Blogger Widgets

Thứ năm, ngày 03 tháng mười một năm 2011

CẦN KHÁM BỆNH KHẨN CẤP CHO MỘT SỐ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

 Luật cần không có, lại thò ra luật nhà thơ

Đại biểu không thể hiểu nổi tại sao lại đưa Luật Nhà thơ vào dự kiến chương trình xây dựng pháp luật của QH khóa XIII!

Ngày 2-11, thảo luận tổ về Dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội (QH) nhiệm kỳ khóa XIII, nhiều đại biểu (ĐB) cho rằng chương trình này còn nhiều vấn đề bất hợp lý cần phải điều chỉnh. Chẳng hạn, dự thảo chương trình đưa vào những dự án luật chưa cần thiết (như Luật Nhà thơ, Luật Thư viện) nhưng lại thiếu vắng những luật để điều chỉnh những vấn đề cấp bách hiện nay. Những dự án luật liên quan đến những quyền cơ bản của công dân lại bị bỏ ra ngoài.

Hành xử theo luật rừng giữa một rừng luật

Theo ĐB Đỗ Văn Đương (TP.HCM), cử tri kiến nghị rằng mấy năm gần đây Nhà nước ban hành một rừng pháp luật nhưng rất nhiều cá nhân, tổ chức lại hành xử theo luật rừng. Thậm chí, một số người còn khinh nhờn, ngang nhiên không thực hiện những quy định đã đặt ra do pháp luật không chặt chẽ, không phù hợp với thực tế. Nguyên nhân là do luật thì nhiều nhưng chất lượng xây dựng lại quá thấp. Trưởng ban soạn thảo các dự án luật đa phần là người đứng đầu các bộ ngành nên không đủ thời gian để nghiên cứu, các chuyên viên giúp việc thì thiếu chuyên môn và kinh nghiệm. 

ĐB Nguyễn Sơn Hà (Hà Nội) cho rằng hiện nay còn có tình trạng tách nhỏ các  lĩnh vực ra để xây dựng các dự án luật. “Luật Khiếu nại thông qua trong kỳ này đã có một chương quy định về việc tiếp công dân nhưng trong chương trình khóa XIII lại đề nghị xây dựng Luật Tiếp công dân. Điều này khiến việc thực hiện pháp luật sau này sẽ rất chồng chéo và không hiệu quả” - ông Hà nói.


ĐB Đỗ Văn Đương (TP.HCM) phát biểu tại phiên thảo luận tổ ngày 2-11. Ảnh: THANH LƯU

Tương tự, ĐB Nguyễn Thị Kim Tiến (TP.HCM), ĐB Nguyễn Đức Chung (Hà Nội) và một số ĐB khác đều cho rằng một số dự án luật hiện nay có chất lượng rất thấp, chỉ ban hành 1-2 năm, thậm chí vừa có hiệu lực đã phải sửa. Cạnh đó, các ĐBQH được tiếp cận các tài liệu quá sát nên không thể nghiên cứu kịp. “Hai tuần vừa qua chúng tôi nhận được khoảng 20 kg tài liệu. Với thời gian và số lượng tài liệu như thế này thì làm sao các ĐB đóng góp ý kiến một cách hiệu quả được. Theo tôi, cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định nên cung cấp thông tin công khai về các tài liệu liên quan đến dự án luật để các ĐB có thể tham gia góp ý ngay từ đầu” - ông Chung kiến nghị.

“Đưa Luật Nhà thơ vào làm gì?”

“Tôi không hiểu dự án Luật Nhà thơ nó chế định cái gì mà lại được đưa vào chương trình. Chẳng nhẽ lại bắt ông kia phải làm thơ, ông này không được làm. Trong khi những cái rất cần như Luật Quản lý vốn kinh doanh nhà nước, đã được đề nghị đưa vào từ khóa trước đến nay nhưng đến bây giờ chúng ta vẫn còn nợ cử tri” - ĐB Trần Du Lịch (TP.HCM) bức xúc. 

Đồng tình, ĐB Võ Thị Dung (TP.HCM) nói thời buổi này chẳng có mấy người vào thư viện thì xây dựng Luật Thư viện liệu có cần thiết? Trong khi đó, những luật liên quan đến quyền cơ bản của công dân, phát huy quyền làm chủ của người dân như Luật Trưng cầu dân ý lại chưa được xem xét. “Đề nghị đưa Luật Trưng cầu dân ý vào chương trình chính thức và đẩy nhanh tiến độ sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng. Đồng thời nên xây dựng dự án Luật Đạo đức cán bộ, công chức vì đây là vấn đề rất bức xúc hiện nay” - bà Dung kiến nghị. 

Bổ sung, ĐB Đinh Xuân Thảo (Hà Nội) nói tại nhiệm kỳ trước, nhiều dự án luật đưa vào rồi đưa ra đều dễ dàng như nhau. Nguyên nhân do khâu chuẩn bị quá dễ dãi. “Đưa vào cũng không phân tích rõ, tới lúc thấy khó một chút thì xin rút, trong đó có nhiều dự án luật rất quan trọng như Luật Đầu tư công, Luật Đất đai sửa đổi… Rồi Luật Xuất bản, QH khóa XI đã sửa, khóa XII cũng sửa rồi đến khóa XIII làm lại thì tôi cũng không hiểu nổi” - ông Thảo băn khoăn.

Luật Biển vẫn chờ 
Về Luật Biển, suốt từ năm 1994 tới giờ, lúc thì nói cho ý kiến tại một kỳ, lúc thì nói cho ý kiến tại hai kỳ, rốt cuộc đến bây giờ vẫn chưa thông qua được. Cạnh đó, UBTVQH cần báo cáo rõ các đạo luật đã được QH khóa XII thông qua và có hiệu lực thì bao nhiêu luật có đầy đủ các văn bản hướng dẫn. Thực tế có những luật sau năm năm vẫn chưa có văn bản hướng dẫn.
ĐB NGUYỄN SƠN HÀ (Hà Nội)

QH nên lập cơ quan xây dựng luật độc lập 

Nếu lật lại tờ trình của khóa XII thì thấy các giải pháp cũng không khác mấy so với khóa này. UBTVQH cũng như QH cần có sự đổi mới trong việc xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. QH cần quy định rõ ràng hơn trách nhiệm của cơ quan thẩm định dự án luật. UBTVQH cũng nên tính đến giải pháp lập một cơ quan xây dựng luật độc lập của QH. Điều này để tránh việc mang lợi ích nhóm (của các bộ, ngành) trong việc xây dựng các đạo luật.
ĐB NGUYỄN THỊ HỒNG HÀ(Hà Nội)

Soạn luật cũng mắc bệnh thành tích 

Việc xây dựng pháp luật gặp rất nhiều khó khăn vì nhiều người cứ giữ khư khư cái cũ, cản trở cái mới. Bệnh thành tích trong việc xây dựng pháp luật còn rất phổ biến. Khi có một luật mới lại kéo theo một bộ máy ra đời như khi có Luật Nuôi con nuôi thì thành lập thêm Vụ Nuôi con nuôi, có Luật Giám định tư pháp thì thành lập thêm Trung tâm Giám định tư pháp Quốc gia… Nếu chúng ta không thay đổi mạnh mẽ thì không thể khắc phục được những vấn đề này.
ĐB ĐỖ VĂN ĐƯƠNG (TP.HCM)

THANH LƯU - ĐỨC MINH

Nguyễn Xuân Diện:
Ối giời đất ơi! Lúc đầu tôi cứ tưởng bọn blogger rác rưởi vô công rồi nghề nó giễu các đại biểu Quốc hội cho vui thôi! Làm gì có Luật Nhà thơ?!! Ai ngờ nó là thật!
Chúng tôi không thể hiểu nổi được điều này, thưa Ngài Chủ tịch QH. Vì vậy, xin Ngài khẩn cấp lên danh sách để đưa một số đại biểu đi khám kiểm tra sức khỏe tâm thần ngay, nếu cần thì cho nội trú để điều trị.
Đọc thêm:

Quốc hội bàn Luật Nhà thơ 

 

Đọc báo, thấy lần này Quốc hội bàn về Luật Nhà thơ. Nếu luật này thông qua, chắc chắn nhà thơ sẽ bị bó chặt thơ trong mồm, khó để xuất khẩu thành thơ, và dân gian cũng khó mà làm thơ trào phúng, thơ kiểu bút tre. 

 

Nếu luật đưa ra các quy định về niêm vần, bằng trắc cho các thể thơ tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát, thơ tự do, quy định số câu trong một bài thơ…thì chắc chắn chẳng ai nghe điều luật tệ hại này. Bởi đây là điều mà thơ cà và nhà thơ ai cũng hiểu, và hiểu hơn các nhà làm luật bởi đó là nghệ thuật ngôn từ, nhà thơ thông thái hơn những vị vẽ luật này. 

 

Nếu luật đưa ra các định chế về việc thơ là phải chính xác, không suy diễn, không ẩn dụ, phải theo luật thì đó không thể là thơ được. 

 

Nếu luật quy định thời gian sáng tác một bài thơ, một trường ca thì triệt tiêu cảm hứng. 

 

Nếu luật quy định các nhà thơ của chúng ta phải sáng tác trong các điều luật của Luật Nhà thơ, chắc chắn đất nước Việt Nam e không còn ai dám làm thơ, hay nói đúng hơn là nhà thơ mất hết. 

 

Không biết các nhà làm luật lấy cơm từ thuế dân có hiểu về địa hạt thơ ca hay không mà dám đưa ra một bộ Luật nhà thơ để bàn trước quốc dân? 

 

Từ lúc có con người, thơ ca cũng xuất hiện một cách tự nhiên và thăng hoa cho đến hôm nay và con người sở hữu những kiệt tác vĩ đại được truyền nối qua nhiều thế hệ bằng nhiều cách. 

 

Không triều đại nào của thời phong kiến dại dột soạn luật cho nhà thơ làm thơ, cũng không nhà vua nào dám luật hoá các nghệ thuật ẩn dụ, chơi chữ trong thơ ca cả. 

 

Không biết Luật nhà thơ làm được gì cho quốc kế dân sinh mà đưa vào bàn trong khi các luật Trưng cầu dân ý, Luật biển, Luật quản lý vốn kinh doanh nhà nước thì chưa thấy đã động.

 

          Ôi thôi, một đời lọ thơ
          Cu Làng Cát

Thật là :

Trời sinh vua để làm vua
Và thi sĩ để làm thơ ru đời
Một ông vua trái luật trời
Việc vua thì nhác, lại đòi… làm thơ.

(Trên đây là đoạn mở đầu của bài thơ Nhà vua và nhà thơ của Tú Mỡ, in trên báo Ngày nay ở Hà Nội năm 1939). 

Đọc thêm nữa, chùm đàm tiếu của giang hồ, do Ba Sàm điểm:

Luật chập cheng (Quê choa). “Ngồi nghĩ mãi không ra tại sao lại có cái luật dở hơi này. Hay bởi vì dạo này thơ chống Tàu, thơ Hoàng Sa, thơ Biên giới, thơ biểu tình, thơ “đạp mặt”… nổi lên nhiều quá, chính quyền phải bày ra cái luật này để đối phó?”.  – Đỗ Trung Quân: Tranh thủ trước khi có Luật nhà thơ (Quê choa).  – Hãy nghe nhà thơ, nhà báo, blogger, ĐBQH nói về Luật Nhà thơ  (Hãy dành thời gian).  – Bùi Văn Bồng: Ô HÔ CÁI LUẬT NHÀ THƠ (Lê Thiếu Nhơn).  – Thơ: cái họa của người Việt (Trương Duy Nhất).  – Nhà thơ Trần Mạnh Hảo nói về “luật nhà thơ”.  – LUẬT NHÀ THƠ   —  (Faxuca).  – CẦN KHÁM BỆNH KHẨN CẤP CHO MỘT SỐ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI   —  (Nguyễn Xuân Diện).
Nguyễn Xuân Diện tổng hợp

-->đọc tiếp...

HAI CUỐN SÁCH VỀ VÕ NGHỆ LƯU TRỮ Ở VIỆN HÁN NÔM

 

HAI CUỐN SÁCH VỀ VÕ NGHỆ

1. VÕ KINH DIỄN NGHĨA CA 武經演義歌 [VÕ KINH TRỰC GIẢI DIỄN NGHĨA CA] 武經直解演義歌
2 bản viết (bộ: 6Q), 32 x 22, có chữ Hán.
AB.138/1 – 2: 516 tr.
AB.310: Vũ kinh trực giải diễn nghĩa ca, 438 tr.

Diễn Nôm các sách về quân sự của Trung Quốc sau đây:
Mỗi trang sách chia làm 2 phần: trên là nguyên văn chữ Hán, dưới là diễn dịch ra thơ Nôm thể 6 – 8.

2. VÕ NGHỆ QUỐC NGỮ CA 武藝國語歌
1 bản viết, 146 tr., 28 x 15, có hình vẽ minh họa, có chữ Hán.AB.577.
MF.1678.
Bài hát về cách đánh roi, gậy, côn, quyền, đao, kiếm, trường côn…
Cả hai cuốn sách này đều đang được lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Nguồn: Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu. Nxb. KHXH, Hà Nội, 1993.
-->đọc tiếp...

DANH SÁCH 199 TẠO SĨ (TIẾN SĨ NGẠCH VÕ) TRIỀU LÊ


Lời dẫn của macbupda:
Thời phong kiến, sĩ tử Nho gia đều có chí hướng thi cử chiếm công danh rồi cống hiến cho nước nhà. Ấy là bên văn. 

Còn bên võ, nhà nước cũng tổ chức một số khoa thi, chọn lấy những người có tài, và ban cho phẩm vị. 

Tạo sĩ khoa thi võ cũng tương đường tiến sĩ (tức ông Nghè) bên văn.
Em có kiếm được quyển "Võ cử và các võ tiến sĩ ở nước ta" (tác giả Nguyễn Thúy Nga, Nxb. Thế Giới), trong đó có danh sách các vị đỗ võ khoa cao cấp của Việt Nam thời Lê và thời Nguyễn. 

Xin giới thiệu để mọi người cùng tham khảo.

Các Tạo sĩ đời Lê
1. Phạm Công Tự
Người xã Cự Khánh, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Làm quan trải các chức: Cai cơ, Thiêm Sai, Trấn thủ.

2. Phạm Hữu Tuấn

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Em Phạm Hữu Nhậm, anh em đỗ cùng khoa; anh Phạm Hữu Tá, ông nội Phạm Hữu Vĩ.

3. Phạm Hữu Nhậm

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Anh Phạm Hữu Tá, Phạm Hữu Tuấn, anh em đỗ cùng khoa; ông bác Phạm Hữu Vĩ.

4. Mai Châu Điểm

Người xã Liên Cừ, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

5. Văn Đình Dận (1703-1754)

Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
22 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan đến chức Trấn thủ Tuyên Quang năm Vĩnh Hựu 6 (1740), tước Điều Trung hầu; năm Vĩnh Hựu 5 (1739) thăng Điều quận công. Thọ 51 tuổi. Sau khi mất được truy phong làm phúc thần.
Cha Văn Đình Ức, ông nội Văn Đình Cung.

6. Nguyễn Đức Luận

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

7. Nguyễn Thì Lỵ (1702-1787)

Người xã Đình Vĩ, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. 23 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.  Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan chức Cai cơ. Được về trí sĩ, thọ 85 tuổi, trải việc 4 triều.

8. Đặng Đình Truyền

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

9. Hoàng Nghĩa Bá (1696-1743)

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, Hưng yên.
29 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan chức Thống lĩnh, tước Bích Quận công. Thọ 47 tuổi. Sau khi mất được truy phong làm phúc thần.

10. Bùi Thế Tước

Người xã Thạch Thán, huyện Yên Sơn, nay thuộc xã Thạch Thán, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

11. Trịnh Điền

Họ Tôn thất. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

12. Đặng Đình Đạt

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

13. Phạm Hữu Tá

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông. Em Phạm Hữu Nhậm, Phạm Hữu Tuấn, ông chú Phạm Hữu Vĩ.

14. Nguyễn Duy Diệu

Người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

15. Nguyễn Phúc Nhuận

Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông. Làm quan chức kiêm Trấn thủ, tước quận công. Cha Nguyễn Phúc Hán.

16. Vũ Khúc Lâm.

Người xã Vượng Xã, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

17. Võ Tá Đức (1711-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biên sinh hợp thức, 21 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức Đốc trấn, Quyền phủ. Sau khi mất được tặng tước quận công. Cháu họ Võ Tá Tông, chú cháu cùng khoa; chú Võ Tá Thạc.

18. Võ Tá Tông

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. 21 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức Cai cơ. Mất tại trận, sau khi mất được tặng tước quận công. Chú Võ Tá Đức, chú cháu cùng khoa; ông họ Võ Tá Thạc.

19. Nguyễn Đức Uông

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, nay là huyện Quế Ổ, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quân trải các chức Cai cơ, Thống lĩnh. Mất tại trận. Sau khi mất được tặng tước quận công, bao phong phúc thần.

20. Lê  Công Phụ

Người xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, nay là xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.

21. Tống Đức Hải

Người xã Bùi Xá, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.

22. Hoàng Công Tuấn

Người xã Trung Vũ, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.
23. Hoàng Nghĩa Thông
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Chú Hoàng Nghĩa Đương, chú cháu cùng khoa.

24. Nguyễn Đống

Người xã Hạ Bồng, huyện la Sơn, nay thuộc xã Đức Lĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Tước quận công

25. Hoàng Nghĩa Đương.

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Cháu Hoàng Nghĩa Thông, chú cháu cùng khoa.

26. Hoàng Công Phái

Người xã Đang Dương Hạ, huyện Bạch Hạc. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức cai cơ.

27. Võ Tá Trung

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo ssĩ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Thiêm sai, Cai cơ. Mất tại trận. Sau khi mất được tặng tước quận công. Anh Võ Tá Thụy, cha Võ Tá Lệ, bác Võ Tá Dao.

28. Phạm Công Thiếp

Người xã Lãng Điền, huyện Thượng Nuyên, nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

29. Lê Cảnh.

Người hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, nay thủo thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

30. Hoàng Đỉnh Thản

Người xã Lê Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Anh Hoàng Đình Huyên, anh em đỗ cùng khoa.

31. Nguyễn Địch Côn

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Cai cơ, Đốc trấn trấn Kinh Bắc, kèm dạy ở nhà Võ học. Em Nguyễn Địch Tăng, anh em đỗ cùng khoa, ông nội của Nguyễn Địch Chủng, Nguyễn Địch Quỳnh, Nguyễn Địch Trọng.

32. Nguyễn Đình Thạch

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Quyền phủ, tước Tào quận công, quốc sư kiêm quốc lão, Phụng thị ngũ lão. Sau lại được mời ra làm quan. Thọ 78 tuổi. Sau khi mất được bao phong phúc thần. Anh Nguyễn Đình Chử, Nguyễn Đình Quyền.

33. Đặng Đình Trụ.

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

34. Hoàng Đình Huyên

Người xã Lê Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đứ 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Em Hoàng Đình Thản. Anh em đỗ cùng khoa.

35. Hoàng Nghĩa Nhương.

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hững Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan Cai cơ. Cha của Hoàng Nghĩa Yến, ông nội của Hoàng Nghĩa Trụ.

36. Phạm Phượng Nhac

Người xã Cự Khánh, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

37. Nguyễn Địch Tăng

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. 21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Anh của Nguyễn Địch Côn, ông bác của Nguyễn Địch Chủng, Nguyễn Địch Quỳnh, Nguyễn Địch Trọng.

38. Võ Tá Tín

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông.

39. Nguyễn Đình Danh

Người xã Đặng Xá, huyện Lương Tài, nay thuộc xã Trùng Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan Cai cơ. Em Nguyễn Đình Khội, chú Nguyễn Đình Can.

40. Hoàng Đình Tá

Người xã Quế Trạo, huyện Hiệp Hòa, nay thuộc xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đỗ Đồng tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông.

41. Võ Tá Thụy

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Hựu 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan chức Cai cơ, Tham lĩnh xứ Nghệ An. Cha Võ Tá Dao, em Võ Tá Trung, chú Võ Tá Lệ.

42. Võ Tá Cơ (1725-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan chức Cai cơ, Đô đốc, tước Vượng Cơ Hầu. Anh Võ Tá Kiên, Võ Tá Bật, Võ Tá Thì; cha Võ Tá Dự. (sinh năm 1725 thì năm 1739 mới 15 tuổi, vậy có lẽ ông sinh năm 1915 mới đúng)

43. Nguyễn Đình Chử (1715-?)

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cảm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Em Nguyễn Đình Thạch, Nguyễn Đình Quyền.

44. Phạm Đình Lân

Người xã Hạ Liệt, huyện Đông Sơn, nay thuộc Thanh Hóa. Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông.

45. Nguyễn Phúc Hán

Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Làm quan Cai cơ quản hải đạo. Con Nguyễn Phúc Nhuận.
46. Đặng Đình Viện
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Trước đỗ Toát thủ, sau đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vùa Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan đến Thiêm sai.
47. Ngô Phúc Hoành.
Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc, (thị trấn Nghèn), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan đến Quyền phủ, Trấn thủcác xứ Sơn Tây, Hải Dương; Kinh lược sứ đạo Thanh Hoa. Tước Hoành Phúc hầu, sau thăng tước quận công. Thọ 97 tuổi. Cha của Ngô Phúc Chủng.
48. Nguyễn Đình Khôi.
Người xã Đặng Xá, huyện Lang Tài, nay thuộc xã Trừng Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ An Quảng. Anh của Nguyễn Đình Danh; cha của Nguyễn Đình Can.
49. Nguyễn Đình Quyền
Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cảm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Quảng cơ Hậu Tiệp, tước Bàn Trung hầu. Em Nguyễn Đình Thạch, anh Nguyễn Đình Chử.
50. Lê Đình Giảng
Người xã An Quảng, huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Cai cơ.
51. Trịnh Hoành
Họ Tôn thất. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.
52. Vũ Quốc Cán
Người xã Đôn Thư, huyện Thanh Oai, nay thuộc xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.
53. Lê Thế Quýnh
Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phương Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm sai quản đường biển. Cha Lê Thế Định.
54. Mai Doãn Nhã
Người xã Đông Bình, huyện Gia Định, nay thuộc xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm sai quản đường biển.
55. Đỗ Thế Dụng
Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, nay là xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội. Chính quán xã Lai Cách, nay là thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.

56. Hoàng Đình Thể

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Đại tư mã, Trấn thủ các xứ Nghệ An, Hưng Hóa, kiêm dạy ở nhà võ học đạo Quảng Nam - Thuận Hóa, phó tướng quân. Tước quận công. Chết vì việc nước, được phong làm phúc thần. Cha của Hoàng Đình Đức, Hoàng Đình Duệ và Hoàng Đình Khuê. (Hoàng Đình Thể và hai con là Hoàng Định Duệ, Hoàng Đình Khuê tử trận trong cuộc tiến công ra Phú Xuân của quân Tây Sơn năm Bính Ngọ 1786).

57. Phạm Ngô Trác (1724-?)

Người xã Da Cầu, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
29 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm Sai, Trấn Thủ, Đốc chiến, Đốc lĩnh. Chú họ của Phạm Ngô Thạch.

58. Võ Tá Kiên

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Hiệp mưu đạo Quảng Nam - Thuận Hóa, Cai cơ Tả Thắng. Tước Kiện Kim hầu. Chết vì việc nước.
Em Võ Tá Cơ, anh Võ Tá Bật, Võ Tá Thì. Chú Võ Tá Dự.
(ông cùng tử trận với Hoàng Đình Thể trong trận Phú Xuân năm Bính Ngọ 1786)

59. Vũ Đăng Khoa

Người xã Kim Lan, huyện Cẩm Giang, nay thuộc xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. 28 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.

60. Trịnh Tự Đĩnh.

Tự Quý Quyền 貴 權
Người xã Phù Lỗ Đông, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Cai đội, Thái Bảo, Trấn thủ Hải Dương. Cha của Trịnh Tự Hiển, Trịnh Tự Thuần và Trịnh Tự Thức.

61. Đàm Đắc Chẩm

Người xã Tương Trúc, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Đề lĩnh.

62. Nguyễn Đình Triêm

Người xã Thiết Thượng, huyện Yên Dũng, nay thuộc tỉnh Bắc Giang. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Thủ hiệu.

63. Trịnh Châu

Họ Tôn thất. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông.

64. Biện Vũ Duệ.

Người xã Diên Lữ, huyện Nam Đường, nay thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

65. Võ Tá Thạc.

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Cháu Võ Tá Tổng.

66. Lê Bùi Chiểu

Người xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đặng Xá, huyện Giam Lâm, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
66. Lê Bùi Chiểu
Người xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đặng Xá, huyện Giam Lâm, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

67. Phạm Như Toại

Người xã Phúc Dương, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ Tuyên Quang.

68. Nguyễn Địch Bàn

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ các xứ Hải Dương, An Quảng và Sơn Tây, chỉ huy đồng tri. Tước Điện Lĩnh hầu. Cha của Nguyễn Địch Bàn, anh họ Nguyễn Địch Liên, Nguyễn Địch Vượng; ông họ nguyễn Địch Khuê.

69. Trương Tuân

Người xã Như Kinh, huyện Gia Lâm, nay thuộc thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. 22 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ Tuyên Quang. Cháu Trương Thuyên. Chú cháu đỗ cùng khoa.

70. Nguyễn Hữu Diễn

Người phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, any thuộc quân Hoàn Kiếm, TP Hà Nội.
Quê trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

71. Lê Đỗ Tích

Người xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, 50 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

72. Nguyễn Đình Khanh

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.

73. Trịnh Tông

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lên Hiển Tông.

74. Hoàng Sĩ Bá

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lên Hiển Tông.

75. Đinh Kỳ Trân

Người xã Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Phương Dục, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

76. Lê Trọng Hải

Người xã Hoằng Liệt, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quản đường biển.

77. Trương Thuyên

Người xã Như Kinh, huyện Gia Lâm, nay thuộc thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Chú Trương Tuân. Chú cháu đỗ cùng khoa.
(Hai chú cháu họ Trương này thấy có hai cách ghi họ Trương khác nhau, nhưng có lẽ ghi theo họ Trương của Trương Thuyên (77) là đúng, nghi là sách có sai sót).

78. Nguyễn Hữu Nhậm

Người xã Hạ Bồng, huyện La Sơn, nay thuộc xã Đức Lĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

79. Trần Danh Nhạc

Người xã Thiêm Lộc, huyện Ý Yên, nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

80. Văn Đình Lượng

Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Canh Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Con Văn Đình Dận, chú Văn Đình Cung.

81. Hoàng Nghĩa Yến

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Con của Hoàng Nghĩa Nhượng, cha của Hoàng Nghĩa Trụ.

82. Lương Như Cán

Người xã Cốc Lương, huyện Tiên Phúc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.

83. Bùi Duy Thì

Người xã ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Cha Bùi Danh Lân.

84. Trịnh Liêm

Họ Tôn thất, hàng thứ 2 thân với chúa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

85. Trịnh Chung

Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Thủ hiệu.
Em của Trịnh Thuyên, anh của Trịnh Tư, Trịnh Tiêm.

86. Trịnh Chân Trí

Người xã Thận Vị, huyện Thượng Nguyên, nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.

87. Lê Tự

Người hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

88. Văn Đình Cung

Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ ưu trúng hạng kho Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Lấy quận chúa em gái chúa Trịnh Sâm. Sau bị khép vào tội ngầm thông mưu phản nghịch, bị giam vào ngục, chúa Trịnh miễn cho khỏi tội chết.
Cháu nội Văn Đình Dận, con Quản quận công Văn Đình Ức, cháu họ Văn Đình Lượng.

89. Trịnh Thự
Họ Tôn thất.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.

90. Phạm Đình Phan

Người làng Kim Đôi, huyện Võ Giàng, nay thuộc xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.

91. Võ Tá Bật

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan thủ hiệu thiêm sai phủ liêu, Trấn thủ trấn Sơn Nam Hạ.
Em Võ Tá Cơ, Võ Tá Kiên; anh Võ Tá Thì; chú Võ Tá Dự.

92. Lê Thế Trâm (1743-?)

Người làng Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Thiêm sai, Cai cơ.

93. Đỗ Thế Dận

Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Năm Cảnh Hưng 35 (1774) làm quan Trấn thủ các trấn Thanh Hoa, Sơn Nam; năm Cảnh Hưng 38 (1777) lĩnh Trấn thủ sơn Tây, Kinh Bắc. Tước Trương Trung hầu. Sau bị cách chức vì không đương nổi việc.

94. Nguyễn Danh Đát

Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã phú Phương, huyện Ba Vị, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.

95. Vũ Tất Nhậm (1735-?)

Người xã Mỹ Thự, huyện Đường An, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
29 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

96. Nguyễn Địch Vượng

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quản hải đạo.
Cha của Nguyễn Địch Khuê; em họ Nguyễn Địch Liên, Nguyễn Địch Bàn; chú họ Nguyễn Địch Bân.

97. Trịnh Thuyên (1724-?)

Họ Tốn thất
37 tuổi đoõ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ. Chết vì việc nước.
Anh của Trịnh Chung, Trịnh Tư và Trịnh Tiêm.

98. Nguyễn Trọng Mại (1736-?)

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
28 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.

99. Hoàng Đình Bảo (1743-1782)

Trước tên là Hoàng Đăng Bảo. Sau đổi tên là Tố Lý.
Người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Trước đã đỗ Hương tiến khoa Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng 26 (1765), 24 tuổi lại đỗ Tạo sĩ ưu phân hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Có tài cả văn lẫn võ, được Ân Vương Trịnh Doanh gả con gái, làm Phò mã.
Làm quan quảnh binh, Trấn thủ các xứ: Thuận Hóa, Sơn Nam; sau làm Tham tụng. Tước Điển Thọ hầu, sau thăng Huy quận công. Bị loạn quân giết năm Canh Hưng 43 (1782).
Cháu họ Hoàng Ngũ Phúc, được Hoàng Ngũ Phúc nuôi làm con.

100. Phạm Hữu Vĩ (1739-?)

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 28 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua lê Hiển Tông.
Làm quan Cai Cơ.
Cháu nội Phạm Hữu tuấn; cháu họ Phạm Hữu Nhậm, Phạm Hữu Tá.

101. Võ Tá Thì (1745-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 22 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu thiêm sai phủ liêu.
Em Võ Tá Cơ, Võ Tá Kiên và Võ Tá Bật; chú Võ Tá Dự.

102. Lê Thì Hoan (1746-?)

Người xã Phú Hào, huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

103. Trần Danh Siêu (1743-?)

Người làng Vạn Phần, huyện Đông Thành, nay là xã Điền Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Biền sinh hợp thức, 24 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Trần Danh Thự.

104. Nguyễn Địch Liên

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quân Thủ hiệu. Năm Bính Ngọ chết vì việc nước.
Em họ Nguyễn Địch Bàn, anh họ Nguyễn Địch Vượng, chú họ Nguyễn Địch Bân, bác họ Nguyên Địch Khuê.

105. Trịnh Chử (1743-?)

Họ Tôn thất.
24 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Anh Trịnh Bích, Trình Thì.

106. Nguyễn Tông Hải

Người xã Yên Khê, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Yên Trường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Trước thi hương đỗ Hương cống, sau chuyển sang ngạch võ. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

107. Nguyễn Đình Khoan

Người xã Thượng Trì, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Trước thi hương đỗ Hương cống, sau chuyển sang ngạch võ. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan đến chức Cai cơ.

108. Nguyễn Đức Trung

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đức Hiệp, chú Nguyễn Trọng Mại.

109. Nguyễn Đình Tuân

Người xã yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Em Nguyễn Đình Xuyến, anh Nguyễn Đình Bát.

110. Nguyễn Mậu Phác

Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ, chết vì việc nước.
111. Dương Đình Hài
Người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
 

112. Nguyễn Đình Hòe
Người xã Câu Tử, huyện Duy Tiên, any thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

113. Phạm Huy Dật

Người xã Cao Mỗ, huyện Thần Khê, nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ sưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu

114. Nguyễn Hữu Diệm

Người xã Mỹ Dụ, huyện Hưng Nguyên, nay thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

115. Nguyễn Danh Thái

Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã Phú Phương, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

116. Nguyễn Gia Bàn (1745-?)

Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
25 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

117. Hoàng Nghĩa Nhị

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Trấn thủ đạo An Quảng.
Cháu Hoàng Nghĩa Bá.

118. Võ Tá Lệ

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Võ Tá Trung, cháu gọi Võ Tá Thụy là chú, anh họ Võ Tá Dao.

119. Võ Tá Dao (1746-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
27 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Trấn thủ Nghệ An.
Con Võ Tá Thụy, cháu gọi Võ Tá Trung là bác, em họ Võ Tá Lệ.

120. Võ Tá Dự (1748-?)

Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Cai cơ, Thủ hiệu, Thiêm sai phủ liêu.
Sau đổi sang họ Dương (Dương Vũ Dự).
Con Võ Tá Cơ, cháu họ Võ Tá Kiên, Võ Tá Bật, Võ Tá Thì.

131. Trịnh Tiêm

Họ Tôn thất.
Biền sinh hơp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Em Trịnh Thuyên, Trịnh Chung, Trịnh Tư, anh em đỗ cùng khoa.

123. Nguyễn Hữu Lý

Người xã Mậu Lâm, huyện Nga Sơn, nay thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

124. Trịnh Nhuận (1748-?)

Họ Tôn thất.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
(Các tài liệu chữ Hán đều ghi là chữ nhuận 潤 có bộ thủy, nhưng tác giả Nguyễn Thúy Nga cho rằng người họ chúa Trịnh đều có bộ mộc nên đã đổi lại thành chữ nhuận có bộ mộc, xem hình kèm theo).

125. Ngô Hữu Khoát (1748-?)

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

126. Trần Danh Chấn

Không rõ quê quán.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

127. Trịnh Liêm

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

128. Trần Danh Thự.

Người xã Vạn Phần, huyện Đông Thành, nay là xã Điền Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trần Danh Siêu.

129. Phan Đình Cung

Người xã Nam Ngạn, huyện La Sơn, nay thuộc Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

130. Hoàng Đình Đức (1750-?)

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, 23 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Con của Hoàng Đình Thể; anh Hoàng Đình Duệ, Hoàng Đình Khuê.
Làm quan đến Trấn thủ xứ Hưng Hóa.

131. Nguyễn Đình Trụ

Người xã Linh Đường, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

132. Trịnh Quyền

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
133. Trịnh Thì
Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trịnh Chử, Trịnh Bích.

134. Nguyễn Ngô Khanh

Người xã Văn Trinh, huyện Ngọc Sơn, nay thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

135. Nguyễn Đức Hiệp

Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuọc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Nguyễn Đức Trung, chú Nguyễn Đức Mai.

136. Trịnh Bích

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trịnh Chử, anh Trịnh Thì.

137. Trịnh Bàn

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

138. Lê Trọng Phan (1748-?)

Người xã Bùi Xá, huyện La Sơn, nay thuộc xã Bùi Xã, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

139. Nguyễn Đình Xuyến (1743-?)

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 30 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu, Tham đốc.
Anh Nguyễn Đình Trân, Nguyễn Đình Bát.

140. Nguyễn Gia Quan

Người xã Phương Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quyền phủ Hiển lĩnh kiêm Trấn thủ Thái Nguyên.

141. Bùi Thế Toại.

Người xã Tiên Lý, huyện Đông Thành, nay thuộc tỉnh Nghệ An.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Hiến lĩnh Trấn thủ Nghệ An.
142. Lê Thế Siêu
Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thiêm sai.

143. Lê Thế Định

Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
25 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thiêm sai.
Con Lê Thế Quýnh.

144. Nguyễn Huy Chiểu

Người xã Nhân Môn, , huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

145. Vũ Đình Khanh

Người xã Tiên Cầu, huyện Kim Động, nay thuộc xã Hiệp Cường, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
(Sách Đại Việt sử ký tục biên ghi: “Tạo sĩ mới đỗ khoa Ất Mùi Vũ Đình Khanh trong ngày phúc duyệt có mang sách vào trường, bị bắt, phải xóa tên).

146. Ngô Trọng Định

Người xã Phương Quế, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Liên Phương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

147. Nguyễn Thế Dao

Người xã Nghi Khê, huyện Tứ Kỳ, nay thuộc xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

148. Nguyễn Đăng Nhương

Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

149. Đoàn Bá Sướng

Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuọc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Đoàn Bá Trọng

150. Nguyễn Quốc Quý

Người xã Lộng Đình, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

151. Nguyễn Địch Chủng (1746-?)

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, 29 thuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Cháu nội Nguyễn Địch Côn; cháu gọi Nguyễn Địch Tăng là ông bác; em Nguyễn Địch Trọng, Nguyễn Địch Quỳnh.

152. Nguyễn Danh Triêm
Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã Phù Phương, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan thủ hiệu. Chết vì việc nước, được phong Tráng liệt đại vương.
(Có lẽ ông chính là Chiêm Vũ Hầu chết vì loạn kiêu binh năm 1784. Xin tham khảo nguồn sau: http://dulichvietnam.asia/vn/?product.item.2856)

153. Lê Đình Cẩn (1726-?)

Người xã Nhân Mục Cựu, huyên Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 51 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

154. Trịnh Đĩnh

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước năm Bính Ngọ.
155. Nguyễn Địch Bân
Ngời xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Hiển lĩnh, thiêm sai, Trấn thủ Hải Dương. Chết vì việc nước.
Con Nguyễn Địch Bân; cháu họ Nguyễn Địch Liêm, Nguyễn Địch Vượng; anh họ Nguyễn Địch Khuê.

156. Đỗ Đình Diệm

Người xã Tiểu Lan, huyện Đông Yên, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Anh Đỗ Đình Liễn.

157. Nguyễn Danh Lan

Người xã Ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay tuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.

158. Trần Vũ Định

Người xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, nay thuộc xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

159. Tạ Đăng Liêm

Người xã Đại Phùng, huyện Đan Phượng, nay thuộc thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Cố nội là Tạ Đăng Vọng, ông nội là Tạ Đăng Huân, cha là Tạ Đăng Đạo đều đỗ Tiến sĩ ngạch văn.

160. Trịnh Tự Hiển

Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ quản thủ hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Trịnh Tự Đĩnh, anh Trịnh Tự Thuần, Trịnh Tự Thức.

161. Hoàng Nghĩa Trụ.

Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, thi một lần đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ Hiệu.
Con Hoàng Nghĩa Yến, cháu nội Hoàng Nghĩa Nhượng.

162. Trịnh Thiều

Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.

163. Vũ Tá Ngạnh

Người xã Hoa Đường, huyện Đường An, nay thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

164. Nguyễn Đình Cẩn

Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.

165. Võ Tá Siêu.

Ngưỡi xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Làmquan Thủ hiệu.

166. Võ Tá Diệm

Ngưỡi xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.

167. Hoàng Đình Duệ

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
 Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, anh Hoàng Đình Khuê, anh em đỗ cùng khoa.

168. Hoàng Đình Khuê

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
 Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, em Hoàng Đình Duệ, anh em đỗ cùng khoa.

169. Khúc Đăng Liêm

Người xã Lãng Khuê huyện Ngự Thiên, nay thuộc huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

170. Nguyễn Gia Huyên

Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.

171. Đoàn Bá Trọng

Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Đoàn Bá Sưởng.

172. Ngô Phúc Chúng

Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc (thị trấn Nghèn), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Con Ngô Phúc Hoành.

173. Hoàng Phùng Gia

Người xã Vân Cốc, huyện Bạch Hạc.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Đô đốc triều Tây Sơn.
Tục gọi là Tạo Ba Bầu. Con thứ 3 Dục quận công.

174. Nguyễn Đăng Nhượng.

Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đăng Nhưỡng, chú Nguyễn Đăng Đệ.

175. Bùi Đăng Huân

Người xã Đoàn Đào, huyện Phù Dung, nay thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

176. Trịnh Giai

Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
177. Nguyễn Đăng Đệ
Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu họ Nguyễn Đăng Nhưỡng, Nguyễn Đăng Nhượng.

178. Dương Vị

Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em họ Dương Dận, Dương Thiều.

179. Nguyễn Đình Bát

Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hn.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đình Xuyến, Nguyễn Đình Tuân.

180. Ngô Trọng Thọ

Người xã Mỹ Thự, huyện Đường An, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

181. Phạm Ngô Thạch (1765-?)

Người xã Da Cầu, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu họ Phạm Ngô Trác.

182. Lê Xuân Trác

Người xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

183. Nguyễn Trọng Nhẫn

Người xã Mỹ Điền, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

184. Đỗ Đình Liễn

Người xã Tiển Lan, huyện Đông Yên, nay thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Đỗ Đình Diệm.

185. Nguyễn Địch Khuê

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hơp thức, đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễ Địch Vương, cháu họ Nguyễn Địch Bàn, Nguyễn Địch Liên em học Nguyễn Địch Bân.

186. Nguyễn Đình Can

Người xã Đặng Xá, huyện Lang Tài, nay thuộc xã Trung Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễn Đình Khôi, cháu họ Nguyễn Đình Danh.

187. Dương Dận

Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Dương Thiều, anh em cùng khoa; anh họ Dương Vị.

188. Dương Thiều

Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Dương Dận, anh em cùng khoa; anh họ Dương Vị.

189. Lê Hữu Đạm

Người xã An Tĩnh, huyện Quảng Xương, nay thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

190. Ngô Phúc Thưởng

Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc (thị trấn Nghèn), huyên Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

191. Nguyễn Thọ Doãn

Người xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

192. Phạm Trọng Trạc

Người xã An Luật, huyện Gia Lộc, nay thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

193. Hoàng Đình Thực (1765-?)

Người xã Linh Đường, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Tả tiệp.

194. Trịnh Tự Thuần (1765-?)

Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễn (?) Tự Đĩnh, em Nguyễn Tự Hiển, anh Nguyễn Tự Thức, anh em đỗ cùng khoa.

195. Trịnh Tự Thức (1769-?)

Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
17 tuổi thi một lần đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Trịnh Tự Đĩnh; em Trịnh Tự Hiển, Trịnh Tự Thuần.

196. Nguyễn Hữu Ích

Người xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

197. Nguyễn Đức Bồi

Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơ, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

198. Nguyễn Địch Quỳnh (1765-?)

Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu nội Nguyễn Địch Côn; cháu gọi Nguyễn Địch Tăng là ông bác; em của Nguyễn Địch Chủng, anh của Nguyễn Địch Trọng.

199. Trương Đình Vệ

Người xã Vương Xá, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

-->đọc tiếp...

CÙNG TÌM HIỂU VỀ LỊCH SỬ THI VÕ CỦA NƯỚC TA

Tạo sĩ hiển hồi (Người thi đỗ Tiến sĩ ngạch võ vinh hiển trở về quê). Tranh dân gian.
LỊCH SỬ VÕ CỬ Ở NƯỚC TA
Nguyễn Thúy Nga

Thuật ngữ "khoa cử" đã được biết đến với lịch sử hàng nghìn năm và gắn liền với người đỗ là các Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ, Hương cống, Cử nhân v.v... Còn "võ cử" với các Tạo sĩ, Võ tiến sĩ, Võ cử nhân v.v. bắt đầu từ bao giờ, có lịch sử phát triển như thế nào, thì dường như chưa được quan tâm đúng mức.

Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một cách khái quát lịch sử võ cử ở nước ta thời phong kiến, từ khởi thủy đến khi kết thúc.

1. Từ đời Lê sơ về trước:

Sử sách lần đầu tiên ghi năm Thiên Phúc thứ 7 (986) đời Tiền Lê, chọn trong dân, lấy những người trai tráng khoẻ mạnh, biết võ nghệ sung vào quân ngũ. Đời Lý - Trần vẫn theo phép tuyển quân như vậy nhưng biên chế luân phiên, người nào già yếu thì thải về, chọn dân binh khỏe mạnh thay thế.
Đời Lê sơ bắt đầu có lệ khảo thí. Năm Thuận Thiên 2 (1429) sắc cho các quan văn võ trong thiên hạ, từ tứ phẩm trở xuống, văn thì thông kinh sử, võ thì thông võ kinh đến tháng 5 năm sau (1430) tập trung ở Đông Kinh để khảo thí. Quan võ thi võ kinh và pháp lệnh kỳ thư.

Đến đời Lê Thái Tông có lệ khảo xét võ nghệ các tướng hiệu. Phép khảo xét gồm 3 môn: bắn cung, ném lao, lăn khiên để so đọ được thua. Cả 3 môn đều trúng thì cấp lương toàn phần, người nào không trúng sẽ bị giảm. Việc này sau định làm lệ thường.

Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức 9 (1478) định lệ thưởng phạt kỳ thi đô thí (tức kỳ thi võ nghệ ở kinh đô), chỉ thi cung tên, kiếm, mộc để định hơn kém, phép thi chưa được kỹ càng. Năm Hồng Đức 17 (1486) quy định cho cháu trưởng những người tước công, hầu, bá, tử, nam và con trưởng các quan văn quan võ hàng nhị phẩm, tam phẩm, người nào xin học tập võ nghệ thì do viên quan trong Cẩm y vệ luyện tập, hàng ngày đến trường thi võ nghệ ở phía tây kinh thành tập các môn bắn cung tên, phóng lao tay và lăn khiên. Đến cuối mùa đông thì khảo hạch. Học tập 3 năm, viên quan ở Cẩm y vệ khảo thi, nếu thấy đạt yêu cầu thì đưa sang dự thi ở Bộ Binh. Người nào khảo thi đỗ sẽ được bổ vào chức Võ uý.

Xem như vậy có thể biết từ đời Lê sơ trở về trước, việc tuyển lính và thi võ nghệ rất đơn giản, chưa đặt ra các trường học và chưa tổ chức thi theo chương trình.

2. Đời Lê Trung hưng
 
Đầu đời Lê Trung hưng, hàng năm vẫn theo lệ giảng tập và khảo duyệt như trước. Đến niên hiệu Bảo Thái đời vua Lê Dụ Tông, chúa Trịnh là Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương mới phỏng theo phép nhà Đường, nhà Tống, nhà Thanh ở Trung Quốc thi võ để tuyển chọn nhân tài.

Sự kiện chúa Trịnh Cương cho mở trường võ học vào năm Bảo Thái 2 (1721) và đặt chức quan Giáo thụ dạy con cháu các quan học võ nghệ, võ kinh có thể coi là sự khởi đầu cho việc học và thi võ cử ở nước ta.

Tháng 8 năm đó cho các triều thần bàn thi hành nội dung học và phép thi võ. Lại lệnh cho con cháu công thần và con cháu bầy tôi đều được vào nhà võ học, luyện tập chiến lược trong võ kinh và các môn võ nghệ. Hàng tháng đều có tổ chức thi, gọi là tiểu tập. Mỗi quý thi một kỳ vào tháng giữa của quý đó, gọi là đại tập. Hàng năm, vào mùa thu mùa xuân tập võ nghệ; mùa đông mùa hạ học võ kinh. Qua các kỳ thi trong năm, tức 12 lần tiểu tập và 4 lần đại tập, nếu người nào trúng tuyển sẽ được Giáo thụ trực tiếp giảng dạy đề cử để bổ dụng. Lại mở rộng dạy võ bằng cách thi cưỡi ngựa, bắn cung, giảng dạy thao lược làm cho các võ sĩ ngày càng tinh luyện rồi chọn người có tài mà bổ dụng.

Năm Quý Mão niên hiệu Bảo Thái 4 (1723), tháng 10, bắt đầu bàn định mở khoa thi võ(1), cứ 3 năm mở 1 kỳ như lệ bên văn khoa. Lấy các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Sở cử; các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Bác cử. Thi Sở cử là kỳ thi tổ chức ở các trấn, chọn người đỗ cho dự thi ở Kinh. Thi Bác cử là kỳ thi tổ chức ở Kinh đô, những người đỗ Sở cử mới được dự kỳ thi này, và chỉ tổ chức thi một kỳ chứ không chia ra thi Hội và thi Điện như văn cử.

Đối với kỳ thi Sở cử, quy định tất cả các thuộc viên ngoại binh, võ sinh ở các đội Thị nhưng cùng là dân đinh, ai có tài trí mưu lược hơn người và các quân sĩ có học tập võ nghệ đều được dự thi Sở cử. Vào năm có khoa thi, đầu tuần tháng tư năm này, quan bộ Binh khải lên chúa Trịnh, xin chiếu lệ mở khoa thi, chúa chuẩn khải, vào tháng 10 thì thi hành.

Kỳ thi này tổ chức ở nhà Võ học. Chúa Trịnh cho cử một viên quan võ làm Đề điệu, 2 viên Giám thí, 2 viên Giám khảo, 4 viên Phúc khảo, 4 viên Đồng khảo, dùng cả quan võ lẫn quan văn. Quan trường võ cử khoa này cũng chính là quan trường của kỳ thi Hương văn cử. Còn các viên Tuần xước, Thể sát, Thu quyển, Di phong, Soạn hiệu và Tả bảng nhất luật đều theo thể lệ trường thi Hương bên văn, mỗi chức 1 viên. Cử các viên Tá nhị ở các phủ, huyện, châu trong xứ ấy, mà người nào thanh liêm, công bằng mới được tiến cử cho làm. Người nào quê ở trong xứ có trường thi thì không được sung vào làm quan trường.

Khoa này số người dự thi khá đông. Trường nhất thi lược vấn có 572 người, chọn được 188 người tương đối thông thạo về đại nghĩa. Trường nhì thi võ nghệ, gồm 172 người. Lấy 12 người vào hạng tam thắng, 16 người hạng nhị thắng, 17 người hạng nhất thắng, 21 người vào hạng bình phân. Có 6 người vào hạng thiếu 1 điểm nhưng vì thân thể, diện mạo, can đảm, sức lực có phần khá nên được lấy trúng. Lại có 14 người vào hạng nhất thắng nhưng thân thể, diện mạo, sức lực đều bình thường nên không được lấy trúng. Chúa Trịnh Cương ngự ở nhà Võ học, sai quan trường dẫn 62 người được lấy trúng về môn võ nghệ, đều là môn múa siêu đao và lăn khiên vào yết kiến. Ngày hôm sau thi bài văn sách, hỏi 6, 7 câu về phương thức đánh trận, địa hình bày trận và một bài thơ Tu tạo bảo pháp. Về môn thi võ nghệ, tức trường nhì, người nào trúng được làm Sinh viên, quan viên tử, quan viên tôn (con và cháu các quan viên) trúng được làm Biền sinh. Về môn văn sách, tức trường 3, người nào trúng được là Học sinh; quan viên tử, quan viên tôn trúng được làm Biền sinh hợp thức. Những người này chờ đến năm sau vào thi Bác cử.

Đó là kỳ thi Sở cử đầu tiên tổ chức vào đời Lê và cũng là đầu tiên ở nước ta.

Năm sau, Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724), tháng 9 theo bàn định năm trước, chúa Trịnh Cương bắt đầu cho mở trường thi Bác cử. Kỳ thi này diễn ra ở phường Thịnh Quang, nay là phường Thịnh Quang, quận Đống Đa Tp. Hà Nội(2). Năm này là năm mở khoa thi Bác cử đầu tiên nên chúa Trịnh Cương rước vua Lê Dụ Tông đến xét duyệt, còn các khoa sau chúa Trịnh tự quyền khảo xét. Để chuẩn bị cho kỳ thi, các thí viện, khảo viện và nhà cửa ở cả nội trường và ngoại trường đều được xếp đặt đầy đủ. Lại dựng Quan thí lâu (lầu duyệt thi) giống như thể chế điện Giảng Võ.

Kỳ thi Bác cử cũng gồm 3 trường: Trường nhất hỏi 10 câu trong bộ Võ kinh thất thư, trường nhì thi võ nghệ, trường 3 thi văn sách hỏi về thao lược binh gia. Người nào trúng cách được làm Tạo sĩ, được bổ dụng ngang với Tiến sĩ bên văn khoa. Người nào 2 trường đệ nhất đệ nhị võ nghệ tinh thông thành thạo mà trường văn sách không hợp thức thì chọn lấy người trội nhất trong số đó cho đỗ Tạo toát (hoặc còn gọi là Toát thủ), cũng cho bổ dụng ngang người đỗ Tạo sĩ. Các binh trong ngoài kinh đến kỳ thi Bác cử thì cũng cử người đến khảo thí ở sân phủ chúa, tùy tài lĩnh thưởng chứ không được lấy đỗ như các Tạo sĩ(3).

Khoa này lấy bọn Nguyễn Công Tự 11 người đỗ Tạo sĩ xuất thân, ngoài ra thì cho đỗ Tam trường. Đó là 11 Võ tiến sĩ đầu tiên của nước ta. Trong số này, Văn Đình Dận (người thôn Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), Hoàng Nghĩa Bá (người xã Hoàng Vân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) và Nguyễn Thì Lỵ (người xã Đông Vĩ, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội) sau đều là các danh tướng một thời.

Từ đó về sau, cứ theo lệ 3 năm mở một khoa thi. Đời vua Lê Dụ Tông mở khoa thi thứ 2 vào năm Bảo Thái 8 (1727). Khoa này lấy đỗ 5 người.

Đến năm Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường, triều thần bàn luận, cho rằng lựa chọn tài "can thành"(4) trước hết phải căn cứ vào kỹ năng và sức mạnh. Những khoa thi trước đây, trường đầu hỏi về nghĩa sách võ kinh để thải bớt những người kém, người có kỹ năng và sức khỏe nhưng chưa thông binh thư tất sẽ bị đánh hỏng. Cũng có khi có người vì nhờ người làm bài mà trúng tuyển. Đến trường thi võ nghệ, mỗi môn thi theo từng hiệp, hai người lấy một người thì thực tế số người tài giỏi ưu tú bị loại mất một nửa, còn số kém cũng có một nửa được lấy đỗ. Do đó bèn theo thể chế thi võ ở đời Thanh bên Trung Quốc mà bàn định lại: Trường nhất thi giương cung múa đao. Trường nhì tham bác phép thi của Trung Quốc và nước ta quy định thi bắn cung, múa kiếm và cưỡi ngựa múa đâu mâu. Về môn bắn cung thì chia ra cưỡi ngựa bắn cung và chạy bộ bắn cung, mỗi thứ một tao. Trường ba thi văn sách, hỏi sơ lược những điều chép trong Võ kinh thất thư để xem học lực, sau đó khảo kỹ về phương pháp mưu lược việc binh để biết tài năng.

Năm Vĩnh Khánh 4 (1732)(5) chúa Trịnh Giang(6) cho rằng các khoa Bác cử lấy đỗ có hạn, có khi bỏ sót mất nhân tài. Bèn theo lệ bên văn cử có khoa Hoành từ để đặt ra khoa Hoành tuyển khảo hạch riêng môn võ nghệ. Phàm các quản binh xuất thân từ chánh phó đội trưởng binh Thị hậu trở lên, các tùy viên thuộc hiệu, các Biền sinh, những người thi Bác cử dự trúng nhị trường đều được ứng thí. Người nào đỗ được bổ dụng. Khoa Hoành tuyển không thấy sử sách ghi phép thi thế nào, thể lệ đỗ ra sao, tổ chức được mấy khoa và bao nhiêu người được lấy đỗ? Nhưng xét khoa Hoành từ(7) của văn khoa thấy sử ghi đặt ra hồi đầu đời Lê sơ, năm Thuận Thiên 4 đời vua Lê Thái Tổ (1431). Hoành từ có nghĩa là lời văn dồi dào, rộng rãi khoáng đạt, tỏ ra có lực học cao sâu. Thi Hoành từ là để chọn người văn hay học rộng, mà cũng chỉ người nào đã đỗ Hương cống, tức đã đỗ thi Hương, vào thi Hội không trúng cách mới được dự thi, cốt là để lấy những danh sĩ bị bỏ sót, do đó mà cất nhắc bổ dụng. Khoa Hoành tuyển đặt ra hẳn cũng là có ý nghĩa như vậy.

Từ đó về sau khoa thi võ được mở đều đặn, nội dung thi không có gì thay đổi. Trong 69 năm, triều Lê Trung hưng đã mở được 19 khoa, lấy đỗ 199 Tạo sĩ (trong đó, có 59 Tạo sĩ xuất thân và 140 Đồng tạo sĩ xuất thân).


Cụ thể như sau:

STT Niên hiệu Số người đỗ
1
2
Bảo Thái 5 (1724)
Bảo Thái 8 (1727)
5
10
3 Vĩnh Khánh 3 (1731) 11
4 Long Đức 2 (1733) 11
5
6
Vĩnh Hựu 2 (1763)
Vĩnh Hựu 5 (1739)
3
5
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
Cảnh Hưng 4 (1743)
Cảnh Hưng 13 (1752)
Cảnh Hưng 15 (1754)
Cảnh Hưng 18 (1757)
Cảnh Hưng 21 (1760)
Cảnh Hưng 24 (1763)
Cảnh Hưng 27 (1766)
Cảnh Hưng 30 (1769)
Cảnh Hưng 33 (1772)
Cảnh Hưng 37 (1766)
Cảnh Hưng 40 (1779)
Cảnh Hưng 42 (1781)
Cảnh Hưng 46 (1763)
5
7
6
16
8
11
7
11
23
21
5
7
28


3. Đời Nguyễn

Năm 1836, vua Minh Mệnh đã ban chỉ dụ cho Bộ Binh chuẩn bị bàn bạc đặt khoa thi võ. Chỉ dụ viết: "Khoa thi võ từ trước đến nay chưa từng được đặt ra(8). Nay có những người giỏi giang nghề võ, dũng cảm, mưu lược, biết võ kinh, phải nên rộng ơn thu nạp để phòng khi dùng đến. Vậy cho sang năm bàn đặt khoa thi võ"(9). Phép thi cũng 3 năm mở một khoa, lấy các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu thi Hương võ và các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất mở khoa thi Hội võ. Phép thi mỗi khoa cũng có 3 trường: trường nhất thi nhấc vật nặng; trường nhì thi côn, quyền, đao, lăn khiên tay; trường ba thi bắn súng điểu thương. Như vậy thì nội dung thi Hương võ cử đời Nguyễn đã không thi võ kinh, chỉ chú trọng thi các môn võ nghệ. Học vị ban cho người thi đỗ cũng tham chước bên văn khoa mà thay đổi. Năm Minh Mệnh 9 (1828) đổi gọi Hương cống là Cử nhân; Sinh đồ là Tú tài. Vì vậy bên võ cử cũng đổi gọi là Võ cử nhân và Võ tú tài. Thi Hội võ cũng gồm 3 trường và nội dung thi cũng giống thi Hương võ cử nhưng yêu cầu cao hơn: môn nhấc vật nặng phải xách nặng hơn, môn bắn súng cự ly xa hơn.

Lời bàn thì như vậy, nhưng đến năm Thiệu Trị 6 (1846) gặp khánh điển mới đặc cách cho mở ân khoa đầu tiên. Thí sinh ở 31 tỉnh đều phải về kinh dự thi, gọi là khoa thi Võ kinh. Khoa này cho Thái tử thiếu bảo hữu quân đô thống Tân Lộc tử Mai Công Ngôn làm Chủ khảo, quyền Hữu tham tri bộ Binh Hoàng Tế Mỹ làm Phó chủ khảo. Lấy đỗ 51 người là bọn Phạm Đức Sáng, Lê Uy v.v... Những người này gọi là Võ cử nhân. Đó là khoa thi võ đầu tiên của triều Nguyễn tổ chức tại Kinh đô.

Năm Tự Đức 18 (1865) bắt đầu mở khoa thi Võ tiến sĩ. Người nào đỗ cả 3 trường và kỳ thi phúc hạch, đấu côn gỗ đều trúng cả thì được lấy vào hạng trúng cách. Hoặc giả có người nào vốn có học vấn về võ nghệ, tình nguyện thi Đình đều phải khai báo trước. Quan trường lược khảo, hỏi đại nghĩa sách Võ kinh Tứ thư cùng những sách dùng cốt yếu của danh tướng đời trước và việc hiện tại, gồm 5 điều. Người nào văn lý thông đạt thì cho vào thi Đình. Người nào không được điểm hoặc không biết chữ (chỉ thi võ nghệ 3 trường) thì cho đỗ Phó bảng. Các thể lệ về lấy đỗ, ban ân điển, ban yến, cấp ngựa vinh quy thì y lệ như văn đình thí.

Quan trường cũng đặt một chức Chủ khảo, một chức Phó chủ khảo. Lấy Thống chế, quyền Chưởng hữu quân là Tôn Thất Các sung làm Chủ khảo, Hữu thị lang bộ Hình là Nguyễn Oai làm Phó chủ khảo. Năm ấy có 97 người dự thi, lấy đỗ trúng cách 1 người là Võ Văn Đức và thứ trúng cách 7 người. Khi vào thi Đình, sai Đô thống trung quân kiêm Chưởng tiền quân, tả quân là Phạm Phú Thứ sung làm Võ giám thí đại thân. Kết quả cho Võ Văn Đức đỗ Đệ nhị giáp Võ tiến sĩ xuất thân, Võ Văn Lương đỗ Đệ tam giáp Đồng võ tiến sĩ xuất thân và 6 người khác đỗ Võ phó bảng.

Cũng năm này, sau khi thi Hội, vua Tự Đức sai tra trong sử sách Trung Quốc và Việt Nam để tìm danh hiệu ban cho người đỗ cao nhất ngạch thi võ, sao cho thật mật thiết và thanh nhã. Thấy đời Tống Hiến Tông gọi người đỗ đầu là Võ cử cập đệ, còn lại gọi là Võ cử xuất thân. Nhà Thanh thì gọi chung Nhất giáp, Nhị giáp và Tam giáp là Võ tiến sĩ. Ở nước ta, đời Lê gọi chung là Tạo sĩ, năm Minh Mệnh thứ 14 bàn gọi là Võ sĩ, nhưng danh hiệu ấy chưa thật thanh nhã nên cũng tham chước cả học vị thi Đình bên văn khoa mà gọi, nhưng thêm 2 từ Võ sĩ "cho có thanh nhã và phân biệt"(10). Ví như người đỗ Đệ nhất giáp thì gọi là Đệ nhất giáp Võ sĩ cập đệ, Đệ nhị giáp Võ sĩ xuất thân, Đệ tam giáp Đồng võ sĩ xuất thân. Vì vậy, Võ Văn Đức thi Hội đỗ đầu, vào thi Đình cũng đỗ đầu, được ban học vị Võ tiến sĩ đầu tiên của triều Nguyễn, danh hiệu chính thức là: Hội nguyên, Đình nguyên Đệ nhị giáp Võ tiến sĩ xuất thân. Võ Văn Lương, thi Hội thứ trúng cách, thi Đình được ban Đệ tam giáp Đồng võ tiến sĩ xuất thân.

Khoa thi Võ tiến sĩ triều Nguyễn bắt đầu từ đó, và học vị Võ tiến sĩ cũng bắt đầu có từ khoa này. Lại cho dựng bia đề tên người đỗ ở 2 bên tả hữu trước sân Võ miếu(11).

Để khuyến khích và răn đe các học quan, các viên sát hạch võ sinh, năm Tự Đức 26 (1873) quy định lệ thưởng phạt rất nghiêm khắc. Nếu có võ sinh thi đỗ thì Học quan, Quản suất; quan tỉnh, đạo và Thượng ty thống lĩnh đều được nghị thưởng theo mức độ nhiều ít khác nhau. Kỳ thi Hương: cứ 10 võ sinh dự thi mà 2 hoặc 3 người đỗ Võ cử nhân thì Học quan, Quản suất đều được thưởng kỷ lục(12) một thứ; 4 hoặc 5 người đỗ thì Học quan, Quản suất được thưởng kỷ lục 2 thứ. Nếu có học sinh đi thi, môn xách nặng không đi được 2 trượng, cứ 1 người thì Học quan và Quản suất đều bị phạt bổng 1 năm; quan tỉnh, đạo dự sát hạch và Thượng ty thống lĩnh đều bị phạt bổng 9 tháng. Cứ 2 người thì Học quan và Quản suất bị giáng 1 cấp; quan tỉnh hạt và Thượng ty thống lĩnh đều bị phạt bổng 1 năm. Cứ 4 người trở lên thì Học quan và Quảng suất đều bị giáng 2 cấp; quan tỉnh, đạo và Thượng ty đều bị giáng 1 cấp nhưng vẫn cho lưu tại sở làm việc. Kỳ thi Hội, cứ 10 võ cử dự thi có 1 người đỗ Võ tiến sĩ thì học quan, Quản suất được thưởng kỷ lục 2 thứ; cứ 2 đến 3 người đỗ thì gia thưởng 1 cấp, nếu 4 hoặc 5 người đỗ thì gia thưởng 2 cấp v.v...

Căn cứ vào sách Đại Nam thực lục, chúng tôi đã thống kê được các khoa thi võ ở triều Nguyễn như sau:

Thi Hương võ:

1. Ân khoa năm Thiệu Trị 6 (1846) thi tại kinh sư, lấy đỗ 51 Võ cử.
2. Tự Đức 20 (1867), mới mở trường thi tại Hà Nội, Bình Định (không ghi số người đỗ).
3. Tự Đức 21 (1868), mới mở Ân khoa trường Thanh Hóa (không ghi người đỗ).
4. Tự Đức 31 (1878), mở Ân khoa tại 5 trường: Bình Định, Thừa Thiên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nội. Chỉ ghi số đỗ riêng trường Hà Nội là 27 người
5. Tự Đức 32 (1879), không rõ thi những trường nào, lấy đỗ 120 Võ cử.
Ngoài ra, căn cứ vào 2 tấm bia Võ tiến sĩ ở Huế, chúng tôi thấy trong tiểu sử một số người có ghi đỗ Võ cử nhân vào các năm Tự Đức 8 (Võ Văn Đức), Tự Đức 11 (Phạm Học), Tự Đức 17 (Nguyễn Văn Tứ, Dương Viết Thiệu v.v...) và Tự Đức 21 (Trần Văn Hiển, Lê Văn Trực v.v...).
Như vậy số lần thi Võ hương thí tổng cộng là 8.

Thi Hội võ, tổ chức 7 khoa:

1. Tự Đức 18 (1865), lấy 2 Võ tiến sĩ, 6 Võ phó bảng.
2. Tự Đức 21 (1868), lấy 5 Võ tiến sĩ, 20 Võ phó bảng.
3. Tự Đức 22 (1869), lấy 3 Võ tiến sĩ, 22 Võ phó bảng.
4. Tự Đức 24 (1871) 5 Võ phó bảng.
5. Tự Đức 28 (1875) 13 Võ phó bảng.
6. Tự Đức 32 (1879) 25 Võ phó bảng.
7. Tự Đức 33 (1880) 19 Võ phó bảng.
Trong đó có 5 chính khoa và 2 Ân khoa.

Triều Nguyễn chỉ tổ chức được 3 khoa thi Điện võ (Tự Đức 18, Tự Đức 21 và Tự Đức 22, lý do vì càng về các khoa sau các Võ cử nhân càng ít người biết chữ nên không tổ chức thi văn sách được) và 4 khoa thi Hội (Tự Đức 24, Tự Đức 28, Tự Đức 32 và Tự Đức 33), tất cả lấy đỗ 10 Võ tiến sĩ và 110 Võ phó bảng.

Sau đó, tình hình chiến sự ngày càng căng thẳng, quân Pháp đánh chiếm kinh đô Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn phải ký hiệp ước Patenot năm 1884, đồng thời liên tục phản đối triều đình Nguyễn tổ chức thi võ khoa. Vì vậy, dù cho vào năm Kiến Phúc 1 (1884) vẫn bàn định về việc sửa đổi một số nội dung thi Hương võ và Hội võ, nhưng trên thực tế từ năm Tự Đức 33 (1880) các cuộc thi võ không còn được tổ chức, kết thúc sớm hơn văn khoa hơn một thế kỷ.

Như vậy, kể từ khoa thi võ đầu tiên năm Bảo Thái 5 (1742) đến cuối đời Tự Đức (1880), võ cử nước ta đã trải qua chặng đường hơn một thế kỷ rưỡi với hơn 200 người đỗ Tạo sĩ, Tiến sĩ và hơn 100 người đỗ học vị Phó bảng ngạch võ. Một con số quả thật khiêm tốn đối với một dân tộc có tinh thần thượng võ như dân tộc Việt Nam.


N.T.N

Chú thích:
(1) Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (viết tắt: Cương mục ) của Quốc sử quán triều Nguyễn và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi việc này vào năm Bảo Thái 5 (1724), gộp cả kỳ thi Sở cử và Bác cử vào năm này. Thực ra việc bàn mở khoa thi võ và tổ chức thi Sở cử vào năm Bảo Thái 4 (1723), thi Bác cử vào năm sau là năm Bảo Thái 5 (1724).
(2) Theo cụ Trần Văn Giáp thì khoa thi này mở ở Đống Đa, tức là gần chùa Đồng Quang trước đền Trung Liệt ở ấp Thái Hà. Xem Trần Văn Giáp: Lược khảo về khoa cử Việt Nam, từ khởi thủy đến khoa Mậu Ngọ (1918), bài trong sách Nhà sử học Trần Văn Giáp, Nxb. KHXH, H. 1996, tr. 194.
(3) Vì vậy trong một số sách hoặc gia phả có ghi người đỗ Bác cử, không nên hiểu người đó đỗ Tạo sĩ.
(4) Can thành: can là lá chắn, thành là bức tường thành. Người xưa thường dùng từ "can thành" để chỉ người có tài võ nghệ, có sức mạnh, ví như lá chắn để đỡ mũi tên, như tường thành bảo vệ bờ cõi.
(5) Cương mục, Q.37, tờ 28b ghi vào năm thứ 3 (1731).
(6) Trịnh Giang (1709-1761), con cả Trịnh Cương, nối ngôi chúa năm 1729, được tôn làm Thượng sư đại phụ Toàn vương. Sau khi em là Ân đô vương Trịnh Doanh lên thay, được tôn phong làm Thái thượng vương.
(7) Theo Lê Quý Đôn thì khoa Hoành từ cũng gọi là khoa Sĩ vọng. Xem Kiến văn tiểu lục, Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, Nxb. Sử học. H. 1962, tr. 116.
(8) ý nói từ đầu đời Nguyễn đến năm ấy chưa có khoa thi võ.
(9) Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (viết tắt: Hội điển sự lệ) của Quốc sử quán triều Nguyễn. Người dịch: Lê Duy Chưởng, Phạm Huy Giu, Trương Văn Chinh. Nxb Thuận Hóa, 1993, T.10, Q.169, tr.273.
(10) Đại Nam thực lục, Sđd, T.30, tr. 222.
(11) Hai tấm bia này hiện còn tại Võ miếu Huế. Tấm thứ nhất ghi tên 2 người đỗ khoa Tự Đức 18, tấm thứ 2 ghi tên 5 người đỗ khoa Tự Đức 21 và 3 người đỗ khoa Tự Đức 22. Xin xem Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn: Phạm Đức Thành Dũng (Chủ biên). Nxb. Thuận Hóa, Huế 2000.
Nội dung 2 bia đó cũng được chép trong sách Văn Võ miếu nghi chú bi ký, ký hiệu VHv. 279 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
(12) Kỷ lục: ghi vào bản lý lịch để tính thành tích.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 3 - 2003.

_______________
Nhân dịp này, Lâm Khang tôi xin giới thiệu bức tranh Em là võ sĩ của cháu Moon (Nguyễn Xuân Huy) - con trai chúng tôi, vừa được Giải B cuộc thi vẽ "Cuộc sống quanh em" của  Cung Thiếu Nhi Hà Nội.
.

Em là võ sĩ. Tranh: Nguyễn Xuân Huy


Các tác phẩm đoạt giải công bố tại trang này:

http://thieunhihn.blogspot.com/2011/10/nhung-tac-pham-at-giai-b-cuoc-thi-ve.html
http://thieunhihn.blogspot.com/2011/10/cuoc-thi-ve-tranh-cuoc-song-quanh-em.html

-->đọc tiếp...