Blogger Widgets

Thứ ba, ngày 11 tháng mười năm 2011

TRONG MƯA CHIỀU HÀ NỘI, NGHE LẠI BÀI CA TRÙ NĂM ẤY

Giữ cho đẹp mãi quê mình

Thơ: Khuyết danh

Người trình bày: NSND Quách Thị Hồ

Thể loại: Hát nói Ca trù

Mưỡu:

Non xanh xanh, Nước xanh xanh

Nước non, non nước như tranh tuyệt vời!

Nước vờn buồm lộng ra khơi

Non vờn mây trắng, nắng phơi đồng vàng!

Hát nói:

Quê hương ta đấy!

Hà Nam Ninh biết mấy yêu thương,

Từ Giao An lấn biển kiên cường,

Đến rừng núi Cúc Phương bao hùng vỹ,

Gác Nghinh Phong trăng lồng non Dục Thúy

Dòng Nhị Hà sóng vỗ bến Đò Quan

Tiếng còi tầm nhà máy dệt ngân vang

Đồng Hải Hậu biển lúa vàng rỡn sóng

Này động Thiên Tôn, Này hang Địch Lộng,

Này chùa Cổ Lễ, Này tháp Báo Thiên,

Thành Hoa Lư nước Đại Cồ Việt vang tên,

Đền Bảo Lộc, Trần Hưng Đạo nửa đêm đang truyền hịch!

Đèo Tam Điệp, Nguyễn Huệ thần tốc hành quân diệt địch,

Quỳnh Lưu đuổi Nhật, Khánh Thiện - khu du kích đánh Tây,

Trai Long Phong súng trường hạ máy bay,

Gái Hải Thịnh bắn tàu chiến Mỹ.

Non nước ấy hun đúc thêm hào khí,

Đánh dập đầu bọn bành trướng Bắc Kinh!

Giữ cho đẹp mãi quê mình!


Xin cảm ơn bạn Phạm Bắc Cường đã giúp Nguyễn Xuân Diện dựng hình ảnh và đưa lên Youtube để cùng chia sẻ với bè bạn bốn phương!
-->đọc tiếp...

GIẤY MỜI DỰ LIÊN HOAN CA TRÙ TOÀN QUỐC 2011

 

Nhân dịp này, Nguyễn Xuân Diện - Blog xin gửi đến chư vị chùm bài về Ca trù, để chúng ta cùng nhau tìm hiểu về một di sản văn hóa đặc sắc và thuần Việt của dân tộc, từ đó chung lòng gìn giữ bông hoa nghệ thuật quý báu này.

Trước hết là chùm thuật ngữ trong ca trù, được rút từ cuốn sách Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù của Nguyễn Xuân Diện, xuất bản năm 2007, tái bản lần 1 năm 2010.

Một số thuật ngữ trong Ca trù:
Ả đào.Người ca nữ (có thể cũng đồng thời là vũ nữ) của nghệ thuật truyền thống của người Việt. Đây là từ chỉ chung cho các bộ môn nghệ thuật ca múa nhạc cổ của Việt Nam. Ả đào là chỉ người hát, khác với hát Ả đào là từ chỉ một bộ môn ca múa nhạc. Từ rất lâu nay trong giới nghiên cứu ca trù nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ này. Và hệ quả là người ta căn cứ vào những chữ Ả đào xuất hiện trong các tài liệu Hán Nôm để cho rằng Hát Ả đào đã có từ thời Lý - Trần - Hồ.
Âm luật. Những quy luật tổ chức độ cao của âm thanh. Hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau về âm luật ca trù, và nhiều điều vẫn còn là ẩn số đối với giới nghiên cứu âm nhạc. Ngay như hệ thống ngũ cung trong âm luật ca trù như Nam, Bắc, Huỳnh, Pha, Nao cũng chưa được cắt nghĩa.
Ca công. Người làm nghề đàn hát.
Ca phả: Cuốn sách ghi chép về bài bản và lề lối của một bộ môn nghệ thuật.
Ca quán. Nhà hát mở riêng chỉ để làm nơi phục vụ khách nghe hát.
Ca trù. Từ chỉ một bộ môn hát trong đó việc thưởng thức phẩm bình tài nghệ của nghệ sỹ thông qua việc dùng thẻ tre, mỗi thẻ được quy ước bằng một số tiền. Cuối buổi sẽ căn cứ vào số lượng thẻ để tính tiền trả cho nghệ sĩ. Tư liệu sớm nhất nói về việc này là trong bài “Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn” của Lê Đức Mao, sáng tác trước năm 1500. Về sau, trở thành tên gọi riêng của bộ môn nghệ thuật hát ả đào.
Cầm chầu: Đánh trống trong hát ca trù. Trống ca trù có vai trò giục hát, ngắt câu và phẩm bình khen chê đối với nghệ sĩ (cả đào và kép).
Con hát: Từ chỉ người con gái làm nghề ca hát. Xem chữ Ả đào.
Đàn Đáy: Cây đàn dùng riêng để đệm cho ca trù. Thùng đàn hình vuông, cần dài, thường có ít nhất là 11 phím, có 3 dây (bằng tơ tằm hoặc sợi cước), khi đánh dùng móng và sử dụng một số kỹ thuật nhấn nhá riêng để tạo những âm thanh rất riêng đặc trưng của ca trù.
Đào nương: Xem chữ Ả đào.
Đình làng: Ngôi nhà công cộng trong làng (xã) của người Việt có nhiều chức năng: hội họp, thờ cúng thành hoàng, nơi biểu diễn nghệ thuật (hát ca trù, chèo, tuồng).
Dinh thự: Nhà để các quan làm việc và gia đình quan lại ở.
Giáo phường: Tổ chức hôi tụ những người làm nghề ca múa nhạc dân gian. Giáo phường do một người có chuyên môn và có uy tín đứng đầu, lo việc cắt cử nghệ sĩ đi hát phục vụ theo lời mời, lo việc quản lý nghệ sĩ và coi sóc việc truyền nghề, giữ gìn nghề. Giáo phường là từ chỉ riêng của nghề hát ca trù, không thấy cách gọi này ở các tổ chức của lối hát khác: ở chèo gọi là phường chèo, gánh chèo; ở vùng hát xoan gọi là phường xoan
Hát ả đào: Xem chữ ca trù.
Hát ca công: Cụm từ dùng để chỉ ca trù theo cách gọi ở Thanh Hóa. Theo Lê Huy Trâm thì hát ca công chính là ca trù.
Hát chơi: Hát phục vụ nhu cầu giải trí ở nhà dân.
Hát cửa đình: Từ chỉ việc trình diễn tại đình làng, phục vụ việc thờ Thành hoàng làng. Trước đây, hát cửa đình có thể không chỉ riêng ca trù mà còn các lối hát khác như hát xoan, hát chèo…Về sau, hát cửa đình chỉ riêng lối hát ca trù thờ Thành hoàng.
Hát cửa quyền: Hát ở nhà hoặc dinh thư của các quan lại, với mục đích giải trí.
Hát nhà tơ: Cách gọi khác của ca trù khi diễn ra ở các dinh thự của các quan lại (ty: dinh quan).
Hát nhà trò: Tên gọi khác của ca trù. Hát nhà trò là tên gọi ca trù rất phổ biến. Tên gọi này xuất phát từ việc ca trù, ngoài việc hát còn có các tiết mục múa và diễn trò.
Hát nói. Một thể cách ca trù ra đời khoảng đầu thế kỷ XIX. Thể cách này đặc biệt được văn nhân trí thức ưa chuộng vì phần lời của nó là một thể thơ đặc sắc. Thể thơ hát nói là một sáng tạo riêng của văn học chữ Nôm. Thể thơ thường có 11 câu nhưng có thêm phần mở đầu bằng 1 hoặc 2 cặp lục bát. Ở vị trí giữa bài thơ là hai câu thơ chữ Hán. Bài thơ hát nói có vần và vận chặt chẽ nhưng chấp nhận những biến cách, để làm tăng khả năng phô diễn thể hiện cảm xúc. Hát nói rất được các nhà nho tài tử ưa chuộng.
Hát thi: Hình thức cuộc thi được tổ chức để tìm người hát hay, hoặc đàn giỏi. Cuộc thi nếu do chức sắc của làng (xã) tổ chức để chọn người vào hát thờ trong ngày chính tiệc thờ Thành hoàng. Nếu cuộc thi do Ty giáo phường tổ chức thì để chọn người hát hay và người đàn giỏi để đưa vào Kinh, hát phục vụ nhà vua tại hoàng cung.
Hát thờ: Hình thức hát phục vụ nghi lễ tín ngưỡng, dâng lên thành hoàng làng hoặc các vị thần linh được thờ ở các đền miếu.
Họ. Theo Việt Nam ca trù biên khảo thì “Ngày xưa cô đầu và kép mỗi vùng có một tên riêng, như họ Tam, họ Ngàn, họ Thông, họ Thiên v.v…Người thuộc về họ nào, lấy chữ họ đó đặt lên trên, tên ở dưới. Ví dụ tên là Thuận mà thuộc về họ Thông thì gọi là Thông - Thuận. Họ này chỉ dùng riêng trong Giáo - phường, còn đối với chính - phủ vẫn theo tên họ cũ”(Sdd, tr. 54). Sách chỉ nêu ví dụ 3 “họ” kể trên và không đưa ra tư liệu xác thực để kiểm chứng. Nay, qua văn bia, ta biết được 8 “họ”: Xuân, Đông, Thịnh, Từ, Hoàng, Việt, Kiều, Khổng trên 11 bi ký Hán Nôm. Xã có thể có một hoặc nhiều giáo phường. Mỗi giáo phường là một họ riêng. Như vậy, “họ” chính là một hình thức đặt nghệ danh, để phân biệt giữa các giáo phường với nhau.
Hồng Hạnh. Tên một thể cách của ca trù. Theo Việt Nam ca trù biên khảo thì “Tương truyền chính bà Bạch - Hoa Công - chúa đã làm ra hai khúc Non - mai, Hồng - hạnh nên cô - đầu chỉ dành khi hát thờ bà mới hát, ngoài ra không bao giờ hát khúc ấy ở đền miếu khác và cũng không dám hát cho ai nghe”(Sdd, tr. 50).
Kép. Nhạc công nam, chơi đàn đáy trong ca trù. Nhạc công này có thể cũng là người hát trong một số tiết mục hát thờ ở cửa đình. Chữ Kép còn chỉ những người đàn ông làm nghề đàn, hát, diễn viên trong nghệ thuật ca hát truyền thống như tuồng, chèo.
Khổ. Một phần lời ca được quy định sẵn trong một bài ca trù”(Đặng Hoành Loan, Đặc khảo ca trù Việt Nam, tr. 573)
Làn điệu. Những lời thơ được hát lên với một giai điệu nhất định với chất liệu âm nhạc đặc thù. Mỗi làn điệu là một khúc hát độc lập có tên gọi riêng. Trong ca trù, thể thơ lục bát được sử dụng để cấu tạo nên nhiều làn điệu khác nhau, mỗi làn điệu có cấu trúc âm nhạc riêng.
Lễ tế tổ. Cuộc tế lễ do các giáo phường ca trù tổ chức để tưởng niệm các vị sáng lập ra ngành ca trù.
Lệnh tiền. Còn gọi la Tiền lệnh. Bi ký Hán Nôm không cho những thông tin rõ ràng để hiểu được một cách chính xác về lệnh tiền. Trần Thị Kim Anh cho rằng đây là tiền trả cho người cầm hiệu lệnh trong tế lễ - đánh chiêng trống là hiệu lệnh.(Đặc khảo ca trù Việt Nam, tr. 49).
Mua bán cửa đình.Quyền giữ cửa đình của các giáo phường được duy trì đời này qua đời khác. Giáo phường được giữ cửa đình có đặc quyền được ca hát và được hưởng một số quyền lợi. Tuy nhiên, nếu vì túng thiếu, cần tiền để chi dùng thì các giáo phường có thể bán lại quyền giữ cửa đình cho giáo phường khác, thậm chí cho quan viên chức sắc của chính làng sở tại. Việc mua bán sang nhượng và quyền lợi mỗi bên được ghi lại trên văn bia dựng tại đình. Cũng có khi giáo phường không bán hết các quyền lợi được ghi trong điều khoản của khoán ước mà chỉ bán một số khoản, hoặc lệ mà mình đang được hưởng mà thôi (ví dụ lệ như xông đình, , trù tiền, lệnh tiền, trù trùm). Trong số 62 văn bản mua bán được khắc trên bia đá có 28 văn bia ghi việc mua bán đứt đoạn; một số bia khác không ghi rõ việc mua bán đứt đoạn, hoặc chỉ ghi mua, bán một phần ba hoặc một phần của các quyền lợi.
Nhạc khí. Nhạc cụ dùng trong biểu diễn ca trù.
Non mai. Xem mục từ Hồng hạnh.
Phách. Nhạc cụ gõ do người hát ca trù gõ khi hát. Phách ca trù gồm bàn phách và lá phách. Lá phách gồm 1 dùi đơn và 1 dùi kép (do một dùi đơn chẻ làm đôi). Khi gõ phách đều phải ở trong khuôn khổ và tiếng hát đều phải nằm trong những khổ phách. Phách thường làm bằng tre hoặc gỗ.
Quản giáp. Người có tuổi hoặc có uy tín về nghề trong giáo phường. Người này do phường bầu ra để cắt đặt mọi việc trong giáo phường.
Quyền giữ cửa đình.Ty giáo phường chia việc giữ các cửa đình trong huyện cho các giáo phường. Các giáo phường này được phép toàn quyền biểu diễn tại đình làng này, hoặc được phép tuỳ ý mời giáo phường khác đến hát giúp trong một dịp nào đó. Đó chính là quyền giữ cửa đình của các giáo phường, được cam kết với dân làng có đình sở tại thông qua một văn bản khóan ước khắc trên bia đá, đặt tại đình làng. Quyền giữ cửa đình này được duy trì đời này qua đời khác.
Thần tích. Văn bản Hán Nôm ghi chép lai lịch, sự tích, sự nghiệp và nghi thức tể lễ, thờ phụng một hoặc một số vị thần linh được nhân dân thờ cúng tại các đình, đền, miếu. Văn bản thần tích do các quan chức hoặc chức sắc ở địa phương báo cáo về triều đình. Triều đình căn cứ vào lời khai đó để cho phép thờ phụng và ban tặng sắc phong.
Thẻ. Mảnh tre trên có ghi số tiền được quy định giữa làng và giáo phường, dùng để đại diện của làng (người cầm chầu trong cuộc hát) sẽ thả xuống chậu đồng để ghi nhận một sự tán thưởng, khen tặng của
Thể cách. Một thuật ngữ trong ca trù không thấy ở các bộ môn ca nhạc khác. Thuật ngữ “thể cách” chỉ các làn điệu hát, hoặc hình thức diễn xướng múa, diễn, nghi lễ, việc thi cử trong ca trù. Khi thể cách là làn điệu hát, thì “thể cách” hoàn toàn trùng hợp với “làn điệu”(ví dụ thể cách Hát nói, Bắc phản). Thể cách cũng chỉ một tiết mục múa, hoặc diễn xướng thậm chí một nghi lễ trong trình diễn ca trù, một trình diễn kỹ thuật về sử dụng trống hoặc đàn cũng gọi là thể cách.
Thơ ca trù. Phần lời của nghệ thuật ca trù. Đó là những bài thơ, chủ yếu là thơ lục bát, khi hát lên trong khuôn khổ của đàn, phách theo các thể cách khác nhau.
Thưởng. Hình thức biểu thị sự khen thưởng đối với giọng hát, tiếng phách của đào nương; tiếng đàn của kép đàn; hoặc đối với một chữ thơ, câu thơ hay của văn nhân dùng để hát ca trù. Việc thưởng do người cầm chầu thực hiện, thông qua việc gõ vào tang trống đồng thời với việc thả một thẻ tre xuống chậu đồng/ mâm đồng để báo cho nghệ sĩ biết. Xem thêm mục từ ca trù.
Tiếng lóng.Cách nói một ngôn ngữ riêng của đào kép ca trù và những người phục vụ trong các ca quán ca trù, cốt để trong nội bộ ca quán và khách quen của ca quán hiểu với nhau, không cho người lạ biết.
Trống chầu. Trống dùng trong ca trù. Nếu là hát thờ thì là trống lớn, điểm xen với chiêng. Còn khi nghe ca trù ở nhà riêng hoặc ca quán với mục đích giải trí thì chỉ dùng trống nhỏ.
Trù. Xem chữ Thẻ.
Trù tiền. Xem các mục từ Thẻ, Ca trù, Thưởng.
Trùm tiền. Còn gọi la Tiền trùm. Bi ký Hán Nôm không cho những thông tin rõ ràng để hiểu được một cách chính xác về trùm tiền. Trần Thị Kim Anh cho rằng đây là tiền trả cho người trùm.(Đặc khảo ca trù Việt Nam, tr. 49).
Truyền thuyết tổ nghề. Câu chuyện được thiêng hóa về sự tích của việc truyền dạy một nghề nghiệp nào đó. Đây là một truyền thống của các nước Phương Đông. Xunh quanh việc thờ tổ ca trù cũng bao trùm rất nhiều huyền thoại với nhiều câu chuyện ly kỳ, nhằm thiêng hóa truyền thống ca trù.
Ty giáo phường. Theo ghi nhận của bi ký Hán Nôm thì Ty giáo phường là một tổ chức quản lý hoạt động ca xướng tương đương cấp huyện. Giáo phường các xã thuộc về Ty giáo phường của huyện. Ty giáo phường gồm các giáo phường của các xã trong huyện họp lại. Người đứng đầu Ty giáo phường là một ông trùm. Ty giáo phường chia việc giữ các cửa đình trong huyện cho các giáo phường.
Xông đình. Lệ đặt ra, khi việc sửa chữa đình hoàn thành, làng tổ chức làm lễ, gọi là lễ xông đình, cáo yết với thành hoàng. Khi làm lễ xông đình, giáo phường sở hữu quyền giữ cửa đình đó có trách nhiệm vào hát thờ, tham gia các nghi thức tế lễ và hưởng lộc theo quy định tại văn bia khoán ước.


Nguyễn Xuân Diện



-->đọc tiếp...

ĐÀI LOAN BÁC BỎ ĐỀ NGHỊ THỐNG NHẤT CỦA BẮC KINH

Đài Loan bác bỏ đề nghị thống nhất cuả Bắc Kinh

 
clip_image001
Tổng thống Mã Anh Cửu. Ảnh chụp ngày 10/10/2011. REUTERS/Pichi Chuang
Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu hôm nay 10/10/2011 đã thẳng thừng bác bỏ lời kêu gọi thống nhất với Trung Quốc, được Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đưa ra vào hôm qua. Ông Mã Anh Cửu chủ trương giữ nguyên trạng Đài Loan, và dân chủ hóa Trung Hoa lục địa.

«Chúng tôi duy trì nguyên trạng như hiện nay, không thống nhất với Trung Quốc, không tuyên bố độc lập và không sử dụng vũ lực». Người đứng đầu Đài Loan đã phát biểu như trên nhân dịp lễ Song Thập, tức ngày Quốc khánh của Trung Hoa Dân Quốc - quốc hiệu của Đài Loan. Ông nói thêm, việc giữ nguyên tình trạng hiện nay đã «góp phần rất lớn trong việc làm giảm căng thẳng ở đôi bờ eo biển Đài Loan, và được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế».

Hôm qua, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã cho rằng: «Thống nhất lãnh thổ bằng biện pháp ôn hòa là giải pháp tối ưu cho quyền lợi cơ bản của nhân dân Trung Hoa, kể cả các đồng bào Đài Loan». Còn Tổng thống Mã Anh Cửu hôm nay nhắc lại, tinh thần của các nhà lập quốc Đài Loan là «Thiết lập một quốc gia tự do dân chủ, phân phối công bằng các nguồn lực». Ông nói thêm: «Trung Hoa lục địa cần phải can đảm đi theo con đường này».

Đúng một trăm năm trước, cuộc Cách mạng Tân Hợi ngày 10/10/1911 do Quốc dân đảng lãnh đạo nổ ra tại Vũ Xương, đã làm sụp đổ hoàn toàn chế độ phong kiến nhà Thanh, khai sinh ra nước cộng hòa Trung Hoa Dân Quốc. Đến năm 1949 do bị thua trong cuộc nội chiến Quốc – Cộng, phe Quốc dân đảng và khoảng hai triệu người quốc gia phải chạy ra đảo Đài Loan, còn Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Đài Loan trên thực tế vốn là một quốc gia độc lập từ 62 năm qua, nhưng vẫn bị Bắc Kinh coi là một hòn đảo ly khai, và không loại trừ việc sử dụng vũ lực để sáp nhập đảo quốc này vào Trung Quốc. Từ khi ông Mã Anh Cửu đắc cử Tổng thống năm 2008, quan hệ đôi bên đã trở nên tốt đẹp hơn bao giờ hết, vì đương kim Tổng thống Đài Loan chủ trương cải thiện quan hệ với Trung Quốc.
T.M.
Nguồn: Viet.rfi.fr
-->đọc tiếp...

CHÀO MỪNG NỮ THỦ TƯỚNG ĐỨC THĂM VIỆT NAM!

Hôm nay Thủ tướng Đức thăm Việt Nam


Bà Angela Merkel hôm nay sẽ tới Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm Việt Nam với mục đích tăng cường hợp tác song phương, đặc biệt trong vấn đề đầu tư.
> Angela Merkel – ‘Người đàn bà thép’ của nước Đức
> Các hoạt động dự kiến của Merkel tại VN

Lễ đón Thủ tướng Đức Angela Merkel tại Hà Nội sáng nay Ảnh: Nguyễn Hưng.


Tháp tùng Thủ tướng Merkel là một phái đoàn hùng hậu gồm 27 quan chức cấp cao của chính phủ Đức, 15 đại diện từ các doanh nghiệp hàng đầu của cường quốc kinh tế số một châu Âu, 21 phóng viên báo đài cùng 5 đại biểu quốc hội thuộc 5 đảng khác nhau trên chính trường Đức.

Sau lễ đón chính thức tại Phủ Chủ tịch sáng nay, Thủ tướng Merkel sẽ hội kiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và cùng ký kết các văn kiện. Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, bà Merkel sẽ cùng nhà lãnh đạo Việt Nam bàn về các vấn đề hợp tác chính, gồm: chính trị và chiến lược; thương mại và đầu tư; pháp luật và tư pháp; phát triển và bảo vệ môi trường; giáo dục và đào tạo; khoa học công nghệ, văn hóa và du lịch.

Sau đó bà Merkel hội kiến Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Thủ tướng Đức sẽ thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám và nhà máy dược B.Braun, trước khi tới thăm đại sứ quán Đức tại Hà Nội. Bà Merkel cũng dành thời gian để gặp gỡ những người Việt Nam từng học tập và làm việc tại nước Đức, đại sứ quán tại Hà Nội cho biết.

Sáng 12/10, thủ tướng Đức bay vào thành phố Hồ Chí Minh để dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt - Đức. Chiều cùng ngày, bà Merkel rời Việt Nam để tới Mông Cổ.

Đức là đối tác thương mại trong EU lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng khoảng 15% mỗi năm, đạt trên 4,1 tỷ USD trong năm 2010, tức là bằng tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và nhiều nước châu Âu khác cộng lại. Theo số liệu của Đức có tính cả sự trung chuyển qua nước thứ ba, kim ngạch song phương thậm chí lên tới 6 tỷ USD. Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới, Đức cam kết 400 triệu USD tài trợ phát triển cho Việt Nam.

Cộng đồng người Việt Nam lao động và học tập tại Đức hiện có gần 100.000 người, theo số liệu của Văn phòng thống kê Liên bang Đức, và được nước sở tại đánh giá là một cộng đồng tích cực, có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của nước Đức. Ngoài ra, có một số lượng gần tương đương những người Việt Nam từng học tập hoặc làm việc ở Đức nay đã về nước. Đức hiện là nước tích cực nhất trong việc giúp Việt Nam đào tạo tiến sĩ, với khoảng 100 học bổng đào tạo mỗi năm. Những cộng đồng này chính là cầu nối quan trọng làm nên mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước trong suốt 36 năm qua, kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1975.

Phan Lê
Nguồn: VNExpress


Hãng RFI cho biết: 
Công du Việt Nam,Thủ tướng Đức sẽ đặt vấn đề nhân quyền

Theo nguồn tin chính phủ Đức, nhân chuyến công du Việt Nam trong hai ngày kể từ ngày 11/10/2011, hai bên sẽ thảo luận về một hiệp ước thương mại song phương. Phía Đức cho biết thêm là bà Merkel sẽ nêu vấn đề nhân quyền với Hà Nội và sẽ tiếp xúc với đại diện xã hội công dân và tôn giáo.

-->đọc tiếp...

THẾ VÀ LỰC VIỆT NAM TRÊN BIỂN

Thế và lực của Việt Nam trên biển
Lê Ngọc Thống


Trong bài “Việt Nam trước hình thái chiến tranh mới” với cái suy luận của lão nông chất phác, thấy sao nói vậy về đối tượng tác chiến của HQNDVN là ai. Vấn đề tiếp theo là so sánh thế và lực của hai bên ra sao, nếu như họ tấn công (nôm na so sánh lực lượng mạnh yếu) để từ đó hạ quyết tâm: Xin hàng. Hoặc nếu “Bệ hạ muốn hàng hãy chém đầu thần trước”. Không sợ, dám đánh, có cách đánh và quyết thắng.

Có một điều mà lịch sử luôn lặp đi lặp lại: Đối tượng tác chiến của Việt Nam trong chiến tranh bao giờ cũng hùng mạnh, và Việt Nam cuối cùng… vẫn thắng.

Tại sao đối phương lúc nào cũng có lực lượng hùng mạnh mà lúc nào cũng cứ thua không sớm thì muộn? Vậy điều gì xảy ra ở đây? Câu trả lời: Việt Nam không chỉ đánh giặc bằng “Dũng” mà còn phải đánh bằng “Trí”. Trí dũng song toàn. “Trí” ở đây là nghệ thuật quân sự độc đáo, đánh bằng mưu, kế; thắng bằng thế, thời. Còn dàn quân ra mà nghênh chiến với những lực lượng đó thì như Tướng Giáp từng nói với McNamara … “quân đội VN mà dàn quân ra nghênh chiến với Mỹ thì không chịu nổi 1 tuần”.

Mưu là lừa địch, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở, chỗ ít phòng bị của địch làm cho chúng lúng túng, bị động dẫn đến vỡ trận.

Kế là điều địch theo ý định của ta, giành quyền chủ động, buộc địch phải đánh theo cách ta lựa chọn. 

“Thế” trong nghệ thuật quân sự là tình thế, thế nước, thế trận, thế bố trí lực lượng trên địa hình địa lý. Thế lấy lực làm cơ sở, do lực quyết định, nhưng thế lợi, thế hiểm thì biến lực nhỏ thành lớn và ngược lại một lực lớn nhưng ở vào thế bất lợi, mất thế thì bị suy yếu.

Hiện nay Việt Nam ở vào tình thế (bối cảnh trong khu vực và thế giới) rất có lợi, hoàn toàn ngược lại với năm 1979. Thế nước thì ổn định, phát triển. Nhân dân Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng CSVN – Tổ chức đầy bản lĩnh, dày dạn kinh nghiệm trong chiến tranh giữ nước. Nói thật cho đến bây giờ và ít ra vài thập niên nữa sẽ không có một tổ chức nào đủ tâm và đủ tầm ngoại trừ Đảng CSVN làm tròn sứ mạng này.
[.....NXD-Blog lược bỏ 1 đoạn] 

Nếu hải chiến xảy ra, đôi bên dứt khoát sẽ phải tác chiến với 5 hình thức sau:
1.  Các đòn tấn công tiêu diệt các căn cứ trên bờ bằng pháo hạm, tên lửa (chủ đạo).
2.  Tìm diệt các loại tàu ngầm.
3.  Tìm diệt các tàu chiến mặt nước.
4.  Tìm diệt các tàu vận tải, cắt đứt tuyến vận tải.
5.  Phòng thủ bờ biển, đảo, bảo vệ các căn cứ quân sự, kinh tế quan trọng và hệ thống thông tin liên lạc.
Với cơ sở lí luận như trên, so sánh thế và lực của Việt Nam trên biển với Trung Quốc trong hoạt động tác chiến thứ nhất ta thấy rõ ràng về lực lượng Trung Quốc vượt trội, họ có nhiều tàu ngầm, tàu chiến to và hiện đại. trên bờ thì có nhiều tên lửa tầm xa, tầm gần. Do đó chỉ cần ấn nút thì loạt đầu cũng đã có hàng ngàn quả tên lửa các loại bay vào lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên cũng không đáng ngại vì mức độ khủng khiếp chưa thấm vào đâu so với Hạm đội 7 và Không lực Mỹ đã từng dội xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác. Và nếu nói rằng với loạt đầu tiên sẽ làm cho hệ thống phòng thủ của Việt Nam bị tê liệt hoàn toàn thì e quá sớm.

Sĩ quan Hạm đội 7 Mỹ sau khi ấn nút xong thì tay mở rượu Uých ki, tay ôm gái khiêu vũ; Phi công B52 sau khi rải hàng ngàn tấn bom mà thoát lưới lửa hạ cánh xuống Guam là có quyền ôm vợ, bật TV xem chiến sự, thậm chí phóng xe đến sân xem trận bóng bầu dục… vì họ biết Việt Nam chưa đủ khả năng giáng trả đến nước Mỹ. Nhưng sự kiện 2 chiếc pháo đài bay B52 ở căn cứ Utapao-Thái Lan của Mỹ cũng bị đặc công Việt Nam làm tan xác đã nói lên một thông điệp rằng sẵn sàng giáng trả vào sào huyệt của đối phương không phải là ý tưởng quá mới mẻ trong giới quân sự Việt Nam.

Trung Quốc thì khác Mỹ, ấn nút xong thì không thể bật rượu Mao Đài hảo lớ hảo lớ được đâu. Hàng ngàn quả tên lửa bay sang VN thì ít ra cũng có hàng trăm quả tên lửa từ Việt Nam bay sang chỗ họ. Các chính khách, học giả nói trên có biết chắc tên lửa Việt Nam có loại nào có tầm bắn đủ để lao vào phòng ngủ của mình ở Bắc Kinh không? Tuy nhiên 1 trăm hay 1 vạn quả của Việt Nam cũng chẳng là gì với Trung Quốc, cái nguy hiểm và khủng khiếp nó không nằm ở đó mà ở chỗ nó kích nổ các quả bom cực lớn khác, lớn hơn bom nguyên tử, trong nội địa Trung Quốc đang chờ phát nổ. Như vậy nếu chỉ xét việc phóng tên lửa qua nhau thôi tức tên lửa đất đối đất thì Việt Nam vẫn ở trong thế có lợi, thế hiểm. Thế này giống như “điểm tựa” mà Acsimet cần để “bẩy quả đất”. Ngày nay một điều khẳng định chắc chắn là Việt Nam không ít thì nhiều cũng có thứ với tới được Trung Quốc trên đất liền (dĩ nhiên rồi) và cả trên biển.

Trên biển, quả thật nếu dàn trận để hải chiến thì e rằng Việt Nam khó có thể chịu được vài trận bởi tàu chiến của Trung Quốc quá hiện đại. Với công nghệ cao thì không thể có một quả tên lửa, ngư lôi, máy bay nào… từ đâu đến mà không bị diệt. Với tính năng kỹ chiến thuật như vậy thì quả là những chiến hạm bất khả xâm phạm. Nhưng thực tế lại không cho nó “tròn trịa” như vậy. Một phương châm mà giới quân sự Việt Nam luôn nghiên cứu kỹ và hành động là: “Nếu những gì công nghệ không làm được thì chiến thuật làm được”. Việt Nam, công nghệ quân sự không đủ hiện đại, tiên tiến tương xứng để xé toạc lá chắn phòng thủ của những chiến hạm kia thì từ thế trận chiến tranh nhân dân, từ thế địa lý bờ biển, bằng nhiều lối đánh độc đáo (chiến thuật) sẽ thừa sức đánh tiêu diệt chúng. Trong bài “Việt Nam trước hình thái chiến tranh mới” tôi đã từng nêu một trong những lối đánh sở trường của Hải quân VN là cơ động nhanh, bí mật, tập kích bất ngờ với các đòn dồn dập, nhiều hướng, nhiều chiều, nhiều phương tiện hỏa lực vào một mục tiêu làm cho đối phương lùng túng, rối loạn dễ bị tiêu diệt hoặc bị thiệt hại nặng nề. Nhưng lối đánh này liên quan mật thiết với thế địa lý, thế biển. Thế này cũng như thế trận chiến tranh nhân dân là nguồn gốc, hỗ trợ cho lối đánh làm tăng gấp bội lực, một địch muôn người. Nếu trên đất liền, cha ông ta đã tìm ra được ải Chi Lăng; Rạch Gầm–Xoài Mút; sông Bạch Đằng… thì ngày nay Bộ Tham mưu HQVN cũng không khó khăn gì để thấy những thế đó trên bờ biển… Vài chiếc xuồng phóng tên lửa, phóng lôi tốc độ cao ở đâu đó trên bờ biển, hải đảo; vài chiếc máy bay cũ kỹ từ những sân bay dã chiến (chỉ dùng cất cánh) ở đất liền… là có thể tạo nên một trận tập kích bất ngờ theo ý muốn.

Vậy Trung Quốc có lợi thế gì? Do chủ động gây chiến nên họ có thế bất ngờ, luôn chủ động chọn lựa mục tiêu; lực lượng họ vượt trội nên họ có thế tấn công áp đảo, có khả năng làm đối phương tê liệt hoặc thiệt hại nặng bởi đòn phủ đầu. Tất nhiên những gì mà là lợi thế của Việt Nam thì Trung Quốc sẽ ngược lại, thất thế. Trung Quốc không thể sử dụng lực lượng và lối đánh giống Việt Nam dù muốn. Đặc biệt, Trung Quốc hay nước nào mang quân đi gây chiến cũng vậy, muốn đánh nhanh, chớp nhoáng để thắng nhanh nhưng khi không thể thì bắt buộc phải kéo dài, dằng co thì ngay về chiến lược cũng đã tự mâu thuẫn rồi, do đó lợi thế cũng mất dần vào tay đối phương…

Do trong khuôn khổ một bài viết thì không thể đánh giá tiếp tương quan thế và lực của Việt Nam và Trung Quốc trong các hình thái tác chiến tiếp theo, nếu ai có quan tâm đến đất nước thì tiếp tục. Nhưng chỉ cần đến thế cũng có thể nói: 

Không sợ, đánh được, có cách đánh và sẽ thắng. Nói như thế không có nghĩa là Hải quân Trung Quốc thế và lực trên biển Đông yếu, Mỹ cũng chưa dám coi thường nữa là Việt Nam. Không tin thì Việt Nam thử đưa Hải quân sang xâm chiếm lãnh hải của Trung Quốc xem. Vấn đề đặt ra ở đây chỉ là nếu Trung Quốc dùng Hải quân xâm chiếm biển của Việt Nam mà thôi. Còn nếu bệ hạ muốn hàng thì thần…dân coi như không viết bài này.

Tuy nhiên chiến tranh, thực chất là sự tranh dành lợi ích. Khi không có hoặc có ít thì không dại gì gây chiến tranh vì chiến tranh không phải trò đùa đâu mấy ông học giả, chính khách ạ. Chết chóc, tang thương lắm. Chắc lẽ các vị con cháu đã định cư sang Úc, Canada, Mỹ nên mới hò hét hiếu chiến, vô tâm, vô cảm, vô đạo đức, vô nhân đạo vậy chứ, đúng không?

Năm 1979 Trung Quốc tấn công Việt Nam để chứng tỏ với Mỹ và phương Tây là Trung Quốc không giống Việt Nam, hãy để Trung Quốc yên ổn làm ăn. Ngày nay mục đích tấn công Việt Nam không rõ ràng, lợi ích kinh tế, chính trị không đủ ảnh hưởng nhiều đến đất nước thì sẽ chẳng có cuộc tấn công nào trong tương lai gần. Hòa bình vẫn là xu hướng chính cho cả 2 dân tộc.

Lê Ngọc Thống 
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 10-10-11

-->đọc tiếp...

THẬT MỪNG VỀ CHUYẾN THĂM ẤN ĐỘ CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC!

Chủ tịch Trương Tấn Sang hoan nghênh Ấn Độ và các nước thăm dò dầu khí ở vùng biển của Việt Nam

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang trong chuyến công du Malaysia, 28/09/2011
REUTERS

Trọng Nghĩa

Vào hôm nay, 09/10/2011, hai ngày trước khi lên đường qua Ấn Độ, thực hiện chuyến thăm cấp Nhà nước, chủ tịch nước Việt Nam đã dành cho hãng tin Ấn Độ PTI một bài phỏng vấn. Lãnh đạo Việt Nam đã hoan nghênh hợp tác Việt - Ấn trong lãnh vực dầu khí, đồng thời, ông cho biết sẽ tăng cường quan hệ chiến lược và quốc phòng với New Delhi.

Bình luận về những tranh cãi vừa bùng lên liên quan đến việc Ấn Độ thăm dò dầu khi trong hai lô của Việt Nam ở Biển Đông, gần bờ biển miền Trung Việt Nam, nhưng lại bị Trung Quốc phản đối, cho rằng đó là khu vực của họ, chủ tịch Trương Tấn Sang đã lên tiếng bảo vệ hợp tác giữa Hà Nội và New Delhi.

Ông nói : “Thực tế là tất cả các dự án hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác khác, bao gồm tập đoàn Ấn Độ ONGC trong lĩnh vực dầu khí đều nằm trên thềm lục địa, trong vùng đặc quyền kinh tế và thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật biển”.

Trên cơ sở đó, chủ tịch nước Việt Nam xác định: “Chúng tôi hoan nghênh các công ty nước ngoài đến làm việc với đối tác Việt Nam trong các dự án dầu khí trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và phù hợp với pháp luật Việt Nam”. Ông Sang đồng thời cho biết là Việt Nam cam kết bảo vệ lợi ích hợp pháp của các công ty nước ngoài đã đầu tư trong nước.

Cả Ấn Độ và Việt Nam đều bác bỏ các tuyên bố chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông với lý do là căn cứ theo luật của Liên Hiệp Quốc, các lô mà Ấn Độ khai thác thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ấn Độ cũng đã nói rõ là công ty Nhà nước của họ sẽ tiếp tục thăm dò dầu khí tại Biển Đông.

_____________________

Tin nhà:

Thưa chư vị, chiều ngày 9.10, cha tôi đã tỉnh lại sau 08 ngày hôn mê sâu, do bị tai biến mạch máu não (đột quỵ não, xuất huyết não). Hiện cha tôi đang được điều trị tích cực tại Quân y viện. 

Thay mặt Mẹ tôi và các anh em tôi, tôi xin chân thành cảm tạ các bác, các anh chị em xa gần đã thăm hỏi, động viên, cầu nguyện, tiếp thêm nghị lực cho cha tôi và gia đình tôi trong cơn bạo bệnh của cha. 

Từ hôm nay, Nguyễn Xuân Diện - Blog tiếp tục đăng tải trở lại sau thời gian gián đoạn vừa rồi. 

Nguyễn Xuân Diện kính báo!
________________________


-->đọc tiếp...