, ít ra là đối với những tâm hồn đã được mỹ cảm thi ca cứu rỗi. 

T.M.H

*Bài viết do Nhà thơ Trần Mạnh Hảo gửi trực tiếp tới NXD-Blog. Chúng tôi có biên tập một chút, mong được lượng thứ. (bản gốc xin xem tại đây). Xin chân thành cảm ơn tác giả!

**Chúng tôi có may mắn sở hữu một tư liệu CD ghi âm toàn văn Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều với giọng ngâm trác tuyệt của một nghệ sĩ lão thành. Chư vị nào có nhã hứng muốn thưởng thức, xin cho biết địa chỉ để chúng tôi gửi tặng 01 bản sao. NXD.


HOAN NGHÊNH BÁO LAO ĐỘNG NGHỆ AN ĐÃ LÊN TIẾNG

Lình xình Giải thưởng Hồ Xuân Hương (Nghệ An): 

Muốn giải trong sạch thì nên hủy kết quả để làm lại 

Hoàng Trị

 

Đọc bài “Giải thưởng Hồ Xuân Hương - Không ổn ngay từ khung khổ pháp lý” của tác giả Phạm Xuân Cần trên báo Lao Động Nghệ An số 728 ra ngày 3/11/2011, tôi rất đồng tình với quan điểm và những lý lẽ mà tác giả đã đưa ra. Đó thực sự là một bài viết rất đúng, có tầm, phân tích mổ xẻ được nguyên nhân vì sao giải thưởng Hồ Xuân Hương lần này có nhiều sai sót và nảy sinh khiếu kiện.   

Quả thật thể lệ giải thưởng Hồ Xuân Hương hết sức sơ sài, khung khổ cho giải thưởng thiếu chặt chẽ và không hợp lý, thậm chí có sai sót về thẩm quyền và quy trình xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cho thấy nó được tư vấn rất tồi. Họ không hiểu luật hoặc cố tình không hiểu, quan liêu nên mới dẫn đến sai sót như vậy. Việc tổ chức thực hiện có dấu hiệu thiếu nghiêm túc giống như tình trạng “sinh con rồi mới sinh cha, “con không giống cha”. 

Xin phản ánh thêm một số sai sót của giải thưởng Hồ Xuân Hương giai đoạn 2005-2010. Trước hết là về tổ chức giải, việc lập danh sách thành viên sơ khảo và hội đồng chung khảo không làm theo quy trình dân chủ. Điều vô lý thứ 2 đó là ban sơ khảo và hội đồng chung khảo đều có tác phẩm dự giải và đều đạt giải cao. Đây là điều rất lạ và cũng nảy sinh tình trạng “chấm cho mình và chấm cho nhau”, còn đâu là công bằng, công tâm nữa? Điều nguy hại nữa là Ban sơ khảo và hội đồng chung khảo khi chấm không có tiêu chí chuẩn xác, không có ba rem thì căn cứ vào cái gì để chấm? Do thể lệ không quy định tỷ lệ thành phần hội đồng, vì vậy mới có chuyện Hội đồng chung khảo gồm 13/14 thành viên “người ngoại đạo” nhưng chấm họa, các ban khác cũng tương tự như vậy nên nhiều tác giả có tác phẩm tham dự giải bất bình với kết quả của Hội đồng.


Xin nói thêm về tổ thanh tra của Sở VHTT&DL. Một số người vừa là thành viên thuộc các ban giải thưởng Hồ Xuân Hương, vừa có tác phẩm dự giải và đạt giải cao, trong lúc đang có nhiều khiếu nại tố cáo mà lại là thành viên của tổ thanh tra là không đúng luật. Từ đó cách thức giải quyết khiếu nại tố cáo và kết luận thanh tra thiếu khách quan…

Cũng như tác giả Phạm Xuân Cần, tôi cảm thấy muốn giải thưởng Hồ Xuân Hương trong sạch thì nên hủy kết quả, làm lại từ đầu. Đây là nghệ thuật gắn với khoa học nên phải làm việc theo tính khoa học, pháp lý. Một khi khung khổ pháp lý không đảm bảo, quy chế đã không đúng thì dù cho phúc khảo hay chấm lại cũng không có tính thuyết phục. Bởi vậy nhất thiết phải thiết lập lại quy trình, văn bản theo đúng pháp lý để giải thưởng đảm bảo tính khách quan, công bằng. Có người lo ngại rằng hủy kết quả, làm lại từ đầu thì sẽ tốn kém thời gian, công sức, tiền bạc, ảnh hưởng đến những người đã được nhận giải thưởng các lần trước… Tôi nghĩ đó là những người chưa hiểu rõ về những sai sót, bất cập của giải thưởng Hồ Xuân Hương lần này, họ không nằm trong cuộc nên mới suy nghĩ như vậy. Có người lại lo ngại rằng nếu hủy kết quả làm lại từ đầu thì tỉnh sẽ mang tiếng.

Thực tế thì dù chưa hủy kết quả nhưng nhiều văn nghệ sĩ ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước cũng đã biết về sự “lình xình” của giải thưởng Hồ Xuân Hương lần thứ IV của tỉnh ta, cứ cố trao giải thưởng trong tình hình này có khi còn mang tiếng hơn. Vì vậy nên hủy kết quả, làm lại từ đầu, đồng thời các cơ quan có thẩm quyền phải xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân có vi phạm để làm gương cho các giải sau.
                                                                        (Nguồn: Lao động Nghệ An)

Nguồn: Thắng Xòe -Blog.

HÔM NAY, KỶ NIỆM 50 NĂM TRƯỜNG CẤP III QUẢNG OAI

Mái trường xưa dưới chân núi Ba Vì
Phùng Hoàng Anh

Để nhớ về miền đất phủ Quảng Oai xưa ấy – là nơi chôn nhau cắt rốn của mình, nhà thơ Trần Hòa Bình đã lấy bút danh của mình như để nhắc nh về một miền đất mến thương ấy là Bình Phủ Quảng.

Đời nhà Lê, Sơn Tây là một trấn, trải dài từ Từ Liêm (Hà Nội) đến Bạch Hạc (Phú Thọ), lỵ sở của trấn đóng ở xã La Phẩm, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai (nay La Phẩm là một thôn của xã Tản Hồng, huyện Ba Vì). Thời Pháp thuộc, tỉnh Sơn Tây được thành lập năm 1892 (gồm hai phủ Quảng Oai và Quốc Oai, với 4 huyện : Phúc Thọ, Thạch Thất, Tùng Thiện, Bất Bạt). Để nhớ về miền đất phủ Quảng Oai xưa ấy – là nơi chôn nhau cắt rốn của mình, nhà thơ Trần Hòa Bình đã lấy bút danh của mình như để nhắc nh về một miền đất mến thương ấy là Bình Phủ Quảng.

Bây giờ tên gọi Quảng Oai không còn là đơn vị hành chính cấp huyện như trước nữa, thay vào đó là cái tên gọi hành chính -  huyện Ba Vì. Từ xa xưa, Ba Vì vẫn là miền đất cổ xứ Đoài muôn đời mây trắng bay, nơi có những con sống lớn bao bọc như sông Đà và sông Hồng, dòng sông Tích thơ mộng khởi nguồn từ núi Tản Viên rồi đổ về xuôi, và nơi ấy còn mọc lên một dải núi có hình thế rất đẹp, thi hào Nguyễn Trãi – danh nhân văn hoá thế giới đã gọi tên  núi ấy là núi Tổ của nước Nam trong sách Dư địa chí, còn học giả Nguyễn Hiến Lê thì ca ngợi ngọn núi quê hương ông đẹp như núi Phú Sĩ của Nhật Bản.

Quảng Oai xưa – Ba Vì nay có một truyền thống văn hiến lâu đời, vùng đất này đã gắn với truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, là một trong Tứ bất tử của nước Việt Nam ta từ cổ xưa. Quảng Oai cũng là vùng đất có dày đặc các di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc tiêu biểu như : thành Đa Bang  (của nhà Hồ xây dựng còn lưu dấu tích ở xã Phong Vân), đình Tây Đằng, đình Chu Quyến, đình Tiên Phong, đền Thượng, đền Trung và đền Hạ ở núi Ba Vì,…các danh lam thắng cảnh như vườn Quốc gia Ba Vì, khu K9 ở Đá Chông, cây đa Bác Hồ ở Vật Lại, Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, Thiên Sơn – Thác Ngà, hồ Suối Hai. Quảng Oai còn là vùng đất có nhiều danh nhân, Tiến sĩ  được hậu thế biết đến, được lưu danh trong sử sách và bia đá như Tiến sĩ, Lưỡng quốc Thượng thư Nguyễn Sư Mạnh, Tiến sĩ, Lục bộ Thượng thư Nguyễn Bá Lân (quê Cổ Đô); Tiến sĩ Phan Nhuệ, Tiến sĩ , Thượng thư Trần Thế Vinh (quê Phú Châu); Tiến sĩ Phùng Thế Triết (quê Tiên Phong); Tiến sĩ, Tham Tụng Lê Anh Tuấn (quê Vạn Thắng); Thượng thư Lê Hữu Tá (quê Đông Quang)… Thế hệ sau có các danh nhân như nhà thơ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, Nhà thơ Ngô Quân Miện (quê Khê Thượng), Học giả - nhà văn Nguyễn Hiến Lê (quê Phú Phương), Hoạ sĩ Sỹ Tốt (quê Cổ Đô). Họ đều là những công dân ưu tú của vùng đất Quảng Oai xưa và huyện Ba vì ngày nay.

Quảng Oai bây giờ chỉ còn là tên gọi của một ngôi trường cấp III ở huyện Ba Vì, đó là Trường Trung học phổ thông Quảng Oai - nằm ở trung tâm trên trục quốc lộ 32 của huyện Quảng Oai xưa, nay là huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội, tên gọi Quảng Oai đã gợi nhớ về trường xưa lớp cũ của rất nhiều thế hệ học trò và những thầy, cô giáo đã và đang học tập, công tác dưới mái trường mến yêu ấy.

Năm nay, trường Trung học phổ thông Quảng Oai đã bước sang tuổi thứ 50, ghi dấu mốc một chặng đường xây dựng và phát triển trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo các thế hệ học sinh trường huyện của ngành giáo dục và đào tạo thủ đô Hà Nội trong suốt nửa thế kỉ qua, kể từ khi bắt đầu thành lập trường năm 1961 đến nay. 

Trường cấp III Quảng Oai xưa, trường T.H.P.T Quảng Oai ngày nay được tách ra từ trường cấp III Sơn Tây của tỉnh Sơn Tây cũ, nhằm thu nhận học sinh hai huyện Quảng Oai và Bất Bạt, khi đó Sơn Tây là địa danh hành chính cấp tỉnh thì Quảng Oai là địa danh hành chính cấp huyện. Trường cấp III Sơn Tây ra đời sớm nhất vùng phía Tây thủ đô Hà Nội ngày nay được thành lập năm 1959, sau đó là Trường cấp III Quảng Oai thành lập năm 1961, và sau này có Trường cấp III Tùng Thiện thành lập năm 1966.

Ngày đầu trường mới thành lập chỉ có một lớp 9 từ Sơn Tây chuyển lên và hai lớp 8 mới tuyển với 135 học sinh và 7 thầy, cô giáo. Sau 30 năm kể từ sau ngày thành lập trường, năm học 1991 – 1992 Trường T.H.P.T Quảng Oai đã có bước phát triển về số lượng với 721 học sinh: khối 10 là 379 học sinh, khối 11 là 96 học sinh, khối 12 là 246 học sinh với tổng số 63 thầy, cô giáo, cán bộ và nhân viên. Trong khoảng thời gian ấy, nhà trường đã đào tạo được 10.034 học sinh ra trường. Năm học 1981 – 1982 là năm trường có số học sinh đông nhất thành phố Hà Nội : khối 10 là 775 học sinh, khối 11 là 642 học sinh, khối 12 là 611 học sinh.

Giai đoạn 1961 – 1991, trường T.H.P.T Quảng Oai đã có hàng trăm thầy giáo và học sinh đã hăng hái lên đường nhập ngũ, trên khắp các chiến trường ba nước Đông Dương, đâu đâu cũng có dấu chân của các anh bộ đội là học sinh của trường Quảng Oai, sau chiến tranh có 106 học sinh của trường đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập của dân tộc. Máu và thân thể các anh đã đổ xuống ở khắp các chiến trường như cửa sông Hàm Luông, huyện đảo Phú Quốc… Đất nước trải qua cuộc chiến tranh, thầy và trò Trường T.H.P.T Quảng Oai đã khắc phục mọi khó khăn để dạy tốt học tốt, sau 4 năm thành lập, trường đã phải triệt để sơ tán do máy bay Mỹ đánh phá công trình thuỷ lợi hồ đập Suối Hai – Ba Vì. 15 lớp  phải sơ tán về các thôn xóm hẻo lánh thuộc các xã Chu Minh, Tiên Phong, Đông Quang. Những lớp học dưới hầm sâu rất an toàn bởi luỹ dày bao bọc, che chắn để thầy và trò yên tâm dạy tốt và học tốt. Năm 1975 – 1976 trường thiếu lớp học, đã huy động cả thầy và trò lên tận núi Ba Vì khai thác nứa, tre, với hơn  2000 phên tranh đóng bè xuôi sông Đà rồi sông Hồng đầy vất vả và hiểm nguy để dựng trường, dựng lớp. Trong giai đoạn này, khó khăn là vậy, nhưng các thầy cô giáo và nhiều thế hệ học sinh đã đạt được nhiều thành tích trong phong trào thi đua dạy tốt - học tốt như các thầy Nguyễn Văn Dũng, Lý Quốc Hào, Đỗ Văn Đích, Ngô Chính Cát, Nguyễn Lí Kính đã được công nhận là giáo viên giỏi. Học sinh Nguyễn Văn Nho đạt giải Khuyến khích học sinh giỏi miền Bắc, Đỗ Văn Dũng đạt giải Ba môn Vật lý lớp 10 của tỉnh Hà Tây. Năm 1985, Trần Văn Trường đạt giải Nhất môn Toán Thành phố Hà Nội. Chu Văn Nghị đi thi ném lựu đạn đạt giải Nhất toàn miền Bắc năm 1967. Lê Thị Tố Yến đạt huy chương vàng, Bùi Văn Ngọc đạt huy chương bạc giải chạy Việt dã của báo Hà Nội mới…

Đất nước bước vào thời kì đổi mới ( từ năm 1991 đến nay ), trường có 45 lớp với tổng số 2.032 học sinh, có 111 cán bộ, giáo viên, nhân viên, trong đó có hơn chục thầy cô giáo có trình độ Thạc sỹ,  trường có 7 tổ chuyên môn, cơ sở vật chất bề thế với 22 phòng học kiên cố. Trường có đủ các phòng học và phòng chức năng như phòng làm việc của Ban giám hiệu, phòng họp tổ, phòng thư viện, phòng thiết bị, phòng học tin học…Chất lượng học sinh đỗ tốt nghiệp hàng năm đạt  từ 80 – 93 % , trong đó có nhiều học sinh đỗ đại học điểm cao từ 26 – 27 điểm trở lên, đó là các em Phùng Ngọc Vững đạt giải Nhất kỳ thi học sinh giỏi cấp Thành phố môn Hoá học và đạt 27 điểm vào trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, em Lê Tuấn Anh đỗ hai trường Đại học ( Đại học Ngoại thương : 29 điểm, Đại học Y Hà Nội : 29,5 điểm), em Lê Anh Đạt đạt 28 điểm ( trong đó môn Toán được điểm 10. Nhiều em đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thành phố : Nguyễn Thái đạt giải Nhất môn Hoá học thành phố Hà Nội năm 1989, Nguyễn Thế Ngọc giải Nhất môn Toán tỉnh Hà Tây năm 1999, Đỗ Thị Ánh Vân, Nguyễn Văn Hưng giải Nhất môn Toán tỉnh Hà Tây năm 2004…

Nhiều thầy, cô giáo đã đạt giải cao trong các cuộc thi giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh, Thành phố như cô giáo: Đinh Thị Tuyết đạt giải Nhất môn Thể dục tỉnh Hà Tây năm học 2002 – 2003,Vũ Ba Lê đạt giải Nhất môn Toán tỉnh Hà Tây năm 2005,  Nguyễn Thị Thuý Lộc giải Ba môn Hoá học Thành phố Hà Nội năm 2009 – 2010. Nhiều sáng kiến kinh nghiệm của các thầy cô được xếp loại C, B cấp tỉnh, thành phố Hà Nội.

Những năm qua, nhà trường luôn luôn coi trọng công tác quản lý, chỉ đạo có nhiều bước đột phá, đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn cao. Chi bộ nhà trường có 37 đảng viên, chi bộ Đảng thực sự giữ vai trò lãnh đạo toàn diện các hoạt động của nhà trường, Chi bộ Đảng nhà trường liên tục được Huyện uỷ Ba Vì – T.P Hà Nội công nhận là Chi bộ trong sạch, vững mạnh và được tặng Giấy khen “Chi bộ vững mạnh xuất sắc”. Công tác xây dựng đoàn thể được lãnh đạo nhà trường chú trọng nên nhiều năm liền đạt thành tích cao. Các tổ bộ môn đã  nhiều lần đạt danh hiệu lao động tiên tiến xuất sắc được Sở GD – ĐT Hà Tây và Hà Nội khen thưởng.

Trường T.H.P.T Quảng Oai luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Sở GD – ĐT Hà Tây (nay là T.P Hà Nội), sự ủng hộ của cha mẹ học sinh và nhân dân trong huyện Ba Vì, với ý thức tự lực tự cường, tinh thần chủ động sáng tạo, nhà trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giáo dục và đào tạo mà nhân dân giao cho. Hành trình 50 năm xây dựng và phát triển, nhà trường đã đào tạo được nhiều học sinh ưu tú, sau này có học vị Tiến sỹ, Thạc sỹ hiện đang công tác ở khắp mọi miền của tổ quốc, trên nhiều lĩnh vực khác nhau như : lĩnh vực nghiên cứu khoa học có em Phùng Văn Đồng, Tiến sỹ Vật lý, hiện đang công tác ở Viện Vật lý, sĩ quan cao cấp trong quân đội nhân dân Việt Nam có Trung tướng Phương Minh Hoà - Uỷ viên TW Đảng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, công tác ở các Bộ, ngành có Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đào Xuân Học, Nguyễn An Bang  nguyên Chánh văn phòng cơ yếu của Chính phủ, nhiều người làm công tác quản lý ở các Sở, ngành của các Tỉnh, Thành phố trong cả nước như : anh Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh uỷ viên, Phó bí thư Thường trực tỉnh Điện Biên, anh Nguyễn Minh Mận nguyên Tỉnh uỷ viên – Phó giám đốc Sở KH và CN Hà Tây, anh Đỗ Văn Quang, Thành uỷ viên, Bí thư huyện uỷ Quốc Oai…Nhiều người được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quí như Nhà giáo ưu tú Phùng Định, nguyên Hiệu trưởng Trường Trung học xây dựng số 4 - Xuân Hoà – Vĩnh Phúc. Thầy thuốc ưu tú, Bác sĩ, Đại tá Phùng Đình Hỹ hiện là Trưởng khoa Vật lý trị liệu phục hồi chức năng Viện Quân Y 105 - Tổng cục hậu cần…Nhiều văn nghệ sĩ như hoạ sĩ Giang Khích, nhà thơ Trần Hoà Bình, nhà báo Nguyễn Quốc Ân…

Với những thành tích đóng góp vào sự nghiệp trồng người cho quê hương, đất nước trong 50 năm qua, nhà trường đã vinh dự được Đảng và nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba ( năm 1996 ), Huân chương Lao động hạng Nhì ( năm 2001 ), nhiều năm liền được tỉnh và thành phố tặng danh hiệu Tập thể Lao động Tiên tiến và Tập thể Lao động tiên tiến xuất sắc. Ngày 11.11.2011 sắp tới, trường T.H.P.T Quảng Oai sẽ long trọng tổ chức Lễ kỉ niệm 50 năm ngày Thành lập trường, nhằm ôn lại một chặng đường xây dựng và phát triển, đồng thời cũng là dịp gặp gỡ giao lưu của các thế hệ học sinh nhân ngày 20.11 năm nay.

P.H.A