Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

KHÔNG CÓ SÓNG TRONG ĐÊM NHẠC "SÓNG VỌNG BIỂN ĐÔNG"

20 Biểu tình viên đến xem chương trình, chụp ảnh cùng ông Dương Trung Quốc. Ảnh: N.A.T

Đêm nhạc "Sóng vọng Biển Đông"

Nguyễn Hồng Kiên 

 

“Tiếu lâm vỉa hè Hà Nội” có câu: “Dân ta phải biết sử ta- Cái gì không biết thì tra Gúc-gồ".

 

Là dân học/ làm nghề Sử, nhà cháu cười … như mếu. 

 

Lướt mạng thấy tin um ùm về vụ nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, Hội  Sử học được thưởng Huân chương Lao động hạng  Nhất  (Nhà cháu chả thấy SƯỚNG, sau Nỗi đau từ hàng ngàn điểm 0 môn sử) và chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Sóng vọng biển Đông” sẽ diễn ra vào tối 22/10/2011 tới tại Nhà hát Lớn Hà Nội

 

Nếu gõ cụm từ “Sóng vọng biển Đông” hỏi ‘bác Gúc’ thì sau 0,07 giây sẽ được 2.970.000 kết quả.

 

Trước hết, nhà cháu xin chọn đăng 05 tin đáng chú ý:

 

1- Tin: Chương trình nghệ thuật “Sóng vọng biển Đôngđăng lúc 10g25 ngày 13/10/2011 trên báo điện tử ĐCSVN (lấy lại tin từ ngày 11/10 của VOV.vn) :

Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Hội khoa học lịch sử Việt Nam, một Chương trình nghệ thuật “Sóng vọng biển Đông” và công bố Quỹ phát triển sử học Việt Nam sẽ diễn ra vào ngày 22/10 tới, tại Hà Nội.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Sóng vọng biển Đông” hướng tới chủ đề xây dựng Tổ quốc và bảo vệ biển đảo khơi dậy niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của người Việt với lịch sử dân tộc.

Đây là một cuộc đối thoại của thế hệ hôm nay cùng nhìn lại truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Dịp này, Hội khoa học lịch sử cũng sẽ công bố Quỹ phát triển sử học Việt Nam.

Nhà Sử học Dương Trung Quốc, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho biết: Nguồn quỹ này nhằm để hỗ trợ tài chính cho các công trình sử học xuất sắc, cũng như việc tổ chức các sự kiện liên quan đến lịch sử văn hóa.

Ông Dương Trung Quốc nói: “Chương trình nghệ thuật này nhắc nhở chúng ta giá trị vốn có của dân tộc chúng ta. Một quốc gia có hơn 3.200 km biên giới đường biển, chúng ta chịu biết bao sóng gió, không những của thiên nhiên mà kể cả nguy cơ xâm lăng từ biển vào. Bằng ngôn ngữ âm nhạc, nghệ thuật trình diễn, chúng tôi muốn đưa vào chương trình này sự đánh thức, những bài hát nói về sự giàu đẹp của quê hương chúng ta, và truyền thống của ông cha chúng ta trong việc bảo vệ chủ quyền của đất nước”./.

2- Tin Sóng vọng biển Đôngcủa PV Dương Cầm, đăng trong mục GIẢI TRÍ của Báo điện tử An Ninh Thủ Đô : 

Thứ tư 12/10/2011 23:21

ANTĐ – Dàn nghệ sĩ tên tuổi đại diện cho nhiều thế hệ giọng ca vàng trong làng nhạc Việt sẽ cùng nhau góp mặt trong đêm nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Sóng vọng biển Đông” diễn ra vào tối 22-10 tới tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

 Chương trình do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, đồng thời đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất và công bố quyết định thành lập Quỹ phát triển sử học Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo nghệ thuật của nhạc sĩ Lê Minh Sơn, chương trình được dàn dựng thành 4 phần gồm: Xây dựng đất nước và bảo vệ biển đảo; Vọng phu; Câu chuyện của người mẹ; Một ngày bình thường. Nhạc sĩ Lê Minh Sơn tiết lộ sẽ mang đến cho người xem những cảm xúc hùng tráng và hào sảng về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Bên cạnh màn trình diễn của nhiều nghệ sĩ như: NSND Quang Thọ, Anh Thơ, Trọng Tấn, Đăng Dương, Tân Nhàn, Khánh Linh… vị nhạc sĩ tài hoa sẽ trình diễn tác phẩm chủ đề “Sóng vọng biển Đông” ở phần cuối chương trình. Trước đó, chiều cùng ngày tại sảnh Nhà hát Lớn Hà Nội sẽ khai mạc cuộc triển lãm ảnh về biển đảo Việt Nam.


3- Báo Thể thao&Văn hóa có hẳn một bài dài: Chấn hưng môn sử, hướng tới biển Đông 

Thứ Tư, 12/10/2011 10:33


(TT&VH) – Ngày 11/10 tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (KHLS VN) đã tổ chức họp báo công bố Quỹ Hỗ trợ Phát triển Sử học Việt Nam (HTPTSH VN) và thông báo về chương trình nghệ thuật đặc biệt Sóng vọng biển Đông sẽ diễn ra vào ngày 22/10 tại Nhà hát Lớn Hà Nội.


Quỹ HTPTSH VN là Quỹ quốc gia đầu tiên của Hội KHLS VN và chương trình Sóng vọng biển Đông là sự kiện mở đầu cho hoạt động thường niên của Quỹ nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền sử học nước nhà.


Không có chuyện ba quỹ dẫm chân lên nhau


Tính cho đến thời điểm này, Quỹ HTPTSH VN là quỹ thứ 3 sử dụng nguồn lãi tín dụng để khuyến khích, đào tạo nhân tài sử học cho đất nước. Hai quỹ được nhiều người biết đến trước đó là Quỹ giải thưởng sử học Trần Văn Giàu và Quỹ giải thưởng sử học Phạm Thận Duật… Sự ra đời của các quỹ này có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu và phổ biến sử học, nhất là sau khi có những báo động về “thảm họa môn Sử” trong mùa tuyền sinh ĐH, CĐ vừa qua…


Tuy nhiên, ngay trong buổi họp báo công bố quỹ, nhiều người cho rằng, cả ba quỹ này rất có thể sẽ “dẫm chân nhau”.


GS – Viện sĩ Phan Huy Lê (giữa) cho rằng:
“Cần đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện về biển Đông…”


GS – Viện sĩ Phan Huy Lê giải thích: Quỹ giải thưởng sử học Trần Văn Giàu là dành cho hai lĩnh vực Lịch sử và Lịch sử tư tưởng liên quan đến miền đất Nam bộ, cực Nam Trung bộ (tỉnh Bình Thuận) và TP.HCM.


Quỹ Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật xét các công trình đăng ký tranh giải đều là những luận án tiến sĩ sử học (của người Việt hoặc người nước ngoài).


Còn Quỹ HTPTSH VN, nhằm mục đích đào tạo nhân tài sử học cho đất nước và thúc đẩy sự phát triển của nền sử học Việt Nam. Ngoài ra, Quỹ HTPTSH VN còn dự định sẽ tổ chức thường niên Diễn đàn sử học Việt Nam cùng các sự kiện văn hóa, lịch sử, nhằm thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân đến các vấn đề nóng bỏng của xã hội liên quan đến lịch sử. Như vậy, có thể nói, Quỹ HTPTSH VN không những không “dẫm lên chân” hai Quỹ giải thưởng sử học Trần Văn Giàu và Phạm Thận Duật mà “biên độ hoạt động” của quỹ còn mở rộng hơn rất nhiều.


Cần đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện về biển Đông


Trong buổi họp báo công bố Quỹ Hỗ trợ Phát triển Sử học Việt Nam, Hội KHLSVN cũng đã giới thiệu chương trình nghệ thuật Sóng vọng biển Đông (Tổng đạo diễn: Nhà sử học Dương Trung Quốc, Chỉ đạo nghệ thuật: Nhạc sĩ Lê Minh Sơn). Mặc dù, chương trình này chỉ là sự kiện mở đầu cho các hoạt động thường niên mà Hội đã đề ra nhưng lại là một trong rất nhiều cách truyền bá lịch sử đến người dân, là cuộc đối thoại giữa những con người thời bình ở nhiều lứa tuổi khác nhau khi cùng nhìn lại một giai đoạn hào hùng về biển và lịch sử dân tộc.


GS – Viện sĩ Phan Huy Lê sau buổi họp báo đã chia sẻ với TT&VH: “Gần đây, dư luận rất quan tâm đến tình hình biển Đông, trong đó có chủ quyền về Trường Sa và Hoàng Sa. Giới sử học chúng tôi cũng đã có loạt bài nghiên cứu về vấn đề này trên tạp chí Xưa và Nay của Hội. Tuy nhiên, theo tôi việc này cần phải đẩy mạnh hơn nữa. Bởi muốn quảng bá tốt thì phải tổ chức nghiên cứu tốt. Đã đến lúc công việc nghiên cứu về biển Đông nói chung và chủ quyền đối với Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng, cần phải được tổ chức trên cơ sở liên kết chặt chẽ hơn nữa, tập hợp đầy đủ hơn nữa các chuyên gia ở trong nước và đặc biệt là các chuyên gia ở nước ngoài. Tôi biết họ rất yêu đất nước VN, có những công trình nghiên cứu sâu sắc và có những điều kiện để thu thập tài liệu thuận lợi hơn chúng ta…”.


Hiện nay về lịch sử biển Đông, theo như GS Phan Huy Lê cho biết, trong giới sử học hiện có hai công trình nghiên cứu: của TS Nguyễn Nhã ở TP.HCM và của Khoa Sử của Trường ĐHKHXHNV (ĐH QG HN) do GS Nguyễn Quang Ngọc chủ biên. Hai công trình này sẽ được xuất bản trong thời gian tới nhằm quảng bá những công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ ở trong nước về biển Đông. Cùng với những công trình nghiên cứu khoa học như vậy, theo GS Lê thì chúng ta cần phải có những hình thức phổ cập hơn nữa để quảng bá kiến thức lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử biển Đông nói riêng liên quan đến chủ quyền lãnh thổ trong nhân dân.


“Theo tôi, cần phải gắn Trường Sa, Hoàng Sa vào biển Đông nói chung. Ở đây nó có hai mặt liên quan mật thiết với nhau. Đó là bảo vệ độc lập về chủ quyền trên biển Đông và đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, vì biển đóng một vai trò cực lớn đối với sự phát triển của đất nước. Cho nên, nói về nghiên cứu biển Đông, chúng ta không chỉ nghiên cứu về chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa mà phải nghiên cứu toàn diện về biển Đông trên cơ sở phải tổ chức nghiên cứu liên ngành, để nghiên cứu một cách có hiệu quả hơn nữa. Và phải thường xuyên cập nhật vì sự nghiên cứu càng ngày sẽ càng thay đổi, nếu nhận thức chỉ dừng lại ngày hôm nay đến một lúc nào đó nó sẽ trở nên lỗi thời!”


Huy Thông

(PV Huy Thông có biên tập lại không mà đọc câu của GS Phan Huy Lê nghe giông giống về “mẫu câu” của TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng: Nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa và cái  ranh giới thềm lục địa theo công ước luật Biển quốc tế, thì có tranh chấp nhau, nhưng mà đâu chỉ có 2 nước, rất nhiều nước …“)

4- Mục Văn hóa giải trí của báo Pháp Luật TPHCM Online có tin 122 chữ: Sóng vọng biển Đông:

(PL)- Ngày 22-10, chương trình nghệ thuật Sóng vọng biển Đông với bốn màn:

Xây dựng đất nước và bảo vệ biển, đảo; Vọng phu; Câu chuyện của người mẹ; Một ngày bình thường do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức sẽ diễn ra tại Nhà hát lớn Hà Nội. Sóng vọng biển Đông được xem như những tiếng vọng đa âm xen lẫn thực tại, quá khứ; đất liền, biển khơi; nụ cười, nước mắt; máu thời chiến, mồ hôi thời bình…

Chương trình do nhạc sĩ Lê Minh Sơn chỉ đạo nghệ thuật với sự tham gia của các ca sĩ Quang Thọ, Trọng Tấn, Đăng Dương, Khánh Linh, Tân Nhàn, Anh Thơ…

V.THỊNH

5- VietNamNet có nội dung rất chi tiết, nhưng lại giật 1 cái tai-tồ rất nét – “Sóng vọng Biển Đông” với nhiều giọng ca nổi tiếng, 

Cập nhật 13/10/2011 06:31:00 AM (GMT+7)

- Với sự tham gia biểu diễn của các ca sĩ Quang Thọ, Trọng Tấn, Đăng Dương, Khánh Linh, Tân Nhàn, Anh Thơ… chương trình nghệ thuật “Sóng vọng Biển Đông” sẽ là cuộc đối thoại đặc biệt giữa những thế hệ.

Quy tụ những giọng ca nhạc đỏ hàng đầu Việt Nam, chương trình sẽ diễn ra vào tối ngày 22/10 tại Nhà hát lớn Hà Nội. Trong đêm nhạc, những ca khúc nổi tiếng về như Vượt trùng dương (Hoàng Văn Tý),Tình ca (Phạm Duy) sẽ được biểu diễn bên cạnh những tác phẩm mới nhất của các nhạc sĩ như Sóng Vọng Biển Đông (Lê Minh Sơn), Gió lộng bốn phương (Trần Mạnh Hùng)…

Ca sĩ Đăng Dương

Với câu chuyện xuyên suốt là hình ảnh người con của một liệt sỹ đã hi sinh khi bảo vệ đảo Gạc – ma, những bài hát sẽ lần lượt được cất lên như những ánh đèn hải đăng dẫn đường cho người con tìm đến với hình bóng cha mình. Trong suốt chặng đường khán giả sẽ được chứng kiến những cuộc đối thoại giữa những người lính, giữa biển khơi và đất liền, giữa hòa bình và cuộc chiến, với những sự phi thường của hiện tại chỉ là những điều bình thường trong quá khứ…

Nằm trong dịp kỉ niểm 45 năm thành lập Hội khoa học Lịch Sử Việt Nam, lần đầu tiên một chương trình âm nhạc nghệ thuật được tổ chức và đạo diễn bởi những người am hiểu về lịch sử. Tổng đạo diễn chương trình là nhà sử học Dương Trung Quốc bên cạnh nhạc sĩ Lê Minh Sơn với vai trò chỉ đạo nghệ thuật.


Nhạc sĩ Lê Minh Sơn – Ảnh: Nguyễn Hoàng

Với những người có tâm huyết với lịch sử, đặc biệt là tình yêu với Biển đảo, đây sẽ là cách hoàn toàn mới để thay đổi cách nhìn nhận của thế hệ trẻ trong việc tiếp cận với Lịch sử Việt Nam. Qua đó cũng để gián tiếp làm vững chắc thêm trong vấn để khẳng định lịch sử biển đảo và đất liền của Tổ Quốc.

Thái Thanh

(BONUS: Link Sóng-vọng-biển-Đông — Vietnam+ (VietnamPlus) lại dẫn đến 1 loạt bài với bài đầu tiên là Hội Khoa học Lịch sử nhận Huân chương Lao động (22/10/2011 | 22:10:00) có độc câu kết có liên quan: “Tại buổi lễ, các nghệ sỹ, nhạc công thuộc các đoàn nghệ thuật Trung ương và Hà Nội đã biểu diễn chương trình nghệ thuật chào mừng “Sóng vọng Biển Đông” với nhiều tiết mục đặc sắc./. " 

 

Tối qua, nhà cháu hý hởn đi coi

 

XIN CHÉP LẠI ĐÂY TRUNG THỰC NHỮNG GÌ ĐÃ THẤY: 

 

1- Đầu chương trình, bác Dương “Tàu” mời tất cả đứng dậy làm lễ chào cờ và yêu cầu mọi người CÙNG HÁT QUỐC CA. Chỗ nhà cháu trên tít tận tầng 3, anh chị em hát to nhất Nhà hát luôn. Thề ! Tan cuộc, anh chị em ngồi tầng Một bảo thế. Nhà cháu giờ vưỡn còn bị khan tiếng.

 

2- Quan khách:

 

Đến Nhà hát Lớn, thấy rất nhiều công an. Hỏi ra mới biết là Chủ tịch nước Nguyễn Tấn Sang sẽ tới dự. Đang phởn phơ tán chuyện với một đồng nghiệp khảo cổ học bỗng có một chú đến hỏi “xem nhờ cái giấy mời”. (Đau là nhà cháu chả được Hội Sử cho giấy mời mà là bạn bè ngành khác cho).

Không có máy, nhà cháu mượn của Lê Dũng chụp 03 pô:

.

 Bên trái sân khấu

 Bên phải sân khấu

 Tầng Một

Tạm bỏ qua các tầng Hai và Ba, cụ thể quan khách 5 hàng đầu tầng Một như sau:

 

- THẲNG GIỮA SÂN KHẤU: 

 

Hàng ghế đầu tiên sát sân khấu có 8 vị ngồi (tính từ trái sang phải là: GS-TS khảo cổ Lưu Trần Tiêu – Bí thư Thành ủy  ĐCSVN TP. Hà Nội Phạm  Quang Nghị – Nguyên Phó Thủ tướng  Nguyễn Khánh – Nguyên TBT ĐCSVN Lê Khả Phiêu – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang -  Chủ tịch Hội Sử học GS Phan Huy Lê – Phó Thủ tướng  Nguyễn Thiện  Nhân và một ông nhà cháu không biết.

 

Mải xem, lúc 20g26, tức là thời điểm kết thúc phần Lễ (ấy là là nói thế, đúng không chả biết?), đến bài hát thứ hai, khi ca sỹ Đăng Dương hát bài Bạch  Đằng giang, nhà cháu không nhìn thấy ông Phạm  Quang Nghị nữa. Sau, bác Dương “Tàu” bảo ông ấy báo bận từ trước, phải về sớm.

 

Các  VIP còn lại ngồi xem/nghe đến hết.

 

Hàng ghế thứ hai, trống 01/09 chỗ. Hàng thứ ba, trống 05/10 chỗ. Hàng thứ tư, trống 04/11 chỗ. Hàng thứ năm, trống 05/12 chỗ.

 

BÊN TRÁI SÂN KHẤU:

 

Hàng ghế đầu tiên, trống 01/06 chỗ. Hàng ghế thứ hai, trống 02/06 chỗ. Hàng thứ ba, trống 03/06 chỗ. Hàng thứ tư, trống 01/06 chỗ. Hàng thứ năm, trống 03/06 chỗ.

 

BÊN PHẢI SÂN KHẤU: 

 

Hàng ghế đầu tiên, trống 04/06 chỗ.  Hàng ghế thứ hai , trống nguyên 06 chỗ. Hàng thứ ba, trống 03/06 chỗ (có 1 cháu bé dưới 10 tuổi). Hàng thứ tư, trống 02/05 chỗ. Hàng thứ năm, trống 02/05 chỗ.


 

3- Theo nhà cháu biết, chương trình này không bán vé vào xem mà TINH giấy mời đã được gửi hết (thậm chí có ghi tên cụ thể)

 

4- Chương trình ca nhạc gồm TẤT CẢ 15 bài:

- Tình ca (Phạm  Duy): “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi. Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi! Tiếng ru muôn đời. Tiếng nước tôi!

- Bạch  Đằng  giang (Lưu Hữu Phước): “Đây Bạch Đằng Giang sông hùng dũng. Của nòi giống Tiên Rồng Giống Lạc Hồng, giống anh hùng, Nam Bắc Trung….

- Vượt trùng dương (Nguyễn Văn Tý): “Dù gian khó hát câu trường kỳ. Đời tranh đấu hát câu trường kỳ. Đây con thuyền vượt muôn trùng dương

- Biển hát chiều nay (Hồng  Đăng):”Có gì sáng nay mà sóng xôn xao?…”

- Xa khơi (Nguyễn Tài Tuệ): “Nhớ thương cách rời ơi biển chiều nay …”

- Tình ca (Hoàng  Việt): “Khi hát lên tiếng ca gởi về người yêu quê ta. Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba …

- Tình ta biển bạc đồng xanh (Hoàng  Sông Hương): “Thuyền anh ra khơi khi chân mây ửng hồng.
Thuyền anh ra khơi đâu có ngại chi sóng gió ơ hò…”

- Đừng vì (VÍ) em là biển (Trần Thanh Tùng-Minh Thiện): “Đừng ví em là biển.Nước mặn chát chân trời. Giữa mênh mông vẫn khát. Không uống được anh ơi…

- Thuyền và biển (Phan Huỳnh Điểu-Xuân Quỳnh): “Nếu phải cách xa em. Anh chỉ còn bão tố …”

- Con thuyền xa bến (Lưu Bách Thụ) “Khóc cho người đi. Không còn ngày về...”

- Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý):”A á ru hời ơ hời ru. Mẹ thương con có hay chăng …”

- Người mẹ của tôi (Xuân Hồng) “Nước mắt Mẹ không còn. Để khóc những đứa con…”

- Lướt sóng ra khơi (Thái Dương): “Đoàn ta ra khơi tiếng máy reo vang tràn ngập tình đất nước quê hương. Nhìn bầu trời xanh tươi, tay súng ta không rời…”

- Hò biển (Nguyễn Cường): “Mênh mông ơ triều lên ớ hò. Bên này biển bạc, bên kia ơ than vàng…”

- Ca ngợi Tổ quốc (Hồ  Bắc) “Kìa dải Trường Sơn uốn mình quanh ven bờ biển xanh. Tiếng sóng ngoài khơi dồn xa xa những thuyền xuôi dòng.…”

5- Nhạc sỹ Lê Minh Sơn có lên sân khấu đứng đệm ghi-ta cho nữ ca sỹ hát bài thứ 12 “Mẹ Việt nam ơi, Mẹ Việt Nam ơi! Sương khói tan rồi còn lại Mẹ thôi…“. Nhưng không có trình diễn nhạc phẩm mới có tên “Sóng Vọng Biển Đông ” như nhiều báo đã giới thiệu.

.

Không lẽ KHÓC cho Hội Sử học ế khách?
Không lẽ KHÓC vì chương trình chẳng VỌNG tý sóng nào?
Không lẽ KHÓC vì sự THỜ Ơ - VÔ CẢM đồng thời cũng là sự NHẠY CẢM của vấn đề?
Thôi thì nhà cháu ghi lại trung thực để những Ai KHÔNG BỊ/ĐƯỢC DỰ đêm nhạc ấy cùng biết.

FIN./. 

*Bài viết do TS Sử học Nguyễn Hồng Kiên (Gốc Sậy) gửi trực tiếp cho NXD-Blog. 

Xin chân thành cảm ơn tác giả!

Xem thêm: Sóng vọng biển Đông, Hoàng Sa mất tích

* 

Bùi Thị Minh Hằng và Phương Bích trong những bộ cánh sang trọng đến xem chương trình:

 

 

ĐƠN KHIẾU NẠI GỬI CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

Thưa chư vị,

Như chư vị đã tường, ngày 21 tháng 10 vừa qua, Toà án nhân dân quận Đống Đa, nơi nhận đơn khởi kiện Đài Phát Thanh và Truyền hình Hà Nội, đứng đầu là Ông Trần Gia Thái- Giám đốc kiêm Tổng Biên tập vu khống các nhân sĩ trí thức và đồng bào yêu nước đã trả lời chính thức: Toà trả lại HỒ SƠ vụ kiện vì "NGƯỜI KHỞI KIỆN KHÔNG CÓ QUYỀN KHỞI KIỆN".



14h30 hôm nay (24.10.2011), những người khởi kiện đã đến Tòa án Nhân dân Đống Đa để gửi Đơn Khiếu nại lên Chánh án Tòa án Nhân dân Đống Đa về việc trả lại đơn kiện Đài PT & TH Hà Nội.  Đoàn gồm 08 người: Luật sư Hà Huy Sơn, các vị: Nguyễn Đăng Quang, Nguyễn Văn Khải, Lê Dũng, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Việt Anh, Phương Bích, Thúy Hạnh. Dưới đây là toàn văn văn thư khiếu nại:









Qua Đơn Khiếu nại, chúng ta thấy rõ Thẩm phán Nguyễn Văn Thắng gian dối, cụ thể như sau:

- Ngày 18.10, bên khởi kiện đến gặp Thẩm phán thì ông nói chưa có văn bản trả lời Đơn Khiếu nại, và hẹn đến ngày 21.10.2011 sẽ có văn bản trả lời.

- Ngày 21.10.2011 khi đến nhận văn bản thì ra văn bản đã được ký từ ngày 17 tháng 10.
______________________________________________________________________

Những người đại diện các nguyên đơn cũng đã chuyển tới Ông Nguyễn Văn Thắng, Thẩm phán Tòa án Nhân dân quận Đống Đa bức thư của nhà văn Nguyên Ngọc, với chữ ký của người gửi:


Nguyễn Xuân Diện- Blog


6 NĂM TRƯỚC, TÔI ĐÃ PHẢN ĐỐI GIẢI THƯỞNG HCM CHO GS HÀ MINH ĐỨC





Thưa chư vị,

Năm 2005, ông Hà Minh Đức, Giáo sư, Viện trưởng Viện Văn học đã được nhận giải thưởng Nhà nước cho một số công trình nghiên cứu. Liền sau đó, ông lại nộp hồ sơ đề nghị trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình về báo chí Hồ Chí Minh.

Được tin, tôi đã tìm đọc công trình của ông và nhận thấy công trình đó không đủ hàm lượng khoa học cần thiết để cho phép nhận định rằng đó là một công trình khoa học. Vì vậy, ngày 11 tháng 7 năm 2006, tôi đã có bản Kiến nghị gửi Hội đồng Giải thưởng Quốc gia về công trình của ông Hà Minh Đức.

Hội đồng đã nhận được bản Kiến nghị, và đã hồi âm cho tôi như công văn nêu trên. Kết quả là năm ấy, Hội đồng Giải thưởng quốc gia không đồng ý đề nghị trao giải thưởng Hồ Chí Minh cho Ông Hà Minh Đức. Và giải thưởng Hồ Chí Minh đã không được trao cho ông Hà Minh Đức (ông chỉ nhận được Giải thưởng Nhà nước trước đó).

Nay, được biết, Hội đồng đang xét, và rất có thể ông Hà Minh Đức sẽ ẵm cú đúp 2 Giải thưởng Hồ Chí Minh trong cùng 1 thời điểm vào cuối năm nay. Tôi quyết định công bố bức thư của Hội đồng Giải thưởng Quốc gia thuộc Bộ Văn hóa Thông tin gửi cho tôi cách đây 05 năm về trường hợp giải thưởng đang xét trao cho ông Hà Minh Đức.

Nguyễn Xuân Diện

NỘI LỰC CỦA MỘT ĐẤT NƯỚC CHÍNH LÀ NHÂN CÁCH CỦA MỖI CON NGƯỜI

Nội lực của đất nước chính là nhân cách của mỗi con người 

Tác giả: Kim Anh 

Bài đã được xuất bản.: 11/08/2011 06:00 GMT+7


Nhắc đến nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn Trần Văn Thủy là người ta nhớ ngay đến hàng loạt tác phẩm để đời của ông như Những người dân quê tôi, Phản bội, Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai, Chuyện từ góc công viên, Thầy mù xem voi… và đặc biệt là hai tác phẩm đã “làm mưa làm gió” trong đời sống điện ảnh của người dân Việt Nam cũng như cho chính cuộc đời ông một thời: Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế. Vì Hà Nội trong mắt ai mà ông gặp nhiều chuyện rắc rối, nhưng cuộc đời cũng lắm sự lạ lùng… sau năm năm bất lực, tuyệt vọng vì đứa con tinh thần của mình không được phép lên tiếng, thì ngay khi xuất hiện trở lại nó đã đưa ông lên đài vinh quang.

Chưa bao giờ phim tài liệu lại được chiếu riêng một buổi như các phim truyện khác. Chưa bao giờ người ta lại bỏ tiền túi ra, xếp hàng lũ lượt để mua vé vào xem. Cũng chưa bao giờ các rạp chiếu phim lớn của cả nước lại làm việc hết công suất như thời điểm công chiếu hai phim nói trên. Không biết đến bao giờ điện ảnh Việt Nam mới lặp lại hiện tượng ấy. Hà Nội trong mắt ai nhận liền bốn giải lớn của Liên hoan phim Việt Nam năm 1988 (giải Bông sen vàng đặc biệt, giải Biên kịch, giải Đạo diễn, giải Quay phim xuất sắc nhất).

Nhìn lại cả quá trình cống hiến của ông cho ngành điện ảnh, người xem dễ dàng nhận thấy ông luôn lấy con người làm trung tâm của mọi nghĩ suy, dằn vặt, nỗi đau và cả niềm hy vọng mà ông muốn đặt vào tác phẩm của mình. "Khi chưa có độc lập thì thân phận, cảnh đời của người dân lam lũ, khốn cùng luôn xuất hiện trong các tác phẩm văn học nghệ thuật. Nhưng khi có độc lập rồi thì không thấy bóng dáng họ đâu" là nỗi trăn trở của ông gửi vào Chuyện tử tế.

Nguyên tắc tối thượng trong công việc của ông là phải làm ra được những tác phẩm thực sự có ích cho con người. Không phải đơn giản mà tại Hội thảo điện ảnh tài liệu Quốc tế The Robert Flaherty ở New York (tháng 5-2003), với hơn 200 nhà làm phim độc lập, đạo diễn Trần Văn Thủy và đạo diễn Toshimoto của Nhật Bản đã được vinh danh "Chứng nhân của thế giới". Năm 2010, Nhật Bản cũng đưa tên đạo diễn Trần Văn Thủy vào "Từ điển danh nhân" của họ.

Câu chuyện ông chia sẻ với chúng tôi trong một buổi chiều ở Hà Nội cũng lan man, chất chứa biết bao tâm sự về con người. Ông nói:

Bạn bè tôi, ngồi với nhau nói chuyện gì thì nói: Kinh tế, gia đình, sức khỏe, thậm chí cả những chuyện bậy bạ của đám đàn ông... nhưng rồi cuối cùng vẫn quay lại chuyện... chính trị. Mà điều này không chỉ với người Việt ở trong nước mà người Việt ở nước ngoài cũng thế.

Nói chữ "chính trị" thì hơi xơ cứng và dễ bị hiểu lầm, mà phải nói đó là khát vọng, tấm lòng và lòng yêu nước của người Việt. Cái đó lớn lắm. Tôi vẫn nói với các đồng nghiệp trẻ rằng đừng hiểu chữ "tài liệu" một cách xơ cứng. Phim phải truyền tải được một thông điệp gì đó về lẽ sống, về cách ứng xử, về bổn phận... Một bộ phim, một vở diễn, một cuốn sách không có tư tưởng theo hướng đó thì không thể nào là một tác phẩm được. Đã gọi là tác phẩm thì phải chuyển tải được điều gì đó vào nhận thức của mỗi người và ta tạm gọi đó là tư tưởng.

Theo thiển ý của tôi, điều cực kỳ quan trọng của mọi loại hình văn học nghệ thuật hay khoa học xã hội là phải lấy mục tiêu con người, xoay quanh con người. Ở trên đời này không có một nghề nghiệp nào, một chức vụ gì, một công việc gì gọi là tử tế nếu như không bắt đầu từ những ý nghĩa liên quan đến con người, đi từ nỗi đau của con người.

Tâm huyết với cuộc đời là vậy, nhưng có lần ông đã thừa nhận mình là người tiêu cực?

Đúng thế! Tôi cảm thấy mình là người tiêu cực với nghĩa là rất mong làm được nhiều điều có ích nhưng lại bất lực. Tôi đi nhiều, gặp gỡ nhiều người thuộc các tầng lớp khác nhau, biết nhiều cảnh ngộ... và đôi khi cảm thấy mình có lỗi trước các cảnh ngộ đó, mặc dù có lẽ tôi không có nghĩa vụ trực tiếp gì với họ. Phải chăng vì họ quý tôi quá, tin tôi quá nên tôi cảm thấy gánh nặng phải chia sẻ. Tôi có dịp đi nhiều nước trên thế giới, trong đó có Mỹ. Nhiều lần qua Mỹ và ở rất lâu, nghiên cứu về đời sống cộng đồng người Việt ở hải ngoại, tôi đi đến tận cùng của xã hội, sống với họ... có biết bao nhiêu là chuyện ám ảnh tôi đến tận bây giờ. 

Có phải những chuyện đó được ông viết trong Nếu đi hết biển - cuốn sách từng khiến ông gặp những điều khá phiền phức bởi bị một số người Việt ở Mỹ công kích?

Chỗ này phải nói dông dài một chút. Giữa năm 2002, William Joiner Center (WJC) thuộc Trường Đại học Massachusetts ngỏ ý mời tôi sang Mỹ để tham gia chương trình "Nghiên cứu về cộng đồng người Việt" do quỹ Rockefeller tài trợ. Tôi cảm ơn và từ chối vì đơn giản là tôi không biết "nghiên cứu" và tôi không thích "nghiên cứu". Làm một cái việc rất mất thì giờ, mất nhiều công sức, kết quả là một xấp giấy được bỏ vào ngăn kéo, may ra một năm được vài ba người đọc, theo tôi, đó là chuyện vu vơ.

Nhưng tháng 8 năm đó, WJC nhắc lại lời mời. Thấy họ chân tình tha thiết quá, tôi nhận qua Mỹ. Nhưng, tựa như một ma lực, một định mệnh, tôi gặp nhiều hoàn cảnh, nhiều câu chuyện trong bà con người Việt mà tôi có thể tiếp xúc. Vui thì tôi chóng quên, buồn thì tôi bị ám ảnh, ám ảnh nhiều lắm, nhất là chuyện vượt biên, vượt biển, cải tạo, tù tội... Từ đó tôi không đi chơi nữa, tôi quyết định toàn tâm toàn ý vào một công việc rất mơ hồ và không rõ cái đích ở đâu, chỉ đinh ninh là nó sẽ có ích. Tôi đặt bút viết những trang đầu, rồi cố gắng "rặn" ra được quãng bốn năm mươi trang, suôn sẻ.

Tôi có thói quen luôn nghĩ đến người đọc, người đọc trong nước và đặc biệt là người đọc ở Mỹ. Tôi bị khựng lại hoàn toàn. Hoàn cảnh xui khiến, nghề nghiệp mách bảo, tôi "đè" mấy ông bạn văn chương, trí thức ra trao đổi, trò chuyện cởi mở về chính cuộc sống và suy nghĩ của người Việt ở đây. Chỉ việc ghi chép trung thực và cam đoan với nhau là nếu công bố thì phải "y như bản chính". Thật là thượng sách.

Như thế, dù không muốn ông vẫn có "công trình nghiên cứu" cho WJC, hơn nữa nó không bị xếp vào ngăn kéo, trái lại, nó được in thành sách và còn được tái bản - một chuyện khá hiếm đối với một cuốn sách tiếng Việt ở Mỹ?

Mất khá nhiều công sức để bàn thảo với các anh chị ấy (những người tác giả gặp gỡ, chuyện trò - PV), cuối cùng thì bản thảo được chỉnh lý, chốt lại còn trên 200 trang đánh máy, tôi định nộp cho WJC hai tuần trước khi về nước. Bỗng dưng "trời xui đất khiến" thế nào, nhà văn Nguyên Ngọc đến Boston, ở cùng nhà, đi dạo, chuyện trò, thăm hỏi linh tinh: "Thủy, cậu sang đây làm gì?"... "Thế à, viết xong chưa?"... "Đưa tớ đọc chơi được không?".

Đọc liền ba đêm, sáng hôm sau trở dậy, chưa kịp ngồi vào bàn ăn ông đặt tay lên tập bản thảo và nhìn vào mắt tôi: "Thủy! Cái này rất cần và có ích". Tôi không tin ở tai mình, hỏi lại và nóng ran cả người khi nghe ông nhắc lại: "Cái này rất cần và có ích". "Bố" này đã nói là tôi tin, tôi rành rọt nói với ông: "Nếu anh bảo cái này nó cần và có ích thì chắc chắn tôi in ngay và tôi cũng sẽ về nước ngay". Nếu đi hết biển ra đời lòng vòng là vậy. Chẳng có âm mưu gì đáng ngại, chẳng có tài cán gì đáng nể...

Nếu nhà văn Nguyên Ngọc đã nói thế và ông tin nhà văn thì tại sao Nếu đi hết biển đến giờ vẫn chưa được phổ biến ở Việt Nam, thưa ông?

Tôi nghĩ có lẽ cũng giống như Hà Nội trong mắt ai ở đầu những năm 1980. Ngày ấy, người thích thú, tán thành thì khá đông nhưng không có quyền, không có diễn đàn; người phản đối, lên án thì rất ít, nhưng có quyền, có diễn đàn, thậm chí có cả một guồng máy. Cũng có nhà xuất bản có nhã ý muốn in, tôi cảm ơn và có điều kiện: Phải in nguyên xi 100%, đúng từng dấu chấm, dấu phẩy. Chẳng phải tôi kiêu ngạo gì về những con chữ của mình, chỉ là tôi muốn tôn trọng tuyệt đối những người đã giúp tôi làm cuốn sách này.

Với những gì ông đã và đang làm, ông có cho mình là người có tấm lòng yêu nước hơn người?

Yêu nước không phải là đặc quyền của bất cứ ai. Đặc biệt không được ban phát cho người này yêu nước và người kia không được yêu nước. Khi tôi cùng gia tộc cụ Nguyễn Văn Vĩnh làm bộ phim Mạn đàm về người Man di hiện đại (bốn tập với 240 phút), ở cuối phim tôi nói rằng: Khi bộ phim đi vào giai đoạn cuối, vào một đêm mưa gió bão bùng, cụ Vĩnh đã về báo mộng cho người đạo diễn phim này: "Xin đa tạ những tấm lòng của hậu thế đã nói về tôi với những lời ấm áp, xin đa tạ! Nhưng chớ vì tôi mà làm mất thì giờ. Đất nước ta có không biết cơ man những người có tấm lòng ái quốc, hãy vì hậu thế mà đối xử tử tế với họ, cho dù họ có ái quốc theo cái cách của họ...".

Trong một buổi tọa đàm trên truyền hình, ông đã từng nói: "Nội lực không phải là mấy đồng xu lẻ ở trong túi dân chúng. Nội lực là trí tuệ, công sức, tình cảm, tâm huyết của toàn thể dân tộc, không kể trong hay ngoài nước, cũ hay mới". Vây, theo ông, cách nào để phát huy nội lực của đất nước?

Đối với tôi, trong mọi mối quan hệ, bao giờ cũng chỉ coi trọng yếu tố con người. Ở trong Chuyện tử tế có đoạn nói về trẻ em Việt Nam và trẻ em Nhật Bản. Trong khi trẻ em Việt Nam được học: "Các em là những đứa trẻ hạnh phúc bởi các em là con Hồng cháu Lạc, giang sơn của các em như gấm vóc, tài nguyên giàu có với rừng vàng, biển bạc...". Nhưng trẻ em Nhật Bản được dạy bảo: "Các em là những đứa trẻ bất hạnh bởi vì được sinh ra trên đất nước hoàn toàn không có tài nguyên, từng thua trận trong chiến tranh. Gương mặt của đất nước này và tương lai của đất nước này trông chờ ở các em". Thế cho nên thái độ của trẻ em Nhật Bản đối với đất nước của chúng khác hẳn con em chúng ta, có trách nhiệm hơn, bao dung hơn.

Một ví dụ khác nữa là vua Trần Nhân Tông. Trong khi đánh thắng quân Nguyên Mông, các quan cận thần dâng lên cái tráp trong đó có danh sách của những kẻ nội phản, làm tay sai cho giặc. Nhà vua ưu tư và phán rằng: "Các ngươi, hãy vì tấm lòng của muôn dân, sự hiếu thảo của muôn dân, sự đoàn kết của muôn dân để xây dựng đất nước này, giang sơn này và mang đến cho bá tánh đời sống yên vui, ai ai cũng có thể nhìn nhau bằng tấm lòng tin cậy. Ta truyền lệnh đốt cái tráp này đi". Nếu nói nội lực của đất nước không phải là mấy đồng xu lẻ gửi ở ngân hàng thì có nghĩa nội lực là tất cả những vấn đề về nhân cách của một dân tộc, bản lĩnh của một dân tộc. Suy cho đến cùng vấn đề của xã hội Việt Nam bây giờ chính là vấn đề nhân cách. Tất nhiên suy nghĩ của tôi có thể là phiến diện, là chưa chuẩn.

Nói cách khác là nội lực đất nước liên quan đến vấn đề giáo dục, thưa ông?

Liên quan đến rất rất nhiều. Phải chăng nền giáo dục của ta hiện nay sản sinh ra những con người không dám nói sự thật, không có chính kiến, hắt nước theo mưa, nước chảy bèo trôi... Người ta không dám nói điều khác với ý kiến của cấp trên. Nếu như toàn dân được nói những điều mình nghĩ, mình cho là phải thì chúng ta càng có nhiều lựa chọn. Tôi chỉ có ước mơ duy nhất là đất nước mình trở thành một đất nước mà trong đó gồm những con người nghĩ gì nói nấy. Tất nhiên, ở những cương vị khác nhau thì những điều nghĩ và nói ấy nó sẽ có những giá trị nhất định. Nhưng tuyệt đối, đừng coi thường dân chúng.

Thế có nghĩa, cách tốt nhất để phát huy nội lực chỉ đơn giản là làm thế nào để mọi người được nói những điều mình nghĩ?

Đúng vậy, làm sao mà một người hay một nhóm người nào đấy lại có thể khôn hơn, giỏi giang hơn, sáng suốt hơn gần 90 triệu dân? Việc biết lắng nghe người khác nói sẽ chỉ làm cho xã hội tốt lên chứ không thể xấu hơn được.

Theo ông, như thế nào là một người tử tế?

Đây là một câu hỏi cũ như trái đất. Sống lương thiện. Biết đau những nỗi đau của đồng loại, biết nhục những nỗi nhục của đồng bào. Karl Marx tôn kính đã từng nói: "Tất nhiên, chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại với nỗi đau khổ của con người, mà chăm lo riêng cho bộ da của mình".

Mở đầu phim Chuyện tử tế, năm 1985 tôi viết thế này: "Ngày xưa cha bác có dạy rằng, tử tế có trong mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó trên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài quốc gia, bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có nỗ lực tột bậc và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người, người tử tế, trước khi mong muốn và chăn dắt họ thành những người có quyền hành giỏi giang hoặc siêu phàm".
Sau gần 30 năm, Chuyện tử tế vẫn còn nguyên giá trị. Nếu bây giờ có cơ hội, ông có làm tiếp không?

Chẳng bao giờ làm lại được đâu.

Vì...
Ngày đó, và cả bây giờ xem lại Chuyện tử tếHà Nội trong mắt ai ai cũng sẽ tự hỏi: Chỉ có như vậy thôi mà sao lại bị cấm đoán và ồn ĩ lên thế? Có lẽ phim gây chấn động và sự quan tâm chính bởi những điều nó đặt ra vào cái thời điểm ấy. Kể ra, đến nay nó vẫn hợp thời về mặt nội dung. Nhưng nó không phải là kiệt tác hay đỉnh cao gì. Về mặt nghề nghiệp mà nói, phim rất thường bởi vì phần lớn là quay toàn cảnh, dùng lời bình dẫn dắt. Cách làm phim hiện đại bây giờ người ta không tiêu hóa nổi đâu. Và nói thật rằng khi chiếu lại những bộ phim này tôi thấy xấu hổ về mặt nghề nghiệp.

Thực ra, phim tài liệu khó có thể nói là của anh, của tôi hay là của một người nào cụ thể. Đó là phim của cuộc đời. Tất cả những người trong phim, nhờ có sự hiện diện của họ, nhờ sự đóng góp tham gia của họ, nhờ sự từng trải, nhờ những thân phận của họ mà làm nên câu chuyện. Họ không phải là diễn viên. Không phải hư cấu, không phải đạo diễn gì cả. Cái xứ này có quá nhiều chuyện hay, không phải đóng diễn, bịa đặt.

Tôi vẫn thường nói với các học trò của tôi rằng, cái dở nhất của người làm phim tài liệu chúng ta là cuộc đời vốn thật thì ta làm thành giả. Bình thường cuộc đời rất hồn nhiên, ta mang phương tiện, máy móc... đến, hô bật đèn lên, bấm máy đi... thế là tất cả mọi thứ "chết cứng" hết cả lại, nó không thật nữa. Đối với tôi cuộc đời là bàn thờ. Và như vậy, liệu tôi có làm được một Chuyện tử tế nữa không?

Được biết, ông vẫn tiếp tục làm phim, vậy tiếp sau Mạn đàm về người Man di hiện đại sẽ là gì, thưa ông?

Hội ái mộ Yersin ở tỉnh Khánh Hòa và Thụy Sĩ có gợi ý mời tôi làm phim về nhân vật này. Alexandre Yersin là người vô cùng có công với Việt Nam. Ông là người đi vào lịch sử y học thế giới bằng việc tìm ra vi trùng dịch hạch, ông là người tìm ra Đà Lạt, mang cây hồ tiêu và cây cao su vào trồng ở Việt Nam. Một con người vô cùng gắn bó, yêu thương với những người dân chài nghèo khó ở xóm Cồn, Nha Trang. Người gần như sống hết đời và làm khoa học ở Việt Nam.

Trong di chúc, ông muốn rằng: Xin hãy đừng mang tôi đi đâu cả, hãy để tôi ở Suối Dầu, bên cạnh những cây cao su và cây hồ tiêu và những người Thượng... Một người tử tế như thế, đáng kính như thế, nhân hậu như thế, vì con người như thế tôi mong muốn làm một cái gì đó thật xứng đáng để hậu thế chúng ta không bao giờ quên ông.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần