Blogger Widgets

Thứ bảy, ngày 17 tháng mười hai năm 2011

Thư giãn cuối tuần: THẬP BÁT BÍ KÍP LIÊN HOÀN CỦA MỘT TIỂU THƯ LỚP 4

Trung Quốc: 
Bé gái lớp 4 vẽ "bí kíp" khi… bị mẹ mắng

Đọc vừa dễ thương và vừa đáng suy ngẫm nữa đấy!

Đầu tháng 12, một cuốn vở học sinh với những bức tranh mang tên “Tuyển tập bí kíp đối phó với mẹ” đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng và được cư dân mạng Trung Quốc nhiệt tình chia sẻ. Mọi người càng bất ngờ hơn khi tác giả chỉ là… hai bé gái lớp 4. Tổng cộng gần 20 bức tranh vẽ và ghi lại các bí kíp đối phó khi bị mẹ mắng đã khiến mọi người rất bất ngờ về cách suy nghĩ của các học sinh nhỏ tuổi.


Phần đầu là lời giới thiệu: “Cuốn sách này đặc biệt dành cho trẻ em từ 6-12 tuổi, những bạn bị mẹ mắng hàng ngày” .

Bí kíp số 1: "Khi mẹ mắng, bạn có thể nhìn vào chỗ khác, nghĩ đến chuyện khác. Đừng để ý, đừng lắng nghe. Mức độ: Mạnh. Không nên áp dụng thường xuyên."

Bí kíp số 2: "Khi mẹ mắng và không cho phép bạn nhìn đi nơi khác, bạn có thể nghĩ đến một lỗi gì đó của mẹ và chỉ trích lại mẹ. Mức độ: Mạnh. Không nên áp dụng thường xuyên."


Bí kíp số 3: "Nếu mẹ dùng hết sức lực chỉ để… mắng, bạn có thể giả vờ khóc (hãy thật cố gắng vào). Mức độ: Nhẹ. Chú ý: phải khóc giống thật. Có thể dùng nhiều lần."

Bí kíp số 4: "Nếu mẹ vẫn mắng, bạn có thể sà vào lòng mẹ và khóc. Mức độ: Nhẹ. Sử dụng thường xuyên được."


Bí kíp số 5: "Nếu mẹ bạn mắng dữ quá, bạn có thể chạy trốn vào phòng. Mức độ: Mạnh hay nhẹ cũng được. Chú ý: nhớ khóa cửa phòng, sau đó khóc cũng được."

Bí kíp số 6: "Nếu mẹ mắng, bạn có thể không nói chuyện với mẹ nữa. Mức độ: Mạnh. Không sử dụng thường xuyên."



Bí kíp số 7: "Sau khi bị mẹ mắng, nếu mẹ hỏi gì bạn, hãy trả lời và nhắm chặt  mắt (cố lên!). Mức độ: Cả mạnh và nhẹ."

Bí kíp số 8: "Sau khi mẹ mắng xong, hãy tỏ ra tức hết sức có thể. Mức độ: Rất nặng. Hãy dùng ít cách này thôi nhé."



Bí kíp số 9: "Khi mẹ đang mắng, bạn có thể nói: Lần sau con sẽ không thế nữa (cứ lo xong lần này đã, lần sau mình... tính tiếp). Mức độ: Nhẹ nhàng thôi."

Bí kíp số 10: "Sau khi mẹ mắng mà vẫn chưa hết giận, bạn có thể viết một tin nhắn và dính nó ở cửa phòng mẹ."


Bí kíp số 11: "Sau khi mẹ mắng, bạn có thể bí mật lẻn vào phòng mẹ làm lành. Mức độ: Bình thường."

Bí kíp số 12: "Sau khi mẹ mắng, nhanh chóng nhặt mấy thứ lặt vặt xung quanh để làm vũ khí phòng thân. Mức độ: Trung bình."



Bí kíp số 13: "Sau khi mẹ mắng, hãy chọc mẹ bằng cách hát những câu buồn cười. Mức độ: Mạnh. Không được dùng thường xuyên."

Bí kíp số 14: "Sau khi mẹ mắng, hãy lăn ngay xuống đất, bịt hai tai lại và nói liên tục: “Con không nghe thấy gì hết, con không nghe thấy gì hết”. Mức độ: Rất mạnh. Không sử dụng thường xuyên."



Bí kíp số 15: "Mẹ mắng dữ quá, bịt tai lại, hét lên “Con biết rồi” và chạy biến đi. Mức độ: Cực cực mạnh. Sử dụng 1, 2 lần là nhiều nhất."

Bí kíp số 16: "Khi mẹ mắng, cúi đầu và im lặng để mẹ nghĩ là mình đã nhận lỗi. Mức độ: Trung bình."



Bí kíp số 17: "Khi mẹ mắng, hét lên rằng "Con sẽ bỏ trốn đây", chạy xuống cầu thang và cầm một số đồ đạc, vừa đi vừa khóc. Mức độ: Nhẹ."

Bí kíp số 18: "Khi mẹ đang mắng, có thể nói “Con không nhịn được nữa rồi, con vào toilet đây” và trốn trong đó. Mức độ: Còn tùy. Tốt nhất nên dùng hạn chế."

Những bức tranh minh họa ngộ nghĩnh cho mỗi "bí kíp".

Khi được hỏi tại sao bé gái này lại vẽ về “bí kíp đối phó với mẹ”, người mẹ đã giải thích rằng: Đó là một hôm bé gái đưa bạn về nhà cùng làm bài tập. Trước đó cô bé vừa bị điểm kém trong bài kiểm tra. Sau khi biết điểm, bà mẹ đã lỡ lời: "Nhìn bạn con mà học tập, con không thấy xấu hổ khi cầm điểm thế này về nhà sao?" Khi bị mẹ so sánh với bạn, cô bé đã có chút tức giận. Hai cô bé đã quyết định vẽ bộ tranh này trong phòng riêng. Những bức tranh ngộ nghĩnh rất dễ thương, vừa khiến các vị phụ huynh phải suy nghĩ lại về cách dạy con của mình.

Teen mình xem để biết và cho vui chứ đừng áp dụng những "bí kíp" này đấy nhé! Tốt nhất là hãy làm sao đừng để bị mẹ mắng, phải không nào? 
-->đọc tiếp...

NGƯỜI CHỊ GÁI CỦA GS NGUYỄN VĂN HUYÊN

Rất mực hiếu học và cần kiệm
Hàm Châu
GS Nguyễn Văn Huyên sinh ngày 16/11/1908 tại phố Thuốc Bắc, Hà Nội; quê chính ở làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, nay thuộc ngoại thành Hà Nội, trong một gia đình viên chức nhỏ. Mồ côi cha từ năm tám tuổi, cậu bé Huyên được mẹ cho đi học chữ Hán với niềm hy vọng sau này cậu sẽ theo nghề ông nội làm thuốc Đông y.

Nho học lụi tàn, “Nào có ra gì cái chữ Nho/ Ông nghè, ông cống cũng nằm co”, cậu Huyên cùng người chị gái là Nguyễn Thị Mão và người em trai là Nguyễn Văn Hưởng được mẹ cho chuyển sang học “trường Tây”.

Mặc dù vậy, mấy năm học chữ Hán không phải là vô ích. Sau này, viết những công trình nghiên cứu Việt Nam học, lúc cần thiết, Nguyễn Văn Huyên thường chú thêm chữ Hán, chữ Nôm Việt, chữ Nôm Tày... để bảo đảm tính chính xác cao và tiện cho việc tra cứu.

Sau khi thi đỗ tú tài phần 1, Nguyễn Văn Huyên cùng Nguyễn Văn Hưởng được mẹ cho sang Pháp học tiếp. Ngày 2/12/1926, hai anh em đến nước Pháp. Thi lấy bằng “tú tài Tây”, Nguyễn Văn Huyên ghi tên theo học tại Đại học Sorbonne, Paris, một trong những trường đại học lâu đời nhất châu Âu.Hai anh em Huyên và Hưởng sống rất cần kiệm. Mùa đông, không có áo dạ khoác ngoài hợp mốt, phải mặc áo bông cũ mẹ khâu từ trong nước gửi ra. Buổi tối, ăn ở một quán nhỏ, có khi mười ngày liền không đổi món, khiến cho cô chủ quán người Pháp rất đỗi ngạc nhiên!

Ngày nghỉ, hai anh em mỗi người một xe đạp đi dạo xem nông dân hái nho, rồi cùng hái với họ, được ăn nho thoải mái, nhưng không có tiền công! Quen đi xe đạp từ dạo ấy, cho nên về sau, trong kháng chiến chống Pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Văn Huyên có thể đạp xe từ Tuyên Quang vào Thanh Hoá chỉ đạo công tác giáo dục Khu 4, rồi lại đạp xe quay trở về Tuyên Quang qua bao nhiêu đèo dốc, ổ gà. Ở trong nước, người chị gái Nguyễn Thị Mão trở thành người phụ nữ Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp môn toán ở Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Bà dạy toán nhiều năm tại Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Trường Trưng Vương, Hà Nội hiện nay), hưởng lương theo ngạch Tây nên rất cao, nhờ vậy mới có tiền gửi sang Pháp giúp hai em trai du học.

Nhưng rồi bà Mão kết hôn với ông Phan Kế Toại, có gia thất riêng, không còn giúp hai em được nhiều. Sau khi đỗ cử nhân luật, Nguyễn Văn Hưởng trở về nước. Nguyễn Văn Huyên vừa tiếp tục học lên cao vừa kiếm sống bằng cách dạy tiếng Việt ở Trường Ngôn ngữ Phương Đông. Tiếng vang của một công trình khoa học lớnNgày 17/2/1934, Nguyễn Văn Huyên trở thành người Việt Nam đầu tiên bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne, Paris. Luận án chính Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam, và luận án phụ Nhập môn nghiên cứu nhà sàn ở Đông - Nam Á. Chủ tịch Hội đồng chấm luận án, GS Vendryès, coi đây là “một sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử Sorbonne”.

Hai bản luận án được Chủ nhiệm Khoa Văn Đại học Paris R. Delachoix và Chủ tịch Viện Hàn lâm Paris S. Charléty tự mình xem lại và duyệt in, ngay sau đó, được Nhà xuất bản Paul Geuthner in thành sách, và nhận được sự hoan nghênh nồng nhiệt của các tạp chí nhân văn ở Pháp, Đức, Hà Lan...

Thi hào và là nhà toán học Pháp nổi tiếng Paul Valéry đánh giá rất cao công trình của nhà nghiên cứu Việt Nam trẻ tuổi. Ông viết:“Tôi thấy trong cuốn sách của ông những thí dụ hình thành thơ ca ở trạng thái nảy sinh. Tôi tìm thấy ở đấy trạng thái bài hát và sáng tác bằng bái hát và bằng nhịp điệu, và tôi nghĩ đến Ronsard đã làm thơ bằng cách dựa vào một cây đàn luth. Tôi cũng nhớ đến bản thân mình đã từng làm nhiều bài thơ xuất phát từ hình tượng nhịp điệu chợt đến và ám ảnh tôi, những hình tượng đó xác định dần dần những “từ” và cuối cùng một “ý”.Tất cả những gì Nguyễn Văn Huyên nói về đối xứng, cân bằng, những nhóm gây cho tôi hứng thú đến cao độ (nhưng tôi không hiểu tiếng Việt cho nên chỉ có thể thu hoạch được một cách nông cạn từ các phân tích của ông).

Nhờ những gì ông viết về các nhà thơ Việt Nam, tôi lấy làm vui lòng được đọc những gì mà tôi tin là đúng đối với mọi thơ ca, nhưng ở đất nước chúng tôi lại rất ít biết đến hoặc hiểu thấu. Khi tôi đánh bạo nói về những điều đó thì có người cho là chuyện chướng tai, lại có kẻ bảo tôi là đầu óc quá tế nhị và phức tạp. Thế nhưng tôi cảm thầy mình đã làm một việc là chú ý đến ngọn nguồn. Xin ông tin ở lòng quý mến và sự tận tâm chân thành của tôi.”Trên tờ tạp chí Anthropos (tập 30, số 5-6, 1935), GS Christoph Furer-Haimendorf dành nhiều dòng để tóm tắt công trình của Nguyễn Văn Huyên, rồi đưa ra nhận xét:“Không nghi ngờ gì nữa những lễ hội được tổ chức theo mùa, có hát đối và tỏ tình thuộc về những nền văn minh nông nghiệp ở Đông Dương và Hoa Nam (...). Xét về toàn bộ tính chất của chúng thì các lễ hội đó là sự tự do phóng khoáng cho cả hai bên, tức là cả người con gái trong việc lựa chọn người chồng. Vì vậy, xét cho cùng, chúng có nguồn gốc trong các nền văn minh mang sắc thái mẫu hệ.”Trên tờ Orientalische Literature Zeitung (Tạp chí Văn học phương Đông) số 11, 1935, H. Jensen viết:“Công trình mà tác giả của nó là một người Việt Nam đã từng làm giảng viên Trường Ngôn ngữ phương Đông ở Paris là một đóng góp rất có giá trị để hiểu biết về Việt Nam. Ý nghĩa của nó là ở trên hai lĩnh vực: Một mặt, nó cung chấp cho các nhà dân tộc học và fôn-clo học một chất liệu phong phú, có chú ý đến cả các chi tiết, để hiểu biết đời sống yêu đương, trước hết là tập quán tỏ tình và đính hôn của người Việt Nam. Mặt khác, nó chứa đựng nhiều điều đáng biết đối với nhà ngôn ngữ học…”.H. Jensen cho rằng công trình mang lại nhiều điều mới mẻ cho các nhà dân tộc học, fôn-clo học và ngôn ngữ học.Tuy nhiên, theo GS Hà Văn Tấn, thì người đánh giá cao nhất đối với công trình này là Jean Przyluski trong một bài viết trên tờ Journal de Psychologie normale et pathologique (Tạp chí Tâm lý học bình thường và bệnh lý) số 9-10, 1934. J. Przyluski nhận xét:“Ở phương Tây ngôn ngữ thông thường khác xa với thơ ca, ngôn ngữ đó đã trở thành một công cụ phân tích và ở một số người, nó hướng tới sự chặt chẽ, chính xác của những ký hiệu khoa học. Ở Việt Nam khoảng cách giữa câu thơ và lời nói không lớn đến như thế.

Người Việt Nam nói ra và làm cho câu nói của mình có nhịp điệu, và trong mọi trường hợp, người ấy lắp ráp các từ của mình thành những nhóm đối xứng có thể không cần sửa đổi mà trở thành những yếu tố của câu thơ (…). Sau khi nhận ra rằng câu thơ Việt là do những nhóm từ đối xứng hợp thành, ông Nguyễn Văn Huyên nghiên cứu kết cấu của những nhóm đối xứng ấy và cách lắp ráp chúng như thế nào.”. Bản luận án phụ Nhập môn nghiên cứu nhà sàn ở Đông-Nam Á cũng gây tiếng vang rộng rãi trong giới học thuật quốc tế.Trong mục điểm sách trên tờ Anthropos, Rudolf Rahman đã lưu ý người đọc về cuốn sách mới rất có giá trị của Nguyễn Văn Huyên.Dưới nhan đề Một loại hình cư trú mới: nhà sàn, nhà nghiên cứu Jules Sion cho đăng trên Annales d’Histoire économique et sociale (Niên giám Lịch sử kinh tế và xã hội) một bài bình luận dài về cuốn sách của Nguyễn Văn Huyên.Những nghiên cứu người châu Âu không thực hiện nổi. Trở về nước sau khi tốt nghiệp cử nhân luật khoa và tiến sĩ văn khoa, Nguyễn Văn Huyên không nhận làm quan, mà dạy học rồi tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu khoa học tại Trường Viễn Đông Bác Cổ (1938).

Năm 1941, ông được cử làm Uỷ viên Thường trực của cơ quan nghiên cứu Đông phương học nổi tiếng này. Ông tiếp tục công bố hàng loạt công trình mới rất có giá trị. Giám đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ Georges Coedès viết về Nguyễn Văn Huyên với lòng cảm phục:“Cùng với sự đào tạo đại học vững chắc mà ông đã nhận được ở Pháp tại Khoa Văn và Khoa Luật của Đại học Paris, ông Nguyễn Văn Huyên còn có ưu thế vô song là nắm được các sự kiện xã hội Việt Nam bằng kinh nghiệm bản thân và bẩm sinh, có khả năng tiếp cận trực tiếp và tức thì với chất liệu xã hội học và có thể đi sâu tiến hành những khảo sát mà những nhà nghiên cứu châu Âu không thể nào thực hiện nổi. Những con chủ bài đó đã cho phép ông tiến hành và hoàn thành tốt đẹp nhiều nghiên cứu về đời sống tôn giáo, tinh thần, xã hội của dân quê Việt Nam.”Chỉ trong vòng hơn mười năm (1934-1945), Nguyễn Văn Huyên đã công bố 46 công trình, hầu hết bằng tiếng Pháp, gần đây, mới được dịch ra tiếng Việt và, vào năm 2000-2001, mới được Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản thành bộ Nguyễn Văn Huyên toàn tập, hai tập đầu dành cho các công trình nghiên cứu khoa học xã hội (khoảng 2.000 trang).Trong hai tập này, ta được đọc nhiều bài nghiên cứu có tính hàn lâm cao nhưng đồng thời vẫn gây hứng thú cho độc giả, như tục thờ cúng thần tiên, thờ thành hoàng ở Việt Nam, lễ hội Phù Đổng, các bài cúng trong lễ tế Nam Giao, rồi những khúc ca đám cưới Tày ở Lạng Sơn và Cao Bằng, sự ra đời của Nội Đạo Tràng ở Việt Nam, Tết Trung Thu, Tết Đoan Ngọ, lễ Xá tội vong nhân, tiết Thanh Minh và việc giữ gìn mồ mả, hay cả một tập sách được soạn ra để dạy trong nhà trường về Văn minh Việt Nam.Ngay từ trước Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Văn Huyên đã cho rằng môn học cổ điển Á Đông phải được phổ cập ở bậc trung học. Ông cũng đánh giá vai trò rất lớn của “ông đồ nho” tức tầng lớp sĩ phu trong xã hội Việt Nam xưa.Năm 2000, Nhà nước ta truy tặng GS Nguyễn Văn Huyên Giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam (hai tập). 
Hàm Châu
Nguồn: Bee.net
 

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ GIÁO SƯ NGUYỄN VĂN HUYÊN


Bà Nguyễn Thị Mão (Bà Phan Kế Toại), chị gái của GS Nguyễn Văn Huyên.
Ảnh chụp năm 1931. Trong sách "Tiếp bước chân cha"


Nguyễn Văn Huyên trong năm đầu tại Pháp (1926)


GS Nguyễn Văn Huyên và phu nhân


GS Nguyễn Văn Huyên và phu nhân trong ngày cưới (13-4-1936)


Gia đình GS Nguyễn Văn Huyên. Trong hình có cậu bé Nguyễn Văn Huy.
Nguyễn Văn Huy sau này là GS. TS. Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Bảo tàng nằm trên đường Nguyễn Văn Huyên.


Hồ Chủ tịch và các nhà lãnh đạo Bộ Giáo dục


Gia đình GS Nguyễn Văn Huyên và gia đình GS Hồ Đắc Di tại Việt Bắc, 1948.
Ảnh: Sưu tầm trên internet




-->đọc tiếp...

NGƯỜI MẸ HIỀN CỦA HỌC GIẢ NGUYỄN HIẾN LÊ

Vừa qua, tôi về Phương Khê, Ba Vì, được nhà giáo Phùng Hoàng Anh đưa đi thăm quê hương và dòng họ của học giả Nguyễn Hiến Lê, tôi có may mắn được bà con trong họ cho xem cuốn gia phả do Nguyễn Hiến Lê soạn. Đây là lần đầu tiên tôi trông thấy thủ bút của ông. Dưới đây là những dòng ông viết về mẹ của mình:
.
"Thân mẫu tôi húy là Sâm, con giòng thứ cụ phủ Nguyễn Hữu Chước làng Hạ Đình (Hà Đông) mồ côi cha từ nhỏ, ở với mẹ góa. Tính tình như đàn ông, nghèo mà không chịu nhờ cậy ai, quanh năm buôn bán để nuôi mẹ già và 4 con (vì bà ngoại tôi ở chung với chúng tôi).

Rất trọng sự học và lễ nghĩa của đạo Nho, mấy năm tôi ở Trung học thân mẫu tôi cho tôi về Phương Khê học thêm chữ Nho với bác Hai tôi “vì chẳng lẽ con nhà Nho mà không đọc được gia phả của tổ tiên”. Sở dĩ tôi thành nhà văn, một phần lớn nhờ công đó của người. Suốt đời vất vả cái vui duy nhất của người là thấy tôi thành tài”.

Trích Gia phả họ Nguyễn, do Nguyễn Hiến Lê soạn.
 
Cụ bà Nguyễn Thị Sâm - thân mẫu của Nguyễn Hiến Lê. Ảnh do dòng họ cung cấp. 

Cụ Đặc Như - thân phụ của học giả Nguyễn Hiến Lê. Ảnh do con cháu trong dòng họ cung cấp.

Học giả Nguyễn Hiến Lê.

Nhà thờ dòng họ Nguyễn Hiến Lê ở Phương Khê.

Gia phả họ Nguyễn do Nguyễn Hiến Lê soạn

Trang Lời mở đầu Gia phả.


Nguyễn Hiến Lê viết về mẹ.
Ảnh: Nguyễn Xuân Diện.


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia ghi rằng: 

Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984) là một nhà văn, học giả, dịch giả, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế...
Trong Hồi ký của mình, Nguyễn Hiến Lê viết:

"...Tôi sinh ngày 20 tháng 11 ta, giờ Dậu, năm Tân Hợi (nhằm ngày 8 tháng 1 năm 1912). Đổi ra bát tự để lấy lá số Tử Bình hay Hà Lạc thì tôi sinh năm Tân Hợi, tháng Tân Sửu, ngày Quý Mùi, giờ Tân Dậu".

Nguyễn Hiến Lê quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Xuất thân từ một gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội, trước ở trường Yên Phụ, sau lên trường Bưởi.

Năm 1934, ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Hà Nội rồi vào làm việc tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ, bắt đầu quãng đời nửa thế kỷ gắn bó với Nam bộ, gắn bó với Hòn ngọc Viễn Đông.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông thôi làm ở sở, đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952 chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.

Những năm trước 1975 và cả trong thời gian sau này, Nguyễn Hiến Lê luôn là một cây bút có tiếng, viết miệt mài và là một nhân cách lớn.

Trong đời cầm bút của mình, đến trước khi mất, ông đã xuất bản được hơn một trăm bộ sách, về nhiều lĩnh vực: văn học, ngôn ngữ học, triết học, tiểu luận phê bình, giáo dục, chính trị, kinh tế, gương danh nhân, du kí, dịch tiểu thuyết, học làm người... Tính ra, số bộ sách của ông được xuất bản gần gấp 1,5 lần số tuổi của ông và tính từ năm ông bắt đầu có sách in (đầu thập niên 1950), trung bình mỗi năm ông hoàn thành ba bộ sách với 800 trang bản thảo có giá trị gửi tới người đọc.

Năm 1980 ông về lại Long Xuyên. Ông lâm bệnh và mất ngày 22 tháng 12 năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 73 tuổi.

Nguyễn Hiến Lê với sức làm việc đều đặn 13 tiếng đồng hồ mỗi ngày gồm 6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết. Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ.

Để hiểu thêm về Nguyễn Hiến Lê quý vị có thể đọc cuốn Hồi ký của ông.
-----------------
 Ghi thêm:

- Nhà giáo Phùng Hoàng Anh cho biết: Nguyễn Hiến Lê học chữ Hán với bác Hai trong 3 kỳ nghỉ hè các năm 1930, 1931 và 1932.

- Những năm 60, 70, chính quyền Sài Gòn tặng ông (cùng với Giản Chi) Giải thưởng Văn chương toàn quốc (1967) - Giải Nhất ngành biên khảo - và Giải tuyên dương sự nghiệp Văn hóa - Nghệ thuật (1973) với danh hiệu cao quý đương thời, cùng một ngân phiếu lớn (tương đương mấy chục lượng vàng). Ông đã công khai từ chối với lý do "dùng tiền ấy để giúp nạn nhân chiến tranh" và bản thân tác giả không dự giải. (Nguyễn Hiến Lê với sự nghiệp học thuật Việt Nam - Tuyển tập Nguyễn Hiến Lê, tập 1. Nxb. Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 40).

- Trong dịp gặp gỡ GS. Trần Hữu Dũng (chủ trang mạng Viet-sudies nối tiếng) tại Hà Nội, ông nói tôi: Vị học giả mà tôi ngưỡng mộ nhất, là Nguyễn Hiến Lê.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HỌC GIẢ NGUYỄN HIẾN LÊ

Giường ngủ đơn sơ của Nguyễn Hiến Lê ở Long Xuyên
Ảnh: Nghê Dũ Lan (Nguồn: Nguyễn Hiến Lê - Cuộc đời & Tác phẩm, Nxb Trẻ, 2003)

Nhà nghỉ và làm việc Nguyễn Hiến Lê ở Long Xuyên, bên trái là nhà cổ của bà Nguyễn Thị Liệp.
Trước dàn hoa thắp là tháp Nguyễn Hiến Lê (bị bụi kiểng che khuất)
Ảnh
: Nghê Dũ Lan (Nguồn: Nguyễn Hiến Lê – Con người & Tác phẩm, Nxb Trẻ, 2003)

Bên trong nhà cũ của Nguyễn Hiến Lê ở Long Xuyên:
Tranh thầy đồ dạy học và cặp liễn đem về từ biệt thự 12/3 Kỳ Đồng [Sài Gòn].
Cái võng vắt trên thành ghế cạnh bàn thờ xưa kia ông hay nằm đọc sách, nghỉ ngơi.
Ảnh: Nghê Dũ Lan (Nguồn: Nguyễn Hiến Lê – Con người & Tác phẩm, Nxb Trẻ, 2003)




Tại toà soạn Bách Khoa
Nguyễn Hiến Lê - cà vạt màu. Vi Huyền Đắc -cà vạt đen
(Nguồn: Nguyễn Hiến Lê Cuộc Đời & Tác Phẩm của Châu Hải Kỳ, Nxb Văn học, 1993, tr.60)
.
Tại toà soạn Bách Khoa, từ trái sang phải:
Lê Thanh Thái, Lê Ngộ Châu, Thu Thuỷ, Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh
(Ảnh in trong cuốn Nguyễn Hiến Lê Cuộc Đời & Tác Phẩm của Châu Hải Kỳ, tr.60. chụp lại)

Tháp mộ Nguyễn Hiến Lê ở 92 Tôn Đức Thắng, phường Mỹ Bình, thị xã Long Xuyên
(sau này bà Nguyễn Thị Liệp đã dời về tháp chùa Phước Ân, gần ngã tư Cái Bường, xã Vĩnh Thạnh,
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp)

Ảnh: sưu tầm trên Internet.

-->đọc tiếp...

GIỚI TRÍ THỨC TINH HOA TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Giới trí thức tinh hoa trong lịch sử Việt Nam 
Trần Ngọc Vương
.
Để xây dựng kinh tế tri thức trở thành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân, chúng ta cần có một lực lượng lao động tương ứng là lao động có kiến thức cao, nói khác đi đòi hỏi mọi thành viên tham gia nền kinh tế này phải là người lao động trí tuệ hoặc sử dụng trí tuệ như công cụ lao động chủ yếu, đặc biệt là phải hình thành một giới trí thức tinh hoa.

Chỉ từ những điều sở tri sở kiến của mình, chúng tôi muốn góp bàn về việc nhận diện thực trạng của giới tinh hoa trong lịch sử Việt Nam và những đặc điểm của giới đó có thể trở thành chướng ngại mà chúng ta cần khắc phục trong việc hướng tới hình thành giới tinh hoa mới trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.

Trong lịch sử Việt Nam cho đến tận đầu thế kỷ XX, mẫu hình trí thức tồn tại lâu dài nhất, có tác động lớn nhất đến đời sống tinh thần xã hội là nhà Nho. Tinh thần văn hóa Nho giáo thấm sâu vào thành truyền thống, thậm chí thành bản sắc của nền văn hóa dân tộc. Về mặt diện mạo tổng thể, nền văn hóa Việt Nam từ thế kỷ XIV đến hết thế kỷ XIX là nền văn hóa Nho giáo. Nếu lưu ý đến “đặc điểm lớn nhất của xã hội Việt Nam thời đại ngày nay” là sự phát triển bỏ qua (hay ít nhất là cho đến nay cũng chưa thành một phương thức sản xuất/một hình thái kinh tế - xã hội hoàn chỉnh) đối với hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, thì phải đồng ý với nhiều nhà khoa học (1) rằng Việt Nam đi từ Nho giáo lên chủ nghĩa cộng sản.

Trước khi có nền học vấn Âu hóa của thời hiện đại, và cả khi nền học vấn đó đã, đang trở thành xu thế chủ đạo thì quán tính của nền học vấn truyền thống vẫn chi phối từng bước đi của lịch sử một cách mạnh mẽ, khá vô hình nhưng vẫn khá quyết liệt. La mort saisit le vif, - cái chết đang túm lấy cái sống. Sự “túm lấy” này, tuy không hoàn toàn chỉ mang nghĩa tiêu cực, nhưng những tác động tiêu cực của nó là điều không thể xem thường.

Trong vòng bảy, tám thế kỷ, đội ngũ trí thức - nhà Nho ở Việt Nam đã dần thay thế và cuối cùng là thay thế hẳn đội ngũ trí thức Phật giáo, tạo ra một nền học vấn kiểu nhà Nho, và vì thế, ngả theo mô hình của nền học vấn Trung Hoa. Nhưng khác với các trí thức Trung Hoa nói chung, tầng lớp nhà Nho Trung Hoa nói riêng, chưa bao giờ tầng lớp nhà Nho Việt Nam thực sự có được sự độc lập tương đối về chính trị, nhất là trong quan hệ với chế độ chuyên chế, để có thể có được những thành tựu độc lập trong sáng tạo tri thức và những giá trị tinh thần đủ để vinh danh chỉ riêng tầng lớp của mình.

Vào đầu thế kỷ XX, khi tự tỉnh và lay tỉnh quốc dân, nhằm “khai dân trí, chấn dân khí”, các nhà Nho duy tân đã đọc to lên tình trạng nghiệp dư quá quắt của tầng lớp mình:

Khỏi làng mắt chửa thấy xa
Lại toan mai mỉa hai nhà Khang, Lương
Ở nhà chân chửa ra đường
Lại toan ngang dọc bốn phương giang hồ
Hỏi: “Ông tu những đường mô?
Ông rằng: “Tu những làng nho đã thừa”
Hỏi: “Ông mộ những gì ư?
Ông rằng: “Mộ những người xưa là thầy”….
- Hỏi rằng: “Dây thép sao mau?”
Ông rằng: “Khí học cũng màu mà thôi”
Kìa như dây sắt, roi lôi
Nào ai bày đặt mọi ngôi cho đành?
Hỏi rằng: “Xe khí sao nhanh?”
Ông rằng: “nghề máy cũng lành mà thôi”
Kìa như lửa ống, nước nồi
Nào ai bày xét đến nơi nhiệm màu?
Năm châu tên gọi hay đâu
Lại chê người rợ mà gào ta hoa
Mắt nhìn chính học không ra
Lại chê người bá mà nhà ta vương” (4)
-“Hỏi cụ việc thực
Thì cụ làm thinh
Hỏi trận pháp binh thư thì cụ ù ù cạc cạc
Hỏi địa dư quan chế thì cụ u u minh minh;
Cụ chẳng biết kèn sao kêu, súng sao nổ?
Cụ không hay xe sao chóng, tàu sao lanh?
-“Khí học làm sao? Hóa học làm sao? Cụ dẫn Dịch tượng Thư trù chi Cổ đế
Cơ khí là thế, điện khí là thế, cụ rằng mộc ngưu lưu mã chi Khổng Minh
Cụ phải đeo thẻ đóng sưu, cụ muốn nước Nhật, nước Tàu sang bảo hộ
Cự mà ngâm thơ đọc phú, cụ mong ông Chèm, ông Gióng chi phục sinh
Ai nói chuyện tân học tân văn, cụ ghét hơn người đầu thuốc độc
Ai dâng câu cổ thi cổ họa, cụ mừng hơn trẻ được cái đinh” (5)
Lý luận Nho giáo không được khái quát lên từ thực tế Việt Nam, mà lý luận đó chỉ phù hợp nên có thể vận dụng được trên thực tế Việt Nam ở những thời gian lịch sử nhất định, dù quãng thời gian lịch sử ấy có thể và trên thực tế đã kéo dài, thậm chí đã quá dài. Theo cách nhìn nhận cá nhân, tôi cho rằng tuy Phật giáo ở Việt Nam chỉ thật thịnh trong một khoảng thời gian không dài, nhưng lại có những thành tựu về sáng tạo tinh thần đột xuất và có những gương mặt trí tuệ đỉnh cao, khả dĩ vinh danh và đại diện cho trí tuệ Việt hơn cả những đóng góp mà nhà Nho tạo nên trong một thời kỳ lịch sử dài hơn nhiều.

Nhìn vào những sản phẩm đỉnh cao cuối cùng theo cách nhìn cấu trúc đồng đại hóa, sẽ thấy trong đội ngũ trí thức nhà Nho Việt Nam thiếu một cách nghiêm trọng những trí tuệ lý thuyết, những xung năng sáng tạo lớn. Các tác giả Trần Văn Giàu, Trần Đình Hượu, Hà Văn Tấn đã nhiều lần lưu ý đến sự thiếu hụt ấy. Nói thiếu vắng hoàn toàn thì không phải, nhưng chắc chắn đội ngũ những người như vậy trong lịch sử Việt Nam khá thưa thớt, có những thế kỷ hầu như không tìm thấy được(2). Điều đáng cảm thán không chỉ là “ôi thương sao những thế kỷ vắng anh hùng” như Chế Lan Viên từng thốt lên, mà cũng cả “Ôi thương sao những thế kỷ vắng thiên tài”! Nhận xét tỷ mỷ hơn cả về điều này là ý kiến của cố học giả Trần Đình Hượu:

a) Không có ai có hứng thú đi vào những tư tưởng triết học. Chưa có tác phẩm, tác giả chuyên về tư tưởng triết học. Những người mà ta phải tính là các nhà tư tưởng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Nhậm, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… đều là như vậy.

Loại hình chính là những nhà hoạt động yêu nước, những người làm văn học, học thuật (chủ yếu là sử học), và thông qua hoạt động chính trị, học thuật hay nghệ thuật của mình mà đề cập đến những vấn đề tư tưởng. Những ông thầy khi giảng kinh, sử cũng bàn những vấn đề tư tưởng, mà nhiều khi chính những ông thầy đó lại nói tư tưởng nhiều hơn, nói nhiều nhưng là nói lại, có hay không sửa chữa chút ít.

b) Ở đây chưa hình thành mối quan hệ tương hỗ giữa khoa học kỹ thuật và triết học, tức là triết học làm cơ sở lý luận cho khoa học và phát triển theo sự phát triển của khoa học… Có thay đổi thì cũng chỉ là lấy, bỏ, thêm, bớt từ những cái có sẵn trong và ngoài từng hệ thống…

Nhìn chung, tư duy lý luận không phát triển. Những vấn đề nhận thức, logic, phương pháp không được bàn bạc. Ở đây phát triển một cách tư duy thực tiễn nhằm không phải vào sự chính xác mà sự hợp lý (phải khoảng). Cái ngự trị ở trong nhiều phạm vi là một cái lí - lẽ phải thông thường. Triết học không tách khỏi tôn giáo, học thuật. “Về căn bản, trong lịch sử chưa xảy ra một sự thay đổi nền móng sản xuất, tổ chức xã hội, văn hóa, học thuật. Tôi nói cả văn hóa, học thuật vì khi còn học theo, bắt chước, nói lại thì chưa gây ra tác động sâu từ khoa học sang triết học, không tạo ra cách mạng trong tư tưởng” (3).

Nền học vấn truyền thống theo Nho giáo ấy rốt cuộc ở lớp trên cùng chỉ đẻ ra được nhà Nho – ông quan (đường quan hay học quan, võ quan có học hay văn quan, kể cả loại “văn võ kiêm bị” đi nữa thì nói gọn lại, cũng chỉ là quan). Các loại hình trí thức then chốt của một xã hội trí thức, một kết cấu của tầng lớp trí thức thực thụ như nhà kỹ thuật, nhà khoa học (hay học giả), nhà nghệ sĩ, tiếp đến là nhà tư tưởng – nhà triết học loại thì xuất hiện thưa thớt, mở nhạt, loại thì hoàn toàn vắng bóng.

Học giả lừng danh nhất trong lịch sử Việt Nam trước thế kỷ XX là Lê Quý Đôn, người mà với tất cả sự ngưỡng mộ và lòng kính trọng cũng không thể gán cho là tác giả của bất cứ định lý, định luật hay nguyên lý, quy tắc nào, ý tưởng nào thực thụ mang tính đột phá tri thức, nên có lẽ danh xưng xứng đáng nhất trong việc phân loại chuyên gia khoa học thời hiện đại thì đúng nhất là xếp vào dạng nhà sưu tầm, nhà biên khảo hay nhà thư tịch học. Thật đau lòng khi phải nói lên điều này.

Nhà Nho thuộc loại hình trí thức nguyên hợp. Đó là loại trí thức điển hình cho một hình thái kinh tế-xã hội khi mà lao động trí óc chỉ mới là đặc quyền của một thiểu số rất nhỏ. Tuy so với loại quý tộc, loại người có được những đặc quyền chỉ nhờ quan hệ huyết thống với người hay dòng họ cầm quyền thì sự xuất hiện và phát huy tác động trong xã hội của trí thức nhà Nho là một bước tiến bộ, nhưng đến lượt họ, khi đã tự khẳng định và được khẳng định địa vị trong xã hội, trong cơ chế thì nhà Nho cũng từng bước một kiến tạo đặc quyền theo lối huyết thống hóa, tạo ra không phải những cá nhân người trí thức sáng tạo, mà những “thế gia, vọng tộc, cự môn”, vừa theo mô hình quý tộc hóa, vừa theo lối đẳng cấp giữ những chức năng đặc thù. Họ không ngần ngại gì mà không khẳng định “vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao”, tự coi là người bề trên tự nhiên (và cũng thường được thừa nhận) là người đỡ đầu trực tiếp của các tầng lớp cư dân khác.

Với tôn chỉ “Nhất nghệ bất tri nho giả sở sỉ” (một nghề nào đó mà không biết thì kẻ làm nhà Nho tự thấy xấu hổ), họ thường kiêm luôn công việc của nhiều loại “chuyên gia” trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí khá xa lạ đối với nhau. Người dân gọi họ là “thầy”, và ở nông thôn xưa thì nhà Nho làm tất tật công việc của các thứ thầy như vậy: thầy đồ dạy học (nho), thầy thuốc chữa bệnh (y), thầy địa lý lo chuyện phong thủy (lý), thầy bói xem tướng số (số), cả chuyện làm…thầy dùi, “tư vấn” cho các bên tham gia vào các vụ kiện tụng.

Bộ phận hiển nho - các nhà Nho hữu danh và thành đạt – cũng hầu như không có ai đủ căn đảm để chỉ “đi đến cùng một con đường đã chọn” có lẽ trừ Hải Thượng Lãn Ông. Ngay Hải Thượng Lãn Ông cũng chọn con đường trở thành một danh y vào lúc tuổi đời không còn trẻ và tình huống cơ hồ không thể khác. Nói tổng quát, mẫu trí thức nhà Nho ở ta chuyên môn hóa khá muộn màng và không trở nên là đội ngũ chuyên gia thực thụ, ở hầu như bất cứ bình diện nào của lao động sáng tạo tinh thần. Trong các hoạt động nghệ thuật, chỉ thơ là có thành tựu nổi bật, nhưng không có ai, kể cả nhà thơ vĩ đại nhất trong lịch sử văn học dân tộc là Nguyễn Du, cũng không trở thành nhà thơ “chuyên nghiêp”.

Một khi họat động sáng tạo tinh thần, lao động trí óc chưa được chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, thì mọi hoạt động lao động khác gắn liền với các hệ thống tri thức chuyên nghiệp sẽ chỉ trở thành các loại lao động thủ công, nghiệp dư. Tình trạng đó là phổ biến từ các loại làng nghề gắn bó xa gần với hoạt động nghệ thuật cho chí các loại làng nghề sản xuất ra các sản phẩm thuần túy mang tính thương mại. “

Công tượng”, gọi nôm na là thợ, xếp loại ba, sau nông dân, còn được an ủi là xếp trên loại người tiêu thụ sản phẩm cho họ, tức thương nhân, tầng lớp “dưới đáy”, bị gọi miệt thị là loại “con buôn”. Giữ gìn phương tiện mưu sinh: theo ý tôi trong cách hành xử ấy còn tiềm ẩn cả tâm trạng ẩn ức, cả sự chống đối theo kiểu tiêu cực, cả niềm kiêu hãnh về những phẩm tính và kỹ năng ưu việt không được thừa nhận.

***
Gia nhập xã hội hiện đại theo con đường bị cưỡng bức, không hề được chuẩn bị đầy đủ về mọi phương diện để thích nghi, thiếu nghiêm trọng những kinh nghiệm và thực tế tương ứng được với xã hội hiện đại từ truyền thống, tóm lại, với tính nhược tiểu thể hiện khá “hoàn hảo”, giới trí thức Việt Nam khi trở thành “tầng lớp trí thức bản xứ” thêm một lần nữa bị chủ nghĩa thực dân vày vò, ép ướp hoàn toàn có chủ đích chỉ nhằm biến đổi họ thành đám vong quốc nô có chữ nghĩa. Lịch sử còn lưu lại vô số bằng chứng cả trực tiếp cả gián tiếp chứng minh cho đường lối chính trị, chính sách trí thức thuộc địa này của thực dân Pháp(6). 

Hệ quả cuối cùng của chính sách thực dân, dù những chính sách cụ thể trong từng thời kỳ nhất định có đổi thay theo hướng xoa dịu sự phản ứng của một cư dân bản địa dù sao cũng có hàng nghìn năm lịch sử đồng thời trên từng bình diện nhất định phải đáp ứng những đòi hỏi của tình hình khó khăn mà “mẫu quốc” lâm vào, vẫn cứ là một tầng lớp trí thức bản xứ với rất ít cá nhân thực sự đạt tới trình độ tinh hoa, đội ngũ chuyên gia tuy có số lượng khá hơn nhưng không toàn diện, gắn bó quá trực tiếp với sự điều tiết từ chính quốc chứ không phải gắn bó với xã hội và nền kinh tế tại chỗ, và một lượng đông đảo nhất những trí thức cấp thấp. Chất lượng của một tầng lớp trí thức như vậy, xét trên tương quan của một sự so sánh lịch đại, nghĩa là so sánh về khả năng đáp ứng những nhu cầu phát triển từng thời điểm lịch sử khác nhau, chắn chắn là còn kém hơn thời kỳ tiền thực dân. 

Từ sau Cách mạng tháng Tám, thân phận con người, thân phận công dân của người trí thức được đổi thay về chất. Đại đa số những trí thức trong xã hội cũ vì thế hăng hái tham gia bằng sở học của mình vào các công việc của xã hội mới. Thời gian kháng chiến chống Pháp, tuy có quá nhiều khó khăn khách quan, một thế hệ trí thức mới đã xuất hiện, trưởng thành. Đội ngũ này, tuy về số lượng không thật đông đảo, nhưng lại đặc biệt có chất lượng. Đa số những tên tuổi lớn trong các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và nghệ thuật thời gian qua ở ta là thuộc về hoặc cơ bản là thuộc về thế hệ này. Phần lớn họ là những người ra đời trong khoảng từ 1920-1932. 

Không phải ngẫu nhiên tôi chọn những mốc này: cho đến khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, hầu hết họ đều đã có một thời kỳ học phổ thông và có được một “lưng vốn” tri thức nói chung, tiếng Pháp hay một ngoại ngữ nói riêng đủ để tự đọc sách và tự học tiếp tục. Những người sinh trước năm 1920 nếu thành danh thì đã thành danh trước Cách mạng, mà những người sinh sau năm 1932 thì “không kịp” có điều kiện như vừa tính tới. 

Nhưng cũng từ sau Cách mạng tháng Tám xã hội Việt Nam trải qua hơn 30 năm là xã hội thời chiến hoặc bị chi phối mạnh mẽ bởi một hoàn cảnh thời chiến. Trừ một vài lĩnh vực đặc biệt, chiến tranh không phải là điều kiện dương tính cho sự phát triển của lĩnh vực lao động tri thức. Không quá khó khăn để chỉ ra các lĩnh vực đặc biệt ấy. Dù muốn dù không, tính phục vụ trực tiếp, tính ứng dụng là những yêu cầu được đặt lên hành đầu đối với lao động của người trí thức trong hoàn cảnh ấy. Cũng khó mà tạo ra những diện mạo trí thức, những tên tuổi lớn theo lối hàng loạt trong điều kiện như vậy. Xét cho cùng, sức sản xuất các giá trị tinh thần – cả trong khoa học xã hội lẫn khoa học nhân văn, cả trong nghệ thuật, trong văn hóa đều tùy thuộc vào nền sản xuất vật chất của xã hội. Ngay cả việc phản ứng lại một thực tiễn lớn cũng đòi hỏi tiền đề là sự tồn tại của cái thực tiễn ấy đã. 

Mặt khác, kể từ sau Cách mạng tháng Tám, nền khoa học non trẻ của Việt Nam nhận được sự bổ sung về nguồn tri thức từ các nước xã hội chủ nghĩa có nền khoa học tiên tiến, chủ yếu là từ Liên Xô, và mức độ khác, từ Trung Quốc. Nhưng chỉ chưa hết một khóa học (đại học) từ sau năm 1954 thì giữa Liên Xô và Trung Quốc đã nổ ra những bất đồng. Vừa bối rối vì vấn đề phân liệt giữa các đảng cộng sản lớn cầm quyền, hết chống tệ sùng bái cá nhân lại rơi vào tình trạng phải đối phó với chủ nghĩa xét lại, người trí thức mới trẻ tuổi vừa còn phải “tuân thủ mọi yêu cầu của tổ chức, mọi nhiệm vụ được phân công” mà không phải lúc nào những yêu cầu ấy, những sự phân công ấy cũng được kế hoạch hóa, duy lý hóa. 

Tiếp theo đó là Đại Cách mạng văn hóa vô sản, tuy diễn ra và tác động tai hại trước hết và chủ yếu là ở Trung Quốc, nhưng không thể nói Việt Nam nằm ngoài vòng ảnh hưởng của biến cố kinh hoàng này. Một trong những đặc điểm nổi bật của cái gọi là cuộc Đại Cách mạng văn hóa này lại chính là ở tính chất phản văn hóa, phản tri thức của nó. 

Chắc chắn rằng những cuộc “đấu tố” diễn ra trong giới khoa học Việt Nam những năm 1967 – 1970 với nhiều nạn nhân bị quy kết là chuyên môn thuần túy, thiên tài chủ nghĩa mà nhiều người trong họ hiện vẫn tại thế, không những thế, dù sao một số khá đông trong họ vẫn còn kịp có những cống hiến khoa học xuất sắc, kịp được nhận những giải thưởng khoa học cao quý như giải thưởng Hồ Chí Minh hay giải thưởng Nhà nước, những cuộc “đấu tố” như vậy há chẳng là sự “cộng hưởng”, sự đồng vọng của cách mạng văn hóa sao? 

Giới trí thức tinh hoa ở mọi dân tộc đều là báu vật, nói như ngôn từ được làm sống lại gần đây đối với những ý tưởng truyền thống, thì họ là “hiền tài”, là “nguyên khí quốc gia”. Vậy những nạn “chảy máu chất xám” đã là điều nguy hại, mà nạn “lãng phí chất xám”, thậm chí còn khó nhận dạng hơn và khó khắc phục hơn, theo thiển ý, cũng cần nêu lên thành vấn đề lớn hiện nay. 

Có thể nói, ở ta mới có những người trí thức lớn,- không đông lắm mà nói thực thì cũng chưa được “lớn” lắm - nhưng chưa thể nói rằng đã có giới trí thức tinh hoa. Mà chừng nào trí thức tinh hoa chưa thành một giới, nôm na là núi không có đỉnh, thì khó lòng bàn đến “tầm” trí tuệ Việt Nam, tuy đó là điều không hiếm người thành tâm khao khát khẳng định.
---
(1) Tham khảo, chẳng hạn: - Trần Đình Hượu Đến hiện đại từ truyền thống. Nxb Văn hóa và Thông tin 1996. - Le contact colonial franco – vietnamien le premier demi – siècle (1858 – 1911) Nxb Universitè de Provence (PUP), 1999. - Trịnh Văn Thảo Vietnam du confucianisme au communisme. Nxb Presse Universitaire Francaise (PUF) 1992. (2) Tham khảo những tài liệu liên quan đến cuộc thảo luận về việc viết lịch sử tư tưởng Việt Nam. Viện Triết học, 1984. (3) Trần Đình Hượu, Sđd (4) Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 -1930) Nxb Văn học Hà Nội 1976. (5) Các bộ lịch sử, lịch sử tư tưởng Việt Nam của cả các tác giả người Việt lẫn người Pháp đều cung cấp nhiều tài liệu liên quan đến điều này.

Nguồn: TIA SÁNG
-->đọc tiếp...