Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

MỘT CÁCH GIẢI QUYẾT HỢP LÝ VỀ LIVESHOW CHẾ LINH

Chế Linh trong chuyến lưu diễn tại Hải Phòng

Chế Linh lại được hát và tặng 500 triệu làm từ thiện

10/11/2011 12:29:35
 
Bee.net.vn -Vi phạm qui trình quảng bá, liveshow Chế Linh bị cấm diễn đến hết năm 2011 tuy nhiên trước sự ái mộ của khán giả, liveshow Chế Linh đã được một đơn vị nghệ thuật khác thuộc Bộ VHTT&DL đứng ra nhận tổ chức vào ngày 12/11/2011.
TIN LIÊN QUAN
Ban đầu Live show Chế Linh chỉ định diễn 01 đêm duy nhất tại Hà Nội, nhưng trước sự ủng hộ nồng nhiệt của khán giả, ca sĩ Chế Linh và nhà tổ chức quyết định biểu diễn thêm 01 đêm nữa vào 20h00 ngày 12/11/2011 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia  - Hà Nội.
.
f

Tuy nhiên trong quá trình triển khai, nhà tổ chức cũ (Công ty TNHH Bích Ngọc - PV) đã có một số sai phạm về việc quảng cáo nên bị rút lại giấy phép biểu diễn, nộp phạt và cấm biểu diễn đến hết năm 2011. Nhưng với sự ái mộ của hàng ngàn khán giả với giọng ca Chế Linh một đơn vị nghệ thuật khác thuộc Bộ VHTT& DL đứng ra tổ chức.

Ông Xuân Ái, đại diện đơn vị tổ chức chia sẻ: “Liveshow Chế Linh được cấp phép biểu diễn  vào 20h00 ngày 12/11/2011 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia  - Hà Nội đúng như kế hoạch ban đầu, để đảm bảo quyền lợi của khán giả và các nghệ sĩ. Những khán giả đã mua vé có thể yên tâm và hoàn toàn tin tưởng vào Nhà tổ chức. Đồng thời Ban tổ chức cũng cam kết sẽ không để lập lại những sai phạm của đơn vị tổ chức cũ”

Về phía ca sỹ Chế Linh sau khi nhận được tin này đã hết sức vui mừng. Anh nghẹn ngào tâm sự: “Việc liveshow tiếp tục được diễn ra với tôi có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó thể hiện sự đón chào, cùng sự mở lòng của khán giả đối với tôi và các nghệ sĩ. Đây sẽ là động lực để tôi cống hiến nhiều hơn nữa cho những người yêu mến mình. Tôi hy vọng liveshow Chế Linh lần 02 tại Hà Nội sẽ là dịp để tôi có cơ hội tri ân với khán giả và quê hương sau nhiều năm xa cách. Tôi mong khán giả sẽ hài lòng với những gì Chế Linh thể hiện  bằng chính trái tim mình”.
.
Chế Linh trong chuyến lưu diễn tại Hải Phòng
Chế Linh trong chuyến lưu diễn tại Hải Phòng
Trong liveshow lần 2 tại Hà Nội sẽ có sự tham dự của các ca sỹ khách mời là: Sơn Tuyền, Hương Lan, Thái Châu, Mạnh Đình… Dẫn chương trình là MC kỳ cựu Nguyễn Cao Kỳ Duyên và nhạc sĩ Đức Huy. Chương trình gồm 28 bài hát của các nhạc sĩ nổi tiếng gắn liền với tên tuổi Chế Linh như Thành phố buồn, Hòn vọng phu, Giọt lệ đài trang… cũng như những bài hát do chính Chế Linh sáng tác dưới nghệ danh Tú Nhi: Một góc phố buồn, Sao đổi ngôi, Xin yêu tôi bằng cả tình người, Đêm trên đường phố lạ…

Ngoài ra, theo BTC cho biết thì trong đêm liveshow lần 2, ca sỹ Chế Linh sẽ tặng 500 triệu cho quỹ từ thiện: Quĩ hỗ trợ trẻ em khuyết tật tại Hà Nội 200 triệu, Quĩ hỗ trợ trẻ em khuyết tật tại Hậu Giang 200 triệu, Quĩ hỗ trợ trẻ em khuyết tật tại Bến Tre 100 triệu.

Lê Phương

Nguyễn Xuân Diện:

Xin chúc mừng Ca sĩ Chế Linh và chúc mừng những người ái mộ ca sĩ. Tôi nghĩ đây là một cách làm rất hợp lý, vừa thể hiện sự tôn trọng đối với sự quản lý của ngành văn hóa, vừa đảm bảo ước nguyện và quyền lợi của Ca sĩ Chế Linh và những người ái mộ.

Chúc đêm công diễn 12.11 tới đây thành công tốt đẹp!

HỠI ƠI! CẢ NƯỚC TA ĐANG MÊ LẦM RỒI Ư!

 

Cuộc bầu chọn các kỳ quan TG – Một sân chơi trống vắng...


(Ngày Nay) - Cách đây một tháng, sau nhiều lần được một tờ báo điện tử mời mọc, ông Nguyễn Xuân Thắng, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm TTK Hiệp hội UNESCO Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Ngày Nay, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội UNESCO thế giới (WFUCA), đã đồng ý phát biểu quan điểm dưới hình thức một bài phỏng vấn liên quan đến việc Việt Nam đứng đầu trong bảng xếp hạng 7 kỳ quan thiên nhiên do NOWC tổ chức. Bài báo có nhiều nội dung quan trọng nhưng bị coi là không phù hợp trong không khí tưng bừng thắng lợi nên đã không được sử dụng.  

Trước đó gần một năm, tháng 7/2007 ngay sau khi NOWC công bố danh sách 7 kỳ quan kiến trúc thế giới ông Thắng cũng đã cho đăng trên Tạp chí Ngày Nay bài viết mang tính cảnh báo về cuộc bình chọn của NOWC, đồng thời ông đã trình bày quan điểm với một số cơ quan chức năng của Chính phủ về việc này. Nhận thấy thông tin và đánh giá của ông Thắng sẽ góp phần làm rõ một số vấn đề mà dư luận đang rất quan tâm, cần hiểu đúng sự việc xung quanh cuộc vận động bầu chọn hiện nay, Mái Nhà Chung xin đăng bài phỏng vấn ông Nguyễn Xuân Thắng.

- Được hỏi về dư luận khác chiều đối với cuộc bình chọn 7 kỳ quan Ông Thắng cho biết:

Thời gian qua có nhiều người gọi điện đến Hiệp hội UNESCO Việt Nam đề nghị giải đáp có phải cuộc bầu chọn cho Vịnh Hạ Long có liên quan đến Liên Hợp Quốc và do UNESCO chủ trì hay không,  NOWC (New Open World Corporation) là ai, tại sao cuộc bầu chọn không có tiêu chí, mà chỉ theo luật chơi ai đông người ấy chiến thắng. Một số trường trung học hỏi liệu các cháu học sinh có được quyền bầu cho các địa danh thật sự nổi tiếng như trong sách giáo khoa dạy mà không nằm trong lãnh thổ của Việt Nam hay không…

Đứng trước những đòi hỏi chính đáng của đại chúng, chúng tôi thấy có trách nhiệm được chia sẻ một số thông tin để mọi người tham khảo khi tìm hiểu về 02 cuộc bình chọn các kỳ quan thế giới: Năm ngoái kết thúc cuộc bình chọn 7 kỳ quan văn hoá, năm nay đang diễn ra cuộc bình chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới.

Thứ nhất, nhà tổ chức sự kiện này là New Open World Corporation. Bản thân tên gọi đã cho thấy đó không phải là một tổ chức quốc tế (organization) như một số cơ quan thông tấn do vô tình hoặc cố ý đã dịch sai làm cho dư luận lẫn lộn hiểu nhầm. Đó là một công ty (corporation), vả lại là công ty tư nhân.

Khác với các tổ chức và cơ chế quốc tế có uy tín, có thẩm quyền đối với các vấn đề quốc tế về văn hoá thông qua hệ thống công pháp quốc tế như UNESCO (ra đời năm 1946, hiện có 191 quốc gia thành viên), ICOMOS (Hội đồng Quốc tế về các công trình kiến trúc và thắng cảnh, thành lập từ 1964 với hệ thống trên 7.500 chuyên gia hàng đầu thế giới về các công trình văn hoá), Công ước Quốc tế về Bảo vệ Di sản Văn hoá và Thiên nhiên (ra đời năm 1972, với 185 quốc gia chính thức phê chuẩn, đến 3-2008 đã có công xếp hạng 851 kỳ quan quốc gia thành di sản mang tính toàn nhân loại, trong đó có Huế, Hạ Long, Mỹ Sơn, Phong Nha, Hội An)… thì ngược lại NOWC được thành lập khoảng năm 2000 theo sáng kiến của một cá nhân. Bản thân công ty này không công bố tôn chỉ, cũng không đưa ra được bất kỳ một tiêu chí nào về lịch sử, văn hoá hoặc khoa học nhằm định hướng cho cuộc bình chọn các kỳ quan thế giới mà họ đang chủ trì.

Thứ hai, thông qua cuộc bầu chọn với quy mô quốc tế rầm rộ này, công ty này đã và đang được hưởng lợi rất lớn từ các hoạt động thông tin và truyền thông. Do đó NOWC đã bị một bộ phận dư luận quốc tế chỉ trích và tỏ thái độ nghi ngờ về mục đích trong sáng trong việc phát động các cuộc bình chọn theo lối bỏ phiếu qua mạng và bằng điện thoai di động, là cách làm thường thấy của các công ty quảng cáo hiện nay. Trong con mắt của các công ty truyền thông thì Việt Nam với số lượng người bình chọn được huy động đống nhất thế giới như hiện nay đang trở thành một miếng mồi béo bở. Chắc chắn NOWC sẽ không bỏ cơ hội đưa ra những yêu sách bắt chẹt mang tính vụ lợi để làm tiền Việt Nam.

Thứ ba, UNESCO và Liên Hợp quốc không liên quan và không có bất kỳ động thái ủng hộ nào đối với NOWC. Ngược lại, UNESCO đã bày tỏ sự lo âu về sự khiếm khuyết tính khoa học và hiệu lực quốc tế của cuộc bình chọn này. Dư luận quốc tế cũng lo ngại rằng một tổ chức dám đưa những giá trị thiêng liêng của các quốc gia để xếp hạng mà chỉ dựa vào sự áp đảo của số đông sẽ gây bất lợi về mặt quan hệ quốc tế, thiệt thòi cho các quốc gia có dân số nhỏ bé và không có nền tin học - truyền thông phát triển. Sau khi NOWC công bố danh sách 7 kỳ quan kiến trúc vào 7-2007, ngay cả báo chí phương Tây cũng phàn nàn không ít về việc Angcor Vat bị gạt bỏ khỏi danh sách vì dân số Campuchia quá bé nhỏ và không có ngành truyền thông phát triển. Nhà báo Ai Cập Al-Sayed khuyến cáo NOWC đã trục lợi thông qua việc khích lệ tính hiếu thắng của một bộ phận dân cư thế giới thiếu cảnh giác, thúc đẩy sự ganh đua mang nặng tính hiềm tị và làm cho thế giới ngày càng chia rẽ, các dân tộc càng xa cách nhau.

- Ông nghĩ sao khi có người cho rằng: “UNESCO có tiêu chí riêng của họ” còn “phong trào bầu cho các địa danh ở Việt Nam theo chương trình NOWC là mang tính tự giác”? Theo ông, có sự khác biệt gì giữa các tiêu chí và khái niệm “Kỳ quan thế giới” của NOWC và “Di sản thế giới” của UNESCO?

Sẽ thật nực cười và bất cập nếu đem NOWC để so sánh với những tổ chức uy tín và có tính hiệu lực quốc tế như ICOMOS hoặc UNESCO. NOWC chỉ đại diện cho quyền lợi của một nhóm người rất nhỏ mượn cớ văn hoá để kiếm tiền. Điều này được minh chứng bằng việc họ không hề đả động đến các tiêu chí bình bầu (khía cạnh văn hoá và khoa học) mà chỉ quan tâm đến số lượng người tham gia bình chọn trên website của họ (khía cạnh kinh tế), tức là càng đông người tham gia thì họ thu càng nhiều lợi. Bởi vậy họ chỉ đưa ra một luật chơi duy nhất là huy động số đông để chọi lại số ít, là “lấy lớn chọi bé”, “cậy đông thắng yếu” để khích lệ thị trường.

Ngược lại, UNESCO là một tổ chức Liên chính phủ được mệnh danh là diễn đàn quốc tế về văn hoá và trí tuệ quan trọng nhất hiện nay, hoạt động không tách rời với tiếng nói, ý chí của trên 190 quốc gia thành viên, trong đó có Chính phủ Việt Nam đại diện cho quyền lợi của 80 triệu nhân dân Việt Nam. Ở một mức nào đó có thể nói UNESCO chính là chúng ta, chứ không phải là “họ”, là “ai đó”. Cho nên thật sai lầm khi có một quan chức ở Bộ Văn hoá nhận xét rằng “họ”- tức là UNESCO - “có tiêu chí riêng của họ”. Đó là sự sai lầm cả về nhận thức và tình cảm, có thể dẫn đến định hướng sai khi cổ động người dân tham gia vào cuộc bình chọn không có tiêu chí và không có lựa chọn này. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc các em học sinh ở một số trường phổ thông thắc mắc và các thầy cô giáo không thể giải thích được khi yêu cầu các em chỉ được “chỉ bỏ phiếu cho Hạ Long”, “cho “Phong Nha”, cho “Phang Xi Păng”, trong khi các thày cô lại dạy các em là có những ngọn núi trên thế giới cao hơn, quan trọng hơn, vĩ đại hơn.
Ngoài ra có sự khác nhau căn bản trong các khái niệm. “Kỳ quan thế giới” không phải là khái niệm do NOWC đề xướng. Đây là một tên gọi đã xuất hiện cách đây trên 23 thế kỷ và trong suốt 23 thế kỷ qua nó luôn được mặc định là không tách rời với những công trình tiêu biểu nhất của nền văn minh cổ đại ven Địa Trung Hải. Tự cổ chí kim chưa từng có ai đi ganh tị với những kỷ niệm của quá khứ, đến mức đòi thay đổi nội dung khái niệm đó như người sáng lập ra NOWC đã làm. Bằng việc làm cố chấp và thiếu khoa học ấy chính NOWC đã đắc tội với lịch sử, đang tay xóa sổ gần hết các di tích đã có trong ý niệm từ xa xưa của loài người về một giai đoạn phát triển rực rỡ của văn hoá nhân loại ra khỏi danh sách “7 kỳ quan thế giới mới” thông qua một cuộc bình chọn không tiền khoáng hậu kết thúc vào giữa năm 2007. Trong khi đó UNESCO và Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản Văn hoá và Thiên nhiên đã đưa ra các tiêu chí mang tính phổ quát và khoa học nhất, bảo đảm lợi ích tinh thần căn bản cho mọi quốc gia trên hành tinh này. Đó là 6 tiêu chí cho các công trình văn hoá, vật thể và phi vật thể, 4 tiêu chí cho các di sản thiên nhiên, mà hễ quốc gia nào, dân tộc nào có các tài sản văn hoá và thiên nhiên đủ tiêu chuẩn thì đều được tôn vinh thành di sản mang tính toàn nhân loại, không giới hạn về số lượng. Thực chất, các di sản văn hoá và thiên nhiên chính là các kỳ quan thế giới theo khái niệm rộng. Nhưng theo tôi khái niệm “di sản” còn cao hơn khái niệm “kỳ quan” vì nó thể hiện được tính kế thừa và trách nhiệm bảo tồn. Tinh thần chỉ đạo của Công ước quốc tế về Bảo vệ di sản Văn hoá và Thiên nhiên tiến bộ là ở chỗ nó không chỉ làm nhiệm vụ tôn vinh để đem lại vẻ vang cho ai đó, dân tộc nào đó, mà trước hết nó kêu gọi trách nhiệm của chính các quốc gia sở hữu các di sản đó phải bảo vệ chúng vì lợi ích của chính mình và vì lợi ích chung của toàn nhân loại. Ngược lại, Công ước kêu gọi cộng đồng quốc tế có trách nhiệm đối với từng di sản đang hiện hữu ở mỗi quốc gia khi nó lâm nguy (như đã từng lên án việc phá bỏ bức tượng Phật đứng tại Afganistan, tài trợ cấp cứu cho Cố đô Huế mỗi khi có thiên tai…). Nhưng theo tôi, điểm ưu việt mang tính nhân văn cao của Công ước chính là ở chỗ nó không dành chỗ cho bất kỳ một ý đồ ganh đua hay tư tưởng hẹp hòi nào, dù là ganh đua về văn hoá. Với UNESCO và Công ước quốc tế về Bảo vệ Di sản Văn hoá và Thiên nhiên thì các di sản của bất luận quốc gia lớn hay bé đều có giá trị ngang nhau, đáng tôn kính như nhau, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Đó chính là nhân lành để hướng đến một thế giới ổn định, hoà bình và phát triển.

- Như vậy, theo ông cuộc chơi này có đủ tầm cỡ để chúng ta tham gia?

Điều này thuộc thẩm quyền phán quyết của các nhà quản lý và các cơ quan có trách nhiệm. Nhưng với tư cách là một công dân, từ đáy lòng tôi thấy bất an trước việc chúng ta đã huy động thái quá sự cố gắng của nhân dân vào một cuộc chạy đua rất tốn kém về tiền của và thời gian nhưng lại không rõ ràng về tiêu chí này. Lợi ích quốc gia là cao cả, là tối thượng và cũng vì lợi ích quốc gia mà chúng ta cần phải hết sức thận trọng chọn bạn mà chơi và chọn sân chơi để thể hiện tầm vóc quốc gia. Đó là nguyên tắc căn bản, bất di bất dịch trong quan hệ quốc tế. Tôi xin mạnh dạn nhận xét rằng: Khẩu hiểu ”Bầu cho Hạ Long là yêu nước” có thể đúng và có ý nghĩa trong một bối cảnh khác chứ không phải trong cuộc chạy đua do một tổ chức tư nhân như NOWC thao túng. Lòng yêu nước của nhân ta vô cùng thiêng liêng, non sông của chúng ta cùng với các di sản văn hoá do cha ông ta để lại là báu vật vô giá, là phước thiêng của dân tộc, không phải là của riêng của địa phương nào, bộ ngành nào. Vì vậy việc huy động tất cả những thứ thiêng liêng ấy cho một cuộc chạy đua không rõ tiêu chí, không rõ ràng về hiệu lực thi hành là một điều cần được mạnh dạn xem xét đánh giá lại. Như vậy mới thực sự là yêu nước, là có ý thức tự tôn dân tộc, là có trách nhiệm đối với nhân dân và Tổ quốc.

- Ông nghĩ thế nào trước một số ý kiến cho rằng nếu các địa danh của Việt Nam được bình bầu là kỳ quan thế giới thì du lịch của Viêt Nam sẽ phát triển?

Đó chỉ là cái lợi bề nổi trước mắt. Nhưng ai dám bảo đảm với Nhà nước, với nhân dân rằng thành quả đạt được từ cuộc chạy đua tốn nhiều công của và thời gian này sẽ đem lại vinh quang cho đất nước và làm cho du lịch Việt Nam chuyển vận? Ai dám chứng minh và dám chịu trách nhiệm về điều này? Chỉ có danh tiếng không làm nên kỳ tích, nhất là đối với ngành du lịch. Nếu môi trường Hạ Long ngày càng ô nhiễm như đà hiện nay, cảnh quan ngày càng bị lạm dụng khai thác bừa bãi, ngành du lịch không cải tiến nội dung và chất lượng dịch vụ thì dù chúng ta có giành được bao nhiêu danh hiệu cao quý thì tình hình cũng khó thay đổi, thậm chí là càng phản tác dụng. Nhân đây cũng xin nói thêm, Du lịch là một ngành kinh tế kinh doanh dựa trên việc khai thác tài nguyên văn hoá của đất nước, còn Văn hoá là cả một sự nghiệp toàn dân nhằm bảo tồn gìn giữ các giá trị cao quý mang tính kế thừa. Hai quá trình này tuy hậu thuẫn nhau nhưng ngược chiều, nếu văn hoá mất đi là vĩnh viễn không thể lấy lại được. Điều này không phải là chúng tôi nói mà là UNESCO nói, thế giới nói, đã được khuyến cáo nhiều trong Thập kỷ Quốc tế phát triển văn hoá do Liên Hợp quốc phát động cách đây 20 năm. Những bài học cay đắng của Indonesia vì quá ưu tiên cho du lịch đã để mất đi văn hoá Bali mà nếu phải huy động một khối lượng tiền bằng cả trăm lần doanh thu do du lịch đem lại trong mười năm tàn phá Bali thì có mất cả một thế kỷ để khắc phục cũng chưa chắc lấy lại được những gì Bali đã mất. Thái Lan cũng vậy, họ đang vô cùng khó khăn khi cố đô Authaya nguy nga tráng lệ 600 tuổi của họ vốn được xếp hạng Di sản văn hoá thế giới từ rất sớm, hiện đang có nguy cơ bị UNESCO đưa ra khỏi danh sách di sản thế giới. Các bạn Thái Lan đang phải đau đầu lựa chọn: Tiếp tục khai thác cạn kiệt Authaya cho du lịch hay gìn giữ Authaya cho các thế hệ mai sau. Chúng ta đang chứng kiến việc danh thắng của một số quốc gia đã và đang bị đưa ra khỏi danh mục các di sản của thế giới, mà đáng tiếc nguyên nhận chủ yếu đều do các hoạt động hoạch định phục vụ các mục tiêu kinh tế tại các quốc gia đó đã phương hại đến giá trị căn bản của các công trình văn hoá và thiên nhiên của chính quốc gia mình.

- Như vậy là có quá nhiều mâu thuẫn mà chúng ta chưa tính đến khi lao vào cuộc chạy đua này. Vậy theo ông thì ai sẽ được lợi nhất trong cuộc bình chọn này?

Xét cái lợi ở tầm quốc tế, người có lợi nhất là Công ty NOWC. Còn trong nước, không còn nghi ngờ gì nữa, đắc lợi nhất chính là các công ty PR ăn theo NOWC: Các nhà kinh doanh truyền thông và tổ chức các sự kiện. Tham mưu để tạo nên các sự kiện càng ồn ào, chi phí càng tốn kém thì họ càng được hưởng lợi.

- Gần đây được tin cả ba danh thắng của Vệt Nam là Vịnh Hạ Long, động Phong Nha và đỉnh Phan Xi Păng đều chiếm vị trí cao nhất trong bảng danh sách xếp hạng của các kỳ quan thế giới, chúng tôi đã liên hệ tham khảo nhận xét của Văn phòng đại diện của UNESCO tại Hà Nội, nhưng họ đã từ chối bình luận về kết quả trên. Ông có thể giải thích vì sao Việt Nam lại đạt kết quả cao như vậy? Theo ông, có thể coi đây là kết quả đáng tự hào?

Tôi không có đủ thẩm quyền để đánh giá việc này. Nhưng chúng tôi đã thử thăm dò thông tin tại một số hội nghị quốc tế trong thời gian gần đây, tra cứu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, thấy chính phủ các nước không cấm và cũng không khuyến khích sự tham gia của nhân dân vào cuộc bình chọn trên mạng này. Họ chỉ coi đó chỉ là cuộc chơi tự phát của cư dân mạng. Tuy nhiên, tôi thực sự lúng túng trước một viễn cảnh mà theo logic như hiện nay rất có thể xảy ra, là trong số 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới được bình chọn thì mai đây 3/7 kỳ quan này sẽ nằm tại Việt Nam (nếu vẫn như kết quả hiện nay). Điều đó đồng nghĩa với việc đỉnh Phan Xi Păng của Việt Nam sẽ đứng trên đỉnh Evrest cao 8,848 mét vốn xưa nay được mệnh danh đỉnh núi Thiêng và nóc nhà của thế giới, đứng trên ngọn Phú sĩ mà cả thế giới ca ngợi bốn mùa tuyết phủ của Nhật Bản, hơn cả đỉnh Aconcagua 6,962m của dãy Andes - Cổng trời của châu Mỹ… Điều này nói lên cái gì? Việc Việt Nam đang giành vị trí thứ nhất, thứ hai và thứ ba là hồi chuông, nhưng không phải để ăn mừng mà báo động rằng chúng ta đang hào hứng thi đấu bằng tổng lực trong một sân chơi vắng vẻ.

- Xin cảm ơn về những ý kiến thẳng thắn và bổ ích của Ông.

Nguồn: taị đây.

ĐƠN KHIẾU NẠI GỬI CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TP HÀ NỘI

Thưa chư vị,

Chiều nay, ngày 10 tháng 11 năm 2011, mười người chúng tôi có Đơn Khiếu nại gửi Ông Nguyễn Sơn, Chánh án Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội, về QĐ số 26/2011/ QĐ-TA ngày 27/10/2011 và Thông báo số 85/TB-TA ngày 17/10/2011 của Tòa án Nhân dân quận Đống Đa.

Vậy là một lần nữa, chúng tôi lại đứng lên, quyết bảo vệ thanh danh, nhân phẩm của mình đã bị Trần Gia Thái - TGĐ Đài PT - TH Hà Nội vùi dập, vu khống trắng trợn, lại được Tòa án Nhân dân quận Đống Đa bao che.

Dưới đây là toàn văn Đơn Khiếu nại đã được chúng tôi đồng ký tên:






NHẬT KÝ ĐƯA TANG CHA CỦA NGÔ THÌ NHẬM

Đám tang Vua Khải Định. Ảnh: Tư liệu

 NHẬT KÝ ĐƯA TANG CHA VỀ QUÊ CỦA NGÔ THÌ NHẬM

Lâm Giang

       Ngô Thì Nhậm sinh ngày 11 tháng 9 năm Bính Ngọ (1746) tại làng Tả Thanh Oai, tục gọi là làng Tó, trấn Sơn Nam (nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội), thuở nhỏ tên là Phó, sau đổi Nhậm, tự Hi Doãn, hiệu Đạt Hiên. Ông đỗ tiến sĩ năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775), làm quan tới Đốc đồng Kinh Bắc. Năm 1788, Ngô Thì Nhậm ra với nhà Tây Sơn và được Nguyễn Huệ trọng dụng với chức Thị lang bộ Công, tước Tình Phái hầu, sau thăng Thượng thư bộ Binh. Ông mất ngày 15 tháng 2 năm Quý Hợi (9-3-1803).

       Ngô Thì Nhậm để lại khá nhiều sáng tác, phần lớn được tập hợp trong tùng thư Ngô gia văn phái.

       Bài Nhật ký đưa tang cha về quê (Nguyên văn: Hồi táng trục nhật cáo văn) do Ngô Thì Nhậm viết được đặt giữa tập Hào mân ai lục. Hào mân ai lục là tập sách Ngô Thì Nhậm viết vào khoảng năm 1780 đến 1800. Hào mân ai lục, tên tập sách do soạn giả tùng thư Ngô gia văn phái đặt, gồm những bài cáo văn, tế văn, câu đối... do Ngô Thì Nhậm soạn, chủ yếu vào sau khi người cha Ngô Thì Sĩ qua đời.

       Cáo văn, tế văn, là những lời than, thổ lộ nỗi lòng thương nhớ khôn nguôi và cũng là những tâm sự, kể lể nguồn cơn sau khi cha qua đời của Ngô Thì Nhậm. Cáo văn, tế văn được ghi lại từng ngày, như là ghi nhật ký, kể từ việc dẫn quan tài cha từ Lạng Sơn về quê, đến việc ma chay, tế lễ, đến đoạn tang là 3 năm. Cáo văn, tế văn, là những bài văn ngắn, viết theo thể biền ngẫu và văn xuôi. Ngoài cáo văn, tế văn, Hào mân ai lục còn tập hợp những câu đối do Ngô Thì Nhậm đề ở các danh lam thắng cảnh như đình chùa, đền đài, nhà thờ họ, và cả ở điện tế vua Lê Hiển Tông và ở Phủ chúa...

       Hào mân ai lục còn chép một số bài văn viếng người thân, như mẹ vợ, mẹ kế, cô dì... và khép lại tập văn bằng bài Hành trạng kể về công danh sự nghiệp của người cha của mình.

       Tóm lại, Hào mân ai lục, một tập văn có nội dung khá phong phú, phản ánh nỗi lòng đau đáu thương nhớ người cha và những người thân đã qua đời của Ngô Thì Nhậm, đồng thời còn cho biết khá rõ về đời tư của Ngô Thì Sĩ, cũng như gia cảnh cha con Ngô Thì Sĩ và Ngô Thì Nhậm cuối Lê trung hưng. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số đoạn trong bài Nhật ký đưa tang cha về quê.

       “Ngày Quý Mão tháng trước, ở kinh đô nghe tin báo tang, con lập tức dâng khải báo việc đau buồn đó, được Thánh chúa nghĩ tới lòng trung thành của cha, cho con tới bản trấn đón tang, đặc biệt ban cho 100 quan tiền. Lại truyền cho quan quân ở các cơ Mại vũ, Tín sai, Hậu dực, Trung uy, Tiền hùng ở xứ Kinh Bắc cùng tới tận [Đoàn] Thành để hộ tang, lại ban thêm 20 tên lính theo con đi hộ vệ. Lũ con từ ngày Giáp Thìn tháng trước, vượt qua sông Nhĩ Hà tới trấn Kinh Bắc chỉnh đốn hành lý. Ngày Đinh Tý tháng này, qua sông Nguyệt Đức, vượt đường tiến nhanh về phía [Đoàn] Thành. Đêm đó trọ ở Xương Giang, đêm Đinh Mùi trọ ở Cần Dịch, đêm Mậu Thân trọ ở ải Chi Lăng. Sang ngày Kỷ Dậu qua cửa Quỷ Môn, vượt hai ngọn núi trọ ở đất Giang Hán, hôm ấy tới doanh Lộc Mã. Bọn con may nhờ sự che chở, đều được vô sự. Ôm quan tài than khóc, không được trông thấy mặt cha. Than ôi!”

       Sau khi chuẩn bị xong xuôi, ngày Đinh Tị, tháng mười năm Canh Tý (1780), bắt đầu đưa quan tài về quê. Mỗi ngày đều dừng lại nghỉ và làm lễ cúng cơm, Ngô Thì Nhậm viết bài văn khấn kể lể mọi việc xảy ra trên đường đi, hoặc kể lại kỷ niệm xưa của người cha, hoặc những lời than của ông...

Như:

       Từ Đoàn Thành tới đây đã năm ngày đường, (xuất phát từ ngày Đinh Tị, tới nay là Tân Dậu), đá núi gồ ghề, suối khe lầy lội, lũ con không thể tự mình ôm khóc quan tài, lẽo đẽo dọc đường, mắt nhìn mà những buồn rầu, nay có ông chú chạy tang, chỉ cùng nhìn nhau than khóc mà thôi. Khi cha còn sống, rất thương con và em, con em lúc này, không sao được nhìn thấy mặt lần nữa. Tụ họp chia lìa, sao mà nhanh đến thế. Buổi sớm xuất phát từ Mai Tiêu, đến Quang Lang, đường đi hơi bằng phẳng rộng rãi, xin linh cữu cha đi đứng như thường.

       Than ôi thương thay!

       (Ngày Tân Dậu tháng 10 năm Canh Tý).

       ...

       Tháng 10 năm Mậu Tuất, cha từ đất Bắc tới xứ Lạng, con đây bái tiễn tới núi Tam Tằng, cha cầm tay con bảo rằng: “Ta sắp có việc ở An Bác, còn sẽ được gặp con, chớ nên sớm hôm quyến luyến”. Cuối cùng thì không được như thế. Tháng 10 năm nay, cha từ Lạng Sơn về Kinh Bắc, con đây cùng với em Chí khóc đón ở núi Lộc Mã, lặn lội khe núi, ôm quan tài về cho đến mãi địa phận xứ Bắc. Kể từ năm Tuất đến năm Hợi và Tý, trong vòng 30 năm, cha con hẹn gặp nhau mà không sao được.

       Em Chí đi du học ở trong kinh, cha không cho đến thăm hỏi. Còn con đây có thể tới thăm hỏi được, thì cha lại cũng hẹn ngày tới. Từ con đường Tuyên Quang trở về, tiện đường tới mỏ Tống Tinh, lần này cha mong là một. Đã về Kinh tới xứ Bắc, nhân công cán riêng qua miền thượng du ở Bảo Mã, lần này cha lại được tin mà mong là hai. Năm tháng lần lữa, chỉ vì cái duyên cớ lương lậu mà không được gặp mặt. Chốn Kinh Bắc đó là cái nơi bất hiếu của con vậy! Nay vào tới nơi thì cha không còn nữa. Lời dặn dò con năm xưa của cha ở núi Tam Tầng, lại là lời vĩnh biệt của cha. Chao ôi! Đau đớn thay!

       Con đây chỉ dùng sách vở chữ nghĩa để làm quạt nồng ấp lạnh, không được hầu hạ hàng ngày lúc khoẻ mạnh, mà chỉ còn biết than khóc nỗi biệt ly. Lòng cha thật nhân từ, con thì thật bạc ác. Sinh con như thế, thì sinh làm gì? Nhà tranh bày lễ mọn, canh rau nước lã làm đồ cúng tế. Than ôi! Hồn thiêng mong chứng giám cho. Đau đớn thay!

       (Lễ cúng cơm buổi sớm ngày Nhâm Tuất tháng 10 năm Canh Tý)

       ...

       Nay đã qua khỏi vùng rừng núi, tới chỗ đồng bằng, nơi này gọi là đồn Cần Dịch. Thường ngày cha lên làm quan, thường đóng quân nơi này. Xin tạm dừng lại giữa đồn, để kính bày lễ mọn, và khấn cả ngày giỗ tiên tổ.

       Cúi mong linh hồn, xét tới lòng thành. Thương thay!

       (Ngày Ất Sửu tháng 10 năm Canh Tý)

       ...

       Tháng 12 mùa đông năm Đinh Dậu, cha và con cùng đi nhậm chức một ngày. Vừa mới lên đường, cha đã dừng xe lại đây, con đi sau, vì phải vào bái yết cung miếu Yên Thường, nhân trọ lại đó. Cha ở lại dọc đường mới một đêm ba lần sai sứ hỏi tin, lại chia một nửa lính để hộ vệ. Sớm ngày con tới nơi, cha cho ăn cơm, rồi cùng lên đường. Cha có một bài thơ Quan trấn thủ tiễn chân quan Đốc đồng.

       Khi tới Thị Cầu, đáp đò ngang qua sông Nguyệt Đức, lại soạn một bài thơ Quan Đốc đồng tiễn chân quan Trấn thủ. Lòng cha yêu con biết nhường nào!

       Bốn năm lại đây, con vì bận việc làm Đốc đồng nên không được phụng dưỡng cha, bèn lấy lần tiễn đưa trước làm bước ly biệt thứ nhất! Lần tiễn đưa sau làm bước ly biệt thứ hai! Lại tháng 10 năm Mậu Tuất bái tiễn ở núi Tam Tằng làm bước vĩnh biệt thứ ba!

       Nay đứa con côi khóc cha, mất hẳn ba lần tiễn, mà được một buổi khóc, đó là chỗ khiến con đau lòng đứt ruột, nên cùng với nước sông Tiêu Tương, cây ở Bát Lăng muôn năm không bao giờ hết.

       Tới giữa đường mà bày lễ khiển điện (cúng cơm), không lấy gì làm nghi thức, mâm cỗ cúng chỉ có lá bầu, thịt thỏ, gọi là tỏ chút tình tới chốn cao minh mà thôi! Thương thay!

       (Ngày Canh Ngọ tháng 10 năm Canh Tý)

       ....

       Cha trông về kinh thành đã ba năm rồi, lặn lội nghìn trùng, nay đã tới bờ bắc sông Nhĩ Hà. Trông cảnh Trường An ở phía tây, xe như nước, ngựa như rồng, những tiếng ngọc đeo sang sảng quanh toà Tử Vi. Làm tiết độ bảy châu quận, nhưng không sao được về chầu Thiên tử, liền phải cờ quạt về quê, là thơ có dấu ngọc tỉ đưa tới gọi mà không sao kịp. Các quan công khanh đón nhìn sắp tới, cờ quạt xa xa, xuôi gió về phía nam. Than ôi trời xanh thực nỡ lòng nào!

       Khi bệnh tình hấp hối, cha viết thư để lại cho con rằng: “Nếu được về kinh giáp mặt Chúa thượng trình bày, trăm mối sẽ đều được cởi bỏ”, cuối cùng không được như nguyện. Mong rằng hồn thiêng của cha ở trên trời, luôn luyến cửa khuyết, thì nay và xưa cũng không khác gì. Lúc cha còn sống, con chưa thể xin với triều đình, để cha sớm về triều cận, bèn khiến cho ước mong của Tấn công phải mang xuống chín suối, đó lại là cái tội của con, cùng với dòng nước sông này chảy mãi không bao giờ cùng! Nay căng màn ở bến sông, rót chén nước suối kia, khóc than cùng trời, mong được soi tới, đau đớn thay!

       (Ngày Tân Mùi tháng 10 năm Canh Tý)

       ....

       Một số đoạn nhật ký trích dịch trên đây thấy rõ tâm tư tình cảm của Ngô Thì Nhậm đối với người cha thân yêu của mình, đồng thời cũng thấy được nỗi vất vả của việc đưa tang từ nơi ngàn dặm về quê.

       Nhật ký ghi trên dọc đường đi từ Đoàn Thành đến bờ nam sông Nhĩ Hà là 16 ngày: Từ ngày Đinh Tị đến ngày Nhâm Thân, tháng 10 năm Canh Tý, trong đó 3 ngày: Canh Thân, Đinh Mão, Kỷ Tị không thấy ghi.

       Trong những ngày đưa tang, một việc hết sức đau lòng xảy ra mà trong nhật ký không ghi, vì đây là nhật ký của bài văn khấn cúng cơm. Việc này được ghi trong tập Kim mã hành dư, ở bài văn tế bà thứ mẫu họ Hoàng. Bà tên hiệu Tuệ Trang, vợ thứ tư của Ngô Thì Sĩ, sinh được một trai thì không nuôi được, một gái thì còn nhỏ. Ngô Thì Sĩ đột ngột qua đời, bà quá đau lòng mà lâm bệnh nặng, thuốc thang chạy chữa thế nào cũng không khỏi. Bà một mực đòi đi theo ông. Ngày đưa tang đã định, bà không đi theo được, đành ở lại. Nhưng di hài Ngô Thì Sĩ ra khỏi Đoàn Thành được hai ngày thì bà cũng qua đời. Ngô Thì Nhậm phải quay lại lo tang ma cho kế mẫu. Mua ba mẫu ruộng gửi giỗ, hẹn ba năm sau sẽ đưa hài cốt về quê, vì lúc này không thể đưa cả hai di hài cùng về được.

 

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.154-160
*Tác giả đã quá cố Lâm Giang, tên thật là Nguyễn Văn Bến, cán bộ Viện Hán Nôm.
 

TANG CHẾ CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THỜI NHÀ LÊ


TANG CHẾ CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 
- SỰ VẬN DỤNG CỦA NHO GIA VIỆT NAM THỜI LÊ
Nguyễn Công Việt
Đã từ bao đời nay người Việt, văn hoá Việt chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Trung Quốc từ hệ thống kinh điển quan phương đến thực tế truyền bá giáo dục Nho học của quan lại các cấp. Trong đó Kinh lễ - Lễ ký là một trước tác kinh điển quan trọng trong việc truyền bá của nhà nước phong kiến Trung Hoa cổ xưa. Kinh lễ - Lễ ký là sự phản ánh hoàn mỹ nhất, cụ thể nhất những phong tục tập quán của xã hội. Thông qua những lễ nghi quy định chúng ta có thể biết được thế giới tâm linh, đời sống tinh thần cùng những sinh hoạt thường nhật của con người và cộng đồng làng quê, xã hội. Phong tục tập quán của người Việt khá đa dạng và phong phú với những lĩnh vực tiêu biểu như quan, hôn, tang, tế đã được phản ánh rõ nét trong Kinh lễ; trong đó đặc biệt phải nói đến tang chế của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ trong thời trung đại.
Bước vào giai đoạn đầu thời Lê sơ, Nho giáo đã dệt được nền móng khá vững chắc và ảnh hưởng toàn diện trên khắp xã hội Việt Nam. Điển chế và pháp luật của chính thể phong kiến nhà Lê được coi là những công cụ quan trọng đặc biệt để xây dựng và cải tạo xã hội theo quy định chuẩn mực của Nho giáo, trong đó tang, chế rất được coi trọng và đặt lên hàng đầu. Tang lễ thể hiện chữ hiếu đối với ông bà cha mẹ, là biểu thị tình thương cảm, việc thờ phụng người đã khuất và luôn đi liền với Lễ. Lời của Khổng Tử ghi trong Luận ngữ: “ Sở trọng giả: thực, trung, tế” phép trị thiên hạ quan trọng nhất là những việc ăn, tang và tế.
Tang tế của người Việt từ thời Bắc thuộc đến thời Lý thời Trần như thế nào chúng ta không thể biết chính xác được. Song qua các điều luật về tang chế trong bộ luật thời Lê Hồng Đức thì ta cũng phần nào hiểu được việc tang chế xuất phát từ thực tế phong tục tập quán được thực hiện theo Kinh lễ - Lễ ký, nhà nước phong kiến Lê Sơ mới thống kê và định ra những quy chế bắt buộc. Những điều luật về tang chế nói chung đã được các nho thần soạn thảo ghi trong một số tác phẩm luật soạn Hồng Đức như Quốc triều hình luật, Thiên Nam dư hạ tập, Hồng đức thiệu chính thư...
Thời Lê sơ, ngay ở giai đoạn đầu tiên triều Thái Tổ và Thái Tông bộ Quốc triều hình luật đã được soạn thảo, bộ luật này đã được thực hiện tiếp và hoàn chỉnh vào đời Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và được bổ sung ở những năm sau đó. Quốc triều hình luật là một bộ lớn và hoàn bị nhất của thời Lê nói riêng và của lịch sử triều đại phong kiến Việt Nam nói chung. Điều đặc biệt là ngay trong phần đầu của bộ luật này là phần ghi ngắn gọn về việc tang chế với đồ giải về năm hạng để tang và biểu đồ để tang 9 họ bản tông.
Mở đầu của Quốc triều hình luật ngay dưới chữ Lê triều hình luật là đồ giải 5 hạng để tang gồm có:
1. Trảm thôi và Tư Thôi (Đại tang).
a/ Trảm thôi (con để tang cha) chịu tang 3 năm, chống gậy, áo bồng vải sô xấu, buông xổ gấu.
b/ Tư thôi (con để tang mẹ) chịu tang 3 năm, áo vải sô viền gấu. Tư thôi còn dùng cho việc cư tang 1 năm, 5 tháng, 3 tháng đối với cụ, kỵ, ông, bà.
2. Cơ niên (chịu tang chú, bác, cô ruột, anh chị em ruột, con trưởng, cháu đích tôn) để tang 1 năm.
3. Đại công (để tang chú, bác, cô, thím họ gần, anh em con chú, bác...) để tang 9 tháng.
4. Tiểu công (để tang ông bà họ gần, cô họ gần, anh em con chú con bác...) để tang 5 tháng.
5. Ty ma (để tang ông bà anh em với ông họ gần, chú bác cô thím họ xa...) để tang 3 tháng.
Tiếp theo là Biểu đồ để tang 9 họ bản tông (Tôn ti 9 họ theo hệ thống họ nhà chồng)
1. Để tang kỵ tổ ông kỵ tổ bà.
2. Để tang cụ tổ ông cụ tổ bà (và ngang vai)
3. Để tang ông bà (và ngang vai)
4. Để tang cha mẹ (và ngang vai: chú, bác, cô, thím)
5. Để tang người ngang vai mình(anh chị em ruột, họ gần, xa, chị em dâu)
6. Để tang với hàng con cái
7. Để tang với hàng cháu nội
8. Để tang với hàng chắt nội
9. Để tang với hàng chít nội.
Ngoài ra ở Quốc triều hình luật trong chương Danh lệ (quyển 1) điều 39 và điều 42 cũng nói đến việc để tang ông bà cụ kỵ nội, tang đích mẫu, kế mẫu, từ mẫu....
Bộ hội điển lớn về điển chế và pháp luật cũng được ra đời từ triều Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức là bọ Thiên Nam ngữ lục. Ở tập IX bộ sách này phần đầu của điều luật là một mục riêng biệt về thơ ngũ phục tức là 5 hạng để tang như chúng tôi đã nói ở trên, là việc để tang 3 năm đối với cha mẹ và chồng, 1 năm đối với ông bà, anh em ruột, chú bác cô ruột..., 9 tháng đối với em dâu, anh em con chú bác ... Ở đây còn ghi rõ để tang 3 năm đối với ông bà nội của cháu đích tôn thay cha khi cha đã chết.Trong sách này ở điều 6 và điều 10 còn quy định xử phạt đối với việc có tang mà giấu giếm không để tang, không tỏ ra đau thương, y phục đồ thờ trong tang chế vượt quá quy chế. Một sách luật khác cũng ra đời vào thời Lê là Hồng Đức thiện chính thư là nội dung trong đó cũng có mục ghi về tang chế. Ở mục 8 Lệ về quy chế để tang có 34 điều là việc để tang Kế phụ, Đích mẫu, Kế mẫu, nhũ mẫu, từ mẫu, giá mẫu, xuất mẫu, thứ mẫu, anh chị em cùng cha khác mẹ và cùng mẹ khác cha, bố mẹ vợ, bà ngoại..... Đồng thời là những định lệ khi đang có tang thì được phép làm gì, không được làm gì.... Ở điều luật năm Hồng Đức thứ 25 (1494) hay niên hiệu Thiệu Bình (1549 - 1556) chúng ta cũng sẽ tìm thấy điều ghi việc để tang các hạng thuộc Ngũ phục liên quan, đến các hoạt động sinh hoạt khác.
Những quy định về tang chế nêu trên là những luật định bất biến được ban bố và thi hành trong toàn xã hội thời Lê. Tuy nhiên trong một xã hội phong kiến nghèo nàn lạc hậu lúc bấy giờ, số người biết chữ rất ít, còn quảng đại nhân dân lao động đều mù chữ. Họ không được lĩnh hội hoặc thậm chí không biết đến những quy định trong tang chế mà nhà nước phong kiến đã ban hành. Khi lâm sự họ chỉ biết trông cậy vào hương chức và thày pháp trong làng. Việc tang chế nơi làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ thời đó đa phần đều giống nhau. Song “phép vua thua lệ làng” tại không ít địa phương việc tổ chức tang chế thực hiện về chi tiết có một số điểm khác biệt; hoặc do tập tục lưu truyền, hoặc do hoàn cảnh kinh tế, hoặc vì mê tín dị đoan, hoặc do điều kiẹn vùng khu vực... dẫn đến những điểm bất đồng, hạn chế thậm chí tiêu cực ảnh hưởng đến cuộc sống xã hôi cộng đồng.. Bên cạnh đó hậu tang chế đã khiến cho nhiều gia đình khánh kiệt hay phải chịu nhiều hậu quả nặng nề như ốm đau nặng, tai nạn, tử vong tiếp... Điều đó khiến cho đời sống tinh thần, tâm lý của những gia đình, dòng họ có tang hết sức khủng hoảng. Phải chăng tang lễ mà họ đã làm không đúng, thiếu sót hoặc phạm vào điều cấm kỵ gì? Trong một quá trình khá dài, ở một xã hội chịu nhiều thiên tai, nghèo đói lạc hậu thì tỷ lệ tử vong khá cao tức là việc tang ma khá nhiều.Tất cả những cái đó cũng gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân lao động trong toàn xã hội, vì vậy đòi hỏi phải có những tài liệu hướng dẫn việc tang chế có ý nghĩa phổ cập mang tính quần chúng chi tiết ngoài những quy định chính thống mà nhà nước phong kiến thời Lê đã ban hành. Đáp ứng vấn đề đó bộ Gia lễ mà chủ yếu là việc tang chế đã ra đời do Thượng thư Hồ Sĩ Dương biên soạn.
Hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn giữ được cuốn Hồ Thượng thư gia lễ (bản in năm Vĩnh Hựu 4 (1738) cùng bản chép tay sau này). Trong đó bản in có đính kèm cả sách Thọ mai gia lễ mang niên đại thời Nguyễn Gia Long. Hồ Thượng thư gia lễ được nho thần Chu Bá Đang biên tập và viết lời tựa năm Vĩnh Hựu 4(1738). Nội dung ghi những quy định về tang chế trong đó bao gồm cả tang lễ và tang phục, mọi nghi thức bắt đầu đối với người vừa mất là đặt thất sinh, mộc dục, cử ai, kết hồn bạch, chiêu hô, khâm liệm.... Các nghi tiết tế lễ, văn tế... Hình thức thực hiện đa phần dưới dạng vấn đáp, bên cạnh có cả các biểu đồ về các nghi thức, đồ liệm...
Về sách Thọ Mai gia lễ ngoài bản in và bản chép tay ở Thư viện Hán Nôm bộ sách này còn được lưu giữ nhiều ngoài dân gian, chủ yếu dưới dạng chép tay không ghi niên đại. Nội dung có nhiều điểm khác biệt do người chép thêm vào như hệ thống can chi, lục thập hoa giáp, ngày giờ tốt xấu.... Song phần cơ bản vẫn là phần ghi chép về tang chế bao gồm cả tang phục và tang lễ. Việc sắp xếp ghi chép về tang chế trong Thọ Mai gia lễ phần nền tảng vẫn giống như Hồ Thượng thư gia lễ như phép đặt Thất sinh, mộc dục, chiêu hô, phạn hàm, khâm liệm (Đại liệm, tiểu niệm) Thiết linh sàng minh hoạ, minh sinh, Triêu tịch điện... Đồng thời ở đây là sự phát triển từ sách Hồ Thượng thư gia lễ với phần dưới ghi rõ Tăng bổ Hồ Thượng thư gia lễ. Ở Thọ Mai gia lễ đó là các biểu đồ hoạ về Tiểu liệm, Đại liệm, biểu đồ hoạ về mũ, khăn, dây buộc, áo, giày dép, của trang phục Trảm thôi, Tư thôi. Biểu đồ sắp xếp phương vị trần thiết dụ tế (Linh sàng, Long tình, vật tế, Khâm sứ quan lập....) Bên cạnh là ghi chép về nghi tiết tế lễ, văn tế...
Như vậy việc ghi chép về tang chế của các nhà Nho, quan lại của chúng ta không chỉ gói gọn trong 1 vài năm ở đời Lê Vĩnh Hựu mà còn kéo dài ra nhiều năm sau đó, rồi sang cả thời Nguyễn suốt cho đến cuối thế kỷ XIX đầu XX. Chính sự lưu truyền này đã khiến cho nội dung của Thọ Mai gia lễ đã bị khác biệt ít nhiều ngoài những điểm cơ bản, đồng thời việc tang chế được ghi chép tản mạn lẫn vào các tài liệu thư tịch khác chủ yếu ở loại trạch cát, cúng đế của các thày pháp.
Đối với mỗi địa phương làng quê người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ việc tang chế cũng được các nhà Nho ở làng hay trong hàng tổng cùng chức dịch hương lý ý thức họp bàn ghi trong tục lệ hương ước.Do vậy ở trong các hương ước ta thấy khá nhiều điều ước nói về tang ma dựa trên những quy ước tang chế nói chung. Tang chế phải theo quy định từ việc để tang cho đến các nghi thức tang lễ khác như phát tang, lệ phúng viếng, lễ đưa đám, nghi trượng, các tuần tế, nghi tiết tế lễ, lễ phẩm tiến dâng, thủ tục biện lễ đối với từng việc, từng người, việc đắp mộ, lễ cải táng, những quy định xử phạt, mức phạt đối với người trong bản thôn, xã không thực hiện đúng quy ước về tang chế....
Những quy ước về tang ma này nằm trong hệ thống tục lệ hương ước, tuy chỉ là những ghi chép bình thường của các nhà Nho hạng dưới, song ở đây tư tưởng Nho gia ít nhiều đã được thể hiện ngay ở từng điều mục trong việc văn bản hoá những tập tục đã được lưu truyền tồn tại nơi làng quê. Chúng ta sẽ tìm thấy vấn đề này qua các văn bản tục lệ, hương ước Hán Nôm có niên dại vào cuối thời Lê Trung Hưng. Đó là lệ bạ việc tang ma xã Hoà Ngạc (nay là Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội) gồm 15 điều ghi khá chi tiết việc tang ma được làm năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783). Lệ và tang chế ghi trong Hương lệ xã Thượng Cát, Từ Liêm, Hà Nội. Là điều thứ 7 (tang tế sự lệ) trong Hương lệ La Nội - Ỷ La ở Hoài Đức Hà Tây lập năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752). Lệ mới về việc tang trong tục lệ thôn Cự Đà - Lộng Đình – Văn Lâm – Hưng Yên. Lệ về đại tang cha mẹ trong điều ước xã Hà Vị, Lạng Giang, Bắc Giang ghi năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751). Trong lệ về tang (18a) khoán lệ xã Hoà Tranh, Ứng Hoà, hà Tây lập năm Chính Hoà thứ 20 (1699) ghi: ‘Người nào có tang cha mẹ lại có tang cháu đích tôn trong họ thì bản xã cấm ko được dùng trầu rượu biện lễ để xin cưới hỏi. Người nào có tang ma anh em hoặc tang cha mẹ mà có chuỵện tranh chấp với người khác thực tình bị oan thì cho phép tố cáo’[1].
Ở những vùng quê nghèo khó thì quy ước về tang ma cũng được các cụ đồ Nho cùng hương chức giản tiện đi nhiều, tránh cho gia chủ có tang phải chịu hậu hoạ. Trong Giao ước Giáp Đông thôn Tam Kỳ (Văn Giang, Hưng Yên) lập năm Cảnh hưng thứ 36 (1775) có 12 điều (từ điều thứ 14 đến 26) là những quy ứơc về tang ma của bản giáp. Trong đó điều 14 ghi: ‘Lệ về chiêu đãi ăn uống (có đám ma) tất cả phải theo giầu nghèo của gia chủ, dù cỗ thường hay cỗ theo lệ cũng được hoặc đãi lợn, xôi, rượu cũng được, không đực đòi hỏi yêu sách để tỏ ý thuần hậu’[2]. Hay trong lệ tục xã Vân Sấu – Ninh Bình làm năm Cảnh Hưng thứ 15 (1754) cũng ghi: ‘Chuyện tống táng là việc quan trong. Nếu gia đình nào có người qua đời mà có lời với bản xã hành lễ tống tiễn thì sau khi xong việc, gia chủ có thịt đãi cơm rượu, bản xã cũng ko dám từ chối, còn gia đình khó khăn không thết đãi cơm rượu thì chì chỉ cần trầu nước cũng được.’[3]
Trên cơ sở những thư tịch tài liệu ghi chép về tang chế mà chúng tôi được đọc, xin tạm hệ thống sơ lược về tang chế của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ thời Lê và một phần giai đoạn thời Nguyễn tiếp sau đó.
I/ Tang chế quy định thời gian để tang
Tang chế quy định thời gian để tang được chia ra 5 hạng gồm: Trảm thôi và Tư thôi, Cơ niên, Đại công, Tiểu công và Ty ma.
1. Trảm thôi và tư thôi (Đại tang). Để tang 3 năm
a. Trảm thôi: Con để tang cha đẻ, áo tang dùng vải thô xấu đuộc chém xé may khâu qua loa để nguyên xổ gấu.
b. Tư thôi: + Con để tang mẹ đẻ. Áo tang dùng vải sô may khâu cẩn thận hơn và phải vén gấu + Tư thôi còn dùng cho cháu chết chút để tang ông bà, cụ kỵ thời gian một năm, 5 tháng, 3 tháng.
2. Cơ niên - Để tang trong 1 năm (còn gọi là cơ tang), người để tang chú, bác, cô ruột, anh chị em ruột, con trưởng, cháu đích tôn.
3. Đại công: Để tang 9 tháng: Người để tang chú, bác cô thím họ gần, anh em con chú con bác, con gái xuất giá, con dâu thứ....
4. Tiểu công: Để tang 5 tháng: người để tang ông bà họ gần, vợ của anh em chú bác, cô họ gần....
5. Ty ma: Để tang trong 3 tháng: Người để tang ông bà anh em với ông họ gần, chú bác cô thím họ xa, cháu của anh em chú bác....
II/ Lược ghi tang chế theo thứ tự 9 họ bản tông (Tức họ nội hay họ nhà chồng)
Cách gọi khi lễ khấn với những người đã khuất theo hàng chính tông là “Cao, Tằng, Tổ, Khảo (hoặc Tỷ), Thúc, Bá, Đệ, Huynh, Cô, Dì, Tỷ, Muội”(Tức là Kỵ, Cụ, Ông bà, Cha (hoặc mẹ), chú, bác, em , anh, cô, dì)
1. Để tang theo hàng chính tông
- Kỵ ông, kỵ bà, để tang Tư thôi 3 tháng
- Cụ ông, cụ bà, để tang Tư thôi 5 tháng
- Ông bà, để tang Tư thôi 1 năm
- Cha mẹ đẻ, để tang Trảm thôi (cha)và Tư thôi(mẹ) 3 năm
- Vợ chính thất để tang Tư thôi 1 năm
- Con trai, con gái và con dâu trưởng, để tang Cơ niên 1 năm. Các con dâu thứ để tang Đại công 9 tháng.
- Cháu đích tôn để tang Cơ niên 1 năm. Cháu thứ để tang Đại Công 9 tháng. Cháu dâu đích tôn để tang Tiểu công 5 tháng, dâu thứ để tang Ty ma 3 tháng.
- Chắt nội đều để tang Ty ma 3 tháng
- Chút nội đều để tang Ty ma 3 tháng
- Chắt dâu và chút dâu không để tang
Phân biệt Tang Tư thôi 1 năm, 5 tháng, 3 tháng, dùng cho cháu chắt chút để tang Cụ, kỵ, ông, bà, Tang phục dùng loại vai thô, xấu, đi chân không hoặc giày rơm, khăn vành tròn vàng (chắt) và màu đỏ (với chút). Đó là điều khác biệt với trang phục của Cơ niên 1 năm, Tiểu công 5 tháng và Ty ma 3 tháng đều dùng khăn áo bằng vải trắng thường.
2. Để tang theo hạng đồng tông ngành trai.
Để tang theo hang an hem ruột tính từ đời cụ trở xuống.
Anh em của cụ ông để tang theo Ty ma 3 tháng
Anh em của ông để tang theo Tiểu công 5 tháng
Anh em của cha kể cả bác dâu và thím để tang Cơ niên 1 năm
Anhem ruột(ngang vai) để tang Cơ niên 1 năm. Chị và em dâu để tang Đại công 9 tháng.
Con của anhem ruột để tang cơ niên 1 năm. Vợ (nó) để tang Tiểu công 5 tháng.
Chắt trai của anh em ruột, để tang Ty ma 3 tháng.
Để tang theo hang an hem con chú, con bác từ đời ông trở xuống.
Anh em chú bác của ông để tang Ty ma 3 tháng.
Anh em chú bác của cha để tang theo Tiểu công 5 tháng. Vợ (bác dâu họ) để tang Ty ma 3 tháng.
Anh em chú bác với nhau để tang Đại công 9 tháng. Vợ (nó) để tang Ty ma 3 tháng
Con trai của anh em chú bác để tang Tiểu công 5 tháng. Vợ (nó) để tang Ty ma 3 tháng.
Cháu trai của anh em chú bác để tang Ty ma 3 tháng.
Hàng để tang theo anh em cháu chú cháu bác, anh em chắt chú chắt bác đều để tang Ty ma 3 tháng.
3. Để tang theo hàng đồng tông ngành gái.
a. Để tang theo hàng chị em ruột tính từ đời cụ trở xuống.
Chị em của cụ ông để tang Ty ma 3 tháng.
Chị em của ông để tang Tiểu công 5 tháng.
Chị em của cha(cô ruột) ở vậy hoặc goá để tang Cơ niên 1 năm, đã xuất giá để tang Đại công 9 tháng.
Chị em ruột: Chưa xuất giá hoặc quay về ở với cha mẹ để tang Cơ niên 1 năm. Xuất giá để tang Đại công 9 tháng.
Con gái của anh em để tang Cơ niên 1 năm. Xuất giá để tang Đại công 9 tháng.
Cháu gái của anh em đ tang Ty ma 3 tháng.
b. Để tang theo hàng chị em con chú con bác từ đời ông trở xuống.
Chị em chú bác của ông để tang Ty ma 3 tháng
Chị em chú bác của cha để tang Đại công 9 tháng. Xuất giá để tang Tiểu công 5 tháng.
Chị em chú bác ruột để tang Tiểu công 9 tháng. Xuất giá để tang Tiểu công 5 tháng.
Con gái của anh em chú bác để tang Tiểu công 5 tháng. Xuất giá tang Ty ma 3 tháng.
Cháu gái của anh em chú bác để tang Ty ma 3 tháng.
b. Hàng để tang theo chị em cháu chú cháu bác, chị em chắt chú chắt bác để tang Tiểu công 5 tháng hoặc Ty ma 3 tháng.
c. Trong tài liệu chữ Hán ghi chép về tang chế còn có đồ giải người vợ để tang theo họ nhà chồng: theo hàng chính tông, theo hàng đồng tông ngành trai, theo hàng đồng tông ngành gái. Vì điều kiện có hạn chúng tôi xin được không ghi ở đây.
d. Ngoài ra tang chế còn ghi sơ lược về việc để tang Tam phụ, bát mẫu. Tam phụ gồm Nhạc phụ (cha vợ), Dưỡng phụ (cha nuôi), Kế phụ(cha kế, tức Dượng ghẻ). Nhạc phụ để tang Cơ niên 1 năm. Dưỡng phụ tuỳ theo từng trường hợp để tang Trảm thôi 3 năm, Cơ niên 1 năm và Tiểu công 5 tháng. Kế phụ cũng tuỳ từng trường hợp để tang 1 năm, 5 tháng hoặc 3 tháng.
e. Bát mẫu gồm Nhạc mẫu (mẹ vợ), Dưỡng mẫu (mẹ nuôi), Kế mẫu (mẹ kế), Đích mẫu (vợ chính thất của cha), Giá mẫu (mẹ tái giá khi cha mất), Xuất mẫu (mẹ tái giá vì cha bỏ), Thứ mẫu (vợ lẽ của cha), Nhũ mẫu (vú nuôi thân thiết). Nhạc mẫu để tang 1 năm, Dưỡng mẫu để tang 3 năm, 1 năm hoặc 5 tháng. Kế mẫu để tang 3 năm. Giá mẫu để tang 3 năm. Xuất mẫu để tang 3 năm hoặc 1 năm. Thứ mẫu để tang 1 năm. Nhũ mẫu để tang 3 tháng.
III. Tang phục
Tang phục được sử dụng trong tang lễ gồm mũ tang, khăn tang, quần áo tang, dây tang, giầy tang kèm các đồ tang khác như gậy tang. Tang phục được dùng phân thành các kiểu khác nhau theo từng hạng để tang riêng của con trai, con gái, con dâu, con rể, cháu, chắt, chút, của người vợ, người chồng, họ hàng...
1. Tang phục của con trai để tang cha mẹ.
Tính từ trưởng nam trở xuống tang phục giống nhau: đội mũ vành tròn tức là khăn vành rế tết bằng bẹ chuối dùng miếng vải sô buộc ngang với sợi dây chuối bện nhỏ trên mũ, làm quai quàng vào cằm. Quần áo trắng vải xấu để xổ gấu và may trái sống lưng áo khi tang cha, phải vén gấu với tang mẹ. Ngoài khoác phủ áo bằng vài sô. Ngoài áo thắt dây lưng bằng dây chuối. Đi giầy kết bằng cỏ rơm hay sợi gai hoặc đi chân không. Tóc để xoã. Khi người cha đã mất trước rồi thì tang mẹ quần áo cũng để xổ gấu.
Tang phục các con trai đều chống gậy tre, cao ngang ngực, gốc chống xuống đất. Tang mẹ phải dùng gậy vông (ngô đồng) hình thức cũng như vậy. Khi lễ cất đám con trai chống gậy đi sau linh cữu (tang cha) và đi giật lùi trước linh cữu (tang mẹ), cổ nhân gọi là “cha đưa mẹ đón”.
2. Tang phục của con gái để tang cha mẹ, con dâu để tang cha mẹ chồng.
Con gái để tang cha mẹ. con dâu để tang cha mẹ chồng có tang phục giống nhau, quần soa loại, hình thức giống như con trai, chít khăn sô có đuôi, đội thêm chiếc mũ lúp 2 lớp (trong vải xấu ngoài vải sô) có dây chuối quàng xuống cằm. Tóc để xoã. Không phải chống gậy, nhưng khi lễ cất đám đi sau linh cữu thỉnh thoảng khóc lăn xuống đường.
3. Tang phục của con rể để tang cha mẹ vợ
Quần áo trắng dài bằng vải xấu, đội khăn vành trắng, trên thêm chiếc mũ mấn là miếng vải nhỏ trắng gài vào sợi dây chuối bện nhỏ đội trên đầu buông xuống cằm. Được đi giầy dép, không phải chống gậy.
4. Tang phục của cháu ruột (nội - ngoại) để tang ông bà.
Tang phục của cháu ruột (nội - ngoại) để tang ông bà đều giống nhau. Quần áo trắng dài vải xấu, đội khăn vành trắng thêm chiếc mũ mấn giống như con rể để tang bố mẹ vợ. Cháu gái cũng đội mũ lúp giống như mẹ. Cháu trai đi chân không hoặc giầy rơm.
Các cháu họ nội ngoại đều chít khăn trắng, quần áo trắng thường.
5. Tang phục của chắt nội ngoại, chút nội ngoại để tang cụ, kỵ.
Tang phục của chắt nội ngoại để tang cụ quần áo vải trắng chít khăn vành tròn màu vàng. Nhà quan sang đại phú dùng quần áo màu vàng.
Tang phục của chút nội ngoại để tang kỵ quần áo vải màu đỏ, chít khăn màu đỏ đối với nhà phú quý. Nhà nghèo chỉ cho chít khăn đỏ là được.
6. Tang phục của vợ chồng để tang cho nhau.
Tang phục người vợ để tang khi chồng chất chết dùng khăn sô, quần áo vải sô giống như con dâu để tang cha mẹ chồng.
Tang phục người chồng để tang khi vợ chết giống như để tang mẹ Tư thôi, quần áo vải xấu vén gấu, sống lưng may trái, chống gậy vông nhưng tang chế chỉ để 1 năm. Nếu cha mẹ còn thì không phải chống gậy.
7. Tang phục của họ hàng thân thích trong tông tộc.
Dùng quần áo dài trắng, chít khăn trắng. Không có điều kiện chỉ dùng khăn trắng cũng được.
Ngoài ra các học phái, môn phái văn võ khi thầy dạy qua đời học trò cũng để tang thầy.
IV. Nghi thức tang lễ.
Nghi thức tang lễ là việc chuẩn bị và thực hiện các thủ tục nghi lễ cho người mất gọi là Tống chung, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau bắt đầu từ Mộc dục đến khi cải táng gồm hơn 20 nghi thức.
1. Mộc dục.
Khi người xấu số tắt thở rồi, người nhà dùng nước ngũ vị hương lau rửa sạch sẽ cho người chết rồi vuốt mắt, xếp nằm ngay ngắn, hai tay xoè ra úp bụng, buộc hai ngón tay cái liền nhau.
Đối với gia đình nhà quan, nhà giầu còn đặt tên thuỵ hiệu cho người mất trước khi Mộc dục
2. Chiêu hô, phạn hàm và kết hồn bạch.
Trước khi làm lễ khâm liệm thì phải làm các thủ tục chiêu hô, phạn hàm và kết hồn bạch.
Chiêu hô (hú hồn): Người nhà đứng ở cửa, cổng cầm cổ áo mà người chết thường mặc rồi hú hồn 7 tiếng (đối với đàn ông) và 9 tiếng (đối với đàn bà) gọi tên người chết để hồn về nhập xác hay gọi tắt là nhập quan. Xong đem áo đó phủ lên thi thể người chết.
Phạn hàm: Lấy chiếc đũa ngáng miệng người chết để việc phạn hàm dễ dàng và chờ xem có sự hồi sinh không. Sau đó dùng cơm hay gạo nếp cùng tiền bỏ vào miệng. Nhà giàu hay quan lại, sĩ phu thì dung vàng hay ngọc bỏ vào miệng. Sau đó trải chiếu rồi đặt thi thể xuống đất theo thuyết “Vạn vật đồng quy thổ”.
Kết hồn bạch: Cắt lấy miếng vải từ áo chiêu hô kết thành hình người có đủ đầu và tứ chi rồi đặt thờ ở linh toạ.
3. Lập tang chủ.
Gia tộc người mất lập Tang chủ để tiến hành cho đúng nghi thức lễ tang. Tang chủ tuỳ thuộc vào vai vế quan hệ với người mất thường chọn người Trưởng chính, dòng đích. Như cụ ông mất thì chọn người trưởng nam làm Tang chủ, nếu trưởng nam chẳng may đã mất trước thì chọn cháu đích tôn trưởng đã lớn làm Tang chủ.
Tương ứng là những việc cởi bỏ các thứ loè loẹt, không cười đùa vui vẻ, phải trang nghiêm lặng lẽ, mọi người đi chân không trừ bậc trên của người chết.
4. Lễ nhập niệm.
Lễ nhậpniẹm gồm: Khâm liệm và nhập quan.
a. Khâm liệm (Tiểu liệm và Đại liệm)
Khâm liệm vải quấn bên ngoài và lLiệm là vải quấn bên trong thi thể. Thường dùng vải trắng để khâm liệm. Khâm còn gọi là Đại liệm, Liệm còn gọi là Tiểu liệm và được làm trước.
- Tiểu liệm: Bao tay, chân để giữ các đốt xương khỏi mất. Bọc kín thi thể bằng tấm vải liệm rồi buộc một đai theo chiều dọc, một đai theo chiều ngang hình chữ thập. Trên thực tế và nhất là sau này người ta mặc quần áo trong và quần áo thường ở phần Tiểu liệm.
- Đại liệm: Lấy vải trắng khổ rộng bọc kỹ lưỡng thi thể, sau đó buộc một đai theo chiều dọc và 5 đai theo chiều ngang từ chân lên đến dưới cổ. Nhà giàu hay quan lại thì mặc áo khoác ngoài rồi mới quấn vải.
Đại, Tiểu liệm xong xuôi lại lấy tấm vải hay chiếc chăn bọc them bên ngoài gọi là Tạ quan để che kín các đai buộc.
Khâm liệm, nhập quan phải được chọn giờ, theo tín ngưỡng phong tục người mất phạm giờ xấu thì con cháu anh em ruột thịt hợp tuổi phải tránh khi liệm và nhập quan.
b. Nhập quan
Nhập quan là sau khi khâm liệm thì đặt thi thể đã bọc kín vào áo quan. Nếu người mất bị phạm giờ trùng tang hay nhất, nhị, tam Sa thì thầy Pháp sẽ yểm bùa trong áo quan 4 mặt, them bùa đắp mặt, quấn vào tay người mất hoặc yểm dưới các hình thức khác.
Trong áo quan thường bỏ them quần áo, tiền. Nhà giàu hay quan lại thì bỏ lụa là, bạc vàng châu báu. Sau đó đậy nắp áo quan, đặt ngay ngắn ở chính tẩm đầu phía cửa chính trông vào bàn thờ.
5. Đặt thất tinh
Theo quan niệm của Đạo giáo được áp dụng trong Tang ma thì Thất tinh là 7 ngọn nến tượng trưng cho 7 ngôi sao Bắc đẩu thất tinh gồm Dương đẩu thất tinh và Âm đẩu thất tinh hợp thành. Thất tinh đặt trên nắp quan tài theo sơ đồ riêng chòm Bắc đẩu tinh và giữ nguyên không được xê dịch. Thày Pháp đọc chú, bấm quyết khi nhập quan đặt thất tinh. Trên nắp áo quan còn đặt bát nhang, một bát cơm đầy cắm 1 đôi đũa bông cặm hai bên quả trứng gà.
6. Thất linh sàng, Linh toạ, Minh tinh
- Linh sang: Là giường nằm của linh hồn người mất (gọi là vong) đặt bên tay phải linh cữu có đầy đủ chăn, gối, màn.
- Linh toạ: Là chỗ ngồi của vong được coi là bàn thờ vong đặt trước linh cữu. Trên đặt bài vị, hồn bạch, bát hương, đèn, nhang, hoa quả. Đây là chỗ người ta vào phúng điếu, vái.
- Minh tinh: Cũng gọi là Tấm Triệu bồng vải rộng nửa mét, dài 2 hay 3 mét được căng ở cột hoặc treo ở cành phan.Triệu gốc là cờ tang được ghi tên họ, chức vị, mỹ hiệu người mất.Trên tấm Triệu 4 chữ lớn Quỷ, Khốc, Linh, Tính là những chữ dung cố định. Việc ghi tên họ gắn liền với 4 chữ lớn này làm sao không phạm vào hai chữ Quỷ Khốc mà dính với hai chữ Linh tính là tốt.
7. Lễ thành phục và Cử ai.
Các nghi thức trên sau khi đã hoàn tất thì bắt đầu mới phát tang gọi là lễ Thành phục, để cáo phó cho an hem bạn bè xa gần hang xóm biết. Lúc bấy giờ con cháu họ hang mới được dung tang phục theo quy định, mới được cất tiếng khóc, kèn trống mới được thổi đánh lên gọi là Cử ai.
8. Triêu điện tịch điện thượng thực.
Tức là dâng thức ăn vào hai buổi sang chiều cho vong linh toạ gồm các nghi tiết khóc và vái. Vì vậy có sách ghi là “Triêu địch khốc điện thượng thực”. Trong dân gian gọi nôm na là cúng cơm, lien tục cho đến tuần bách nhật thì thôi.
9. Vấn tang, khách điếu và Tạ` hiếu.
Con cháu mặc tang phục túc trực bên linh cữu, nam tả, nữ hữu và tang chủ đứng trước để đáp lễ người đến phúng viếng. Ngoài cổng, cửa cử người đón khách, đốt nhang, hướng dẫn. Khách viếng lễ xong 2 lạy thì con cháu cúi đầu tạ lại 1 lạy, khách cúi đầu mặc niệm thì con cháu vái tạ. Thái độ tang chủ và con cháu an hem phải kính cẩn trang nghiêm đối với khách điếu.
Ngay ngày hôm đó Tang chủ phải làm cỗ bàn trịnh trọng mời khách điếu ở lại ăn cỗ gọi là Tạ hiếu. Lệ này còn tiếp tục ở Lễ tuần Tứ cửu (49 ngày) với cỗ bàn mời khách đến, an hem, họ hàng, bạn bè.
10. Lễ chuyển cữu, Động quan và cất đám.
Khi thày Pháp đã định giờ tốt để chuyển linh cữu và đưa đám thì Tang chủ và toàn tang quyến quỳ lạy trước linh toạ, khấn vái rồi nhắc linh cữu lên đặt xuống 3 lần.
Động quan là sau khi đã chuẩn bị đầy đủ, con cháu quỳ lễ 1 lạy, khóc tiễn biệt thì đạo tỳ khiêng linh cữu ra xe tang. Đặt hồn bạch (sau này thay bằng di ảnh) bài vị, bát nhang lên linh xa để sẵn sang đưa đám.
Đối với người có học hạnh, nhà giầu hoặc quan lại, chức dịch trước lễ chuyển cữu thường có điếu văn, mặc niệm.
Cất đám li xe tang bắt đầu được đẩy đi từ từ. Linh cữu phải đặt đầu lên trước mặt hướng về con cháu, ngôi nhà. Con cháu có kẻ nào ở xa quá không về kịp thì mũ gậy phải được treo vào đầu cỗ đòn. Nếu tang cha thì cả con trai con gái đi sau linh linh dư. Nếu tang mẹ thì phải đi trước linh dư, con trai chống gậy đi dật lùi. Tang cả cha mẹ con trai phải chống gậy, con gái mặt phải hướng lên trước, dâu phải quay mặt phía sau. Dâu phải quay mặt phía sau. Dâu và gái thỉnh thoảng phải khóc lăn xuống đường
11. Nghi thức dẫn tang.
Nghi thức dẫn tang gồm nhiều hình thức như cờ quạt, nghi trượng, đối trướng thể kỳ (hoành), minh tinh, hương án, Linh xa, đại dư (xe tang), nhạc tang, tụng niệm. Đi đầu đám tang có Thầu Đạo lộ (phương trướng) là hai người đeo mặt nạ để khu tà quỷ, trừ ôn dịch. Rồi việc rắc vàng, bạc hang mã. Tiếp đến là dương cờ quạt nghi trượng…đi từ từ.
12. Trung đồ trạm.
Ở giữa quãng đường từ nhà đến chỗ hạ huyệt đặt trạm nghỉ chân gọi là Trung đồ trạm. Trạm làm tạm bằng tre nứa. Xe tang dừng ở trạm làm điện tế. Chủ tế cùng con cháu tang quyến quỳ lạy khấn khứa với nhiều chi tiết nhỏ, kèm nhạc hoà theo việc lễ, ít phút nghỉ ngơi rồi đám tang đi thẳng ra nghĩa địa.
13. Lễ hạ huyệt, Quy lăng và tế Đề chủ.
Linh cữu được khiêng đến gần huyệt, thần Đạo lộ múa hát quanh huyệt để trừ quỷ. Thày Pháp đọc phù chú để yểm bùa, Sư ni tụng niệm. Đúng giờ tốt hạ linh cữu xuống huyệt, con cháu khóc lóc cùng đắp đất lên mộ một vài hòn đất. Đồng thời là việc bày mâm rượu thịt, vàng mã để cúng thổ thần, lang mạch. Xong xuôi là việc cắm bia mộ để khỏi nhầm lẫn.
Lễ quy lăng cũng được làm ngay ở huyệt, sư tăng tụng niệm chèo đò đưa linh hồn vượt bể khổ đến cõi cực lạc. Các lão nhân cùng gia quyến mỗi người một nắm nhang đi quanh linh cữu (trước khi hạ huyệt) hoặc đi quanh mộ gọi là Dong nhang tức là xông hương.
Tế Đề chủ hay Thần chủ: Thần chủ là bài vị dài 4 tấc bằng gỗ Táo thờ vong đề họ tên, chức vị, ngày tháng sinh, tử đặt tron khám thờ ở nơi hay trạm gần mộ. Lệ tế này làm sau khi mai tang và chỉ có ở nhà giàu, chức sắc từ nhỏ đến lớn; chỉ để lưu bút tích của người có danh vị lớn để dự tang (đề, chấm 1, 2 nét vào thần chủ).
14. Ngu tế
Ngu tế tức là tế an vong linh thực hiện theo 3 phần: Sơ ngu gọi là Sơ hiến lễ, Tái ngu là Thứ hiến lễ và Tam ngu là Chung hiến lễ. Sơ ngu tức khi mai tang trở về tế vong linh, chôn hồn bạch vào ngày đầu. Tái ngu cúng vong ngày thứ 2 và Tam ngu cúng vong ngày thứ 2 và Tam ngu cúng vong ngày thứ 3 trùng với tuần Tam nhật. Ngu tế với nhiều nghi tiết rườm rà chỉ dùng cho nhà đại phú hoặc quan chức trung trở lên.
15. Tuần tam nhật
Từ ngày an táng đến ngày thứ 3 là tuần tam nhật, còn gọi là mở cửa mả, có lễ cúng.
16. Tuần tứ cửu
Còn gọi là chung thất tức 49. Từ ngày thứ 35 đến ngày 49 thường làm lễ rước vong lên chùa.
17. Tuần bách nhật.
Còn gọi là tuần tốt khốc tức thôi khóc vừa tròn 100 ngày, có làm lễ, sau đó không cúng cơm nữa.
18. Tiểu tường.
Tức ngày giỗ đầu sau 1 năm còn gọi là Luyện tế.
19. Đại tường
Tức ngày giỗ mãn tang 2 năm, tang phục lúc này mới được bỏ đi.
20. Đạm tế
Tức lễ cúng sau 27 tháng người mất, hạn tang đến đây mới chấm dứt hoàn toàn. Bắt đầu từ đây có thể cải táng được.
21. Cải táng
Còn gọi là cát táng cải mả hay bốc mộ tính từ tháng thứ 28 trở đi, có người để đến 5 hay 7 năm mới bốc mộ.
Lễ cải táng quan trọng không kém gì Hung táng.



1 2 3 Xem tục lệ làng xã cổ truyền Việt Nam – NXB KHXH – HN – 2006 trang 285, trang 337, trang 581
  
***

THE VIET''S MOURNING POLICY IN THE NORTHERN DELTA.
A PERFORMANCE BY CONFUCIANISTS UNDER THE LE DYNASTY
______________________________________
Nguyễn Công Việt
ABSTRACT
The influence of Kinh Lễ on customs and religious habits of the Viet in the northern delta, among which is mourning policy.
Mourning policy basic rules had been introduced into the Law under the Le monarchy (a note from Quốc triều hình luật, Thiên Nam dư hạ, etc.)
Mourning policy from Confucianist dictionary had been used to write a book by the Le mandarins to be observed by their own families and, then further, by all the strata of the society, especial in the northern delta. The typical books are Hồ thượng thư gia lễ and Thọ mai gia lễ by Hồ Sĩ Dương.
In almost all the villages the mourning policy had been noted down in their Hương ước (village conventions).
The mourning policy had put down all details like mourning dress and mourning ceremony of the Viet in the northern delta under the Le dynasty.
1. The policy stipulates five levels of mourning: Trảm thôi and Tư thôi, Cơ niên, Đại công, Tiểu công and Ty ma. The mourning policy had noted nine bản tông, according to the order of their origin.
2. Mourning dress
Mourning dress for sons and daughters of the dead parents.
Mourning dress for sons-in-law and daughters-in-law.
Mourning dress for nephews and nieces.
Mourning dress for wives of the dead husbands and for husbands of the dead wives.
Mourning dress for students of the dead teacher.
3. Mourning ceremony
Mourning ceremony covers all the formalities (about 20 items) from Phạm hàm (the cerimony of putting some gold into the dead's mouth before burial) to Cải táng (the ceremony of exhuming and moving the dead's remains to another place).
____________
* Nguồn: Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Nghiên cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành, do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Harvard -Yenching đồng tổ chức tại HN, 2007.
**Tác giả Nguyễn Công Việt là PGS. TS, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm.