Hiển thị các bài đăng có nhãn trao đổi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trao đổi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2018

TS TRẦN TRỌNG DƯƠNG TRẢ LỜI HỌC GIẢ AN CHI


Mỗi chữ là một lần tri ân: 
Thư cảm ơn học giả An Chi  

Trần Trọng Dương
Chủ Nhật, 25 tháng 2, 2018 
Tễu Blog: Xin xem lại bài của học giả An Chi, phê bình cuốn sách Khảo cứu từ điển song ngữ Hán Việt Nhật dụng thường đàm của Phạm Đình Hổ (Nxb Văn học, Hà Nội, 2016) do TS Trần Trọng Dương biên soạn, tại đây:
https://xuandienhannom.blogspot.com/2018/01/hoc-gia-chi-phe-binh-cuon-sach-cua-ts.html
*CHÚ Ý: Do giao diện BLOG có giới hạn về trình bày và bài hơi dài (gần 25.000 lượt chữ), nên quý vị có thể download toàn bài của chúng tôi ở đây:

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

Tranh luận: CÓ THẬT VUA QUANG TRUNG SANG TRUNG HOA NĂM 1790?


Xưa và Nay:

Có thực người sang Trung Hoa năm 1790 

là hoàng đế Quang Trung? 

Nguyễn Thanh Tuyền
Vài trao đổi với học giả Nguyễn Duy Chính
 


Năm 2016, Nhà xuất bản Văn hóa –  Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cho ra mắt bạn đọc quyển sách nhan đề Giở lại một nghi án lịch sử “Giả Vương nhập cận” – Có thực người sang Trung Hoa là vua Quang Trung giả hay không? của học giả Nguyễn Duy Chính. Tác giả là người rất đam mê khám phá lịch sử Việt Nam thời cổ. Với vốn ngoại ngữ (Anh, Pháp) thành thạo và khả năng Hán học  vững vàng, Nguyễn Duy Chính đã dành nhiều tâm sức tìm hiểu, làm rõ  một số khía cạnh của lịch sử Việt Nam thời trung đại, đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ XVIII liên quan đến vương triều Tây Sơn. Quá trình tìm hiểu, khám phá sử Việt của ông được cụ thể hóa thành nhiều bài viết đăng trên Tạp chí Xưa&Nay, được  xuất bản thành nhiều đầu sách khác nhau. Đó là  điều đáng trân trọng về một người  đầy tâm huyết  với khoa  học lịch sử, có ý thức tìm về cội nguồn, dụng tâm soi sáng các vấn đề lịch sử bằng những nguồn tài liệu mới và hiếm quý.

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

VÀI TRAO ĐỔI QUANH CHUYỆN HƯỚNG DẪN ÔNG OBAMA THĂM CHÙA

Giáo sư Dương Ngọc Dũng giải thích cho Tổng thống Obama về ý nghĩa
 của việc thắp ba cây nhang. Ảnh: Hải An.

Lời dẫn của Tễu Blog: Báo Zing.vn đăng bài “Người hướng dẫn ông Obama ở chùa Ngọc Hoàng kể gì?” vào ngày 25/05/2016, viết về tiến sĩ khoa Tôn giáo học Dương Ngọc Dũng là người hướng dẫn ông Obama ở chùa Ngọc Hoàng.


Ông Dương Ngọc Dũng tốt nghiệp Thạc sĩ khoa Đông Á học tại Đại học Harvard (Mỹ) năm 1995, tốt nghiệp Tiến sĩ khoa Tôn giáo học tại Đại học Boston (Mỹ) năm 2001, tốt nghiệp MBA của United Business Institute (Bỉ) năm 2007.

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

VỀ VIỆC ÔNG BAN KI MOON THĂM NHÀ THỜ VÀ BÁI TỔ HỌ PHAN


TRAO ĐỔI VỚI ÔNG TRẦN THẾ KỶ:
Về việc ông Ban Ki Moon thăm nhà thờ và bái tổ họ Phan
ở Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội

Phùng Hoài Ngọc 

Nhân đọc bài viết của ông Trần Thế Kỷ “Tin nên tin: Nếu ông Ban Ki Moon là anh hốt rác” đăng trên VNTB (Việt Nam Thời Báo) ngày 15/11, chúng tôi thấy ông Kỷ đã hiểu lầm lung tung. Vậy xin có mấy lời trao đổi cùng tác giả.

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

THẢO LUẬN VỚI GIÁO SƯ LIAM C KELLEY VỀ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH

THẢO LUẬN VỚI GIÁO SƯ LIAM C KELLEY 
VỀ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH

Hà Văn Thùy 


Ông Hà Văn Thùy
Từ Cali, nhà nghiên cứu Việt Nhân Nguyễn Cảnh Hậu chuyển cho tôi bài viết của Giáo sư L.C.Kelley về học giả Kim Định, qua bản dịch của Trà Mi, nhan đề: “Sử gia lớn nhất (không ai biết đến/không được công nhận) của Việt Nam.”* Ông không quên kèm theo nhận xét: “Ông này chỉ mới nhận được cái ngọn mà chưa hiểu tận cái gốc của Con Người và Tinh thần Dân tộc Việt Nam. Kim Định nhờ tinh thần triết học Đông phương tức là triết lý An Vi mới khai quật lên được nền Văn hoá độc đáo Việt Nam. Kim Định không phải là một sử gia.”

Đồng ý với nhà Kim Định học lão thành, tôi cho rằng, Kim Định không phải là sử gia. Bởi lẽ, mở đầu cuốn sử của mình, ông viết: “ Sống sót sau bốn lần băng giá, khoảng 500.000 năm trước, loài người tập trung ở phía nam dải Thiên Sơn. Những người đi về phía tây trở thành tổ tiên người da trắng. Người đi về phía đông trở thành tổ tiên các tộc người Việt, Hán, Hồi, Mông, Mãn. Người Việt theo ngọn sông Dương Tử vào chiếm 18 tỉnh của Trung Quốc. Người Hán theo phương thức du mục lang thang trên cao nguyên Thanh Hải lúc đó còn là phúc địa. Về sau vượt sông Hoàng Hà vào chiếm đất của người Việt…” “Người Hán đuổi người Việt chạy có cờ qua sông Dương Tử rồi quay về chế ra chữ Việt bộ Tẩu phỉ báng người Việt.”

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Mai Thái Lĩnh: THÁC BẢN GIỐC - NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ

Thác Bản Giốc - Những căn cứ pháp lý
(Phản biện bài trả lời của ông Trần Công Trục [1])

Mai Thái Lĩnh

Trước hết, tôi ghi nhận thiện ý của ông Trần Công Trục khi ông viết: “tôi mong muốn thông qua quá trình trao đổi, đối thoại để thu hẹp khoảng cách trong nhận thức xã hội về vấn đề chủ quyền lãnh thổ sao cho có lợi nhất cho công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hợp pháp của quốc gia, dân tộc, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông ngày càng gia tăng và tiềm ẩn những nhân tố khó lường.”

Tuy nhiên, để có thể “thu hẹp khoảng cách” trong nhận thức của xã hội về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, chúng ta không thể dựa trên ý chí của từng cá nhân, từng nhóm người hay thậm chí dựa trên ý chí của một đảng chính trị – cho dù đảng đó đang nắm giữ bộ máy Nhà nước. Khoảng cách đó chỉ có thể được thu hẹp và tạo nên sự đồng thuận một khi dựa trên quyền lợi chung của toàn dân tộc, và nhất là phải tôn trọng sự thật. Ngày nay, với phương tiện truyền thông có tính toàn cầu, không thể bưng bít sự thật hay tìm cách khuôn sự thật theo ý muốn của một cá nhân hay một nhóm người nào cả.

Về những bằng chứng lịch sử liên quan đến Thác Bản Giốc, tôi có một cách nhìn hoàn toàn khác với ông Trần Công Trục, bởi vì đối với đường biên giới Việt-Trung – vốn là một đường biên giới có lịch sử lâu đời và có liên quan đến sự tồn vong của dân tộc ta, đất nước ta, không thể không đề cập đến phương diện lịch sử. Hơn thế nữa, những bằng chứng lịch sử đó có từ rất lâu – trước khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền trên toàn miền Bắc, thậm chí trước khi Đảng Cộng sản ra đời, vì thế không thể nói rằng đó là kết quả của “hệ thống tài liệu tuyên truyền chính thức” trong giai đoạn cuối thập niên 1970 – khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Chính vì lẽ đó, tôi đã giới thiệu lại các bài viết của ông Diệp Đình Huyên (tức Hàn Vĩnh Diệp) để chứng minh rằng “Thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc về Việt Nam” từ rất lâu và suốt trong thời kỳ quan hệ giữa hai nước vẫn còn hữu hảo, phía Trung Quốc không hề thắc mắc gì về “sự thật” này. Hơn thế nữa, nếu Việt Nam thật sự là một quốc gia dân chủ bảo đảm đầy đủ quyền tự do ngôn luận cho mọi công dân thì sẽ có rất nhiều người noi gương ông Diệp Đình Huyên sẵn sàng đứng ra làm nhân chứng cho “sự thật” đó.

Trong phạm vi của bài phản biện này, tôi tạm thời gác lại khía cạnh lịch sử của chủ đề “Thác Bản Giốc”, để tập trung bàn về những căn cứ pháp lý.

1) Tại sao các tài liệu liên quan đến Thác Bản Giốc và Cồn Pò Thoong không được mang đi đàm phán?

Ông Trần Công Trục viết: “Về nguyên tắc chung tôi đã nói rõ trong bài phỏng vấn ngày 3/9 trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam cũng như nhiều lần đã phân tích, các tài liệu ông Lĩnh nêu ra trên đây mặc dù là tài liệu chính thức của các cơ quan nhà nước Việt Nam ban hành công khai và rộng rãi thời kỳ những năm 1979 nhưng không được xem là “căn cứ pháp lý” được thỏa thuận để làm cơ sở giải quyết tranh chấp biên giới phía Bắc, vì rõ ràng các tài liệu này không phải là bộ phận cấu thành của Công ước Pháp – Thanh 1887, 1895 mà 2 nước Việt Nam, Trung Quốc đã thỏa thuận lấy làm căn cứ pháp lý để hai bên tiến hành hoạch định biên giới.”

Như vậy, theo ông Trục, các tài liệu này không được sử dụng vì “không phải là bộ phận cấu thành của Công ước Pháp – Thanh 1887, 1895 mà 2 nước Việt Nam, Trung Quốc đã thỏa thuận lấy làm căn cứ pháp lý để bai bên tiến hành hoạch định biên giới.”

Thế nhưng, việc lấy hai công ước Pháp-Thanh 1887 và 1895 để làm cơ sở đàm phán trong vấn đề biên giới không phải là điều mới mẻ. Theo cuốn VĐBG (Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc) [2] thì vào năm 1977, để phá vỡ thế bế tắc trong đàm phán biên giới, phía Việt Nam đã đưa ra một “dự thảo hiệp định” [3], trong đó điều 1 có nội dung như sau:

[Điều 1] Hai bên chính thức xác nhận đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hoạch định và cắm mốc theo các văn kiện về biên giới ký kết giữa Chính phủ Cộng hoà Pháp và Chính phủ nhà Thanh Trung Quốc là đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. 

Các văn kiện biên giới đó gồm có: (1) Công ước về hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ký ngày 26 tháng 6 năm 1887, với các biên bản và bản đồ hoạch định kèm theo. (2) Công ước bổ sung Công ước về hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ngày 26 tháng 6 năm 1887, ký ngày 20 tháng 6 năm 1895, với các biên bản và bản đồ hoạch định kèm theo. (3) Các biên bản và bản đồ cắm mốc thực hiện hai Công ước nói trên ký kết từ ngày 15 tháng 4 năm 1890 đến ngày 13 tháng 6 năm 1897, ngày hoàn thành việc cắm mốc đoạn đường biên giới giữa Bắc Kỳ (Việt Nam) và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Trong các điều khoản sau đây, các văn kiện về biên giới nói trên được gọi tắt là “ Công ước 1887 và Công ước 1895”.

Nội dung này không có gì khác với “nguyên tắc chung” mà ông Trần Công Trục nêu ra.

Vấn đề đặt ra là: tại sao dựa vào điều khoản căn bản đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam vào cuối thập niên 1970 vẫn có đủ căn cứ pháp lý để khẳng định rằng phía Trung Quốc đã “vi phạm ngày càng nghiêm trọng sự thoả thuận đó và không tôn trọng nguyên tắc giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, và đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở 90 điểm trên toàn tuyến biên giới Việt Trung từ 1949 đến nay.”? [4] Bất cứ ai đọc được điều này cũng có thể đặt câu hỏi: Bộ Ngoại giao Việt Nam vào thời kỳ đó đã căn cứ vào hệ thống bản đồ nào và những chứng cứ pháp lý nào để khẳng định Trung Quốc vi phạm đường biên giới?

Mặt khác, ông Trần Công Trục lại viết: “Tôi không phủ nhận những giá trị của các tài liệu chính thức của ta mà ông Mai Thái Lĩnh đề cập, nhưng nó chỉ có giá trị trong thời điểm đó và bối cảnh đó, những tài liệu như vậy không thể mang đi đàm phán.”

Điều này quả thật rất khó hiểu. Hãy lấy một ví dụ: các tài liệu chứng minh “vào năm 1976 Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm cồn Pò Thoong – một địa điểm hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam” thì cho dù vào năm 1979 hay vào năm 1999 cũng đều có giá trị như nhau chứ sao lại “chỉ có giá trị vào năm 1979” và đến thập niên 1990 lại “không thể mang đi đàm phán”?

Để hiểu rõ vấn đề này, có lẽ chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa của các tài liệu mà tôi nêu ra trong bài “Sự thật về Thác Bản Giốc”:

- Tài liệu 1 về việc Trung Quốc đã “sửa bản đồ” vào năm 1955-56 để âm mưu chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc: đây chính là bằng chứng về việc Trung Quốc đã sửa chữa bản đồ, làm sai lạc vị trí của cột mốc 53; nói cách khác qua tài liệu này chúng ta được biết cột mốc 53 nằm ở vị trí khác chứ không phải nằm ở vị trí của cột mốc 835 (mới) hiện nay (xem bản đồ – hình 1 và hình 2):

15.png
Hình 1: Sơ đồ Thác Bản Giốc được phân chia lại


Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

ĐÃ CÓ ĐỦ CĂN CỨ PHÁP LUẬT CHO SỰ RA ĐỜI CỦA NHỮNG CHÍNH ĐẢNG MỚI

CÓ ĐỦ CĂN CỨ PHÁP LUẬT CHO SỰ RA ĐỜI 
CỦA NHỮNG CHÍNH ĐẢNG MỚI 

Phạm Đình Trọng

Nhà văn Phạm Đình Trọng
Trả lời phóng viên đài BBC, ông giáo sư Vũ Minh Giang, thành viên hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: “Đề xuất việc thành lập đảng chính trị, nhất lại là đề xuất của những người đang là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam thì đấy là nguyện vọng nào đó, mong muốn nào đó của cá nhân hay nhóm cá nhân nào đó...nhưng mong muốn đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật... Theo hiểu biết của tôi thì chưa có hệ thống (pháp luật) đó” Và “Nhiều thành phần kinh tế phải có đa nguyên đa đảng chỉ là logic hình thức”. *

Ấp úng, quanh co, ông giáo sư trong Hội đồng lí luận Trung ương nói rất dài cũng chỉ đưa ra một nội dung rất ngắn và hồ đồ là: Chưa có căn cứ pháp lí cho việc thành lập chính đảng mới.

Thưa nhà lí luận của Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam, giáo sư Vũ Minh Giang.

Với một thể chế, một xã hội lành mạnh và tử tế thì Nhà nước và pháp luật được hình thành theo một qui trình: Nhân dân lựa chọn và bầu cử ra những người quản lí xã hội được gọi là Nhà nước và Nhân Dân trao quyền cho Nhà nước để thực hiện chức trách trước Nhân Dân.

Kẻ có quyền thường lạm quyền để vụ lợi và áp bức người Dân thân cô thế yếu. Từ đó pháp luật phải ra đời. Nhà nước lại được người Dân ủy quyền soạn thảo ra pháp luật để quản lí xã hội và điều quan trọng hơn cả của pháp luật là ngăn chặn sự lạm quyền của kẻ cầm quyền để bảo vệ người Dân thấp cổ bé họng. Để bảo vệ người Dân, nguyên tắc thực thi pháp luật là: Quan chức chỉ được làm những việc pháp luật cho phép còn người Dân được làm mọi việc pháp luật không cấm.

THƯA GS. VŨ MINH GIANG, ĐẢNG CSVN HOẠT ĐỘNG TRÊN CƠ SỞ PHÁP LÝ NÀO?

 
Thưa ông Vũ Minh Giang,  
Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trên cơ sở pháp lý nào?*
Hoàng Xuân Phú
Hiến pháp 1992 có năm lần nhắc đến từ "Đảng", trong đó có ba lần ở "Lời nói đầu“, hai lần đề cập đến lịch sử và công lao của Đảng CSVN, lần thứ ba trong câu:
"Hiến pháp này... thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Hai lần còn lại là ở Điều 4, nguyên văn như sau:
"Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Như vậy, mặc dù Hiến pháp 1992 khẳng định "Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, nhưng trong toàn bộ văn bản Hiến pháp không có quy định cụ thể nào về khuôn khổ mà Đảng CSVN được phép hoạt động, và cho đến nay vẫn chưa có "Luật về Đảng“ (hay tương tự) để quy định về quyền hạn, trách nhiệm, phạm vi và hình thức hoạt động của Đảng, cũng như hình thức xử lý khi tổ chức Đảng vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Rõ ràng, xét về lô-gíc, tính hợp pháp của việc "Công dân... biểu tình theo quy định của pháp luật“ khi chưa có Luật biểu tình không hề yếu hơn so với tính hợp pháp của việc "Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật“ khi chưa có "Luật về Đảng“. 
Vậy thì quý vị có cho là Đảng CSVN phải... đợi đến khi cóLuật về Đảng“ hay không?
*Đầu đề do T-blog đặt
 Trích trong bài Quyền Biểu tình của công dân của GS. Hoàng Xuân Phú

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

TRAO ĐỔI VỚI GS. VŨ MINH GIANG, NGUYÊN PGĐ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HN - BÀI 3

 
Trao đổi với Giáo sư Vũ Minh Giang: 
Cơ sở pháp lý cho phép việc thành lập
các chính đảng mới ở Việt Nam

Đào Tiến Thi

Trong trả lời BBC mới đây, GS. Vũ Minh Giang nói: “Hiện chưa thấy có cơ sở pháp lý nào để cho phép việc thành lập các chính đảng mới ở Việt Nam”.

GS. Vũ Minh Giang dùng chữ “cho phép” như trên khiến nhiều người cảm thấy phản cảm, vì liên hệ ngay đến cái cơ chế “xin cho” tồn tại lâu nay trong chế độ XHCN ở Việt Nam. Chính vì thế GS. Ngô Đức Thọ và nhà văn Phạm Đình Trọng đã phản ứng tức thời.

Lẽ dĩ nhiên Đảng CSVN chẳng bao giờ muốn một lực lượng khác bên cạnh mình. Nhưng muốn là một chuyện, còn điều muốn đó có hợp thức hay không, tốt xấu thế nào lại là chuyện khác. Bởi vì Hiến pháp hiện hành cũng như Điều lệ Đảng hiện hành đều ghi nguyên tắc của Đảng: “hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. 

Cho nên muốn kết tội tổ chức nào đó “bất hợp pháp” thì, về mặt chính danh (chỉ nói mặt chính danh thôi, chứ nếu bất chấp thì không có gì để bàn), cũng không thể qua mặt Hiến pháp và pháp luật. 

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

TRAO ĐỔI VỚI GS. VŨ MINH GIANG, NGUYÊN PGĐ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HN

Về ý kiến của ông GS Vũ Minh Giang trên BBC
Ngô Đức Thọ

Do PV BBC mà ông  GS Vũ Minh Giang trở thành người đầu tiên của ĐCS lên tiếng về Lời kêu gọi thành lập Đảng XHDC VN do các ông Lê Hiếu Đằng- Hồ Ngọc Nhuận đề ớng! Chắc hẳn đó là do cái "tính Đảng" nhạy bén của ông Giang, chứ lãnh đạo cấp cao thường đọc “châm rãi”, chưa có thì giờ để phân công cho ai phản hồi ! Theo tôi,̀ có lẽ không phải ông Giang nói loanh quanh đâu. Hai ông đề xuất lập Đảng XHDC để hoạt động đối lập với ĐCSVN, nhất là bài ông Hồ Ngọc Nhuận kêu gọi Phá Xiềng-đã gồng người lên để phá xiếng mà còn phải tìm cơ sở pháp lý của ĐCS thì còn nói phá cái gì ? Tất nhiên là trong Hiến Pháp hiện hành  (chưa sửa đổi) vẫn đã có quyền lập hội, nhưng ngay cả không có hoặc bỏ quyền ấy đi, ai thấy cần người ta cứ lập. Ông Giang chưa biết mấy người đề xướng kia ứng phó ra sao với nhà cầm quyền, có thể không cần phải khúm núm đội đơn đi xin phép, nhưng các nhà khởi xướng sẽ có một cách nào đó hợp hiến, hợp pháp để thông báo cho chính quyền sở tại biết hoạt động quang minh chính đại của họ thì sao? Chưa gì ông Giang quá lo xa (cho họ?), liên tục truy vấn :  “Căn cứ pháp lý đâu?” “Căn cứ pháp lý đâu?”. Bảo người ta phải chờ hoặc mang đơn từ lễ vật đi van nài hưởng ơn “ xin - cho” để có “căn cứ pháp lý", thì thà ngủ khèo đến mùa quýt cho khỏe!  Có "căn cứ pháp lý"  rồi về lập "đảng mới " làm "quân xanh quân đỏ" cho ĐCSVN ư? Đã có ông GS  Vũ Minh Giang mở đầu, vài ngày hay vài tuần tiếp theo chắc sẽ cấp tập xuất hiện đủ mọi "khuôn mặt", từ tầm tầm đến “nổi”danh dày dạn sẽ  liên tục chửi rủa, vu khống bôi nhọ những người đề xướng, mà bài mẫu  vẫn là câu  truy vấn “Căn cứ pháp lý đâu?”mà ông GS Vũ Minh Giang đã dùng trong bài PV đài BBC vừa rồi. 

PV Quốc Phương phỏng vấn ông Giang sớm thế là muốn thăm dò xem giới Đại học VN có cảm đông đậy gì về vấn đề nóng sốt nhạy cảm bậc nhất này không? Than ôi, cứ tìm mấy người như ông Vũ Minh Giang mà PV thì còn khuya mới thấy có gì cảm động đậy! 
17-8-2013