Blogger Widgets

Thứ ba, ngày 24 tháng một năm 2012

Nguyên Ngọc: CON RỒNG ĐÁ KỲ LẠ Ở CHI NHỊ

Con rồng đá kỳ lạ ở Chi Nhị
Nhà văn Nguyên Ngọc

Năm 1993, trước ngôi nghè Chi Nhị, nơi thờ thái sư Lê Văn Thịnh triều Lý, ở thôn Bảo Tháp, làng Thị Xá, xã Cách Bi, huyện Quế Võ, Bắc Ninh, cách cổng nghè chừng vài chục mét, chắc là do mưa gió (thậm chí mới đó mà đã thành truyền thuyết: qua một đêm mưa to gió lớn chưa từng có …) bà con lối xóm bổng thấy nhô lên một mõm đá, moi ra đôi chút thì đoán có thể là bộ phận của một khối hay một tượng đá lớn. Người ta đã rất cẩn thận đào đất chung quanh, thậm chí không dùng đến cuốc xẻng, chỉ lấy tay moi từng chút một. Cuối cùng, lộ ra một tượng rồng khổng lồ. Có lẽ là pho tượng rồng kỳ lạ nhất, chưa từng thấy kiểu tượng rồng nào giống thế, đẹp nhất, không chỉ ở nước ta. Làng liền cho đốn tre, lấy toàn cật tre già tết thành thừng to như cổ tay, 18 trai tráng lực lưỡng khiêng làm 9 đòn, hè lớn một tiếng mới nhấc được khối đá khổng lồ lên khỏi mặt đất, nhưng bà con bảo, thật lạ, sau đó lại thấy nhẹ bâng, cứ thế trân trọng và thong thả rước “Ngài” vào nghè, và lập miếu thờ. Tượng rồng vừa phát lộ ắt liên quan trực tiếp đến vị thành hoàng được thờ trong chính nghè này, thái sư Lê Văn Thịnh.

Lê Văn Thịnh, ai có quan tâm đến sử đôi chút hẳn đều biết, là nhân vật có lẽ có số phận cũng kỳ lạ nhất ở nước ta, qua gần một nghìn năm mà sự đánh giá của người đời vẫn chưa xong, vụ kỳ án của ông gần suốt một thiên niên kỷ vẫn còn được phán xét theo hai cách hoàn toàn đối lập. Ông sống âm thầm trong lòng kính trọng và thương yêu của nhân dân, “dân đen”. Nhưng không chỉ những bộ lịch sử trịnh trọng của các sử gia bệ vệ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam sử lược đều nhất loạt lên án ông nặng nề, mà đến một tác giả sân khấu hiện đại tài ba và nghiêm túc là Tào Mạt cũng liệt ông vào hàng phản diện xấu xa trong các vỡ chèo lịch sử nổi tiếng và rất phổ biến của mình. Còn ông, gần một thiên niên kỷ, thì vẫn nằm đó, dấu mình sâu dưới lòng đất quê hương, cho đến sau khi Tào Mạt đã mất được mấy năm mới chịu hiện lên cho trai tráng làng Bảo Tháp moi đất tìm ra và đưa trở lại với đời. Tôi nói vậy bởi pho tượng rồng kỳ lạ nọ chính là tượng Lê Văn Thịnh. Tượng chân dung của ông, quả vậy.

Vậy Lê Văn Thịnh là ai và vụ kỳ án của ông là thế nào?

Năm Canh Tuất 1070, vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu, trường đại học đầu tiên của nước ta ở Thăng Long. Năm năm sau, Ất Mão 1075, vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Minh Kinh Bác Sĩ và Nho Học Tam Trường. Lê Văn Thịnh, sinh năm 1050 ở làng Đông Cữu, huyện Gia Lương, Bắc Giang, đi thi và đổ đầu, là vị trang nguyên đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, được tôn là “Trạng khai khoa”. Ông được vời vào cung dạy vua, vị vua đó chính là Lý Nhân Tông. Rồi thăng chức Thị lang Bộ Binh. Con người ấy không chỉ văn võ toàn tài, còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất. Năm Canh Tuất 1076, nhà Tống sai Quách Quỳ “đem quân 9 tướng”, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp, xâm lấn nước ta để trả thù việc Lý Thường Kiệt đã từng tấn công các châu Ung, Liêm, Khâm của nhà Tống, như một đòn đánh phủ đầu chặn trước mưu đồ tiến binh của đối phương. Lần này, trên chiến tuyến sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt lại đánh tan Quách Quỳ. Quân Tống tháo chạy nhưng lại chiếm lấy châu Quảng Nguyên, tức Cao Bằng, Lạng Sơn ngày nay. Năm 1078, vua sai Đào Tống Nguyên sang đòi, nhà Tống đồng ý trả lại phần lớn đất đai, nhưng ngoan cố giữ những vùng đất đai mà thổ dân địa phương đã dâng cho họ, gồm cả hai động Vật Dương và Vật Ác. Lần này, năm 1084 đến lượt thị lang Bộ Binh Lê Văn Thịnh đi đòi. Ông đến tận trại Vĩnh Bình, cùng bàn việc cương giới với người Tống. Họ bám lấy đất đã cướp, lấy cớ là của thổ dân tự ý đem nộp chứ không phải do họ chiếm. Lê Văn Thịnh dõng dạc biện luận cùng Thành Trạc, sứ giả nhà Tống: “ Đất thì có chủ, các quan viên giữ đất ấy đem nộp cho người khác và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Sự chủ giao mà lấy  trộm đã không tha được, mà trộm của hay “tàng trữ” thì luật pháp cũng không cho phép, huống chi nay lại mang đất lấy trộm dâng để làm dơ bẩn sổ sách nhà vua”.  Lý lẽ ràng buộc chặt chẽ khúc chiết, đến luật pháp hiện đại hẳn cũng chỉ rành rọt được đến thế, mà lại còn mắng thẳng vào mặt sứ thần một nước lớn, cay đến gan ruột mà khéo léo vô cùng. Quả khoa thi đại học đầu tiên của nước Việt đã chọn thật đúng một vị trang nguyên khai khoa! Nhà Tống buộc phải trả 6 huyện 3 động, mà còn lấy làm rất xấu hổ …

Về sau, Lê Văn Thịnh được thăng làm thái sư, ở chức đến 12 năm, cho đến khi nổ ra vụ án hồ Dâm Đàm. Dâm Đàm tức Hồ Tây ngày nay. Tháng 3 năm Bính Tý 1096, vua Trần Nhân Tông cùng thái sư đi thuyền chơi hồ, xem đánh cá. Bổng nhiên sương mù nổi lên dày đặc, rồi có tiếng chèo rào rào của một chiếc thuyền xáp đến. Vua cầm giáo phóng, thì sương tan, trên chiếc thuyền xáp đến nọ thấy một con hổ chực vồ vua. Có người chài lưới là Mục Thận quăng lưới chụp lấy, thì trong lưới hoá ra lại chính là … Lê Văn Thịnh! Ông bị bắt ngay, lẽ ra phải tội tru di, nhưng vua xét người có công, “thương tình” cho đi đày biệt xứ, đến tận ngày qua đời …

Lịch sử đôi khi cũng rất buồn cười, nếu không là xàm bậy. Ngay tác giả Khâm định Việt sử thông giám cũng không hề ngần ngại giải thích vụ án hồ Dâm Đàm: “Văn Thịnh có tên gia nô người nước Đại Lý (một địa phương đâu đó ở bên Tàu). Tên này có pháp thuật lạ, nhân đó Văn Thịnh manh tâm mưu sự khác …”. Gần một nghìn năm trước, một vụ dựng chuyện bỉ ổi trắng trợn đến thế để hại một người tài ba lỗi lạc kể cũng chẳng phải lạ. Nhưng vẫn còn câu hỏi: Vì sao chính Lý Nhân Tông, học trò của Lê Văn Thịnh, lại manh tâm trừ khử ngay người thầy của mình? Trong nhiều cách giải thích, tôi đặc biệt chú ý một lý giải: Thời đó bên Trung Quốc có phái biến pháp, gọi là Tân pháp, do Vương An Thạch đứng đầu, đề xuất chủ trương cải cách toàn diện chế độ kinh tế - xã hội – quân sự. Cuộc vận động lớn này thất bại do phần đông các đại thần trong triều bị động chạm lợi ích kịch liệt chống lại. Vương An Thạch rốt cuộc phải về vườn sớm. Có phải thái sư Lê Văn Thịnh, con người kinh bang tế thế, có hiểu biết rộng xa, có tầm nhìn lớn, từng biết đến cuộc cải cách ở nước láng giềng, và cũng đã nung nấu những ý tưởng nào đó về một con đường đi mới cho dân tộc mình? Nghĩa là, gần một nghìn năm trước, từng có một cuộc đổi mới lớn đã bị nhấn chìm tàn nhẫn ở Hồ Tây, một người anh hùng kiệt xuất của dân tộc, một con rồng Việt anh minh đã từng bị chết đứng tại đây, nơi nay hằng ngày ta vẫn dửng dưng đi qua mà nào có hay? …

Có một người nghệ sĩ vô danh, không biết tự bao giờ - có người bảo là ngay vào thời Lý, có người lại bảo ấy là vào thời Hậu Lê - đã quyết định thể hiện hình tượng con rồng vĩ đại ôm mối hờn oan ngàn năm ấy, để lại cho muôn đời. Hôm tôi đến nghè Chi Nhị, có cả nhà sử học nổi tiếng Lê Thành Khôi cùng đi. Ông bảo suốt cuộc đời nghiên cứu và sưu tầm của ông, chưa bao giờ được thấy một pho tượng rồng độc đáo đến thế. Ấy là một con rồng lớn, khoanh mình thành hình tròn, đường kính đến hơn một mét, thân hình vạm vỡ, lớp lớp vảy dày và lớn, đầu rồng nhô lên cao mà lại cúi xuống, miệng rồng răng rất sắc tự cắn sâu vào chính thân mình, sâu ngoắm, đến chừng có thể toé máu, chân rồng móng vuốt nhọn hoắc tự bấu vào da thịt chính mình, như muốn tự xé nát chính thân mình, sâu đến tận ruột gan. Có lẽ trong lịch sử nghệ thuật Đông Tây, chưa bao giờ nổi oan câm lặng nghìn năm của con người lại được thể hiện quyết liệt, dữ dội đến thế. Vậy mà vẫn còn chưa thôi. Hai tai rồng, được tạc rất rõ, bên tai phải rổng, thông, tai trái lại bịt kín. Dường như từ nghìn năm trước, con người tài ba xuất chúng mà số phận đau thương đó đã dự liệu được bao tiếng thị phi của các thế hệ nối tiếp người đời, ông muốn chỉ nghe một nửa, một nửa khinh bỉ gạt ra ngoài tai. Kể cả những phán quyết đầy quyền uy của những kẻ được thời thế đưa lên làm chủ lịch sử, cho đến tận ngày nay.

Người nghệ sĩ vô danh đã tạc nên pho tượng kỳ lạ này là ai vậy? Đương nhiên hẳn ông vô cùng ngưỡng mộ người anh hùng Lê Văn Thịnh và đồng cảm vô cùng sâu sắc với nổi oan muốn xé tung trời đất của người xưa. Nhưng có phải chỉ có vậy? Nghệ thuật bao giờ cũng thế, nó cần những nguyên mẫu, nhưng là để nói về cả cái nhân quần rộng lớn, những nổi đau lớn của con người chân chính suốt lịch sử trường tồn của giống loài. Con rồng đá Chi Nhị là một tác phẩm như vậy. Đấy là bức tượng chân dung kỳ lạ của một con người, vị thái sư tài ba và hàm oan Lê Văn Thịnh. Mà cũng là chân dung của Con Người. Con Người tự cắn xé đến muốn nát chính thân mình, trong quá trình đau khổ biết bao để có được một cuộc sống làm người cho ra Người.

*Bài do tác giả gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn nhà văn Nguyên Ngọc.

-->đọc tiếp...

CHÙM THƠ KHAI BÚT XUÂN NHÂM THÌN CỦA ĐỘC GIẢ BỐN PHƯƠNG

Nguyễn Xuân Diện-Blog trân trọng giới thiệu:
Chùm thơ Khai bút đầu Xuân Nhâm Thìn:

Hạ Thái Trần Quốc Phiệt:
KHAI BÚT NĂM NHÂM THÌN

Khai bút tân niên quyết vẽ rồng
Vươn mình bay lượn giữa tầng không
Phun châu nhả ngọc trời trong sáng
Thâu gió đùn mây cảnh hạnh thông
Tiễn bước sơn hà qua khổ nạn
Tháo chân hiền sĩ khỏi oan còng
Bức tranh thi họa càng tao nhã
Treo khắp muôn phương mới thỏa lòng.
Jan- 23-2012.
Mồng một Tết Nhâm Thìn
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt

Ưng Sơn Hạ:
Ngoái về quá khứ - Hướng tương lai
Phải có "TẦM NHÌN" suốt cả hai
Ôn cố tri tân xây dựng NƯỚC
Huy hoàng sẽ đến với ngày mai
Chùm thơ nữ sĩ Trần Lệ Khánh gửi từ bến Ninh Kiều:
GIÓ XUÂN

Cây trái cựa mình bật sắc xanh
Muôn hoa đón gió nở tươi cành
Bừng lên vạn vật trào hương sắc
Ngàn tía muôn hồng họa bức tranh.

MƯA XUÂN
Mưa theo cùng nắng gió vào xuân
Ấm áp muôn lòng khắp thế nhân
Tổ quốc quê hương tràn sức sống
Cỏ cây hòa quyện tiếng chim ngân.

NẮNG XUÂN
Nắng chiếu cờ hồng bay ngất ngây
Công – Nông –Binh – Trí nối vòng tay
Nhâm Thìn vận hội phong vân tiếp
Chim Việt vươn tầm sải cánh bay.

Trần Lệ Khánh
Chùm thơ Kính họa thơ cụ Nguyễn Trọng Vĩnh:
XUÂN KHÍ
Cao tuổi lại càng chí khí cao
Lão già tỏa sáng một ngôi sao
Tấm thân muôn dặm còn nguyên vẹn
Cốt cách mười phân đáng tự hào
Ích Nước mưu cầu nền độc lập
Vì dân gánh vác việc binh đao
Sơn Hà Xã Tắc xuân chưa trọn
Còn phải xông pha bút ngại nào
Ưng Sơn Hạ


Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Chín sáu tuổi đời, kể đã cao,
Đau lưng, mỏi gối cũng không sao.
Thương dân, mắt sáng xua tăm tối,
Yêu nước, lòng son đáng tự hào.
Sông núi nguy nan, cầm vũ khí,
Quê hương yên ổn, cất gươm đao.
Nhìn ra xã hội, còn trăn trở,
Ngọn bút xông pha, chẳng ngại nào.
23-1-2012 (1 tết Nhâm Thìn)
Phan Liên Khê (Thượng tá Cựu chiến binh, thành phố Hồ Chí Minh)

Kính tặng lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Mười năm đi sứ ở bên Tàu,
Biết rõ ngọn ngành cuộc bể dâu.
Cố đế bá quyền nghìn kế hiểm,
Thâm căn bành trướng vạn mưu sâu.
Miệng hô “đồng chí” tươi trên mặt
Tay đấm “anh em” vỡ cả đầu.
Dân Việt xưa nay không khuất phục
Đã từng giáng trả những đòn đau.
Trọng Nghĩa (Tp Hồ Chí Minh)

-->đọc tiếp...

THƠ VIẾT TRƯỚC GIAO THỪA - thơ Trần Trương

Thơ viết trước giao thừa…
Trần Trương

Gió đổ rét về làng, về phố những ngày cuối năm
Biển đổ sóng dìm con tàu Vinaline Qeen xuống biển
Ở Tiên Lãng có một ngày hắc ám
Cuộc mưu sinh bình dân mà hóa nỗi kinh hoàng…

Trong “cung điện” người ta đang nói biết bao điều tâm huyết
Những “cung chúc tân xuân” nặng trĩu lá phong bì
Những cuộc cờ cá cược cả đời mình vào một cô bán cám
Nhà chất ngất tầng mà dân nghèo vẫn thiếu chỗ nương thân

Đấy là năm CON MÈO mải mê rình chuột
Nhưng chuột bây giờ lại nghễu nghện rung râu
Có phải lỗi “hệ thống”  mà bao con đường tắc nghẽn
Tại ở đường ray, hay tại phía đầu tàu?

Tôi lại nghĩ về cái cống ngầm của Giăng-van Giăng ngày trước
Giữa muôn nỗi bần cùng ,ông vẫn sống vị tha
Lòng thành thật để cứu đời thành thật
Thì dưới cống ngầm ông vẫn có đường ra…

Ta nói đời để nói lòng ta
Không phù phiếm ,không sa hoa lời hứa
Hãy mang đến hòn than để hồng thêm bếp lửa
Hay lại chờ mùa đổi kíp thay ca…?

                                       23g tháng chạp Tân mão-2g ngày 1 tháng giêng Nhâm Dần
-->đọc tiếp...

BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG ĐÓ SAO? - thơ Nguyễn Vũ Tiềm


Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm

Bước đường cùng đó sao?

Đắp đê, ngăn biển, khơi đầm
Mồ hôi nước mắt mấy tầng đất sâu
Khi mờ sáng, lúc đêm thâu
Ngập trong bùn đất dãi dầu nắng mưa
Dầm trong nước mặn đồng chua
Bao năm vật lộn thắng thua với trời.

Chỉ mong góp với cuộc đời
Con tôm hạt thóc nổi trôi nhọc nhằn
Chỉ mong góp với đồng bằng
Một trang chua mặn thành trang mỡ màu.
Chỉ mong thoát cảnh cơ cầu
Đẹp giàu Tiên Lãng là điều ước ao.

Vậy mà không hiểu vì sao
Người nông dân phải lao đao cùng đường
Bàn tay cày cuốc khơi mương
Phải tìm thuốc nổ làm phương cứu mình
Chế lấy súng, tạo ra mìn
Hỡi ôi cốt nhục chi tình hại nhau.

Ai thả lưới, ai giăng câu
Để gây nên cảnh thương đau tù đầy?
 
TP. Hồ Chí Minh giáp Tết Nhâm Thìn

-->đọc tiếp...