Blogger Widgets

Thứ hai, ngày 24 tháng mười năm 2011

KHÔNG CÓ SÓNG TRONG ĐÊM NHẠC "SÓNG VỌNG BIỂN ĐÔNG"

20 Biểu tình viên đến xem chương trình, chụp ảnh cùng ông Dương Trung Quốc. Ảnh: N.A.T

Đêm nhạc "Sóng vọng Biển Đông"

Nguyễn Hồng Kiên 

 

“Tiếu lâm vỉa hè Hà Nội” có câu: “Dân ta phải biết sử ta- Cái gì không biết thì tra Gúc-gồ".

 

Là dân học/ làm nghề Sử, nhà cháu cười … như mếu. 

 

Lướt mạng thấy tin um ùm về vụ nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, Hội  Sử học được thưởng Huân chương Lao động hạng  Nhất  (Nhà cháu chả thấy SƯỚNG, sau Nỗi đau từ hàng ngàn điểm 0 môn sử) và chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Sóng vọng biển Đông” sẽ diễn ra vào tối 22/10/2011 tới tại Nhà hát Lớn Hà Nội

 

Nếu gõ cụm từ “Sóng vọng biển Đông” hỏi ‘bác Gúc’ thì sau 0,07 giây sẽ được 2.970.000 kết quả.

 

Trước hết, nhà cháu xin chọn đăng 05 tin đáng chú ý:

 

1- Tin: Chương trình nghệ thuật “Sóng vọng biển Đôngđăng lúc 10g25 ngày 13/10/2011 trên báo điện tử ĐCSVN (lấy lại tin từ ngày 11/10 của VOV.vn) :

Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Hội khoa học lịch sử Việt Nam, một Chương trình nghệ thuật “Sóng vọng biển Đông” và công bố Quỹ phát triển sử học Việt Nam sẽ diễn ra vào ngày 22/10 tới, tại Hà Nội.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Sóng vọng biển Đông” hướng tới chủ đề xây dựng Tổ quốc và bảo vệ biển đảo khơi dậy niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của người Việt với lịch sử dân tộc.

Đây là một cuộc đối thoại của thế hệ hôm nay cùng nhìn lại truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Dịp này, Hội khoa học lịch sử cũng sẽ công bố Quỹ phát triển sử học Việt Nam.

Nhà Sử học Dương Trung Quốc, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho biết: Nguồn quỹ này nhằm để hỗ trợ tài chính cho các công trình sử học xuất sắc, cũng như việc tổ chức các sự kiện liên quan đến lịch sử văn hóa.

Ông Dương Trung Quốc nói: “Chương trình nghệ thuật này nhắc nhở chúng ta giá trị vốn có của dân tộc chúng ta. Một quốc gia có hơn 3.200 km biên giới đường biển, chúng ta chịu biết bao sóng gió, không những của thiên nhiên mà kể cả nguy cơ xâm lăng từ biển vào. Bằng ngôn ngữ âm nhạc, nghệ thuật trình diễn, chúng tôi muốn đưa vào chương trình này sự đánh thức, những bài hát nói về sự giàu đẹp của quê hương chúng ta, và truyền thống của ông cha chúng ta trong việc bảo vệ chủ quyền của đất nước”./.

2- Tin Sóng vọng biển Đôngcủa PV Dương Cầm, đăng trong mục GIẢI TRÍ của Báo điện tử An Ninh Thủ Đô : 

Thứ tư 12/10/2011 23:21

ANTĐ – Dàn nghệ sĩ tên tuổi đại diện cho nhiều thế hệ giọng ca vàng trong làng nhạc Việt sẽ cùng nhau góp mặt trong đêm nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Sóng vọng biển Đông” diễn ra vào tối 22-10 tới tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

 Chương trình do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, đồng thời đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất và công bố quyết định thành lập Quỹ phát triển sử học Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo nghệ thuật của nhạc sĩ Lê Minh Sơn, chương trình được dàn dựng thành 4 phần gồm: Xây dựng đất nước và bảo vệ biển đảo; Vọng phu; Câu chuyện của người mẹ; Một ngày bình thường. Nhạc sĩ Lê Minh Sơn tiết lộ sẽ mang đến cho người xem những cảm xúc hùng tráng và hào sảng về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Bên cạnh màn trình diễn của nhiều nghệ sĩ như: NSND Quang Thọ, Anh Thơ, Trọng Tấn, Đăng Dương, Tân Nhàn, Khánh Linh… vị nhạc sĩ tài hoa sẽ trình diễn tác phẩm chủ đề “Sóng vọng biển Đông” ở phần cuối chương trình. Trước đó, chiều cùng ngày tại sảnh Nhà hát Lớn Hà Nội sẽ khai mạc cuộc triển lãm ảnh về biển đảo Việt Nam.


3- Báo Thể thao&Văn hóa có hẳn một bài dài: Chấn hưng môn sử, hướng tới biển Đông 

Thứ Tư, 12/10/2011 10:33


(TT&VH) – Ngày 11/10 tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (KHLS VN) đã tổ chức họp báo công bố Quỹ Hỗ trợ Phát triển Sử học Việt Nam (HTPTSH VN) và thông báo về chương trình nghệ thuật đặc biệt Sóng vọng biển Đông sẽ diễn ra vào ngày 22/10 tại Nhà hát Lớn Hà Nội.


Quỹ HTPTSH VN là Quỹ quốc gia đầu tiên của Hội KHLS VN và chương trình Sóng vọng biển Đông là sự kiện mở đầu cho hoạt động thường niên của Quỹ nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền sử học nước nhà.


Không có chuyện ba quỹ dẫm chân lên nhau


Tính cho đến thời điểm này, Quỹ HTPTSH VN là quỹ thứ 3 sử dụng nguồn lãi tín dụng để khuyến khích, đào tạo nhân tài sử học cho đất nước. Hai quỹ được nhiều người biết đến trước đó là Quỹ giải thưởng sử học Trần Văn Giàu và Quỹ giải thưởng sử học Phạm Thận Duật… Sự ra đời của các quỹ này có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu và phổ biến sử học, nhất là sau khi có những báo động về “thảm họa môn Sử” trong mùa tuyền sinh ĐH, CĐ vừa qua…


Tuy nhiên, ngay trong buổi họp báo công bố quỹ, nhiều người cho rằng, cả ba quỹ này rất có thể sẽ “dẫm chân nhau”.


GS – Viện sĩ Phan Huy Lê (giữa) cho rằng:
“Cần đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện về biển Đông…”


GS – Viện sĩ Phan Huy Lê giải thích: Quỹ giải thưởng sử học Trần Văn Giàu là dành cho hai lĩnh vực Lịch sử và Lịch sử tư tưởng liên quan đến miền đất Nam bộ, cực Nam Trung bộ (tỉnh Bình Thuận) và TP.HCM.


Quỹ Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật xét các công trình đăng ký tranh giải đều là những luận án tiến sĩ sử học (của người Việt hoặc người nước ngoài).


Còn Quỹ HTPTSH VN, nhằm mục đích đào tạo nhân tài sử học cho đất nước và thúc đẩy sự phát triển của nền sử học Việt Nam. Ngoài ra, Quỹ HTPTSH VN còn dự định sẽ tổ chức thường niên Diễn đàn sử học Việt Nam cùng các sự kiện văn hóa, lịch sử, nhằm thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân đến các vấn đề nóng bỏng của xã hội liên quan đến lịch sử. Như vậy, có thể nói, Quỹ HTPTSH VN không những không “dẫm lên chân” hai Quỹ giải thưởng sử học Trần Văn Giàu và Phạm Thận Duật mà “biên độ hoạt động” của quỹ còn mở rộng hơn rất nhiều.


Cần đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện về biển Đông


Trong buổi họp báo công bố Quỹ Hỗ trợ Phát triển Sử học Việt Nam, Hội KHLSVN cũng đã giới thiệu chương trình nghệ thuật Sóng vọng biển Đông (Tổng đạo diễn: Nhà sử học Dương Trung Quốc, Chỉ đạo nghệ thuật: Nhạc sĩ Lê Minh Sơn). Mặc dù, chương trình này chỉ là sự kiện mở đầu cho các hoạt động thường niên mà Hội đã đề ra nhưng lại là một trong rất nhiều cách truyền bá lịch sử đến người dân, là cuộc đối thoại giữa những con người thời bình ở nhiều lứa tuổi khác nhau khi cùng nhìn lại một giai đoạn hào hùng về biển và lịch sử dân tộc.


GS – Viện sĩ Phan Huy Lê sau buổi họp báo đã chia sẻ với TT&VH: “Gần đây, dư luận rất quan tâm đến tình hình biển Đông, trong đó có chủ quyền về Trường Sa và Hoàng Sa. Giới sử học chúng tôi cũng đã có loạt bài nghiên cứu về vấn đề này trên tạp chí Xưa và Nay của Hội. Tuy nhiên, theo tôi việc này cần phải đẩy mạnh hơn nữa. Bởi muốn quảng bá tốt thì phải tổ chức nghiên cứu tốt. Đã đến lúc công việc nghiên cứu về biển Đông nói chung và chủ quyền đối với Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng, cần phải được tổ chức trên cơ sở liên kết chặt chẽ hơn nữa, tập hợp đầy đủ hơn nữa các chuyên gia ở trong nước và đặc biệt là các chuyên gia ở nước ngoài. Tôi biết họ rất yêu đất nước VN, có những công trình nghiên cứu sâu sắc và có những điều kiện để thu thập tài liệu thuận lợi hơn chúng ta…”.


Hiện nay về lịch sử biển Đông, theo như GS Phan Huy Lê cho biết, trong giới sử học hiện có hai công trình nghiên cứu: của TS Nguyễn Nhã ở TP.HCM và của Khoa Sử của Trường ĐHKHXHNV (ĐH QG HN) do GS Nguyễn Quang Ngọc chủ biên. Hai công trình này sẽ được xuất bản trong thời gian tới nhằm quảng bá những công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ ở trong nước về biển Đông. Cùng với những công trình nghiên cứu khoa học như vậy, theo GS Lê thì chúng ta cần phải có những hình thức phổ cập hơn nữa để quảng bá kiến thức lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử biển Đông nói riêng liên quan đến chủ quyền lãnh thổ trong nhân dân.


“Theo tôi, cần phải gắn Trường Sa, Hoàng Sa vào biển Đông nói chung. Ở đây nó có hai mặt liên quan mật thiết với nhau. Đó là bảo vệ độc lập về chủ quyền trên biển Đông và đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, vì biển đóng một vai trò cực lớn đối với sự phát triển của đất nước. Cho nên, nói về nghiên cứu biển Đông, chúng ta không chỉ nghiên cứu về chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa mà phải nghiên cứu toàn diện về biển Đông trên cơ sở phải tổ chức nghiên cứu liên ngành, để nghiên cứu một cách có hiệu quả hơn nữa. Và phải thường xuyên cập nhật vì sự nghiên cứu càng ngày sẽ càng thay đổi, nếu nhận thức chỉ dừng lại ngày hôm nay đến một lúc nào đó nó sẽ trở nên lỗi thời!”


Huy Thông

(PV Huy Thông có biên tập lại không mà đọc câu của GS Phan Huy Lê nghe giông giống về “mẫu câu” của TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng: Nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa và cái  ranh giới thềm lục địa theo công ước luật Biển quốc tế, thì có tranh chấp nhau, nhưng mà đâu chỉ có 2 nước, rất nhiều nước …“)

4- Mục Văn hóa giải trí của báo Pháp Luật TPHCM Online có tin 122 chữ: Sóng vọng biển Đông:

(PL)- Ngày 22-10, chương trình nghệ thuật Sóng vọng biển Đông với bốn màn:

Xây dựng đất nước và bảo vệ biển, đảo; Vọng phu; Câu chuyện của người mẹ; Một ngày bình thường do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức sẽ diễn ra tại Nhà hát lớn Hà Nội. Sóng vọng biển Đông được xem như những tiếng vọng đa âm xen lẫn thực tại, quá khứ; đất liền, biển khơi; nụ cười, nước mắt; máu thời chiến, mồ hôi thời bình…

Chương trình do nhạc sĩ Lê Minh Sơn chỉ đạo nghệ thuật với sự tham gia của các ca sĩ Quang Thọ, Trọng Tấn, Đăng Dương, Khánh Linh, Tân Nhàn, Anh Thơ…

V.THỊNH

5- VietNamNet có nội dung rất chi tiết, nhưng lại giật 1 cái tai-tồ rất nét – “Sóng vọng Biển Đông” với nhiều giọng ca nổi tiếng, 

Cập nhật 13/10/2011 06:31:00 AM (GMT+7)

- Với sự tham gia biểu diễn của các ca sĩ Quang Thọ, Trọng Tấn, Đăng Dương, Khánh Linh, Tân Nhàn, Anh Thơ… chương trình nghệ thuật “Sóng vọng Biển Đông” sẽ là cuộc đối thoại đặc biệt giữa những thế hệ.

Quy tụ những giọng ca nhạc đỏ hàng đầu Việt Nam, chương trình sẽ diễn ra vào tối ngày 22/10 tại Nhà hát lớn Hà Nội. Trong đêm nhạc, những ca khúc nổi tiếng về như Vượt trùng dương (Hoàng Văn Tý),Tình ca (Phạm Duy) sẽ được biểu diễn bên cạnh những tác phẩm mới nhất của các nhạc sĩ như Sóng Vọng Biển Đông (Lê Minh Sơn), Gió lộng bốn phương (Trần Mạnh Hùng)…

Ca sĩ Đăng Dương

Với câu chuyện xuyên suốt là hình ảnh người con của một liệt sỹ đã hi sinh khi bảo vệ đảo Gạc – ma, những bài hát sẽ lần lượt được cất lên như những ánh đèn hải đăng dẫn đường cho người con tìm đến với hình bóng cha mình. Trong suốt chặng đường khán giả sẽ được chứng kiến những cuộc đối thoại giữa những người lính, giữa biển khơi và đất liền, giữa hòa bình và cuộc chiến, với những sự phi thường của hiện tại chỉ là những điều bình thường trong quá khứ…

Nằm trong dịp kỉ niểm 45 năm thành lập Hội khoa học Lịch Sử Việt Nam, lần đầu tiên một chương trình âm nhạc nghệ thuật được tổ chức và đạo diễn bởi những người am hiểu về lịch sử. Tổng đạo diễn chương trình là nhà sử học Dương Trung Quốc bên cạnh nhạc sĩ Lê Minh Sơn với vai trò chỉ đạo nghệ thuật.


Nhạc sĩ Lê Minh Sơn – Ảnh: Nguyễn Hoàng

Với những người có tâm huyết với lịch sử, đặc biệt là tình yêu với Biển đảo, đây sẽ là cách hoàn toàn mới để thay đổi cách nhìn nhận của thế hệ trẻ trong việc tiếp cận với Lịch sử Việt Nam. Qua đó cũng để gián tiếp làm vững chắc thêm trong vấn để khẳng định lịch sử biển đảo và đất liền của Tổ Quốc.

Thái Thanh

(BONUS: Link Sóng-vọng-biển-Đông — Vietnam+ (VietnamPlus) lại dẫn đến 1 loạt bài với bài đầu tiên là Hội Khoa học Lịch sử nhận Huân chương Lao động (22/10/2011 | 22:10:00) có độc câu kết có liên quan: “Tại buổi lễ, các nghệ sỹ, nhạc công thuộc các đoàn nghệ thuật Trung ương và Hà Nội đã biểu diễn chương trình nghệ thuật chào mừng “Sóng vọng Biển Đông” với nhiều tiết mục đặc sắc./. " 

 

Tối qua, nhà cháu hý hởn đi coi

 

XIN CHÉP LẠI ĐÂY TRUNG THỰC NHỮNG GÌ ĐÃ THẤY: 

 

1- Đầu chương trình, bác Dương “Tàu” mời tất cả đứng dậy làm lễ chào cờ và yêu cầu mọi người CÙNG HÁT QUỐC CA. Chỗ nhà cháu trên tít tận tầng 3, anh chị em hát to nhất Nhà hát luôn. Thề ! Tan cuộc, anh chị em ngồi tầng Một bảo thế. Nhà cháu giờ vưỡn còn bị khan tiếng.

 

2- Quan khách:

 

Đến Nhà hát Lớn, thấy rất nhiều công an. Hỏi ra mới biết là Chủ tịch nước Nguyễn Tấn Sang sẽ tới dự. Đang phởn phơ tán chuyện với một đồng nghiệp khảo cổ học bỗng có một chú đến hỏi “xem nhờ cái giấy mời”. (Đau là nhà cháu chả được Hội Sử cho giấy mời mà là bạn bè ngành khác cho).

Không có máy, nhà cháu mượn của Lê Dũng chụp 03 pô:

.

 Bên trái sân khấu

 Bên phải sân khấu

 Tầng Một

Tạm bỏ qua các tầng Hai và Ba, cụ thể quan khách 5 hàng đầu tầng Một như sau:

 

- THẲNG GIỮA SÂN KHẤU: 

 

Hàng ghế đầu tiên sát sân khấu có 8 vị ngồi (tính từ trái sang phải là: GS-TS khảo cổ Lưu Trần Tiêu – Bí thư Thành ủy  ĐCSVN TP. Hà Nội Phạm  Quang Nghị – Nguyên Phó Thủ tướng  Nguyễn Khánh – Nguyên TBT ĐCSVN Lê Khả Phiêu – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang -  Chủ tịch Hội Sử học GS Phan Huy Lê – Phó Thủ tướng  Nguyễn Thiện  Nhân và một ông nhà cháu không biết.

 

Mải xem, lúc 20g26, tức là thời điểm kết thúc phần Lễ (ấy là là nói thế, đúng không chả biết?), đến bài hát thứ hai, khi ca sỹ Đăng Dương hát bài Bạch  Đằng giang, nhà cháu không nhìn thấy ông Phạm  Quang Nghị nữa. Sau, bác Dương “Tàu” bảo ông ấy báo bận từ trước, phải về sớm.

 

Các  VIP còn lại ngồi xem/nghe đến hết.

 

Hàng ghế thứ hai, trống 01/09 chỗ. Hàng thứ ba, trống 05/10 chỗ. Hàng thứ tư, trống 04/11 chỗ. Hàng thứ năm, trống 05/12 chỗ.

 

BÊN TRÁI SÂN KHẤU:

 

Hàng ghế đầu tiên, trống 01/06 chỗ. Hàng ghế thứ hai, trống 02/06 chỗ. Hàng thứ ba, trống 03/06 chỗ. Hàng thứ tư, trống 01/06 chỗ. Hàng thứ năm, trống 03/06 chỗ.

 

BÊN PHẢI SÂN KHẤU: 

 

Hàng ghế đầu tiên, trống 04/06 chỗ.  Hàng ghế thứ hai , trống nguyên 06 chỗ. Hàng thứ ba, trống 03/06 chỗ (có 1 cháu bé dưới 10 tuổi). Hàng thứ tư, trống 02/05 chỗ. Hàng thứ năm, trống 02/05 chỗ.


 

3- Theo nhà cháu biết, chương trình này không bán vé vào xem mà TINH giấy mời đã được gửi hết (thậm chí có ghi tên cụ thể)

 

4- Chương trình ca nhạc gồm TẤT CẢ 15 bài:

- Tình ca (Phạm  Duy): “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi. Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi! Tiếng ru muôn đời. Tiếng nước tôi!

- Bạch  Đằng  giang (Lưu Hữu Phước): “Đây Bạch Đằng Giang sông hùng dũng. Của nòi giống Tiên Rồng Giống Lạc Hồng, giống anh hùng, Nam Bắc Trung….

- Vượt trùng dương (Nguyễn Văn Tý): “Dù gian khó hát câu trường kỳ. Đời tranh đấu hát câu trường kỳ. Đây con thuyền vượt muôn trùng dương

- Biển hát chiều nay (Hồng  Đăng):”Có gì sáng nay mà sóng xôn xao?…”

- Xa khơi (Nguyễn Tài Tuệ): “Nhớ thương cách rời ơi biển chiều nay …”

- Tình ca (Hoàng  Việt): “Khi hát lên tiếng ca gởi về người yêu quê ta. Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba …

- Tình ta biển bạc đồng xanh (Hoàng  Sông Hương): “Thuyền anh ra khơi khi chân mây ửng hồng.
Thuyền anh ra khơi đâu có ngại chi sóng gió ơ hò…”

- Đừng vì (VÍ) em là biển (Trần Thanh Tùng-Minh Thiện): “Đừng ví em là biển.Nước mặn chát chân trời. Giữa mênh mông vẫn khát. Không uống được anh ơi…

- Thuyền và biển (Phan Huỳnh Điểu-Xuân Quỳnh): “Nếu phải cách xa em. Anh chỉ còn bão tố …”

- Con thuyền xa bến (Lưu Bách Thụ) “Khóc cho người đi. Không còn ngày về...”

- Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý):”A á ru hời ơ hời ru. Mẹ thương con có hay chăng …”

- Người mẹ của tôi (Xuân Hồng) “Nước mắt Mẹ không còn. Để khóc những đứa con…”

- Lướt sóng ra khơi (Thái Dương): “Đoàn ta ra khơi tiếng máy reo vang tràn ngập tình đất nước quê hương. Nhìn bầu trời xanh tươi, tay súng ta không rời…”

- Hò biển (Nguyễn Cường): “Mênh mông ơ triều lên ớ hò. Bên này biển bạc, bên kia ơ than vàng…”

- Ca ngợi Tổ quốc (Hồ  Bắc) “Kìa dải Trường Sơn uốn mình quanh ven bờ biển xanh. Tiếng sóng ngoài khơi dồn xa xa những thuyền xuôi dòng.…”

5- Nhạc sỹ Lê Minh Sơn có lên sân khấu đứng đệm ghi-ta cho nữ ca sỹ hát bài thứ 12 “Mẹ Việt nam ơi, Mẹ Việt Nam ơi! Sương khói tan rồi còn lại Mẹ thôi…“. Nhưng không có trình diễn nhạc phẩm mới có tên “Sóng Vọng Biển Đông ” như nhiều báo đã giới thiệu.

.

Không lẽ KHÓC cho Hội Sử học ế khách?
Không lẽ KHÓC vì chương trình chẳng VỌNG tý sóng nào?
Không lẽ KHÓC vì sự THỜ Ơ - VÔ CẢM đồng thời cũng là sự NHẠY CẢM của vấn đề?
Thôi thì nhà cháu ghi lại trung thực để những Ai KHÔNG BỊ/ĐƯỢC DỰ đêm nhạc ấy cùng biết.

FIN./. 

*Bài viết do TS Sử học Nguyễn Hồng Kiên (Gốc Sậy) gửi trực tiếp cho NXD-Blog. 

Xin chân thành cảm ơn tác giả!

Xem thêm: Sóng vọng biển Đông, Hoàng Sa mất tích

* 

Bùi Thị Minh Hằng và Phương Bích trong những bộ cánh sang trọng đến xem chương trình:

 

 

-->đọc tiếp...

ĐƠN KHIẾU NẠI GỬI CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

Thưa chư vị,

Như chư vị đã tường, ngày 21 tháng 10 vừa qua, Toà án nhân dân quận Đống Đa, nơi nhận đơn khởi kiện Đài Phát Thanh và Truyền hình Hà Nội, đứng đầu là Ông Trần Gia Thái- Giám đốc kiêm Tổng Biên tập vu khống các nhân sĩ trí thức và đồng bào yêu nước đã trả lời chính thức: Toà trả lại HỒ SƠ vụ kiện vì "NGƯỜI KHỞI KIỆN KHÔNG CÓ QUYỀN KHỞI KIỆN".



14h30 hôm nay (24.10.2011), những người khởi kiện đã đến Tòa án Nhân dân Đống Đa để gửi Đơn Khiếu nại lên Chánh án Tòa án Nhân dân Đống Đa về việc trả lại đơn kiện Đài PT & TH Hà Nội.  Đoàn gồm 08 người: Luật sư Hà Huy Sơn, các vị: Nguyễn Đăng Quang, Nguyễn Văn Khải, Lê Dũng, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Việt Anh, Phương Bích, Thúy Hạnh. Dưới đây là toàn văn văn thư khiếu nại:









Qua Đơn Khiếu nại, chúng ta thấy rõ Thẩm phán Nguyễn Văn Thắng gian dối, cụ thể như sau:

- Ngày 18.10, bên khởi kiện đến gặp Thẩm phán thì ông nói chưa có văn bản trả lời Đơn Khiếu nại, và hẹn đến ngày 21.10.2011 sẽ có văn bản trả lời.

- Ngày 21.10.2011 khi đến nhận văn bản thì ra văn bản đã được ký từ ngày 17 tháng 10.
______________________________________________________________________

Những người đại diện các nguyên đơn cũng đã chuyển tới Ông Nguyễn Văn Thắng, Thẩm phán Tòa án Nhân dân quận Đống Đa bức thư của nhà văn Nguyên Ngọc, với chữ ký của người gửi:


Nguyễn Xuân Diện- Blog


-->đọc tiếp...

6 NĂM TRƯỚC, TÔI ĐÃ PHẢN ĐỐI GIẢI THƯỞNG HCM CHO GS HÀ MINH ĐỨC





Thưa chư vị,

Năm 2005, ông Hà Minh Đức, Giáo sư, Viện trưởng Viện Văn học đã được nhận giải thưởng Nhà nước cho một số công trình nghiên cứu. Liền sau đó, ông lại nộp hồ sơ đề nghị trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình về báo chí Hồ Chí Minh.

Được tin, tôi đã tìm đọc công trình của ông và nhận thấy công trình đó không đủ hàm lượng khoa học cần thiết để cho phép nhận định rằng đó là một công trình khoa học. Vì vậy, ngày 11 tháng 7 năm 2006, tôi đã có bản Kiến nghị gửi Hội đồng Giải thưởng Quốc gia về công trình của ông Hà Minh Đức.

Hội đồng đã nhận được bản Kiến nghị, và đã hồi âm cho tôi như công văn nêu trên. Kết quả là năm ấy, Hội đồng Giải thưởng quốc gia không đồng ý đề nghị trao giải thưởng Hồ Chí Minh cho Ông Hà Minh Đức. Và giải thưởng Hồ Chí Minh đã không được trao cho ông Hà Minh Đức (ông chỉ nhận được Giải thưởng Nhà nước trước đó).

Nay, được biết, Hội đồng đang xét, và rất có thể ông Hà Minh Đức sẽ ẵm cú đúp 2 Giải thưởng Hồ Chí Minh trong cùng 1 thời điểm vào cuối năm nay. Tôi quyết định công bố bức thư của Hội đồng Giải thưởng Quốc gia thuộc Bộ Văn hóa Thông tin gửi cho tôi cách đây 05 năm về trường hợp giải thưởng đang xét trao cho ông Hà Minh Đức.

Nguyễn Xuân Diện

-->đọc tiếp...

ĐẠO DIỄN TRẦN VĂN THỦY VÀ BỘ PHIM TÀI LIỆU TỪNG BỊ CẤM

Đạo diễn, NSND Trần Văn Thủy và bộ phim tài liệu từng bị cấm

Trần Ngọc Kha 

Trong ký ức tôi thời còn là sinh viên, "Hà Nội trong mắt ai" là một bộ phim bị “cấm". Hồi đó một đứa trong chúng tôi có bố công tác trong Bộ Nội vụ (cũ) - Bộ Công an bây giờ. Nhờ nó mà chúng tôi lọt được qua cổng Bộ này, 15 Trần Bình Trọng, xem trọn vẹn bộ phim. Cảm xúc của lũ chúng tôi bấy giờ chuyển từ ngạc nhiên, sửng sốt đến bái phục, ngưỡng mộ. Sao không ngạc nhiên, sửng sốt được khi tự nhiên bỗng dưng xuất hiện một bộ phim một mình một giọng như vậy? Sao không bái phục, ngưỡng mộ khi những người làm phim đã dám nói những điều ngay thẳng, lại hay đến vậy? Và bất chấp lịch biểu học hành, nhiều lần sau đó, cứ có cơ hội là chúng tôi lại đi "xem chui" bộ phim này, không chán. Không chỉ trong giới sinh viên, đi đến đâu, gặp bất kỳ ai người ta cũng xôn xao, bàn tán về bộ phim. Mọi người đều chung một câu hỏi: tại sao nó bị "cấm"?

Thực ra, không có bất kỳ một văn bản nào do ai ký ra lệnh cấm lưu hành bộ phim này. Nhưng dường như chỉ sau một thời gian rất ngắn, chừng vài ba tháng thôi, từ sau khi nó được phát hành thì phải, không một ai dám công khai chiếu hoặc xem tiếp bộ phim. Và, một lẽ thường tình, đạo diễn bộ phim, ông Trần Văn Thủy, lập tức bị hầu hết mọi người, kể cả những đồng nghiệp thân cận nhất cô lập, ghẻ lạnh. Cố nghệ sĩ Phạm Hà có lần đã hỏi thẳng ông: "Ở! Cậu chưa bị bắt à? "...

Chuyện xảy cách đây gần 30 năm, chính xác là đầu năm 1982, khi Trần Văn Thủy còn rất trẻ. Ông Thủy không những đã được “cứu” thoát khỏi tình cảnh này mà còn được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Những người từng “có duyên nợ”, “ân oán” với ông và bộ phim này hồi ấy nay phần nhiều đã đi vào quá vãng. Tuy nhiên, với ông Thủy, dường như mọi việc chưa qua. Có gì như nghèn nghẹn nơi ông khi có dịp nào phải nhắc lại chuyện này với ai. Và có gì như ngài ngại khi ai đó đương chức đương quyền khi buộc phải nhắc đến chuyện này. Ngõ hầu góp phần đặt dấu chấm hết cho câu chuyện, tôi tìm đến ông.

Không khó khăn gì khi muốn tìm số máy điện thoại của ông. Chỉ cần một cú bấm máy gọi số 116, hỏi số điện thoại nhà ông là ra. Nhưng, dễ phải đến lần thứ 5 nhấc máy, tôi vẫn chỉ nhận được một câu trả lời: "Chuyện ấy - (chuyện làm phim này - t/g) đã qua lâu rồi, tôi không muốn ai gợi lại nữa". Bất quá, tôi đành mạnh dạn bấm chuông nhà ông. Rất may hôm nay cái điệp khúc kia của ông không lặp lại. Chỉ sau ít phút làm quen, ông đã hào hứng tiếp tôi một mạch đến quá trưa, không dứt.... “Là chỉ để nói chuyện chơi thôi chứ đừng có đăng báo chí gì đấy!” - ông giao hẹn trước khi nói.

Với phim "Hà Nội trong mắt ai", lúc đầu ông định làm chơi, làm cho nó xong, cho nó tròn bổn phận của một người làm công ăn lương. Bởi vì cả năm 1981 ông không làm được gì. Năm 1980, ông giành được một cái giải khá lớn bằng phim "Phản bội", làm chấn động trong nước và thế giới. Cho nên làm cái gì cũng khó, ông phải chần chừ. Cuối năm ấy bình bầu Lao động tiên tiến, Chiến sĩ thi đua, Đảng viên bốn tốt... ông không có cái gì, nghĩ cũng ngượng. “Mình nghĩ: thôi thì làm cái gì đó cho nó có việc, cuối năm cho nó đỡ phiền” - ông bộc bạch. Thế rồi...

Hồi đó ông được nhận một kịch bản phim "Hà Nội năm cửa ô" viết về Hà Nội du lịch, về phố cũ, phố mới, chùa triền, lăng tẩm, khéo tay hay làm... Soi xét nó lại với thực tế cuộc sống, ông thấy ta mất mát quá nhiều. Vào những năm đầu thập kỷ 80, Hà Nội điêu linh, đói kém, khó khăn lắm, chúng ta đang còn phải ăn bo bo. “Mình thấy cái kịch bản này không thể làm được. Nếu làm bộ phim này lúc ấy thì chỉ có đóng mà thôi, lấy đâu ra quần chùng, áo dài...” - ông kể. Kịch bản phim có nhiều chi tiết liên quan đến sử sách, phải đi kiếm sách đọc, đi điều tra. "Ngôi nhà 80 - 82 phố Hàng Gai, nếu đang đi giữa cái nắng choáng ngợp của phố phường mà ta bước chân vào ngôi nhà cổ này, có những cái gác xép cửa lùa, có tiếng chim gù trên mái ngói thì lòng ta tĩnh lại". Kịch bản viết là thế, nhưng đến đây ông thấy một bên là cửa hiệu thêu, một bên là trụ sở HTX. Ông hỏi chủ nhà: "Cái nhà này đã sửa lại từ bao giờ?"(Vì nó giống như tất cả các nhà cửa, phố xá, cửa hàng cửa hiệu lúc bấy giờ), rồi đọc cho ông ta nghe đoạn kịch bản này. Vị chủ nhà hỏi lại: "Người viết những dòng này bao nhiêu tuổi? ". Ông đáp: "Cỡ bằng tuổi cháu". Vị chủ nhà tiếp: "Thế thì anh ấy chép ở đâu ra ấy chứ. Năm 1945, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, bọn Tây ở bên kia, bọn tôi ở bên này đã bắn nhau chí chát thì cái nhà nó đã thế này rồi, làm gì có cái cảnh như các anh viết trong đó đâu". Đến ô Quan Chưởng tìm Văn bia của Tổng đốc Hoàng Diệu, đến gặp ông Nguyễn Vinh Phúc, gặp cụ Trần Huy Bá ông mới bừng tỉnh ra một điều: những giá trị tinh thần của dân tộc thì tồn tại vĩnh cửu. “Thế thì thôi, đừng làm làm cái đẹp về mặt cảnh quan khi nó không còn, không có nữa. Hãy tìm đến những cái có thật, đích thật, rất cần cho đời nay - những giá trị tiêu biểu cho cách trị nước yên dân như thế nào” - Đạo diễn Trần Văn Thủy rút ra sau những đắn đo suy tính. Và lúc này, vào cái thời điểm đầu những năm 80 ấy, những điều này cần thiết biết bao! Xót xa với hiện thực của dân chúng thế nào, trọng dụng nhân tài ra làm sao?... Ông đã liệt kê ra giấy như vậy sau tất cả những sự đọc sách, điều tra. Quan niệm của ông là làm phim tài liệu không chỉ đúng và đủ. Đúng và đủ là những chuẩn mực của các công trình nghiên cứu khoa học, của các nghị quyết. Nếu chỉ có vậy, người ta không xem thì cũng... vứt! Muốn cho người xem “tiêu hoá” được thì chúng còn phải hay nữa. Bởi thế cho nên muốn cho bộ phim có tính kịch thì phải sắp xếp lại những tích tuồng hay nhất mà các tiền nhân chúng ta để lại. Và, nhiều chuyện hay đã được ông đưa vào phim. Chuyện Tổng đốc Hoàng Diệu đặt tấm Văn bia ở Ô Quan Chưởng cấm các chức vị quan trường không được sách nhiễu dân lành làm ăn sinh sống ở đây như thế nào, chuyện vua Lê Thánh Tông dựng Đình Quản Văn ra làm sao, chuyện Quang Trung sau khi chiến thắng lẫy lừng trên sông Rạch Gầm đại phá quân Xiêm vào thành Thăng Long thăm vua Lê Cảnh Hưng, ông vua già mất quyền đã lâu rồi thế nào... Phép nước bấy giờ quy định lên Điện không được đem vũ khí. Quang Trung quyên mất điều đó, cứ thế đeo kiếm phăm phăm bước lên Thềm Rồng. Tất cả mọi người xanh mắt sợ, riêng chỉ có một mình Phương Đình Pháp, một viên quan lễ tân của triều đình đứng ra vòng tay trước mặt Quang Trung thưa lại với ông điều này. Quang Trung trừng mắt nhìn thẳng vào mặt Pháp. Pháp vẫn điềm nhiên. Thế rồi thấy phải, Quang Trung bỏ kiếm, bước lên Điện. Câu chuyện chỉ có thế nhưng ông Thủy cũng thấy rằng: trong mắt Quang Trung lúc bấy giờ, quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới mình điều phải trái. Ngày nay, trong Chùa Bộc, Hà Nội, còn lưu giữ được một bức tượng. Trên đầu bức tượng đề chữ Tâm. Tất cả các nhà nghiên cứu đều không biết được bức tượng này thờ ai. Sau này cụ Trần Huy Bá đã phải mất rất nhiều công phu, đặt giấy bản vòng ra đằng sau bức tượng, dùng than chà. Tờ giấy hiện lên: "Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng". Tức là, đúng vào năm mà Gia Long chống anh em nhà Tây Sơn một cách kịch liệt, tàn sát, huỷ diệt tất cả những gì của họ thì dân chúng vẫn dựng tượng Quang Trung. "Hà Nội trong mắt ai" ra đời và đã tập hợp những chuyện như thế!..

Ngay từ lần chiếu đầu tiên bộ phim để trình duyệt, theo ông Thủy, Ban giám đốc hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương đã “Thấy nó có gì không ổn". Họ liền mời những người được coi là trọng trách nhất trong lĩnh vực tư tưởng, văn hoá nước ta xem. Xem xong, các vị này đều kết luận ngay rằng phim "Có vấn đề"! Anh em trong cơ quan đến lúc này vẫn chưa người nào, kể cả đồng chí Bí thư đảng uỷ, được xem. Rồi phim được bí mật chiếu cho một số người được coi là "cấp trên" xem. Rốt cuộc, Giám đốc hãng phim Lý Thái Bảo trả lời ông Thủy: bộ phim không được chiếu (!).

Thực ra, theo ông Thủy, đó là do có một số người xem phim xong tự vơ vào, vận vào mình mà cho rằng bộ phim này chống Đảng, dậy Đảng cầm quyền, kêu gọi mọi người “xuống đường” (?!). Chẳng qua là có thể họ "có tật giật mình". Trong đó có một nhà thơ từng có quan hệ rất thân thiện với ông Thủy từ cuối những năm 60, khi ông mang phim từ chiến trường ra, chiếu tại nhà cho hai vợ chồng họ xem. Nội dung phim có một chi tiết mà nhà thơ đã hiểu lầm. ấy là đoạn nói về bà Huyện Thanh Quan xưa ở làng Nghi Tàm (Hà Nội), theo chồng đi làm quan xa tại miền Trung. Rồi một hôm, ông Huyện đi vắng, bà nhận được mớ đơn kiện trong đó có đơn của chị Nguyễn Thị Đào xin cải giá vì chồng đi lính thú (ra biên ải) lâu ngày. Nhớ cảnh Tây Hồ, thương cảm cô Đào, nhà thơ mạnh dạn phê vào đơn: "Phó cho con Nguyễn Thị Đào / Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai...". Đào được đi bước nữa. Nhưng chẳng bao lâu sau, chồng cô trở về phát đơn kiện. Ông Huyện mất chức. Lời bình phim viết: "Thế mới biết cái máu me văn nghệ dính vào việc quan trường gây ra nhiều sự rắc rối là thế!". "Là một nhà thơ lớn - ông Thuỷ nói tiếp - nhưng vị này tự vận mình vào chuyện của bà Huyện Thanh Quan thì buồn cười quá. Bà sống trong một giai đoạn lịch sử hoàn toàn khác. Ông ta có "máu me" văn nghệ nhưng không nhiều, "máu me" quan trường, máu me chính trị của ông mới nhiều chứ! ". Hay đoạn nói về Lê Thánh Tông dựng Đình Quản Văn, trong đặt trống Đăng Văn cho dân chúng đến kêu oan. Phim liên tưởng: giá như thời Lê Mạt cũng có một cái trống như vậy thì tại đây dân chúng sẽ phải đinh tai nhức óc. Đó cũng là nói chuyện xưa, những tích tuồng trị nước yên dân. Nhưng không may cho ông Thủy, có người lại nói chuyện xưa sao nó lại giống hiện thực hồi đó đến thế! Tại sao Nguyễn Siêu lại cho dựng Tháp Bút bên Hồ Gươm? Tại sao Tổng đốc Hoàng Diệu lại cho đặt tấm bia kia ở Ô Quan Chưởng?... Trong 38 năm cầm quyền của Lê Thánh Tông, đất nước thịnh trị. Xây dựng bộ Luật Hồng Đức, thành lập Hội Tao Đàn, viết Đại Việt sử ký toàn thư, dựng Bia Văn miếu - có vị vua nào làm được lắm việc lớn như ông này không? Mà đến khi cái Điện Huy Văn, nơi bà Ngô Thị Ngọc Giao đẻ ra vua Lê Thánh Tông xiêu vẹo, đổ nát, người ta đã dọn nó đi để làm trụ sở UBND phường. (Vào cái thời điểm đó người ta vẫn còn phá hoại đình chùa). Tất cả những điều đó đều chẳng đáng kể ra vào lúc này hay sao?

Ông Thuỷ nhớ lại dạo ấy, có lần, bộ phim đã được chiếu đi chiếu lại tới bốn lượt trong một buổi sáng tại Quân uỷ Trung ương - chuyện lạ chưa từng có. Sau đó, Uỷ ban Khoa học xã hội phải tổ chức cả một cuộc toạ đàm "nghiên cứu" bộ phim, có các đại biểu của Viện Sử học, Viện Triết học, Viện Hán nôm cùng tham gia. Không một ai ở đây có thể tìm ra bất kỳ một sai sót nào của bộ phim, kể cả cái những cái "chốt" của bộ phim - ông Thuỷ tâm sự – như đoạn nói về Lê Lợi. Nguyễn Trãi, người quê làng Nhị Khê nhưng lại sinh thành ở Hà Nội. Tâm huyết suốt đời cho sự tồn vinh của đất nước và với thân phận của những người dân, ông từng đặt bút: "Chăn lạnh vắt vai đêm chẳng ngủ /Suốt đời ôm mãi nỗi lo dân". Từng được ông cùng Trần Nguyên Hãn "nếm mật năm gai" phò suốt 10 năm là thế nhưng khi được lên ngôi, vị vua này nghi kỵ các quan cận thần, đã phế truất cả Nguyễn Trãi, Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn.

Sử còn chép rằng vua Lê từng hỏi Nguyễn Trãi: “Viết quốc nhạc sao cho phải?”. Nguyễn Trãi thưa: “Tâu bệ hạ! Nguyện xin bệ hạ thương yêu nuôi dưỡng lấy dân chúng cho trong xóm ngoài làng không còn tiếng oán hận sầu than. Đừng vì ơn riêng mà thưởng bậy, chớ vì mình giận mà phạt bừa. Đó chính là cái gốc của quốc nhạc vậy!”.

Có nhà nghiên cứu lịch sử của Học viện Chính trị Nguyễn Ái Quốc quê Thanh Hoá phản đối ông Thủy ầm ầm rằng: "Lê Lợi của chúng tôi chưa bao giờ được miêu tả như thế! ". Người ta tranh cãi về những đoạn như thế này rất dữ, rằng phim đã ám chỉ ông này, ám chỉ ông kia bây giờ... Và, bắt đầu từ đấy, không còn ai dám nhắc đến việc tiếp tục cho chiếu bộ phim này nữa...

“Cho đến năm 1985, mình không còn cái gì nữa - ông chua chát kể lại - cả điều kiện làm việc, miếng cơm manh áo, quan hệ bạn bè, tất tật. Vợ mình bảo mình điên. Bạn bè cũng nói mình vậy. Mẹ mình khóc và nói với mình rằng: “Con ơi! Sao cái nghề của con nó khổ thế!”. Nỗi khổ nhất lúc ấy là sự cô đơn. Bạn bè đồng nghiệp lên cơ quan bảy rưỡi, tám giờ có mặt tề tựu đông đủ và rất lo lắng cho mình đã bị bắt hay chưa. Báo Tuổi trẻ phỏng vấn tôi trong những năm mà "Hà Nội trong mắt ai" bị "cấm", ông làm cái gì?”. Tôi đã trả lời với họ rằng: “Trong những năm nhàn tản không có việc làm này, tôi đã đến những nơi mình từng đến quay phim, những nơi mà chúng tôi đã từng đến quay phim để thắp hương và chiêm nghiệm như mộ ông Ngô Thì Nhậm ở làng Tả Thanh Oai, mộ bà Đoàn Thị Điểm, mộ Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê, nơi thờ phụng Lê Thánh Tông ở Điện Huy Văn... Và, tôi thắp hương trên bàn thờ tổ tiên nhà mình. Mỗi lần như thế, tôi thường lẩm nhẩm một câu thành tiếng rằng: Thưa các bậc tiên liệt, con có tội tình gì không, khi con chỉ khắc khoải kể về những sự anh linh của dân tộc này? Nhìn lên bàn thờ tôi thấy những nén hương sau khi cháy cứ cong lên như râu rồng"...Tôi mừng, vì mẹ tôi thường bảo rằng: “Thắp hương trên bàn thờ, sau khi thắp hương mà những nén hương cong lên là linh ứng đấy!”.

Bộ phim không được chiếu! "Tại sao vậy? Xin các anh chỉ bảo cho tôi những chỗ không phải, những chỗ sai để chúng tôi có thể sửa" - bằng một giọng rất mếm mỏng, rất "đàn em", hồi đó ông Thuỷ khẩn khoản. Ban Giám đốc hãng phim kính chuyển nguyện vọng này của ông lên các vị lãnh đạo tư tưởng văn hoá. Họ đồng ý cho sửa chữa bộ phim. Nhưng, khi được hỏi cần phải sửa chỗ nào, một trong số các vị này đã thốt lên: "Đây là một bộ phim sai, sai đến mức không thể sửa được!". Sai đến mức như thế có nghĩa là nó đúng! - ông Thủy nghĩ.

Cùng kíp làm bộ phim này có anh Lưu Hà, con trai ông Lưu Xuân Thư, Phó giám đốc hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương hồi bấy giờ. Hà đang là sinh viên năm cuối của Trường Sân khấu điện ảnh. Đây là bộ phim đầu tay mà anh bấm máy, cũng được coi như là bài thi tốt nghiệp của anh. Ông bèn nghĩ ra một kế “xui” Hà đề nghị nhà trường đứng ra tổ chức chiếu bộ phim này ở Cung Thiếu nhi, để "cho sinh viên báo cáo tốt nghiệp". Danh sách mời có các học giả, các nhà nghiên cứu, các trí thức lớn, các cục, vụ, viện. Trong đó có cả các thầy giáo của nhà trường đến dự. Thời kỳ này, Cung Thiếu nhi là địa điểm chiếu phim sang nhất ở Hà Nội với quy mô hơn 500 chỗ, màn ảnh cực trắng, ánh sáng cực mạnh. Ơn trời! Kế họach này được chấp thuận. Khán giả đến chật cứng các hàng ghế của hội trường 500 chỗ. Họ reo hò, vỗ tay tán thưởng ầm cả rạp. Sau buổi chiếu, Ban giám đốc hãng phim cho gọi ông Thuỷ lên hỏi: "Bây giờ ý Thuỷ thế nào?". Ông đáp: "Thưa các anh! Nếu như tôi viết một cuốn sách, hay vẽ một bức tranh thì việc thưởng, phạt chỉ là của riêng tôi. Nhưng đây là một bộ phim, nó ra đời không chỉ bởi cá nhân tôi mà là do cả tập thể làm phim, là của cả hãng phim. Bởi vậy, xin các anh lưu ý cho một điều rằng: nếu cái phim này nó hay, nó bán được bản quyền, được khen thì là chung của hãng. Nhưng nếu nó dở, nó có tội thì các anh cũng nên công bằng. Nếu định đánh 100 roi thì chỉ nên đánh vào tôi 80 roi, rồi các anh phải bảo cấp trên đánh vào các anh một số roi, đánh vào ông Cục trưởng Cục Điện ảnh một số roi, đánh vào ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa một số roi... Chứ tại sao một cái phim hay, bán được bản quyền thì là của Nhà nước, còn cái phim "có vấn đề" thì tất cả 100 roi các anh đều đánh cả vào đít tôi?". Các vị lãnh đạo hãng phim lúc này đều ngơ ngác, thành thật: "Cậu nói phải! Nhưng mà bây giờ sửa thế nào?". Ông Thuỷ nói: "Sửa thế nào, đây là chuyện của các anh. Tôi thì tôi làm như vậy và tôi nghĩ như vậy. Và cho đến giờ phút này các anh hỏi tôi dù là theo trách nhiệm công dân hay trách nhiệm nghệ sĩ thì tôi vẫn tự hào rằng tôi, một công dân, đã làm một bộ phim như vậy. Con người ta khi có tà tâm thì không đàng hoàng được đâu, không lễ phép được đâu và cũng không tự tin được đâu. Cụ Hồ nói là phải biết lắng nghe ý kiến của quần chúng. Quần chúng đây tôi không dám nói đến những người ở ngoài đường. Ít nhất thì các anh phải chiếu cho các anh chị em trong hãng xem, những đồng nghiệp của tôi, để họ góp ý cho tôi hiểu cách làm phim tài liệu như thế nào, hiểu "cái vòng phấn" mà Đảng và Nhà nước đã "vẽ" cho chúng ta được "nhảy múa" trong đó như thế nào? Rồi anh chiếu cho Xưởng Phim truyện, chiếu cho Cục Điện ảnh, chiếu cho Xưởng phim quân đội, chiếu cho các hội văn học nghệ thuật để người ta góp ý cho chúng ta". Ban giám đốc hãng phim nghe thấy phải, và bắt đầu lên danh sách những người được mời xem phim, ở các xưởng phim, các hội văn học nghệ thuật, lên danh sách anh em trong hãng (kể cả anh em trong Nam)... Khi chiếu phim bao giờ cũng có người đứng canh ở cửa, đọc tên cho từng người vào một. Cho đến bây giờ, hẳn tất cả những ai đã từng tham dự vào vụ này đều còn nhớ, tất cả mọi người dù trong hay ngoài hãng phim, kể cả các cụ già như cụ Mai Lộc, cụ Khương Mễ sau khi xem phim xong đều thốt lên: "Sao cái phim như thế này mà lại bị “cấm” kia chứ?". Ai cũng khen hết, kể cả những người từng ghét ông Thuỷ ngày trước. Không một người nào kể cả các vị bên Viện Triết hay Viện Sử, Viện Hán Nôm... có thể tìm ra được bất kỳ một sai sót dù nhỏ nào trong bộ phim. Ông Thuỷ đã được họ "bênh"! Khi thông tin này loang ra, một lệnh bất thành văn được ban ra từ một cấp: không được chiếu bộ phim này dưới bất kỳ hình thức nào nữa (!!!). Tại một hội nghị phát hành phim trung ương có các đại biểu các tỉnh về họp, Cục trưởng Cục Điện ảnh bấy giờ muốn chiếu bộ phim này cho họ xem cũng không được phép. Đó là vào giữa năm 1983 - ông Thuỷ nhớ lại và nghĩ: mọi việc đã kết thúc. Liên tưởng đến một số vụ trước đây như “nhân văn giai phẩm”, “xét lại”... ông bắt đầu hết hy vọng thì...

Một hôm, bỗng nhiên có một cú phôn của ông Nguyễn Việt Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng gọi xuống đề nghị Hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương mang phim “Hà Nội trong mắt ai” lên chiếu cho Văn phòng xem. Dưới hãng phim, ông Bùi Đình Hạc, bấy giờ mới được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc hãng phim (thay cho ông Lý Thái Bảo sang làm Tổng Thư ký Hội Điện ảnh), trả lời: "Alô! không được phép đâu. Lệnh của cấp trên không được chiếu nữa". Ngày 15/10/1983, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng lại gọi xuống. Một lần nữa Giám đốc hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương Bùi Đình Hạc lại từ chối lời đề nghị này với lý do là phim đang được cắt ra để sửa. Từ đầu dây bên kia, giọng nói đĩnh đạc của ông Dũng vang lên: "Chúng tôi biết rằng bộ phim ấy có thể chiếu được hay không chiếu được. Chúng tôi có chỗ để biết. Nhưng lần cuối cùng tôi báo cho các anh biết đây là chỉ thị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng". Ban lãnh đạo hãng phim lại hỏi ông Thuỷ: "Bây giờ ý cậu thế nào?". "Ối giờ ơi! Sao các ông lại hỏi tôi ý đó. Các ông là người có chức có quyền các ông phải hiểu được ông Phạm Văn Đồng là ai chứ! Nếu là ông Đồng mà các ông còn không chiếu cho ông ấy xem thì đất nước này nó còn ra làm sao nữa? Không mang phim lên chiếu cho ông ấy xem là không được đâu". Kết quả ý kiến này của ông Thuỷ đã được họ tiếp thu.

Kế hoạch mang "Hà Nội trong mắt ai" lên chiếu cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem đã được Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng ấn định vào lúc 3 giờ chiều ngày 18/10/1983. Ông Thuỷ đề nghị với Giám đốc hãng phim, ông Bùi Đình Hạc cho được đi cùng. Ông Hạc trả lời "Không được đâu! Làm sao mà đi cùng được. Vào đấy qua “cổng đỏ”, người ta điểm danh đấy". "Anh Hạc ơi! Anh cứ cho tôi đi cùng vì tôi muốn nghe bằng chính cái lỗ tai của tôi xem Bác nói gì. Tôi thề với các anh rằng nếu Bác nói điều phải, điều đúng thì mình phải nghe, phải sửa chữa. Còn nếu mình có làm điều gì không phải thì chắc chắn là Bác cũng thương mà chỉ bảo cho mình thôi". Mặc cho ông Thuỷ nói hết lời như vậy, Giám đốc hãng phim vẫn không đồng ý. Không từ bỏ ý nguyện, gần đến giờ hẹn, ông lén ngồi sẵn vào ghế sau chiếc xe con Lada màu trắng của hãng phim đang đậu bên bậc thềm và lẩm bẩm một mình: "Ngày xưa đánh nhau ở chiến trường khu 5, khẩu hiệu của chúng tôi là nắm lấy thắt lưng địch mà đánh. Nay tôi cũng phải nắm lấy thắt lưng anh thôi...". Kể đến đây, ông Thuỷ cười phá lên - nụ cười đầu tiên thoải mái hết cỡ xuất hiện trên gương mặt đã bắt đầu có vài nếp nhăn của ông, trong suốt hơn ba giờ đồng hồ mà tôi được gặp. Nước này, cuối cùng, Giám đốc hãng phim đành cho xe lăn bánh.

Đến Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng ở số 2 Bách Thảo, Hà Nội, không thấy ai ra kiểm tra danh sách mà chỉ có giọng người bảo vệ hỏi vọng từ trong chốt gác: "Xe nào đấy?". "Xe của xưởng phim vào chiếu phim cho Bác Đồng xem đây". Tiếng người bảo vệ lại vọng ra: "Vào đi! ". Thế là lọt. “Đấy, có ai điểm danh, kiểm tra gì đâu” – Ông Trần Văn Thủy bảo với ông Bùi Đình Hạc.

Ông Thuỷ bê 5 hộp phim vào ngồi chờ trong phòng khách. "Bác Đồng đang tiếp Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, ông A -li-ep. Các anh chờ, một lát nữa bác xuống" - có người ra thông báo. Tự dưng Thuỷ bỗng thấy lo lo. Gần 30 phút sau ông Phạm Văn Đồng xuống. Trời tháng 10, chưa lạnh lắm nhưng bác đã phải mặc chiếc áo khoác màu đen bằng dạ. "Trông thấy chúng tôi, tự nhiên mặt ông Đồng đanh lại tỏ ý bực mình lắm”. "Muốn xem một bộ phim mà khó thế à? Nếu mà khó quá thì thôi tôi không cần nữa, tôi không phiền các anh nữa" – Ông Đồng dằn giọng nói như vậy sau khi đã phải chờ đợi giờ phút này chừng nửa tháng rồi, kể từ hôm đầu tiên ông yêu cầu hãng đem phim lên chiếu. Ông cứ chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong sân mà không vào phòng chiếu. Linh tính mách bảo Trần Văn Thủy một điều gì, rằng Thủy đang gặp may. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Việt Dũng đỡ lời cho đoàn làm phim rồi mời Thủ tướng vào. Thủ tướng ngồi xuống một chiếc ghế mây. Đạo diễn Trần Văn Thuỷ đứng vòng tay trước mặt bác nghẹn ngào nói: "Thưa bác! Bác cho phép cháu thay mặt anh em trong đoàn làm phim được bày tỏ lòng biết ơn đến bác. Cháu rất xúc động vì việc nước bận như vậy mà Bác vẫn bớt chút thì giờ... ". Nói đến đây ông Thuỷ nghẹn ngào đến lạc cả giọng đi. "Cháu ngồi xuống đây! Cháu ngồi xuống đây! ". Nghe giọng nói ân cần của Thủ tướng, ông Thuỷ thấy mình được bình tâm trở lại. Bác phải cầm tay kéo Thuỷ ngồi xuống bên phải mình; bên trái bác là Giám đốc hãng Phim Bùi Đình Hạc. Phim bắt đầu chiếu. Sau mỗi một "chốt" phim như đoạn Tô Hiến Thành dùng người như thế nào, đoạn vua Lê Thánh Tông cho dựng đình Quảng Văn trong có đặt trống Đăng Văn để dân chúng đến kêu oan ra sao, rồi đoạn nói về nỗi oan khuất của Nguyễn Trãi v.v..., bác lại nhổm dậy dịch chuyển ghế. Cứ thế, bác lặng lẽ lặng lẽ xem cho đến hết bộ phim.

Phim hết. Đèn trong phòng đã bật sáng. Bác vẫn ngồi, đầu vẫn cúi xuống, tay đặt lên trán, bất động. Tất cả mọi người xem phim đều cùng im lặng. Một lát sau, Bác ngẩng đầu quay sang Đạo diễn Trần Văn Thuỷ, hỏi: "Những ai đã được xem phim này và họ đã nói những gì về nó? ". "Thưa Bác! Bác hỏi cháu thế cháu khó trả lời lắm. Vì nếu cháu trả lời bác thì có thể không khách quan. Có rất nhiều người ủng hộ, tán thành nhưng họ lại không có quyền phán xét gì về bộ phim này. Xin phép Bác để cho anh Bùi Đình Hạc là giám đốc của cháu được trình bày với Bác". Bác quay sang phía ông Hạc. Ông hạc thưa: "Thưa đồng chí! Đây là bộ phim được các đồng chí có trách nhiệm đánh giá là một bộ phim có vấn đề, mượn xưa để nói nay. Đây là bộ phim không cùng Đảng để giải quyết những khó khăn hiện nay mà nuối tiếc những quá khứ phong kiến ngày xưa và gieo rắc vào thực tại quần chúng đảng viên những bi quan, hoài nghi và tiêu cực…". Rất tiếc rằng đến lúc này mà ông Hạc vẫn không hiểu được bác Đồng đang nghĩ gì. Cuối cùng, ông Hạc nói: "Thưa Đồng chí! Những người có trách nhiệm kết luận rằng tác giả bộ phim này chỉ là một nghệ sĩ chứ không phải là một nghệ sĩ cách mạng". Bác hỏi: "Ai nói như vậy? ". Giám đốc hãng phim Bùi Đình Hạc nêu tên ba vị lãnh đạo cấp trên thời đó. Trong khi ông Hạc nói, ông Thuỷ như bị kim châm, cứ nhấp nha nhấp nhổm đứng lên, ngồi xuống, đến mức ông Nguyễn Việt Dũng ngồi bên cạnh phải vít vai mấy lần ông mới im lặng được. Đoạn bác quay sang ông Thuỷ: "Cháu có ý kiến gì nữa không?". Ông Thuỷ đứng lên thưa: "Thưa bác, cháu đã nhường lời cho anh Hạc. Và anh Hạc đã nói những lời cháu không nghĩ như thế. Cháu chỉ muốn thưa với bác rằng: nếu bộ phim này có gì sai lầm thì đó chỉ là do lực bất tòng tâm chứ bụng dạ chúng cháu không nghĩ thế. Thưa bác! Khi chúng cháu đến mộ bà Đoàn Thị Điểm thì thực sự lúc này nó chỉ còn là một đống rác. Và chúng cháu đã phải thuê dọn cái đống rác này đi mất nửa ngày. Rồi xin một chút nước vôi quét lên tấm bia mộ của bà, mượn một số chậu cảnh quanh đó bày đặt quay phim để khỏi mang tội bất hiếu với tiền nhân...". Được ngồi bên Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc này, linh cảm mách bảo với Đạo diễn Trần Văn Thuỷ rằng: trong cơn bão tố cuồng phong mà mình đang đi, ông đã tìm được một cái hang an lành để trú ngụ. Cuối cùng bác nói: "Tôi cũng không nghĩ rằng sự thể nó lại quan trọng đến mức này". Rồi bác phân tích cho mọi người hiểu đoạn nói về Nguyễn Trãi trong phim là có thật trong lịch sử và là nói về thân phận của Nguyễn Trãi chứ không chủ ý nói về Lê Lợi. Từng đoạn, từng đoạn khác như thế của phim cũng được bác phân tích rất cặn kẽ. "Tôi kinh ngạc về trí nhớ tuyệt vời của bác. Bác mới chỉ xem phim có một lần trong khi trăm công nghìn việc đang chờ đợi" - ông Thủy thốt lên với tôi. Rồi bác kết luận: "Ý kiến thứ nhất của tôi là: nếu đã là anh em cùng làm văn nghệ với nhau thì phải biết thương yêu, bảo vệ, bênh vực lẫn nhau. Các anh mà không biết bênh vực cho nhau thì còn ai bênh vực các anh? Ý kiến thứ hai của tôi mong các anh ghi nhận và anh Dũng ghi vào biên bản để gửi sang Văn phòng Ban Bí thư: Tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt! Chiếu ngay lập tức! Nếu sau này phát hiện ra cái gì sai thì chỉnh sửa". Đoạn quay sang ông Thuỷ, bác lại ân cần cầm tay ông: "Bác dặn riêng cháu điều này: cháu phải nhớ, khi nào cần cháu phải gặp bác, tìm mọi cách mà liên lạc với bác. Chỉ có cháu mới chủ động chứ bác không thể chủ động liên lạc với cháu được".

Cũng nên nhớ lại rằng, vào thời gian đó, diễn ra Đại hội Hội Nhà văn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến dự và gửi lời chào đến các đại hội các hội văn học nghệ thuật khác (do Bác không có điều kiện đến dự). Nhưng, phải chăng do bức xúc trước cách đối xử của một số người đối với bộ phim này như thế mà sáng sớm ngày 20.10.1983, ngày khai mạc Đại hội Hội Điện ảnh toàn quốc lần thứ II tại Cung Thiếu nhi, tức là chỉ 2 ngày sau khi bác xem phim "Hà Nội trong mắt ai", bác đã bất ngờ đến dự Đại hội này. Ngay từ phút đầu tiên, bác bước lên diễn đàn Đại hội phát biểu với hơn 500 nghệ sĩ điện ảnh toàn quốc. Bài nói chuyện không cần giấy tờ của bác kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ. Bác đã nói rất kỹ, rất mạnh mẽ, rất sâu sắc, về cách thức quản lý, lãnh đạo văn nghệ: "Đừng bắt tất cả các anh em văn nghệ sĩ hiện nay phải chui qua một cái lỗ kim, theo một khuôn mẫu có sẵn!". Đến bây giờ, những ai có dịp được tham dự Đại hội này hẳn đều còn nhớ hình ảnh đầy ấn tượng, lạ lùng của bác khi bác quay người lại, hướng về phía Chủ tịch đoàn Đại hội rồi chắp tay vái lạy họ và nói rằng: "Tôi lạy các anh! Tôi xin các anh! Khi duyệt phim thì cố gắng rộng lượng như tôi". Cả hội trường lập tức vỡ oà bởi những tràng vỗ tay dài không ngớt. Ai nấy đều hiểu Bác đang nói về điều gì. Với Trần Văn Thuỷ, hôm ấy là một ngày hạnh phúc đến tột độ. Không giấu nổi xúc động, ông bật khóc. "Một phần thưởng tâm linh, vô cùng cao quý hơn bất kỳ phần thưởng nào khác trong đời đã đến với tôi" - ông nói với tôi, nước mắt giàn giụa.

Từ đó, bộ phim bắt đầu được công chiếu rộng khắp trong tất cả các cơ quan, các câu lạc bộ, các hội đoàn... cho các tầng lớp nhân dân xem. Hàng tuần liền, Rạp Tháng Tám và nhiều rạp khác ở Hà Nội tổ chức chiếu phim này ba ca trong một ngày thì trong cả ba ca chiếu, khán giả đã phải xếp hàng dài chen chân mới mua được vé. Nếu ở Việt Nam có ghi-net thì phải xếp bộ phim này vào hạng phim tài liệu "ăn khách nhất" từ trước đến nay. Đây là một hiện tượng khác thường vì cho đến lúc bấy giờ, phim tài liệu nước ta mới chỉ được chiếu "chùa", chiếu "kèm" vào đầu các buổi chiếu phim truyện, để tuyên truyền, cổ động. Tại Liên hoan Phim quốc gia tổ chức tại Đà Nẵng tháng 3/1988, bộ phim đã được bình chọn nhận giải Bông sen Vàng duy nhất thể loại phim tài liệu. Ngoài ra tại đây, nó còn được bình chọn giải phim biên kịch hay nhất, đạo diễn hay nhất, quay phim hay nhất. Nhưng, có lẽ giải cao nhất, vinh dự nhất cho bộ phim này là giải phim tài liệu được nhiều khán giả xem nhất. Mới hay ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Văn Đồng "cứu" bộ phim “Hà Nội trong mắt ai”, "cứu" đạo diễn của nó hồi ấy thật là sáng suốt và kịp thời. Và cũng từ đó ông Thuỷ bắt đầu bớt dần được những giấc ngủ thắc thỏm, những cơn ác mộng hằng đêm. Ngay sau hôm được gặp Bác Phạm Văn Đồng, ông Thủy ra một hiệu sách ở Bờ Hồ mua một tấm ảnh chân dung cỡ lớn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cất giữ cẩn thận. Ngày Bác mất, ông lập một ban thờ riêng, treo ảnh Người lên thờ và để tang Bác trọn ba năm...

Nhưng chưa hết. Phải đến khi đồng chí Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng Bí thư, bộ phim và ông Thủy mới thực sự được “cứu sống” hoàn toàn. Nhà Đạo diễn Trần Văn Thủy được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Cũng nên lưu ý một điều: nếu so với “Những việc cần làm ngay” hay những gì mà Đảng và Nhà nước ta thực hiện “cải tổ”, “đổi mới”, những sự kiện “bùng phát” ở Báo Văn nghệ, “đời” Tổng Biên tập Nguyên Ngọc, như hàng loạt bài viết về khoán 10, khoán 100, về cải cách ruộng đất, về “Cái đêm hôm ấy đêm gì?”..., hoặc xa hơn nữa là sự kiện văn chương tiểu thuyết “Cù lao Chàm” của Nguyễn Mạnh Tuấn hoặc hàng loạt vở diễn chấn động dư luận của Lưu Quang Vũ thì, về mốc thời gian, bộ phim “Hà Nội trong mắt ai” “đi trước thời đại”. Tiếp chuyện tôi, ông Thủy cho hay: Có lần ông nhận được một lời đề nghị ông viết đơn và làm hồ sơ để có thể được xét duyệt trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về bộ phim này. Ông khước từ lời đề nghị: “Tôi không bao giờ làm đơn vì việc này!”.

"Thưa các bác! Cháu nghĩ rằng nếu bộ phim này nó hay, được các bác tán thưởng, được ai đó chia sẻ, bảo vệ như Bác Phạm Văn Đồng thì cũng chẳng phải riêng tại cháu mà đấy là những vấn đề lịch sử do tiền nhân để lại. Mà nếu bộ phim này có làm ai đó bực mình, khó chịu, thậm chí phẫn nộ thì lỗi cũng không phải tại cháu. Cái hay, cái dở căn cứ vào lịch sử, cháu chỉ là người trình bày, sắp xếp những điều có thật đó, may ra có ích gì đấy cho hiện thực cuộc sống, xứng đáng với tiền nhân..." (trích bài nói chuyện của Đạo diễn Trần Văn Thuỷ tại cuộc gặp mặt với gần 1000 cụ cách mạng lão thành tại Câu lạc bộ Thăng Long, Hà, Nội năm 1983).

Hà Nội, 12.2006
* Văn bản đã được Trần Văn Thủy và Nguyễn Xuân Diện chỉnh sửa lại một số chữ ngày 11.1.2011.

 

-->đọc tiếp...

NỘI LỰC CỦA MỘT ĐẤT NƯỚC CHÍNH LÀ NHÂN CÁCH CỦA MỖI CON NGƯỜI

Nội lực của đất nước chính là nhân cách của mỗi con người 

Tác giả: Kim Anh 

Bài đã được xuất bản.: 11/08/2011 06:00 GMT+7


Nhắc đến nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn Trần Văn Thủy là người ta nhớ ngay đến hàng loạt tác phẩm để đời của ông như Những người dân quê tôi, Phản bội, Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai, Chuyện từ góc công viên, Thầy mù xem voi… và đặc biệt là hai tác phẩm đã “làm mưa làm gió” trong đời sống điện ảnh của người dân Việt Nam cũng như cho chính cuộc đời ông một thời: Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế. Vì Hà Nội trong mắt ai mà ông gặp nhiều chuyện rắc rối, nhưng cuộc đời cũng lắm sự lạ lùng… sau năm năm bất lực, tuyệt vọng vì đứa con tinh thần của mình không được phép lên tiếng, thì ngay khi xuất hiện trở lại nó đã đưa ông lên đài vinh quang.

Chưa bao giờ phim tài liệu lại được chiếu riêng một buổi như các phim truyện khác. Chưa bao giờ người ta lại bỏ tiền túi ra, xếp hàng lũ lượt để mua vé vào xem. Cũng chưa bao giờ các rạp chiếu phim lớn của cả nước lại làm việc hết công suất như thời điểm công chiếu hai phim nói trên. Không biết đến bao giờ điện ảnh Việt Nam mới lặp lại hiện tượng ấy. Hà Nội trong mắt ai nhận liền bốn giải lớn của Liên hoan phim Việt Nam năm 1988 (giải Bông sen vàng đặc biệt, giải Biên kịch, giải Đạo diễn, giải Quay phim xuất sắc nhất).

Nhìn lại cả quá trình cống hiến của ông cho ngành điện ảnh, người xem dễ dàng nhận thấy ông luôn lấy con người làm trung tâm của mọi nghĩ suy, dằn vặt, nỗi đau và cả niềm hy vọng mà ông muốn đặt vào tác phẩm của mình. "Khi chưa có độc lập thì thân phận, cảnh đời của người dân lam lũ, khốn cùng luôn xuất hiện trong các tác phẩm văn học nghệ thuật. Nhưng khi có độc lập rồi thì không thấy bóng dáng họ đâu" là nỗi trăn trở của ông gửi vào Chuyện tử tế.

Nguyên tắc tối thượng trong công việc của ông là phải làm ra được những tác phẩm thực sự có ích cho con người. Không phải đơn giản mà tại Hội thảo điện ảnh tài liệu Quốc tế The Robert Flaherty ở New York (tháng 5-2003), với hơn 200 nhà làm phim độc lập, đạo diễn Trần Văn Thủy và đạo diễn Toshimoto của Nhật Bản đã được vinh danh "Chứng nhân của thế giới". Năm 2010, Nhật Bản cũng đưa tên đạo diễn Trần Văn Thủy vào "Từ điển danh nhân" của họ.

Câu chuyện ông chia sẻ với chúng tôi trong một buổi chiều ở Hà Nội cũng lan man, chất chứa biết bao tâm sự về con người. Ông nói:

Bạn bè tôi, ngồi với nhau nói chuyện gì thì nói: Kinh tế, gia đình, sức khỏe, thậm chí cả những chuyện bậy bạ của đám đàn ông... nhưng rồi cuối cùng vẫn quay lại chuyện... chính trị. Mà điều này không chỉ với người Việt ở trong nước mà người Việt ở nước ngoài cũng thế.

Nói chữ "chính trị" thì hơi xơ cứng và dễ bị hiểu lầm, mà phải nói đó là khát vọng, tấm lòng và lòng yêu nước của người Việt. Cái đó lớn lắm. Tôi vẫn nói với các đồng nghiệp trẻ rằng đừng hiểu chữ "tài liệu" một cách xơ cứng. Phim phải truyền tải được một thông điệp gì đó về lẽ sống, về cách ứng xử, về bổn phận... Một bộ phim, một vở diễn, một cuốn sách không có tư tưởng theo hướng đó thì không thể nào là một tác phẩm được. Đã gọi là tác phẩm thì phải chuyển tải được điều gì đó vào nhận thức của mỗi người và ta tạm gọi đó là tư tưởng.

Theo thiển ý của tôi, điều cực kỳ quan trọng của mọi loại hình văn học nghệ thuật hay khoa học xã hội là phải lấy mục tiêu con người, xoay quanh con người. Ở trên đời này không có một nghề nghiệp nào, một chức vụ gì, một công việc gì gọi là tử tế nếu như không bắt đầu từ những ý nghĩa liên quan đến con người, đi từ nỗi đau của con người.

Tâm huyết với cuộc đời là vậy, nhưng có lần ông đã thừa nhận mình là người tiêu cực?

Đúng thế! Tôi cảm thấy mình là người tiêu cực với nghĩa là rất mong làm được nhiều điều có ích nhưng lại bất lực. Tôi đi nhiều, gặp gỡ nhiều người thuộc các tầng lớp khác nhau, biết nhiều cảnh ngộ... và đôi khi cảm thấy mình có lỗi trước các cảnh ngộ đó, mặc dù có lẽ tôi không có nghĩa vụ trực tiếp gì với họ. Phải chăng vì họ quý tôi quá, tin tôi quá nên tôi cảm thấy gánh nặng phải chia sẻ. Tôi có dịp đi nhiều nước trên thế giới, trong đó có Mỹ. Nhiều lần qua Mỹ và ở rất lâu, nghiên cứu về đời sống cộng đồng người Việt ở hải ngoại, tôi đi đến tận cùng của xã hội, sống với họ... có biết bao nhiêu là chuyện ám ảnh tôi đến tận bây giờ. 

Có phải những chuyện đó được ông viết trong Nếu đi hết biển - cuốn sách từng khiến ông gặp những điều khá phiền phức bởi bị một số người Việt ở Mỹ công kích?

Chỗ này phải nói dông dài một chút. Giữa năm 2002, William Joiner Center (WJC) thuộc Trường Đại học Massachusetts ngỏ ý mời tôi sang Mỹ để tham gia chương trình "Nghiên cứu về cộng đồng người Việt" do quỹ Rockefeller tài trợ. Tôi cảm ơn và từ chối vì đơn giản là tôi không biết "nghiên cứu" và tôi không thích "nghiên cứu". Làm một cái việc rất mất thì giờ, mất nhiều công sức, kết quả là một xấp giấy được bỏ vào ngăn kéo, may ra một năm được vài ba người đọc, theo tôi, đó là chuyện vu vơ.

Nhưng tháng 8 năm đó, WJC nhắc lại lời mời. Thấy họ chân tình tha thiết quá, tôi nhận qua Mỹ. Nhưng, tựa như một ma lực, một định mệnh, tôi gặp nhiều hoàn cảnh, nhiều câu chuyện trong bà con người Việt mà tôi có thể tiếp xúc. Vui thì tôi chóng quên, buồn thì tôi bị ám ảnh, ám ảnh nhiều lắm, nhất là chuyện vượt biên, vượt biển, cải tạo, tù tội... Từ đó tôi không đi chơi nữa, tôi quyết định toàn tâm toàn ý vào một công việc rất mơ hồ và không rõ cái đích ở đâu, chỉ đinh ninh là nó sẽ có ích. Tôi đặt bút viết những trang đầu, rồi cố gắng "rặn" ra được quãng bốn năm mươi trang, suôn sẻ.

Tôi có thói quen luôn nghĩ đến người đọc, người đọc trong nước và đặc biệt là người đọc ở Mỹ. Tôi bị khựng lại hoàn toàn. Hoàn cảnh xui khiến, nghề nghiệp mách bảo, tôi "đè" mấy ông bạn văn chương, trí thức ra trao đổi, trò chuyện cởi mở về chính cuộc sống và suy nghĩ của người Việt ở đây. Chỉ việc ghi chép trung thực và cam đoan với nhau là nếu công bố thì phải "y như bản chính". Thật là thượng sách.

Như thế, dù không muốn ông vẫn có "công trình nghiên cứu" cho WJC, hơn nữa nó không bị xếp vào ngăn kéo, trái lại, nó được in thành sách và còn được tái bản - một chuyện khá hiếm đối với một cuốn sách tiếng Việt ở Mỹ?

Mất khá nhiều công sức để bàn thảo với các anh chị ấy (những người tác giả gặp gỡ, chuyện trò - PV), cuối cùng thì bản thảo được chỉnh lý, chốt lại còn trên 200 trang đánh máy, tôi định nộp cho WJC hai tuần trước khi về nước. Bỗng dưng "trời xui đất khiến" thế nào, nhà văn Nguyên Ngọc đến Boston, ở cùng nhà, đi dạo, chuyện trò, thăm hỏi linh tinh: "Thủy, cậu sang đây làm gì?"... "Thế à, viết xong chưa?"... "Đưa tớ đọc chơi được không?".

Đọc liền ba đêm, sáng hôm sau trở dậy, chưa kịp ngồi vào bàn ăn ông đặt tay lên tập bản thảo và nhìn vào mắt tôi: "Thủy! Cái này rất cần và có ích". Tôi không tin ở tai mình, hỏi lại và nóng ran cả người khi nghe ông nhắc lại: "Cái này rất cần và có ích". "Bố" này đã nói là tôi tin, tôi rành rọt nói với ông: "Nếu anh bảo cái này nó cần và có ích thì chắc chắn tôi in ngay và tôi cũng sẽ về nước ngay". Nếu đi hết biển ra đời lòng vòng là vậy. Chẳng có âm mưu gì đáng ngại, chẳng có tài cán gì đáng nể...

Nếu nhà văn Nguyên Ngọc đã nói thế và ông tin nhà văn thì tại sao Nếu đi hết biển đến giờ vẫn chưa được phổ biến ở Việt Nam, thưa ông?

Tôi nghĩ có lẽ cũng giống như Hà Nội trong mắt ai ở đầu những năm 1980. Ngày ấy, người thích thú, tán thành thì khá đông nhưng không có quyền, không có diễn đàn; người phản đối, lên án thì rất ít, nhưng có quyền, có diễn đàn, thậm chí có cả một guồng máy. Cũng có nhà xuất bản có nhã ý muốn in, tôi cảm ơn và có điều kiện: Phải in nguyên xi 100%, đúng từng dấu chấm, dấu phẩy. Chẳng phải tôi kiêu ngạo gì về những con chữ của mình, chỉ là tôi muốn tôn trọng tuyệt đối những người đã giúp tôi làm cuốn sách này.

Với những gì ông đã và đang làm, ông có cho mình là người có tấm lòng yêu nước hơn người?

Yêu nước không phải là đặc quyền của bất cứ ai. Đặc biệt không được ban phát cho người này yêu nước và người kia không được yêu nước. Khi tôi cùng gia tộc cụ Nguyễn Văn Vĩnh làm bộ phim Mạn đàm về người Man di hiện đại (bốn tập với 240 phút), ở cuối phim tôi nói rằng: Khi bộ phim đi vào giai đoạn cuối, vào một đêm mưa gió bão bùng, cụ Vĩnh đã về báo mộng cho người đạo diễn phim này: "Xin đa tạ những tấm lòng của hậu thế đã nói về tôi với những lời ấm áp, xin đa tạ! Nhưng chớ vì tôi mà làm mất thì giờ. Đất nước ta có không biết cơ man những người có tấm lòng ái quốc, hãy vì hậu thế mà đối xử tử tế với họ, cho dù họ có ái quốc theo cái cách của họ...".

Trong một buổi tọa đàm trên truyền hình, ông đã từng nói: "Nội lực không phải là mấy đồng xu lẻ ở trong túi dân chúng. Nội lực là trí tuệ, công sức, tình cảm, tâm huyết của toàn thể dân tộc, không kể trong hay ngoài nước, cũ hay mới". Vây, theo ông, cách nào để phát huy nội lực của đất nước?

Đối với tôi, trong mọi mối quan hệ, bao giờ cũng chỉ coi trọng yếu tố con người. Ở trong Chuyện tử tế có đoạn nói về trẻ em Việt Nam và trẻ em Nhật Bản. Trong khi trẻ em Việt Nam được học: "Các em là những đứa trẻ hạnh phúc bởi các em là con Hồng cháu Lạc, giang sơn của các em như gấm vóc, tài nguyên giàu có với rừng vàng, biển bạc...". Nhưng trẻ em Nhật Bản được dạy bảo: "Các em là những đứa trẻ bất hạnh bởi vì được sinh ra trên đất nước hoàn toàn không có tài nguyên, từng thua trận trong chiến tranh. Gương mặt của đất nước này và tương lai của đất nước này trông chờ ở các em". Thế cho nên thái độ của trẻ em Nhật Bản đối với đất nước của chúng khác hẳn con em chúng ta, có trách nhiệm hơn, bao dung hơn.

Một ví dụ khác nữa là vua Trần Nhân Tông. Trong khi đánh thắng quân Nguyên Mông, các quan cận thần dâng lên cái tráp trong đó có danh sách của những kẻ nội phản, làm tay sai cho giặc. Nhà vua ưu tư và phán rằng: "Các ngươi, hãy vì tấm lòng của muôn dân, sự hiếu thảo của muôn dân, sự đoàn kết của muôn dân để xây dựng đất nước này, giang sơn này và mang đến cho bá tánh đời sống yên vui, ai ai cũng có thể nhìn nhau bằng tấm lòng tin cậy. Ta truyền lệnh đốt cái tráp này đi". Nếu nói nội lực của đất nước không phải là mấy đồng xu lẻ gửi ở ngân hàng thì có nghĩa nội lực là tất cả những vấn đề về nhân cách của một dân tộc, bản lĩnh của một dân tộc. Suy cho đến cùng vấn đề của xã hội Việt Nam bây giờ chính là vấn đề nhân cách. Tất nhiên suy nghĩ của tôi có thể là phiến diện, là chưa chuẩn.

Nói cách khác là nội lực đất nước liên quan đến vấn đề giáo dục, thưa ông?

Liên quan đến rất rất nhiều. Phải chăng nền giáo dục của ta hiện nay sản sinh ra những con người không dám nói sự thật, không có chính kiến, hắt nước theo mưa, nước chảy bèo trôi... Người ta không dám nói điều khác với ý kiến của cấp trên. Nếu như toàn dân được nói những điều mình nghĩ, mình cho là phải thì chúng ta càng có nhiều lựa chọn. Tôi chỉ có ước mơ duy nhất là đất nước mình trở thành một đất nước mà trong đó gồm những con người nghĩ gì nói nấy. Tất nhiên, ở những cương vị khác nhau thì những điều nghĩ và nói ấy nó sẽ có những giá trị nhất định. Nhưng tuyệt đối, đừng coi thường dân chúng.

Thế có nghĩa, cách tốt nhất để phát huy nội lực chỉ đơn giản là làm thế nào để mọi người được nói những điều mình nghĩ?

Đúng vậy, làm sao mà một người hay một nhóm người nào đấy lại có thể khôn hơn, giỏi giang hơn, sáng suốt hơn gần 90 triệu dân? Việc biết lắng nghe người khác nói sẽ chỉ làm cho xã hội tốt lên chứ không thể xấu hơn được.

Theo ông, như thế nào là một người tử tế?

Đây là một câu hỏi cũ như trái đất. Sống lương thiện. Biết đau những nỗi đau của đồng loại, biết nhục những nỗi nhục của đồng bào. Karl Marx tôn kính đã từng nói: "Tất nhiên, chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại với nỗi đau khổ của con người, mà chăm lo riêng cho bộ da của mình".

Mở đầu phim Chuyện tử tế, năm 1985 tôi viết thế này: "Ngày xưa cha bác có dạy rằng, tử tế có trong mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó trên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài quốc gia, bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có nỗ lực tột bậc và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người, người tử tế, trước khi mong muốn và chăn dắt họ thành những người có quyền hành giỏi giang hoặc siêu phàm".
Sau gần 30 năm, Chuyện tử tế vẫn còn nguyên giá trị. Nếu bây giờ có cơ hội, ông có làm tiếp không?

Chẳng bao giờ làm lại được đâu.

Vì...
Ngày đó, và cả bây giờ xem lại Chuyện tử tếHà Nội trong mắt ai ai cũng sẽ tự hỏi: Chỉ có như vậy thôi mà sao lại bị cấm đoán và ồn ĩ lên thế? Có lẽ phim gây chấn động và sự quan tâm chính bởi những điều nó đặt ra vào cái thời điểm ấy. Kể ra, đến nay nó vẫn hợp thời về mặt nội dung. Nhưng nó không phải là kiệt tác hay đỉnh cao gì. Về mặt nghề nghiệp mà nói, phim rất thường bởi vì phần lớn là quay toàn cảnh, dùng lời bình dẫn dắt. Cách làm phim hiện đại bây giờ người ta không tiêu hóa nổi đâu. Và nói thật rằng khi chiếu lại những bộ phim này tôi thấy xấu hổ về mặt nghề nghiệp.

Thực ra, phim tài liệu khó có thể nói là của anh, của tôi hay là của một người nào cụ thể. Đó là phim của cuộc đời. Tất cả những người trong phim, nhờ có sự hiện diện của họ, nhờ sự đóng góp tham gia của họ, nhờ sự từng trải, nhờ những thân phận của họ mà làm nên câu chuyện. Họ không phải là diễn viên. Không phải hư cấu, không phải đạo diễn gì cả. Cái xứ này có quá nhiều chuyện hay, không phải đóng diễn, bịa đặt.

Tôi vẫn thường nói với các học trò của tôi rằng, cái dở nhất của người làm phim tài liệu chúng ta là cuộc đời vốn thật thì ta làm thành giả. Bình thường cuộc đời rất hồn nhiên, ta mang phương tiện, máy móc... đến, hô bật đèn lên, bấm máy đi... thế là tất cả mọi thứ "chết cứng" hết cả lại, nó không thật nữa. Đối với tôi cuộc đời là bàn thờ. Và như vậy, liệu tôi có làm được một Chuyện tử tế nữa không?

Được biết, ông vẫn tiếp tục làm phim, vậy tiếp sau Mạn đàm về người Man di hiện đại sẽ là gì, thưa ông?

Hội ái mộ Yersin ở tỉnh Khánh Hòa và Thụy Sĩ có gợi ý mời tôi làm phim về nhân vật này. Alexandre Yersin là người vô cùng có công với Việt Nam. Ông là người đi vào lịch sử y học thế giới bằng việc tìm ra vi trùng dịch hạch, ông là người tìm ra Đà Lạt, mang cây hồ tiêu và cây cao su vào trồng ở Việt Nam. Một con người vô cùng gắn bó, yêu thương với những người dân chài nghèo khó ở xóm Cồn, Nha Trang. Người gần như sống hết đời và làm khoa học ở Việt Nam.

Trong di chúc, ông muốn rằng: Xin hãy đừng mang tôi đi đâu cả, hãy để tôi ở Suối Dầu, bên cạnh những cây cao su và cây hồ tiêu và những người Thượng... Một người tử tế như thế, đáng kính như thế, nhân hậu như thế, vì con người như thế tôi mong muốn làm một cái gì đó thật xứng đáng để hậu thế chúng ta không bao giờ quên ông.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

-->đọc tiếp...