Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

CHỦ TỊCH TP HÀ NỘI CÓ THỰC LÒNG MUỐN NGHE DÂN PHẢN BIỆN ?

Chủ tịch Hà Nội muốn nghe dân phản biện

VietNamnet - Khẳng định tính cần thiết của Luật Thủ đô, Chủ tịch TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nêu một loạt mục tiêu, trong đó có việc phát huy dân chủ, tổ chức lấy ý kiến tham vấn, phản biện đối với các quyết định lớn.

Loại bỏ thói vô cảm của công chức 

Trao đổi với báo chí, Chủ tịch TP Hà Nội cho hay để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Thủ tướng vừa phê duyệt, Hà Nội sẽ tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ. Cần có giải pháp đột phá trong các lĩnh vực như cải cách hành chính, quản lý và quy hoạch đô thị, nâng cao hiệu quả công vụ...

Tiếp theo là việc đổi mới thể chế kinh tế của Hà Nội gắn với an sinh xã hội và ổn định chính trị xã hội. Trước mắt, tái cấu trúc kinh tế Hà Nội hướng đến sự phát triển ổn định và bền vững. Rà soát lại các dự án và sẽ cương quyết xử lý với các dự án chậm tiến độ.


 Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo

Ông nhấn mạnh việc phân cấp trách nhiệm cụ thể cho đội ngũ cán bộ các cấp, loại bỏ thói vô cảm của công chức cũng như xây dựng cơ chế để người dân giám sát hoạt động của các cấp chính quyền ở Hà Nội.

Hà Nội cũng sẽ đổi mới cơ bản và toàn diện hệ thống giáo dục để đào tạo nghề, đào tạo người, đào tạo nhân tài, xây dựng Hà Nội thành một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng công cuộc phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa không chỉ của Hà Nội mà còn cho cả vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và của cả nước.

Xây dựng và chấn chỉnh văn hóa đô thị, văn hóa giao thông. Xây dựng một xã hội đạo đức với sự gương mẫu của những cán bộ từ cấp thành phố đến cơ sở, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, giữa cán bộ với nhân dân... Gắn mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; phát động phong trào trong toàn thể cán bộ và nhân dân chống lại thói quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cửa quyền và hách dịch.

Đặc biệt, thành phố sẽ "phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến của nhân dân, tổ chức lấy ý kiến tham vấn, phản biện đối với các quyết định lớn của thành phố. Bên cạnh đó, các chủ trương chính sách của thành phố sẽ được công khai, minh bạch để các tầng lớp nhân dân tham gia góp ý".

 
Quyết tâm trình Luật Thủ đô

Không được thông qua tại kỳ họp cuối của Quốc hội khóa trước, Hà Nội sẽ tiếp tục quyết tâm đề nghị Ủy ban Thường vụ và Chính phủ hoàn thành dự thảo Luật Thủ đô để trình Quốc hội khóa 13 sớm thông qua. Trao đổi với phóng viên, Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo cho hay mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng qua hơn 10 năm thực hiện, Pháp lệnh Thủ đô bộc lộ nhiều bất cập cả từ khía cạnh pháp lý cũng như khả năng giải quyết những vấn đề đặt ra trên thực tế.

 
"Nhiều quy định của Pháp lệnh trở nên không thực hiện được do các quy định trong các đạo luật mới được Quốc hội thông qua. Hơn nữa, việc mở rộng địa giới hành chính của Hà Nội từ năm 2008 cộng với việc đô thị hóa ở Hà Nội đang diễn ra với tốc độ nhanh... kéo theo nhiều vấn đề phải xử lý khác, đòi hỏi phải có Luật Thủ đô thay cho Pháp lệnh mới có thể giải quyết tốt hơn các vấn đề mới và thực tiễn của Thủ đô", ông nói.
 
Về những quy định về mục tiêu và chính sách chủ yếu nào có trong dự thảo Luật Thủ đô, Chủ tịch thành phố cho hay dự thảo luật, sau khi chỉnh sửa, quy định 20 chính sách, cơ chế riêng phục vụ cho việc xây dựng, phát triển và quản lý Thủ đô trong các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, quản lý đô thị và xây dựng chính quyền.
 
Thứ nhất, không xây mới các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp, một số trường... trong nội thành, giảm tình trạng quá tải ở nội thành về giao thông, môi trường, dịch vụ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Phần còn lại của nội thành sẽ được quy hoạch để sử dụng cho các dịch vụ văn hóa, không gian mở.

Thứ hai, quy định việc tạo lập không gian xanh chung quanh Thủ đô. Thứ ba, là những quy định về phát triển kinh tế nông thôn ngoại thành. Thứ tư, quy định về giáo dục và đào tạo để Thủ đô trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo hàng đầu của cả nước, có uy tín ở khu vực và trên thế giới.

PV
 Nguồn: VNN

HOAN NGHÊNH QUYẾT ĐỊNH CỦA GIÁM ĐỐC SỞ VH TT DL HÀ NỘI

Thu giấy phép biểu diễn liveshow “Chế Linh 30 năm tái ngộ”


01/11/2011 11:28:49

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc Sở VH,TT&DL Hà Nội khẳng định đã ký quyết định chính thức thu hồi giấy phép biểu diễn liveshow ca sỹ hải ngoại Chế Linh 30 năm tái ngộ tại Hà Nội của Công ty TNHH Giải trí Bích Ngọc (Thanh Hóa) vì đã có nhiều sai phạm trong việc tổ chức biểu diễn.

Ông Phạm Quang Long - Theo quyết định này, Công ty TNHH Giải trí Bích Ngọc sẽ không được tiếp tục tổ chức chương trình Liveshow ca sỹ Chế Linh vào ngày 12/11 tới tại Trung tâm Hội nghị Quốc Gia – Mỹ Đình – Hà Nội.

Nguyên nhân là do Công ty TNHH Giải trí Bích Ngọc đã có nhiều sai phạm trong việc tổ chức biểu diễn. Theo Giấy tiếp nhận biểu diễn nghệ thuật thì Sở VHTTDL Hà Nội chỉ cấp giấy phép tên chương trình là Liveshow ca sĩ Chế Linh chứ không phải là Chế Linh 30 năm tái ngộ như nội dung trên băng rôn quảng cáo.

Ngoài ra, Công ty TNHH Giải trí Bích Ngọc còn cho treo nhiều băng rôn và phướn để quảng cáo, giới thiệu chương trình không đúng quy định, gây phản cảm và làm mất mỹ quan đường phố. Ngày 19/10, Thanh tra Sở VH,TT&DL Hà Nội đã lập biên bản vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt và yêu cầu công ty tháo dỡ ngay toàn bộ băng rôn. Tuy nhiên, cho đến tận sáng ngày 31/10, ông Phạm Quang Long đã trực tiếp khảo sát tại một số tuyến đường nội đô như Yên Phụ - Lạc Long Quân, thì các băng rôn, phướn quảng cáo cho chương trình này vẫn được treo rất nhiều.

Poster quảng cáo của chương trình.

Sai phạm tiếp theo là ngày 24/10, Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam cũng đã có công văn về việc Công ty TNHH Giải trí Bích Ngọc chưa thực hiện bản quyền tác giả đối với chương trình liveshow Chế Linh 30 năm hội ngộ.

Ông Long cho biết thêm, theo giấy phép của chương trình xin đăng ký giấy phép có 35 bài, thì đã có 11 bài hát không có trong danh mục được phổ biến của Bộ VH,TT&DL nên Sở không tiếp nhận. Tuy nhiên, trong đêm nhạc diễn ra vào ngày 21/10 trước, Công ty TNHH Giải trí Bích Ngọc vẫn cho biểu diễn các ca khúc chưa được cấp phép phổ biến.


Qua những sai phạm của chương trình này, Sở VHTTDL Hà Nội đã có đề xuất với Cục NTBD không cho phép các đơn vị vi phạm trong lĩnh vực hoạt động tổ chức biểu diễn mời các nghệ sỹ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia biểu diễn trong các chương trình do đơn vị đó tổ chức. Đề nghị các Sở VHTT&DL các tỉnh, thành phố nhắc nhở việc thực hiện cấp phép theo đúng quy định. Rà soát, thẩm định kỹ nội dung biểu diễn, nhất là các tác phẩm sáng tác trước năm 1975 và nhất thiết chỉ cho phép biểu diễn những tác phẩm đã được phép phổ biến của Bộ VH,TT&DL.


(Theo Hà Nội mới)
Nguồn: Bee.net.vn.

Nguyễn Xuân Diện:  

Cách đây ít lâu, tôi đã được bạn bè chụp cho poster quảng cáo của chương trình này. Người bạn của tôi và cả tôi nữa, rất mê nhạc vàng, (thỉnh thoảng có hát nhạc vàng trong các karaoke) đã cho rằng việc cấp phép này là không được. Hỏi lý do, được biết: Chế Linh chưa từng đến Hà Nội. 30 năm trước Chế Linh chưa hội ngộ với ai ở Hà Nội. Nay, sao lại là 30 năm tái ngộ? Tái ngộ ai? Đấy! Văn hóa chính trị ở đó chứ còn ở đâu!?

Đấy, trước đây chúng tôi chỉ biết có thế! Nay, được còn biết thêm rằng Poster quảng cáo cho rằng đây là Sự kiện âm nhạc của năm 2011 thì quá lắm! 

Người làm văn hóa, nếu ai cũng có chút tinh tế và để ý một tý thì sẽ đưa ra được những quyết định đúng, để sau mỗi quyết định của mình, sẽ không để lại lời đàm tiếu không đáng có.

Xin hoan nghênh Ông Phạm Quang Long, PGS. TS, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao & Du lịch Hà Nội đã đưa ra một QĐ  đúng đắn là thu hồi giấy phép biểu diễn của chương trình này!

Bổ sung lúc 21h28, ngày 2.11.2011:
Trên trang Anh Ba Sàm, phần comments, có ý kiến nhận xét sau:

xman đã nói

Vụ Chế Linh bị dừng hát, bên blog Xuân diện thể hiện giọng khá hằn học cay cú. Ông Diện viết:
Hỏi lý do, được biết: Chế Linh chưa từng đến Hà Nội. 30 năm trước Chế Linh chưa hội ngộ với ai ở Hà Nội. Nay, sao lại là 30 năm tái ngộ? Tái ngộ ai? Đấy! Văn hóa chính trị ở đó chứ còn ở đâu!?
Đấy, trước đây chúng tôi chỉ biết có thế! Nay, được còn biết thêm rằng Poster quảng cáo cho rằng đây là Sự kiện âm nhạc của năm 2011 thì quá lắm! ”
Ông Diện nghĩ sao nếu trong tương lai, Trọng Tấn cũng bị cấm hát với những lý do tương tự không? Chế Linh thì hầu hết dân Việt nói chung đều đã biết tiếng ngay cả khi nhạc vàng vẫn là loại nhạc cấm tại Việt Nam. Phân biệt ra nhạc vàng,nhạc đỏ, chẳng qua là chính trị hóa âm nhạc, chính trị hóa văn hóa chứ bản thân bài hát và ca sĩ đâu có tội tình gì.
Nguyễn Xuân Diện đã nói: 
02/11/2011 lúc 21:23     
  • Thưa bác Xman,

    Bác nói tôi có giọng điệu khá hằn học, cay cú, thực không đúng ! Tôi thực không có cay cú cũng chẳng có lý do gì để hằn học với ai trong các văn nghệ sỹ hải ngoại.


    Tôi cũng thích nghe nhạc tiền chiến, nhạc vàng (đấy là cách gọi để quy định về dòng nhạc, tôi tuyệt nhiên không phân loại màu …của nhạc về mặt chính trị xã hội) và đôi khi hát nhạc vàng trong quán karaoke.


    Tôi không nhằm đến ca sỹ Chế Linh. Tôi chỉ phê bình nhà tổ chức Bích Ngọc (Thanh Hóa), là một nhà tổ chức chuyên nghiệp, tổ chức chương trình lớn như vậy, mà cách làm việc không chuyên nghiệp, không đàng hoàng để cuối cùng có thể là Khán Giả và Nghệ Sỹ phải chịu thiệt thòi. Vậy thôi! 


    Nếu bác đọc trong Blog tôi, và đọc các comments tôi trả lời bạn đọc, bác sẽ hiểu rõ điều đó. 
    Kính thư
    Nguyễn Xuân Diện


ĐÂY! NƠI THỜ PHỤNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

Di ảnh mẹ Việt Nam Anh hùng nằm trong chòi lạnh 

31/10/2011 14:44:43

Bee.net: - Di ảnh mẹ Việt Nam Anh hùng Châu Thị Thứ (ở thôn Thạch Tân, xã Tam Thăng, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) được đặt trong một chiếc chòi nhỏ, trên chiếc khăn trải cũ kỹ và một bát nhang dường như đã lâu chưa có ai thắp.
TIN LIÊN QUAN
Được biết, các con của mẹ Thứ đã hy sinh trong chiến tranh, mẹ được công nhận danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng vào năm 2005. Giờ đây, khi mẹ nằm xuống, không một người thân, không một mái nhà cho mẹ yên nghỉ.

Di ảnh mẹ Châu Thị Thứ đặt trong một chòi nhỏ dựng tạm
trước sân một nhà hàng xóm.

Trưởng thôn Thạch Tân, ông Huỳnh Kim Ta cho biết, hiện mẹ Châu Thị Thứ còn có 2 người cháu họ xa, nhưng không ai muốn nhận thờ phụng mẹ Thứ vì nhiều lý do. Trong khi chính quyền thôn Thạch Tân có ý đề xuất đưa di ảnh mẹ Thứ đến chùa nhưng chưa được  đồng ý.

Theo thống kê, xã Tam Thăng có 123 bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Năm 1994, xã Tam Thăng được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Bùi Hữu Cường
Nguồn: Bee.net


Bài đọc thêm:

Mẹ Việt Nam Anh hùng Châu Thị Thứ (ở thôn Thạch Tân, xã Tam Thăng, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) khi về cõi vĩnh hằng không có được một mái nhà yên nghỉ, không người khói hương. Nhìn di ảnh Mẹ đặt trong một cái chòi nhỏ, trên chiếc khăn trải cũ kỹ và một bát nhang dường như đã lâu chưa có ai thắp, lòng người xót xa đau đớn.

Xã Tam Thăng có 123 bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Năm 1994, xã Tam Thăng được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Lẽ nào một địa phương giàu truyền thống cách mạng lại để nơi thờ phụng Mẹ bơ vơ lạnh lẽo như thế ?

Lại nghĩ đến chuyện tỉnh Quảng Nam vừa qua định xây tượng đài Mẹ VNAH với kinh phí trên 400 tỉ đồng, nhưng do chưa được sự đồng thuận của dư luận nên đành tạm gác lại. Người ta chỉ biết nghĩ đến cái to tát, cái to tát mâu thuẫn với hiện thực đời thường như cái chòi nhầu nhĩ làm nơi đặt bàn thờ Mẹ VNAH đây.

Chao ôi, 400 tỉ để xây một đài tưởng niệm nguy nga, quý lắm thay. Nhưng sao một nơi thờ Mẹ chỉ bằng một phần nghìn, phần vạn số tiền đó, người ta lại thờ ơ, lạnh nhạt đến thế ? Biết trách ai đây ? 

NỖI ĐAU 

Nhìn ảnh Mẹ, quặn lòng đau
Cái chòi dựng tạm, nát nhàu nắng mưa
Con cái Mẹ chắc không ngờ
Nơi thờ phụng Mẹ lại xác xơ thế này ?

Chính quyền sao chẳng ai hay
Họ hàng để Mẹ thế này, sao yên ?
Phải đâu hết bạc, thiếu tiền
Cái tình cái nghĩa lụi quên mất rồi ?

Nhân tình thế thái, Mẹ ơi !
01-11-2011
Nguyễn Duy Xuân
  
 

BÙI CÔNG TỰ: NHÀN TẢN NÓI CHUYỆN NHẬT BẢN


Nhàn tản nói chuyện Nhật Bản
Bùi Công Tự

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao chính phủ ta đang có chuyến đông du thăm Nhật Bản từ ngày 30/10 đến 03/11/2011 theo lời mời của tân thủ tướng Yoshichiko Noda.

TTXVN cho biét công việc của thủ tướng tại Nhật Bản thật sự là bù đầu vì phải cùng các nhà lãnh đạo nước bạn bàn thảo nhiều biện pháp tăng cường quan hệ hợp tác tren tất cả các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, kinh tế, đầu tư, thương mại, ODA, du lịch, lao động, văn hóa…, thúc đẩy và đạt được cam kết cụ thể trong việc triển khai các nội dung và dự án hợp tác kinh tế mang tầm chiến lược. Khối lượng công việc khổng lồ như vậy mà thời gian chỉ có bốn ngày kể cả thời gian đi về và các thủ tục lễ tân. Đúng là làm quan to cũng khổ thật!

Trong khi thủ tướng vất vả và năng động như thế thì một người đàn ông như tôi chỉ nhiều hơn ông thủ tướng có dăm tuổi mà đã chơi dài cả chục năm nay, tự thấy uổng công đào tạo của Đảng và nhà nước. Chợt nghĩ được câu “nhàn tản nói chuyện Nhật Bản” liền viết bài này góp vui cho chuyến đông du của thủ tướng.

Bọn trẻ bây giờ lười học sử chắc nhiều đứa không biết phong trào “Đông du”? “Đông du” là phong trào do nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu khởi xướng những năm đầu thế kỉ XX. Phong trào này bắt nguồn từ sự ngưỡng mộ nước Nhật, một quốc gia cũng từng “nghèo nàn lạc hậu” như nước ta, nhờ canh tân mà lúc đó đã trở thành cường quốc. Ngày ấy cụ Phan cùng các đồng chí của mình đã đưa được ông hoàng Cường Để và một số thanh niên Việt Nam có chí hướng (phần đông quê Nghệ An) sang Nhật học tập. Cụ cũng hy vọng với tình đồng chủng “máu đỏ da vàng” người Nhật sẽ giúp Việt Nam giành lại quyền độc lập từ tay người Pháp xâm lược. Cuộc vận động “Đông du” tuy không đạt mục tiêu nhưng cũng in một dấu ấn lịch sử. Nó còn cho thấy người Việt chúng ta đã từng hướng về Nhật Bản, coi Nhật Bản là một tấm gương, một ước mơ.

Được biết trong thời gian ở Nhật, Phan Bội Châu đã có những cuộc tiếp xúc với các giới chức và nhà cầm quyền Nhật Bản. Cho nên có thể coi cụ Phan là người khởi đầu cho mối bang giao giữa hai nước trong thời lịch sử hiện đại.

Nhưng thật ra người Nhật đã đến với người Việt từ trước. Từ thế kỉ XV các tàu buôn Nhật Bản đã cập bến cửa khẩu Vân Đồn (Hải Phòng) và Hội An (Quảng Nam). Sang thế kỉ XVII các thương lái Nhật và Hoa đã cùng người Việt phát triển đô thị Hội An thành một thương cảng lớn, làm nơi trung chuyển cho thương mại Nhật Bản tiếp cận thị trường các nước Đông Nam Á. Những thế kỉ sau (XVIII, XIX) Nhật Hoàng thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” nên mối bang giao Nhật – Việt bị gián đoạn.

Tuy thế ở Việt Nam vẫn truyền tụng nhiều câu chuyện về người Nhật, những chuyện thường là “phi thường, rùng rợn”, như chuyện các võ sĩ đạo có thể tự mổ bụng moi gan mình. Hồi thế chiến thứ hai thì tôi nghe kể quân Nhật chỉ có vài mống đi trên một chiếc xe cam nhông vào thị xã Thái Bình nổ “pằng pằng” vài loạt đạn, thế mà quân Pháp phải đầu hàng, giao nộp vũ khí. Lại có chuyện người Nhật mua cám nuôi ngựa. Dân ta có người đem mùn cưa trộn vào cám bán cho họ. Ngựa ăn mùn cưa không tiêu hóa được bị chết. Quân Nhật bắt người bán cám nhét vào bụng con ngựa đó đem chôn sống. Hồi những năm 60 thế kỉ trước thì có ông Lương Đình Của sang thăm Nhật cứ để cả giầy da lội xuống ruộng bùn, khi về khách sạn vét đất bùn ở đế giầy gói ghém bí mật đem về Hà Nội phân tích xem đất của họ có những chất gì mà năng suất lúa cao thế? Mãi sau này xem phim Oshin mới biết dân Nhật cực khổ chừng nào, nghị lực vươn lên thế nào? Xem Doremon mới biết người Nhật hài hước, hồn nhiên đáng yêu làm sao!

Trở lại chuyện thời sự. Có tài liệu nói rằng sau Cách Mạng Tháng Tám một số sĩ quan Nhật đã giúp chúng ta huấn luyện quân sự. Có viên tướng Nhật đã tiếp kiến Cụ Hồ tư vấn nhiều vấn đề quân sự, kinh tế. Viên tướng này khuyên: “Các ngài đã có chính quyền thì có thể in tiền để dùng”. Những hoạt động của quân đội Nhật trong thời gian chiếm đóng Việt Nam (1940 – 1945) hình như chưa được nghiên cứu nhiều? Trong kháng chiến chống Mỹ, do đối lập về ý thức hệ nên chính phủ Nhật đứng về phe Mỹ nhưng nhân dân Nhật có phong trào mạnh mẽ phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam.

Nhật Bản lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1973. Tuy thế quan hệ hữu nghị chỉ thực sự phát triển từ năm 1992 với việc Nhật Bản cấp viện trợ cho Việt Nam. Những năm gần đây mối quan hệ giữa hai nước không ngừng nâng cao và hiện nay đã nâng lên tầm quan hệ chiến lược. Nhật là nước cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam, Việt Nam xuất siêu vào Nhật. (kim ngạch thương mại Việt – Nhật năm 2010 là 16 tỷ USD) .

Trong mối quan hệ đôi bên cùng có lợi với Nhật thì theo tôi Việt Nam được lợi nhiều hơn vì ta thiếu vốn, thiếu công nghệ, cần mời gọi đầu tư. Tuy vậy đối với bạn, Việt Nam cũng rất quan trọng trong chiến lược vì hòa bình và ổn định ở châu Á mà Nhật Bản là cường quốc có trách nhiệm quốc tế lớn.

Nhật Bản luôn nắm bắt mọi cơ hội để tăng cường hợp tác với Việt Nam. Trong quan hệ với Nhật Bản tôi thấy yên tâm vì nhiều chữ “không” ! Đó là Nhật Bản không xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam: không lừa gạt Việt Nam về chính trị: không chèn ép, lợi dụng Việt Nam về kinh tế: không đe dọa Việt Nam bằng vũ lực: không tận thu tài nguyên, khoáng sản của Việt Nam: không chủ trương di dân vào Việt Nam: không phá hoại Việt Nam bằng tiền giả, hàng hóa độc hại và dao kiếm mã tấu.v.v,..và.v.v…. Cho nên chúng ta có thể tin cậy ở Nhật Bản. Đồng thời cũng phải làm cho bạn tin cậy chúng ta, không phải chỉ bằng những cam kết mà quan trọng hơn bằng nhân cách con người, nhất là nhân cách người lãnh đạo.

Nhân tiện đây tôi nhắc lại vụ án Huỳnh Ngọc Sỹ. Năm 2008 Nhật phát hiện công ty CPI của Nhật hối lộ quan chức Việt Nam trong dự án đại lộ Đông – Tây. Người của công ty CPI đã khai báo, nhận tội. Nhật Bản yêu cầu ta điều tra, truy tố người nhận hối lộ. Phía Việt Nam phản ứng thiếu tích cực. Một lãnh đạo chủ chốt của TPHCM bao che: “Chúng ta sử dụng cán bộ thì phải tin cán bộ”(!). Nhật Bản liền tuyên bố tạm dừng cung cấp ODA. Bạn nói và bạn đã làm thật, buộc Việt Nam phải xử Huỳnh Ngọc Sỹ (mặc dù chỉ xác định số tiền hối lộ là 800 ngàn USD chứ không phải 2,6 triệu USD như phía Nhật nói).

Câu chuyện này cho chúng ta thấy chính quyền Nhật Bản chống tham nhũng triệt để đến mức nào. Sự việc xảy ra ở TPHCM cách xa Tokyo 4000 km mà người ta vẫn phát hiện ra. Số tiền hối lộ cũng không lớn lắm lại liên quan đến nước ngoài mà họ vẫn kiên quyết xử lí.

Giá nhân chuyến thăm này, ông Dũng xin ông Noda vài bài chống tham nhũng đem về nước thực hành?
                                           
TPHCM ngày 31 tháng 10 năm 2011

GS. TƯƠNG LAI: PHẢI TRƯNG CẦU DÂN Ý VỀ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP

GS Tương Lai: 
“Phải trưng cầu dân ý về Điều 4 Hiến pháp”
Thứ hai 31 Tháng Mười 2011
Thanh Phương
 
Sau nhiều lần đình hoãn, Việt Nam bắt đầu chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp 1992. Theo dự kiến, dự thảo Hiến pháp sửa đổi sẽ được Quốc hội thông qua vào tháng 10/2013. Phiên họp thứ nhất của Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã diễn ra vào đầu tháng 8/2011 dưới sự chủ toạ của chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Chưa biết Hiến pháp sẽ được sửa đổi như thế nào, nhưng trong phiên họp hôm đầu tháng 8/2011, ông Nguyễn Sinh Hùng đã tuyên bố là việc biên soạn dự thảo phải bám sát thực tế, lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân, nhưng đồng thời phải “ bám sát Cương lĩnh, đường lối chủ trương của Đảng”. Ông Nguyễn Sinh Hùng còn yêu cầu là hoạt động của ủy ban phải “ bảo đảm nguyên tắc sự lãnh đạo của Đảng”. Trước khi trình cho Quốc hội vào tháng 10 năm 2012, bản dự thảo Hiến pháp còn phải được báo cáo cho Bộ Chính trị.

Trong điều kiện như vậy, việc sửa đổi Hiến pháp liệu có sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản về thể chế ở Việt Nam? Hiến pháp cần phải được sửa đổi như thế nào để thật sự có tam quyền phân lập, để Nhà nước thật sự là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân?

Đối với giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, những bản Hiến pháp sau này của Việt Nam coi như đã đi thụt lùi so với bản Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây là bản Hiến pháp được coi là rất dân chủ, nhất là vì nó bảo đảm tam quyền phân lập và quy định quyền phúc quyết Hiến pháp của người dân. Cho nên, theo giáo sư Tương Lai, việc sửa đổi Hiến pháp 1992 dĩ nhiên phải đáp ứng những yêu cầu mới của thế kỷ 21, nhưng phải dựa trên căn bản là tinh thần của bản Hiến pháp 1946.

Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn với giáo sư Tương Lai từ Sài Gòn: 

RFI: Kính thưa giáo sư Tương Lai, theo giáo sư, trong việc sửa đổi Hiến pháp 1992, điều gì là trọng yếu nhất?

Giáo sư Tương Lai: Việc sửa đổi Hiến pháp là một điều đáng mừng, vì đó là đòi hỏi của đời sống. Vấn đề đặt ra là phải sửa như thế nào để đáp ứng nguyện vọng của dân. Tôi cho là sửa Hiến pháp tương đối dễ, vì đã có một cái chuẩn, đó là Hiến pháp 1946 của Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam DCCH, được thông qua cách đây 65 năm, tháng 11 năm 1946.

Theo đánh giá của các chuyên gia, Hiến pháp 1946 là Hiến pháp tiến bộ nhất, mẫu mực nhất. Đó là một Hiến pháp dân chủ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, một ngày sau khi tuyên bố độc lập 2/9:  “Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”. Hiến pháp 1946 là làm theo hướng thượng tôn pháp luật để đảm bảo quyền lợi của dân.

Đương nhiên là đã 65 năm rồi, thời cuộc có thay đổi và phải cập nhật với tinh thần của thế kỹ 21 này, nhưng về cơ bản thì phải dựa trên Hiến pháp 1946, theo tinh thần Tuyên ngôn độc lập: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ có những quyền không ai xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Hiến pháp 1992 nếu có được sửa đổi thì phải theo được tinh thần đó.

RFI: Thưa Giáo sư, Hiến pháp 1946 là mẫu mực vì nó phân định rạch ròi tam quyền phân lập: hành pháp, lập pháp và tư pháp?

Giáo sư Tương Lai: Cái mà tôi nói là có một mô hình tương đối chuẩn là Hiến pháp 1946 không phải là ý kiến cá nhân. Tôi có tham dự cuộc họp của hội đồng xét duyệt thẩm định các đề tài sửa đổi Hiến pháp 1992, do Văn phòng QH và Bộ Khoa học Công nghệ triệu tập. Trong Hội đồng đó, tất cả các thành đều nhận định rằng Hiến pháp 1946 là một Hiến pháp mẫu mực, mà những Hiến pháp về sau đó không đạt được. Vậy thì đổi mới có khi lại là quay trở lại cái trước đây. Trước đây làm đúng quy luật, nhưng sau đó người ta lại không làm đúng quy luật, gây nên những trở ngại.

Nếu tôi nhớ không nhầm thì Hiến pháp 1946 gồm có 70 điều, nội dung có nhiều, nhưng chỉ tập trung vào hai vấn đề: xác lập quyền của công dân, quyền của Nhà nước và quyền giữa các cơ quan Nhà nước với nhau. Mà ở đây nổi bật lên hai điểm quan trọng nhất: ngăn cấm sự lạm quyền của quyền lực Nhà nước và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân.

Hiến pháp 1946 làm nổi bật lên nguyên tắc cơ bản là đặt pháp quyền lên trên Nhà nước và quyền phúc quyết Hiến pháp là thuộc về dân. Nhà nước pháp quyền phải được tổ chức theo nguyên tắc là tam quyền phân lập, để kiểm tra lẫn nhau. Trong Nhà nước pháp quyền ấy, Nhà nước và công chức chỉ được phép làm những gì luật pháp cho phép, còn người dân thì được làm tất cả những điều gì luật pháp không cấm. Những yếu tố pháp quyền đặt lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực là điều mà các Hiến pháp sau này không làm rõ. Bây giờ sửa đổi thì phải quay trở về với tinh thần, nội dung và những nguyên tắc mà Hiến pháp 1946 đã đạt được.

RFI: Thưa giáo sư, có một điểm trước đây không có trong Hiến pháp 1946, đó là vai trò lãnh đạo của Đảng, như quy định của điều 4 Hiến pháp 1992. Vậy thì khi sửa đổi Hiến pháp, có nên xóa bỏ điều 4 hoặc sửa đổi điều khoản này?

Giáo sư Tương Lai: Về điểm này thì theo tôi, tốt nhất là thực hiện ngay tinh thần mà tôi nêu lên trong Hiến pháp 1946, đó là quyền của người dân được phúc quyết Hiến pháp.

Đảng khẳng định là vai trò lãnh đạo của đảng đã được nhân dân tôn trọng. Tôi nhớ là gần đây, bạn tôi, giáo sư Chu Hảo, trong một bài báo có đặt ra vấn đề như thế này: điều 4 Hiến pháp quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy thì để khẳng định một lần nữa là ý đảng hợp với lòng dân, chỉ việc đưa ra trưng cầu dân ý, theo tinh thần quyền phúc quyết thuộc về dân. Nếu đúng là dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của đảng, thì quyền phúc quyết Hiến pháp ấy của dân sẽ có sức mạnh lớn lao và làm uy tín lãnh đạo của đảng tăng lên, đồng thời trở thành vấn đề mang tính pháp lý nữa. Vậy thì hãy mạnh dạn đưa vấn đề này ra để người dân phúc quyết.

Cho nên, không nên đặt ra vấn đề là xóa bỏ hay không xóa bỏ điều 4. Ai có quyền làm điều đó? Chỉ có dân mới có quyền mà thôi.

RFI: Thưa giáo sư, ở Việt Nam có một số văn bản luật bị xem là trái với Hiến pháp. Trong Hiến pháp có quy định những quyền tự do như quyền tự do ngôn luận, nhưng trong Bộ luật hình sự Việt Nam lại có điều 88 về tội danh “Tuyên truyền chống Nhà nước”. Làm sao phân biệt được ranh gìới giữa tự do ngôn luận và tội danh này?

Giáo sư Tương Lai: Ở đây có vấn đề: Những điều quy định trong Hiến pháp, những điều quy định trong luật, hay là trong nghị quyết, với quá trình thực hiện đó, thì bao giờ cũng có một khoảng cách. Khoảng cách đó có thể ngắn, mà cũng có thể dài.

Vấn đề đặt ra là nếu tinh thần thượng tôn pháp luật, “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, được thực thi một cách nghiêm túc, thì mọi văn bản luật hay dưới luật đều không được mâu thuẩn với bộ luật tối cao nhất, đó là Hiến pháp, vì Hiến pháp là ý chí của dân tuyên bố trước thế giới về thể chế Nhà nước của mình và cũng là tuyên bố khẳng định là dân sẽ chấp hành trên tinh thần đó.

Quá trình đưa những vấn đề đã quy định trong Hiến pháp, trong luật pháp vào thực tế bao giờ cũng có những mâu thuẩn. Chuyện này phải được khắc phục dần. Để khắc phục nó thì không gì khác hơn là phải làm thế nào để ý thức thượng tôn pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh, từ trong dân và trước hết là từ những người cầm quyền.

RFI: Thưa giáo sư, Việt Nam có nên thành lập Tòa án Hiến pháp hay Tòa Bảo Hiến để giám sát tính hợp hiến của các văn bản luật?

Giáo sư Tương Lai: Trong phiên họp thẩm định về đề tài sửa đổi Hiến pháp, chúng tôi, những thành viên trong Hội đồng, cũng đã đề xuất vấn đề này. Phải có Tòa án Hiến pháp để kiểm tra việc thực thi Hiến pháp. Đó là điều phù hợp với xu thế chung của thế giới. Vấn đề đặt ra là Việt Nam, nếu muốn đi vào quỹ đạo chung của thế giới, thì phải làm theo điều này. Nếu những gì trước nay chưa làm được, thì bây giờ làm đi! Đơn giản thế thôi. Vấn đề đặt ra là: Người dân Việt Nam và những người cầm quyền có muốn thực thi Hiến pháp theo đúng quỹ đạo của thế giới văn minh này hay không?

RFI: Nhưng nếu những thành viên của Tòa án Hiến pháp này cũng là do đảng chỉ định thì làm sao có thể bảo đảm được tính độc lập của cơ chế này?

Giáo sư Tương Lai: Đây là vấn đề nan giải đây. Nhưng bất cứ cái gì cũng đòi hỏi từng bước quá độ. Một lúc mà đòi hỏi ngay thì tôi cho đó là ảo tưởng. Nhưng xu thế chung là xu thế thực thi dân chủ. Dân chủ đang là đòi hỏi mang tính bức xúc của toàn xã hội và về phía đảng lãnh đạo, những người cầm quyền đều thấy rằng, chỉ trên cơ sở mở rộng dân chủ, thực thi dân chủ thì vận hành xã hội mới có thể thông suốt.

Trong việc thực thi Tòa án Hiến pháp, bao giờ cũng có cách thành lập và đề cử, rồi thông qua. Vấn đề là cái quy trình đó phải bảo đảm tính chất dân chủ. Cái quy trình dân chủ đó buộc đảng lãnh đạo, cũng như Nhà nước quản lý phải theo đúng mô hình đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Đó là cái đã được rao giảng từ rất lâu rồi, bây giờ phải thực thi điều đó. Trong đó, phải nhấn mạnh là nhân dân làm chủ như thế nào. Nhân dân phải làm chủ bằng quyền phúc quyết Hiến pháp, bằng trưng cầu dân ý, bằng việc phản biện và đề đạt nguyện vọng của mình mà không bị xem là lực lượng thù địch hay những phần tử muốn “diễn biến hòa bình”. Những vấn đề đó phải được đặt ra một cách công khai, minh bạch trong đời sống xã hội. Đó là để bảo đảm thành công cho việc sửa đổi Hiến pháp, cũng như cho những việc mà hiện nay Nhà nước đang cố gắng làm.

RFI: Xin cám ơn giáo sư Tương Lai.
Nguồn:  RFI Tiếng Việt  và  Ba Sàm.

 

GS CHU HẢO: TỪ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ĐẾN HIẾN PHÁP HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Tư liệu

Từ Tuyên ngôn độc lập đến Hiến pháp Hồ Chí Minh
GS. TS. Chu Hảo 

Hiến pháp 1946 của nước ta đã được giới học thuật về luật pháp trong vào ngoài nước ngày nay khẳng định là bản Hiến pháp tiến bộ nhất so với các bản khác, được Quốc hội nước nhà ban hành vào các năm1959, 1980 và 1992. Vì lẽ đó, nguyện vọng thiết tha của toàn dân vào lúc này là Hiếp pháp 1992 phải được sửa đổi một cách thực chất để trở lại những tư tưởng cơ bản của Hiến pháp 1946 là Dân Chủ-Cộng hòa-Độc lập-Tự do-Hạnh phúc.  

Nếu Hiến pháp Mỹ 1787 ( vẫn đang thực thi liên tục trong hơn 200 năm qua và được coi là bản Hiến pháp có giá trị bền vững nhất trong lịch sử luật pháp thế giới vì chứa đựng đầy đủ nhất tinh thần thời đại về Nhân quyền và Dân quyền ) đã được xây dựng một cách hết sức công phu bởi 55 nhà lập pháp kiệt xuất mà Thomas Jefferson (1743-1826, tác giả Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776) gọi là “những người con của thánh thần” (xem Nguyễn Cảnh Bình, Hiến pháp Mỹ đã được làm ra như thế nào, Nxb Tri thức, 2010), thì Hiến pháp 1946 của nước ta, theo cảm nhận của chúng tôi, thực sự đã được làm ra chủ yếu bởi chỉ một người, mà vào thời điểm lịch sử đó, cũng xứng đáng là “người con của thánh thần”, ấy là Hồ Chí Minh.
 

Giòng cuối cùng của phần Phụ lục trong bài diễn ca tuyên truyền cách mạng “ Lịch sử nước ta ” viết vào tháng 2 năm 1942 ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh đã có một dự báo thiên tài: “VIỆT NAM ĐỘC LẬP 1945”. Không thể không nghĩ rằng, ngay từ lúc ấy Hồ Chí Minh đã nghĩ đến việc soạn thảo một Tuyên ngôn độc lập mang tầm vóc thời đại và một Hiến pháp phù hợp với trào lưu dân chủ thế giới. 

Lịch sử ghi lại rằng : Cụ Hồ viết bản Tuyên ngôn Độc lập tại ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Hà Nội ngày 27-8-1945. Có thể Cụ đã viết trong một ngày, nhưng những tư tưởng chính, những dữ liệu cơ bản để viết bản Tuyên ngôn ngày ấy chắc chắn đã được Cụ sưu tầm và chắt lọc ít nhất từ 3 năm trước, khi mường tượng  đến tương lai tươi sáng vào năm 1945 của nước Việt Nam bước ra từ kiếp nô lệ  sang kỷ nguyên độc lập.  

Với phần mở đầu Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 bằng câu trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ 1776: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Hồ Chí Minh đã đặt nền móng vững chãi cho bản Hiến pháp sau này. 

Thomas Jefferson đã nâng  Tư tưởng nhân quyền của John Lock (1632-1704, triết gia Anh, cha đẻ của Lý thuyết Khế ước xã hội và Chủ nghĩa tự do) từ ba quyền cơ bản của con người là “quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu” lên một mức cao hơn thành “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

Hồ Chí Minh, một lần nữa lại nâng cao tư tưởng nhân bản ấy bằng ý tưởng suy rộng từ Con người sang Xã hội: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
 

Và chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã tuyên bố dứt khoát: “Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”. Đối với Hồ Chí Minh lúc đó, không phải chỉ cần ngay một bản Hiến pháp, mà phải là một Hiến pháp dân chủ, đúng theo tinh thần của Tuyên ngôn độc lập.
 

Rất nhất quán, rất dứt khoát và rất khẩn trương; chỉ 3 tuần sau đó, ngày 20 tháng 9, Ủy Ban Dự thảo Hiến pháp đã được thành lập theo sắc lệnh 34-SL với người đứng đầu là Hồ Chí Minh. Chưa có Quốc hội (Nghị viện nhân dân) mà đã nghĩ ngay đến Hiến pháp. Và tinh thần dân chủ của Hiến pháp sắp được xây dựng đã được thể hiện một cách đầy thuyết phục trong cuộc tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên ở nước ta theo thể thức phổ thông đầu phiếu ngày 6 tháng 1 năm 1946.
 

Hai tháng sau đó, ngày 2 tháng 3 năm 1946 Ban Dự thảo Hiến pháp ( tiếp tục công việc của Ủy ban Dự thảo ) được Quốc hội bầu ra; Và chỉ hơn nửa năm sau,  ngày 9 tháng 11 năm 1946 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp với tỷ số phiếu thuận áp đảo 240/242.
 

Và như vậy lịch sử đã minh chứng vai trò của Hồ Chí Minh như là linh hồn của bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Tuy đã từng là người của Quốc tế cộng sản, nhiều năm học tập và làm việc tại Mascơva, không thể không am tường thể chế chính trị của Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô Viết, nhưng Hồ Chí Minh đã không lấy bản Hiến pháp 1936 của Liên Xô làm khuôn mẫu khi chỉ đạo xây dựng Hiến pháp Việt Nam năm 1946. Bản Hiến pháp ấy cho đến nay vẫn là đỉnh cao trong lịch sử lập hiến nước nhà bởi những ưu việt sau đây.
 

1) Thượng tôn quyền lực của Nhân dân bằng việc xác lập quyền phúc quyết Hiến pháp của Nhân dân và đặt Hiến pháp lên trên Nhà nước.
 

2) Thể hiện đầy đủ và tường minh tư tưởng Nhà nước Pháp quyền trên nguyên tắc tam quyền phân lập và cân bằng quyền lực trên cơ sở quy định trách nhiệm rõ ràng cho các cơ quan Lập pháp (quốc hội), Hành pháp (chính phủ) và Tư pháp (tòa án) từ trung ương đến địa phương; cũng như trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu các cơ quan ấy.
 

3) Hết sức ngắn gọn, khúc triết, dễ hiểu và dễ thực thi.
 

Rất tiếc là chỉ hơn một tháng sau khi Hiến pháp 1946 được Quốc hội thông qua thì ngày 19-12-1946 Hồ Chủ tịch đã phải đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Do đó điều 21 của Hiến pháp 1946 chưa được thực thi, có nghĩa là chưa được toàn dân phúc quyết. Vì vậy ngày nay chúng ta đang mắc trong một “thế kẹt lịch sử”:
 

a) Nếu coi Hiến pháp 1946 là Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam độc lập, tồn tại liên tục cho đến ngày nay, thì các Hiến pháp 1959, 1986 và 1992 không có giá trị pháp lý vì đã vi phạm điều 21 của Hiến pháp trước.
 

b) Nếu coi Hiến pháp 1946 là không có giá trị pháp lý vì chưa được toàn dân phúc quyết, thì phải thừa nhận rằng thể chế chính trị của nước ta, dù là Cộng hòa Dân chủ hay Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa, chưa bao giờ là một thể chế thực sự dân chủ với đặc trưng quan trọng nhất là Quyền lập hiến phải thuộc về Nhân dân.
 

Từ năm 1959 Quyền lập hiến “mặc nhiên” thuộc về Quốc hội, cả trong thời chiến lẫn trong thời bình. Lịch sử sẽ mổ xẻ sự “mặc nhiên” ấy. Còn bây giờ, đứng trước yêu cầu cấp thiết phải sửa đổi Hiến pháp 1992, chúng ta hãy tập trung thảo luận những điều khả dĩ sau đây.
 

1. Điều quan trọng nhất phải được đặt ra là :  Trong Hiến pháp sửa đổi lần này, quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia phải thuộc về Nhân dân. Có người nói đây là điều “bất khả” vì sợ rằng quyền phúc quyết của Dân sẽ dẫn đến “ xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp hiện nay”, và như vậy chẳng khác gì là “Đảng tự sát”.  Nỗi lo sợ ấy có vẻ như hồ đồ vì hai lẽ:
 

 a) Điều 4 Hiến pháp chưa bao giờ được luật hóa. Chưa có Luật về Đảng mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn thực sự là người lãnh đạo duy nhất và toàn diện của đất nước này. Vậy thì có hay không có điều 4 trong Hiến pháp rõ ràng không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng hơn là phải có Luật về Đảng.
 

b) Nếu Đảng Cộng sản Việt nam chủ động đặt vấn đề trả lại quyền phúc quyết cho Dân thì chưa biết chừng chính  Dân lại đề nghị để lại Điều 4. Chưa trưng cầu dân ý trực tiếp một cách trung thực thì chưa biết điều gì sẽ xảy ra!
 

2. Phân công và kiểm soát quyền lực thật rõ ràng giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước; giữa các nhánh quyền lực của Nhà nước về Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Sự phân công và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp có thể lấy Hiến pháp năm 1946 làm khuôn mẫu. Cân bằng quyền lực giữa 3 nhánh này bao giờ cũng là tương đối, nhưng nhất thiết phải hợp lý, rành mạch và phải được kiểm soát chặt chẽ bằng chế tài có hiệu lực. Phân công và kiểm soát quyền lực giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước là điều không dễ trong chế độ đa Đảng, nhưng không phải là khó trong chế độ một Đảng; chỉ cần cụ thể hóa công thức: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.
 

3. Nhất thể hóa chức danh Chủ tịch Nước và Chủ tịch Đảng cầm quyền. Trong thế chế chính trị của nước ta hiện nay, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là người có quyền lực cao nhất, nói nôm na là “vua”. Vậy mà ông “vua” này không chịu bất kỳ một trách nhiệm nào trước Hiến pháp và Pháp luật với tư cách là “vua”, ngoài trách nhiệm của một công dân bình thường. Ông “vua” này cũng không được đối xử một cách danh chính ngôn thuận ngang hàng với các ông “vua” khác trên thế giới. Phải để Chủ tịch Đảng cầm quyền đồng thời là Chủ tịch nước để người có quyền lực cao nhất nước cũng phải được điều chỉnh bởi Hiến pháp và Pháp luật cả về đối nội lẫn đối ngoại.
 

Nếu những điều cơ bản trên đây không được đưa ra thảo luận để đi đến thống nhất quay trở về với khuôn mẫu Hiến pháp Hồ Chí Minh, thì tốt hơn hết là không nên đặt vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 ra làm gì vội cho tốn kém thời gian, sức lực và tiền bạc ( là tiền đóng thuế của Dân ). Hiến pháp là Văn kiện thiêng liêng của mỗi quốc gia, không thể mỗi lúc mỗi sửa. Hay là đợi đến khi điều kiện cho phép lấy lại Điều 16 Hiến pháp 1946 thì hãy sửa. Điều ấy quy định rằng: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt nam”. Ôi! Vĩ đại thay !..

Nguồn: Tạp chí Nhà Quản Lý