Blogger Widgets

Thứ sáu, ngày 09 tháng chín năm 2011

THĂM NHỮNG LÀNG VIỆT CỔ - BÀI 6: LÀNG SO - XỨ ĐOÀI

Chùm bài về Những làng Việt cổ:
Bài 6: Làng So xứ Đoài
Nguyễn Xuân Diện


Tam quan đình So. Ảnh: Internet

Xứ Đoài đẹp nhất đình So 

Dân gian tứ chiếng có câu: Cầu Nam - chùa Bắc - đình Đoài. Dân gian xứ Đoài lại có câu: Đẹp đình So, to đình Cấn (đẹp đình So, to đình  Cấn, bẩn đình Ngọc Than, tan hoang đình Phú Mỹ, cũ kỹ đình Yên Nội). Như vậy là vẻ đẹp của đình So đã được dân gian công nhận. Đình So là ngôi đình đẹp vào hạng nhất trong những đình làng của xứ Đoài.

Đình So là đình của làng So (tên chữ của làng là Sơn Lộ), trước gọi là trang Sơn Lộ, nay thuộc xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai. Làng So là nơi dừng chân của vua chúa khi đi thăm Phủ Quốc năm xưa. Nhà chúa có ngự đề bài thơ Nôm ở chùa Nhạc Lâm (chùa So), nay vẫn còn treo, như sau:

Mảng vui Thiên Phúc cảnh thiên thành
Ngoạn thưởng âu đây thức tính tình
Thái thản nhân cơ trông vợi vợi
Đùn đùn đạo ngạn bước thênh thênh
Trời xuân vặc vặc hoa kê cửa
Gió thuỵ hiu hiu nguyệt giãi mành
Trong thuở tỉnh phương buồm thuận tới
Tiệc vầy ngâm ngợi khúc long bình.

Vào làng So, đến đình So mà ngắm nghía thật lâu mới thấy được rằng đình không chỉ đẹp trong kiến trúc mà đẹp cả trong phong cảnh, phong thuỷ, đáng làm một mẫu hình tiêu biểu cho kiến trúc cổ. Đình nằm gối lên núi rùa, trước mặt là đê sông Đáy đã được nắn lại tạo thành một hồ nước hình bán nguyệt như tấm gương khổng lồ in bóng soi cả ngôi đình đồ sộ. Hai bên đình, phía trái là núi Rồng (còn gọi là núi Cả), phía bên phải là núi Phượng, tạo cho đình nằm gọn giữa một cỗ ngai lớn. Hiện chưa biết đình So được khởi dựng từ bao giờ, nhưng theo văn bia Tu sáng Hoa đình bi ký hiện còn dựng tại đình, được khắc vào năm Dương Đức thứ 3 (1674) thì đình này được tu bổ và tôn tạo vào năm Quý Mão (1663). Văn bia cho biết ngày khởi công tu tạo là ngày 27 tháng 7 năm Quý Mão, hơn hai tháng sau công việc hoàn thành. Ngôi đình đã trải qua 4 lần trùng tu nữa vào các năm 1743, 1924, 1928, 1953. Quy mô hiện nay của đình là kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc trên diện tích 1.100m2. Tổng cộng tất cả toà ngang dãy dọc của đình là 55 gian, với 64 cột lớn nhỏ. Riêng nhà Tả văn chỉ dùng để viết văn tế thần. Hành lang của đình được chia cho 28 giáp trong làng, mỗi giáp một gian để làm chỗ hội họp riêng và sửa soạn lễ lạt của các giáp khi ra việc làng. Đình So có một tam quan đẹp, hoành tráng, uy nghi, và có bậc đá 29 cấp dẫn xuống hồ bán nguyệt. Kiến trúc và điêu khắc của tam quan có thể được xem là một mẫu mực về sự cân đối, vừa vững chãi vừa bay bổng thanh thoát. Đình thờ Tam vị Nguyên soái Đại vương, là những vị tướng của Đinh Tiên Hoàng. 


Thần tích chép rằng: Vào mùa xuân năm Canh Thìn (930), có ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả ở hương Vạn Kỳ, huyện Gia Định, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc nhà vốn rất nghèo, làm nghề đánh cá trên sông. Hai ông bà rất thích làm việc thiện, một việc thiện dù nhỏ cũng làm. Một hôm hai ông bà chài lưới trên sông Như Nguyệt, kéo được 15 dật vàng. Từ đấy hai ông bà làm ăn cứ khấm khá mãi lên nên cuộc sống rất khá giả. Hiềm nỗi hai ông bà đã ngoài 50 tuổi mà vẫn chưa có con trai. Ông vẫn thường nói: Tiền rừng gạo bể mà không có con thì sống không được vui và bàn với bà đi tìm nơi cầu tự. Hai ông bà nghe nói ở đền Hữu Linh, trang Sơn Lộ là nơi linh ứng cầu gì được nấy, bèn cùng nhau sắm sửa lễ vật đến đó cầu tự. Sớm hôm sau ông bà làm lễ tạ rồi xuống thuyền cùng với hai người vạn chài xuôi dòng sông Hát. Thuyền đang đi, trời bỗng nhiên tối sầm lại như đêm và một trận gió lớn ập đến. Lúc này thuyền chở ông bà đến địa phận trang Sơn Lộ, hai người ngẩng đầu nhìn lên trời thấy có đám mây vàng hướng vào bà mà hạ xuống. Lã thị hoảng sợ, nằm miên man. Sau đó bà có mang. Tháng 2 năm Quý Tỵ (933), bà sinh được 3 người con trai. Ba đứa trẻ lớn lên thành những chàng trai khoẻ mạnh rồi theo Đinh Tiên Hoàng đi dẹp loạn. Quân sĩ kéo từ Hoa Lư thắng trận về đến trang Sơn Lộ thì nghỉ lại và tập hợp trai tráng trong vùng tiếp tục chiến đấu dẹp loạn 12 sứ quân. Đinh Tiên Hoàng lên ngôi bèn sắc phong 3 ông là Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại Vương. Trải qua các triều đại, Tam Thánh đều được sắc phong mỹ tự và cho trang Sơn Lộ đời đời thờ phụng.

Làng So có lá cờ thần rộng tới 24 mét vuông, cứ mỗi khi cờ bay trên nền trời xanh in bóng mặt hồ nước lung linh cùng với tiếng trống sấm vang lên là làng đang có hội. Lễ hội đình So, làng So được diễn ra vào ngày hai dịp mùa xuân và mùa thu. 

Lễ hội mừng ngày Thánh Sinh 

Hội mùa xuân, là lễ hội mừng ngày Thánh sinh  nhằm ngày 8 tháng 2. Ngày này dân làng tổ chức rước bài vị từ Miếu Ông và Miếu Bà, là song thân của các Thánh về đình để chung hưởng sự thành kính của dân làng. Theo ghi chép trong sách cổ thì hội diễn ra trong 3 ngày nhưng không khí chuẩn bị cho ngày lễ này thì rộn dịp trước đó khá lâu.

Trong lễ hội mừng ngày Thánh sinh thì vui nhất, và hồi hộp nhất vẫn là cuộc thi lợn anh. Từ trước đó hàng năm mỗi giáp chọn lấy một con lợn đen tuyền, rồi giao cho một nhà trong giáp nuôi. Nhà ấy cha mẹ song toàn, gái trai đầy đủ, hiếu hạnh. Sau khi chọn được lợn mới ra đình xin chân nhang về để làm lễ trình ở nhà. Kể từ đó, con lợn ấy được gọi là lợn anh. Không ai được gọi là con lợn, mà cũng không ai được đánh mắng nữa. Lợn anh được nuôi dưỡng theo một chế độ đặc biệt, chuồng trại phải sạch sẽ, thức ăn phải thanh sạch. Khi lợn anh lớn một chút người ta đem thiến đi.

Vào ngày mồng 7 tháng 2, lợn anh của 28 giáp trong làng đều được tắm rửa sạch sẽ bằng nước thơm, ăn bằng thức ăn tinh khiết và được đưa vào cũi để rước ra đình. 28 giáp là 28 cái cũi, trên mỗi cũi đều được cuốn một tràng hoa  bưởi, đủng đỉnh để tiến ra sân đình. Các cũi lợn được xếp thành hai hàng dọc theo sân đình, trước sự chứng kiến của Thánh và hội đồng lý dịch cùng đông đảo dân làng. Làng chọn ra những lợn anh to nhất để cân xem anh nào to nhất, nặng nhất để trao giải thưởng. Lợn anh của giáp nào được giải thì không chỉ người nuôi được vui mừng và hãnh diện mà cả giáp ấy đều thấy phấn chấn tự hào. Giải thưởng gồm hai bậc: giải dân và giải giáp. Giải dân do làng thưởng, còn gọi là giải đất, vì người nuôi sẽ được cấp 3 sào đất ở cánh bãi để canh tác và lấy hoa lợi mà không phải nộp thuế má gì. Đất ấy người này sẽ được giữ cho đến khi nào có ai đó nuôi được lợn anh có số cân nặng hơn lợn anh được giải, dù chỉ một vài cân. Giải giáp thì do giáp thưởng, và khi giáp mổ con lợn ấy thì nhà chủ nuôi sẽ được biếu một cái tràng hoa (tức là cái khoanh cổ lợn). Các cụ bảo vào một năm, cũng gần đây thôi, giáp nọ có lợn anh nhỏ hơn giáp kia, đáng ra là không được giải, nhưng dùng thế lực áp đảo để lấy giải nhất. Khi khiêng lợn về đến nhà thì lợn xổng ra khỏi cũi rồi lại đi ra đình.

Ngày này, sau bữa trưa tại các giáp, là đến cuộc hát thờ ở đình. Thường làng đón các giáo phường ở Phủ Quốc về hát hầu Thánh. Các ả đào đứng trước điện, tay cầm lá phách hát các bài hát thờ như Thét nhạc, Bắc phản, hát Giai, Độc phú… trong tiếng hoà âm của các nhạc khí. Giáo phường được mời đến hát nhất định sẽ hỏi cho bằng được tên huý của các Thánh thờ trong đình để khi hát đến những chữ ấy thì tránh đi. Hát cửa đình So có các chữ không được nói tới là Hiển, Lã, Hiện, Suý, Lang. Hiển là tên huý của ông cụ thân sinh ra các Thánh; còn Lã là tên họ của cụ bà Lã thị. Hiện là tên huý của ba anh em nhà Thánh; Suý và Lang là tước phong của Thánh. Các cô đầu hát đến những câu có chữ ấy thì hát thật nhỏ, và tránh đi; ví như chữ Hiển thì đọc là Hởn, chữ Lã thì đọc là Lữ. Nếu cô đầu không nhớ ra, cứ thế hát thẳng không kiêng thì người cầm chầu sẽ gõ liên hồi vào tang trống và cho ngừng cuộc hát. Bấy giờ người quản ca của giáo phường phải đến nói khó với các cụ trong làng để xin cho làm lễ tạ với thánh và xin các cụ chiếu cố cho. Khi ấy, người đào nương sẽ biện cơi trầu, đến trước điện làm lễ tạ lỗi với Thánh và các quan viên. Cô đầu sẽ hát từ chiều đến tối, có khi đến tận canh khuya, trước là để hầu thánh, sau là để giúp vui cho quan viên.

Theo nghi thức về việc mở lễ hội được ghi trong bản thần tích do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, thì hội  mở trong 3 ngày mới thôi. Ngoài hát xướng còn có các trò chơi đánh cờ, đấu vật. Ngày lễ mừng thánh sinh, các cô gái làng đi lấy chồng xa về làng rất đông vui và đua nhau làm lễ và cung tiến rất nhiều vào đình. 

Lễ mừng thắng trận, khao quân 

Về mùa thu, lễ hội đình So nhằm ngày 10 tháng 7. Đây là lễ hội kỷ niệm Thánh giải vây, thắng trận, tế cáo thiên địa và khao thưởng quân sĩ. Lễ mừng khao quân là một lễ vui vẻ trong dân. Ngày này, sẽ dâng tế vật là một con trâu. Làng có 28 giáp, mỗi năm, có một giáp phải lo việc sắm sửa lễ vật. Như vậy, nếu năm nay giáp này chuẩn bị tế vật thì phải 28 năm sau nữa thì mới lại đến lượt sắm lễ. Con trâu phải được thui khéo, da vàng xộm, quỳ trên cái giá gỗ, mõm hếch lên, còn sừng thì lấy giấy đỏ cuốn vào. Nội tạng của con trâu đã được lấy ra, làm sạch, nên con trâu tế được dân làng gọi là trâu trong. Cảnh tượng hiến tế trâu trong thật long trọng tôn nghiêm. Sau khi tế xong, đồng dân cùng hưởng lộc, rồi chiều và tối thì tập trung nghe hát ở đình hoặc các miếu quán trong làng. Đào kép cũng có khi vừa hát xong ở miếu này lại xách đàn sang miếu khác.

Những người già trong làng vẫn còn nhớ dịp “đóng đám năm Bảo Đại tam niên”. Ấy là năm 1928. Năm ấy vì đình làng sửa đình nên rước bài vị gửi ở nơi khác, khi công việc hoàn thành thì làm lễ hoàn cung. Bấy giờ làng có mua đèn lồng về mắc lên mái đình, đao đình, và trên các con rồng con nghê trên mái đình, để đêm đến sáng lung linh rất đẹp. Hội làng được tổ chức rất to, phần lễ thì trang nghiêm hoành tráng, phần hội thì vui vẻ, linh đình. Về trò chơi có trò bắt chạch trong chum, bắt dê. Làng còn cho mời đội cồng chiêng Mường ở Lương Sơn về để hoà âm trong lễ tế ở đình.Làng đóng đám 7 ngày 7 đêm, mà đêm nào cũng có hát ả đào, mới từ ấp Thái Hà ngoài tỉnh về. Hội kéo dài trong 3 ngày. 

Lễ chay kỷ niệm ngày Thánh hoá 

Ngày thánh hoá là ngày 10 tháng Chạp. Ngày nay là lễ cúng chay. Công việc chuẩn bị cho lễ cúng chay được tiến hành từ trước đó cả tháng trời. Những người chuẩn bị cho lễ chay bao giờ cũng là đám con trai khoảng 18, 19 tuổi. Họ phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới đến tập trung ở nhà ai đó để chọn gạo làm bánh. Gạo được chọn thật kỹ càng từng hạt, không có hạt gãy, hạt chẩm. Bấy giờ mới đồi xôi, rồi cho vào cối giã như giã bánh dầy. Nhân của bánh bằng đỗ xanh rang kỹ, nghiền nhỏ, trộn với nước mật. Hương liệu là thảo quả thơm ngát. Nhân này được bao bọc bằng xôi giã. Cuối cùng là lấy lá chuối bọc bên ngoài. Lễ vật dâng trong ngày Thánh hoá bao giờ cũng là lễ chay, được làm từ nguyên liệu thanh khiết và với tấm lòng thành kính nhất. Được biết bánh cuốn dâng Thánh có thể để được trong thời gian rất lâu, và người dân làng cho rằng đó chính là thứ lương thực của quân sĩ của thánh năm xưa.

Vào ngày này, dân không tổ chức hội mà chỉ có lễ chay. Không có tổ chức rước xách và các trò chơi dân gian, cũng không có hát thờ. Tất cả các công việc chuẩn bị cho lễ cúng chay được thực hiện trong niềm thành kính nhất để tưởng niệm đến công lao và ân đức của Thánh. 

Lễ hội đình So ngày một đơn giản đi so với trước kia. Vẫn có bánh chay dâng Thánh, nhưng không có trâu trong nữa, và tục nuôi lợn anh thì chỉ còn trong câu chuyện của những người già. Hát thờ ở cửa đình cũng không còn nữa. Người dân vẫn bày tỏ lòng thành kính lên Tam vị Nguyên soái Đại vương bằng các nghi thức tế lễ, nhưng phần vui hội thì gần như vắng bóng.

Và hằng năm, mỗi khi tiếng trống sấm vang dội và lá cờ đại rộng tới 24 mét vuông được kéo lên, bay giữa trời và lồng trong bóng nước hồ bán nguyệt, là khi làng mở hội, thì trong lòng người già làng So, những ký ức xa xăm về  hội xưa lại vọng về, nao nao nhớ đến dịp đóng đám năm 1928, nhớ đến cái ngày làng thi lợn anh và rước trâu trong ra đình, thật oai hùng và trang trọng.

Nguyễn Xuân Diện               

-->đọc tiếp...

THĂM NHỮNG LÀNG VIỆT CỔ - BÀI 5: LÀNG THEN - LÀNG VĨ CẦM

Chùm bài về Những làng Việt cổ:
Bài 5: Làng Then - làng vĩ cầm
Nguyễn Xuân Diện

Làng Then - đến cả Thành hoàng cũng chuộng nhạc

Làng Then, xã Thái Đào là một làng quê nhỏ bé heo hút thuộc huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang từ lâu đã nổi tiếng là “làng vĩ cầm”. Từ nửa thế kỷ nay, dưới sự dẫn dắt của cụ Nguyễn Văn Đưa, làng Then không lúc nào dứt tiếng vĩ cầm. Một cây đàn phương Tây sang trọng và khác xa với truyền thống âm nhạc Việt, vậy mà có mặt ở đây, rồi trở nên gần gũi thân thương với dân làng, trở thành niềm tự hào của họ. Đó là điều mà bất cứ ai cũng ngạc nhiên.

Theo lời mời của một người làng Then - TS. Giáp Văn Dương (ĐH. Liverpool, Anh quốc) – chúng tôi về thăm làng Then trong một chiều đông nhạt nắng, khi những cánh đồng lúa chín vàng ươm sắp đến mùa gặt, và đã cảm nhận được không gian ấm áp của một làng quê rất đỗi thân gần. Về thăm làng, hỏi chuyện các cụ già mới biết làng Then chính là quê của nhiều diễn viên, nhạc công nổi tiếng như hai ông Đạo diễn, NSND. Bùi Đắc Sừ và Hà Quốc Minh (nguyên Giám đốc và đương kim Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam), nhạc sĩ Trần Vinh (Nhà hát Chèo Việt Nam)…Người già trong làng kể rằng xưa vào mỗi dịp hội xuân, làng mời một gánh tuồng về diễn mấy đêm liền, lại còn mời cả giáo phường ca trù về hát thờ trước cửa đình. Hát cửa đình không thể không có bài Thét nhạc cổ kính trang nghiêm với những lời hát: Tiếng nhạc Thiều tâu/ Vẳng tai nghe tiếng nhạc Thiều tâu/ Vẳng nghe chuông gióng lâu lâu lại dừng…Sau khi hát ở đình, các quan viên chức sắc trong làng còn đón các cô đầu về hát chơi trong nhà, tiếng “tom, chát” rộn suốt những đêm hội mùa xuân.

Trong đình vang Thuấn nhạc

Khi về thăm làng Then, tôi cố gắng tìm xem điều gì khiến cho làng quê này trở thành một làng âm nhạc như thế. Phải tìm tự nguồn gốc tìm đi. Hỏi các cụ già nhất trong làng thì chỉ biết làng có đón các gánh tuồng và ả đào về hát vậy thôi. Nhưng khi tôi vào đến đình làng Then thì mới thật sững sờ! Đây, bức hoành phi và đôi câu đối nét vàng son còn chói lọi mà thông điệp trên đó ý chừng là để nói với cả Thần và người, không chỉ người làng Then mà cả người thiên hạ nữa!


Bức hoành phi của làng có mấy chữ: “Chung hòa thả bình”. Đây là bốn chữ rút trong bài thơ Phạt mộc, phần Tiểu Nhã của Kinh Thi. Nguyên cả đoạn thơ ấy là “Thần chi! Thính chi. Chung hòa thả bình”, nghĩa là: Hỡi thần! hãy lắng nghe khúc nhạc này! Rồi cho được hòa vui yên ổn. Đôi câu đối như sau: “Đình trung như Thuấn nhạc. Bệ thượng nhược Nghiêu tôn”, nghĩa là: Nhạc vang lên trong đình này như nhạc Thiều của vua Thuấn. Lòng tôn kính Thần trên bệ kia chẳng khác dân thờ vua Nghiêu. Xem thế đủ biết thành hoàng làng Then chuộng cổ nhạc như thế nào!  

Thuấn và Nghiêu là hai ông vua đời cổ xưa ở Trung Hoa. Và thời đại của vua Nghiêu vua Thuấn là thời đại cực thịnh, muôn dân đều được hòa vui no đủ, trở thành niềm mong ước của tất cả các đời đế vương sau này. Vua Thuấn có sáng tác khúc nhạc Thiều, được Đức Khổng Tử khen là “tận thiện, tận mỹ”. Nhạc Thiều là điệu nhạc của đời thịnh trị.

Vậy là dân làng Then đã dâng cúng lên thần thành hoàng làng khúc nhạc dịu êm thanh bình và mong thần phù trợ cho được hòa vui, yên ổn. Và khúc nhạc đó được ví như nhạc Thiều của vua Thuấn. Với đôi câu đối thờ trong đình, người dân làng Then xưa vừa thể hiện niềm tôn kính với thành hoàng làng, vừa ca ngợi cuộc sống thanh bình no đủ, vừa tự hào với những khúc nhạc thành kính nơi đình trung.

Về làng Then nghe khúc nhạc Thiều.


 

Đón chúng tôi tại đình là các cụ ông cụ bà và đông đảo dân làng, và cả một dàn nhạc vĩ cầm. Sau khi nghe giải thích về đôi câu đối thờ của tiền nhân để lại, và biết rằng không phải ngẫu nhiên mà làng Then lại có truyền thống âm nhạc như vậy, dân làng mừng lắm. Sau lời phát biểu của cụ Nguyễn Văn Đưa (78 tuổi) và ông đội trưởng đội vĩ cầm Nguyễn Quang Khoa là phần trình tấu của đội vĩ cầm làng Then. Trên bục cao, những bản tổng phổ được mở ra, các nghệ sĩ làng quê đã trình bày bốn bản nhạc: Du kích sông Thao, Dòng Đa-nuýp xanh, Trống cơm và Bóng cây Kơ –nia. Bữa tiệc âm nhạc làng Then đãi khách lại cũng không chỉ có dàn nhạc vĩ cầm. Người làng Then còn hát quan họ, hát chèo lời cổ rất lề lối với lòng mến khách hiếm có!
.

Nhạc sĩ Phạm Chỉnh (PGĐ Trung tâm Văn hóa thông tin Hà Nội) cho biết ông rất bất ngờ khi thấy những người nông dân làng Then đọc được tổng phổ, và cho dù tiếng đàn chưa thực sự chuyên nghiệp nhưng cách chơi đã rất chuyên nghiệp. Những người dân làng Then thực sự là những nghệ sỹ rất có phong cách và đầy tính ngẫu hứng. GS. Lê Văn Cường (ĐH. Paris 1, Pháp) tranh thủ dịp về dự hội thảo ở Việt Nam, ghé thăm làng Then cho biết, ông đã đi nhiều nơi trên thế giới nhưng chưa thấy có một làng nào yêu nhạc và có một dàn nhạc độc đáo như làng Then.

Tôi chỉ mỉm cười đứng nép đằng sau các vị ấy, vì cho rằng làng Then được vậy là bởi ông thành hoàng làng Then thích nhạc. Mong sao tiếng nhạc Thiều ấy ngàn đời ở mãi với làng Then thanh bình no đủ!

Nguyễn Xuân Diện
-->đọc tiếp...

LỜI THỀ TRONG LỄ TẾ CỜ SÔNG HÁT 1971 NĂM TRƯỚC








TRƯNG NỮ VƯƠNG TRIỀU NHẤT VỊ ĐẠI VƯƠNG PHẢ LỤC
(Ngọc phả về một vị Đại vương, là tướng của Hai Bà Trưng)
Bản chính của bộ Lễ quốc triều
Trích lục

Xưa, Hùng Vương là bậc thánh tổ non sông, mở vận dựng nghiệp hơn hai ngàn năm. Vua Hùng dựng nước, non xanh ngàn dặm dựng nền thành đô cung điện; nước biếc một dòng khai đạo thánh đế minh vương. Cứu vật độ nhân, nắm 15 bộ. Đó gọi là tổ của Bách Việt.[...]

Lại nói chuyện lúc đó cơ đồ họ Hùng đã sắp hết, truyền được 18 đời. Ý trời đã cho cáo chung. Trải đến đời Tây Hán, Đông Hán có vùng Long Biên là còn thuộc nước ta [...]

Đến khi, có cháu gái của Hùng Vương khi trước là TRẮC, là bậc hào kiệt trong giới nữ lưu, là bậc thánh thần trên đời, mới phát động binh hùng cất quân ra cự lại. Khi đó, bọn nam nhi có tài thao lược chưa thấy có ai. Các nữ Tướng lĩnh binh lính đã gióng chuông phát động. Trưng Nữ mật đến cáo yết Tản Viên Sơn Thánh, hội đồng Bách thần tại cửa sông Hát Môn (ở xứ Sơn Tây) [trang 2a], thiết lập đàn tế cáo chư vị linh thần, và đọc chúc rằng:

“Trời sinh một người làm tôn chúa của vạn vật trong trời đất. Sinh linh đều có quan hệ đến, đến cả cỏ cây cũng có liên quan. Trải biết bao triều đại trước, các vị đế vương thiên tử thánh minh, triều đình đều có đạo, yêu dân yêu nước, đức hóa rộng ban, thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Ngày nay, có kẻ dị tính là tên chó dê Tô Định hung hăng quấy nhiễu, cuồng bạo tàn ác, khiến cho trời đất và người đều căm phẫn. Thiếp vốn là đứa cháu gái của dòng dõi Hùng Vương, là đàn bà mà nói đến chuyện sinh linh mà hoàng thiên rơi lệ. Ngày nay, rất đau lòng thương đến con đỏ, dẹp lũ giặc tàn bạo. Nguyện với chư vị tôn thần giáng đàn chứng giám cho lời thề ra sức giúp cho thiếp là Trưng Nữ cất quân đánh dẹp Tô Định để bảo vệ đất nước, cứu độ cho dân. Tỳ thiếp sẽ lấy lại muôn vật cũ của tổ tông, đặt sinh linh vào nơi yên ổn, đưa sinh linh ra khỏi chỗ hoạn tai, sau nữa là để không phụ ý hoàng thiên, thỏa [trang 2b] lòng anh linh của các bậc tiên hoàng, an ủi cha ông nơi chín suối!”.


Đọc chúc xong, gọi các âm binh nghìn hàng vạn đội; lại truyền hịch khắp Nam bang các đạo, châu, huyện, hễ ai có văn, võ, tài năng, đức độ hơn người, là bậc anh hùng có thể địch lại được [Tô Định] thì ngay ngày hôm đó sẽ chiêu nạp quân sĩ, phiên thần để đi đánh dẹp. [...].


Nguyễn Xuân Diện dịch từ văn bản VHv.1222
- Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

-->đọc tiếp...

THĂM ĐỀN HAI BÀ TRƯNG



Đền Hai Bà Trưng


Điện thờ


Tượng thờ Hai Bà. Bà Trưng Trắc bên phải.


Song thần kiếm của Hai Bà. Hai Bà sẵn sàng tuốt vỏ để trừ giặc


Cụ Thủ từ tuyên sớ


Nguyễn Xuân Diện trước linh vị Hai Bà Trưng


Đồ thờ


Hổ phù ở nhang án thờ


diệp long


Hoành phi: Hưởng thành tích hỗ


Hoành phi: Hùng Lạc chính thống


Hoành phi: Trì tiết hành nghĩa


Bức hoành do các vị: Phan Duy Tiếp, Trần Lê Nhân...cúng tiến


Bia đá


Bia: Miếu hướng bi ký dựng năm Tự Đức 35 (1882)


Kiệu đền Hai Bà


Kiệu long đình, sơn đen


Án dâng lễ vật, sơn đen


Án sơn đen


Linh thú ở đền Hai Bà


Đền Hai Bà nằm giữa một không gian cổ kính


Bia ghi dấu: GÒ GIẤU ẤN
Ngày 6.3 năm 43, (Quý Mão) trước lúc Hai Bà hóa thân xuống dòng sông Hát
Hai Bà sai tướng tùy tòng chôn cất ấn tín ở khu vực này


Toàn cảnh Gò Giấu Ấn


Gò Giấu Ấn


Cây cối rườm rà, phong cảnh linh thiêng


Khu đàn thề mới tôn tạo


BẮC THÀNH ĐỊA DƯ CHÍ LỤC
Đền thờ Trinh Linh Nhị Trưng vương

Ở địa phận xã Hát Môn huyện Phúc Lộc. Vương người huyện Mê Linh thuộc Châu Phong. Nguyên họ Lạc, con gái của Lạc tướng Giao Châu, chị húy Trắc, em húy Nhị. Người chị lấy chồng người huyện Chu Diên. Bấy giờ Thử sử Tô Định tham tàn bạo ngược, hai chị em dấy binh đánh lại, chiếm Giao Châu, bình định 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua nước Việt, xưng họ là Trưng. Hán Quang Vũ sai bọn Mã Viện, Lưu Phong đánh lại. Quân kéo đến Lãng Bạc, hai bà chống đỡ không nổi, lui về giữ Cấm Khê, sau không biết dấu tích. Về sau người châu ấy lập đền thờ cúng. Triều Lý Anh Tông cầu mưa được ứng nghiệm. Vua mộng thấy hai bà nói rằng: “Bọn thiếp là hai chị em họ Trưng, vâng mệnh thượng đế làm mưa”. Vua tỉnh giấc, ban sắc tu tạo từ vũ, phong làm Trinh Linh nhị phu nhân. Trải các triều nhiều lần được phong tặng. (Trích Sử ký [tức Đại Việt sử ký toàn thư], Lĩnh Nam chích quái).

ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ
Đền Hai Bà Trưng
 
Ở địa phận xã Hát Môn huyện Phúc Thọ.
Vương là người huyện Mê Linh thuộc châu Phong (nay là xã Hạ Lôi huyện Yên Lãng), nguyên trước là họ Lạc, bà chị huý là Trắc, vì Thái thú Tô Định giết mất chồng nên cùng với bà em huý là Nhị dấy quân, đánh phá lị sở Giao Châu, bình định được 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vương và đổi họ là Trưng. Sau khi bị Mã Viện đánh bại [hai bà tự vẫn]. Sau khi mất nhân dân nhớ mến lập đền thờ ở cửa sông Hát Môn. Hai xã Yên Cư và Hạ Lôi huyện Yên Lãng cũng có đền thờ, thường được các triều phong tặng.
Sử chép: Trưng Vương kháng cự Mã Viện, thế không địch nổi phải rút quân giữ Cấm Khê (có sách chép là Kim Khê). Thuỷ kinh chú chép: Cấm Khê là đất Cấm (Kim) Khê ở phía tây nam huyện Mê Linh. Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn nói: Trưng Trắc chạy vào trong khe Kim Khê, 2 năm mới bắt được.
Lại xét: trong đền thờ Bà Trưng, phàm kỷ án và các đồ tự khí hết thảy sơn then, tuyệt nhiên không dùng màu đỏ, dân địa phương không dám dùng sắc đỏ, những người đến lẽ hoặc xem, ai mặc sắc đỏ đều phải cởi ra. Tương truyền thần mất về binh khí, nên kiêng màu đỏ giống máu.
Trích: Thăng Long - Hà Nội: Tuyển tập tư liệu văn hiến. Địa chí. Nxb. Hà Nội, 2010 và Huyện Phúc Thọ - Làng xã và những di sản văn hóa. Hà Nội, 2010.

-->đọc tiếp...

CHÚC MỪNG SINH NHẬT TTX BA SÀM 4 TUỔI

Anh Ba Sàm tự bạch:

Ba Sàm 4 tuổi

Chào đời

Ngày 9-9-2007, hắn chào đời trong căn nhà nhỏ của Yahoo! 360, với Tuyên ngôn “Phá vòng Nô lệ” và “Đảng viên hay Ông chủ” – một trong nhiều bài viết của mình đã đăng báo trước đó.

Hai năm sau, không biết có phải vì sức liên kết xã hội giữa các cư dân mạng rất mạnh, được người Việt đặc biệt hâm mộ, khiến Yaoo!360 không kham nổi và làm “cơ quan chức năng” phải e ngại, nên đã tuyên bố đóng cửa. Các blogger chạy tứ tán, BS thì nhào vô hệ thống WordPress này. Hai lần tạm ngưng, “đi nhà trẻ” để “học hỏi thêm”, hai lần bị tin tặc cướp nhà, mới giành lại được 2 tháng mà đã có 7 triệu lượt bà con ghé thăm. Không thể nói cho hết lời cảm kích trước sự quan tâm, đóng góp của độc giả khắp trong, ngoài nước, của các cộng tác viên, người thân và bạn bè.

Chính sức liên kết xã hội và khả năng truyền tải thông tin mạnh mẽ của blog, trong khi thực trạng báo chí nước nhà thì quá tệ, đã khiến BS mơ có một nơi mà ở đó mọi người có thể dễ dàng, nhanh chóng tìm được rất nhiều thông tin đa chiều. Không những vậy, họ còn có thể được tự đánh giá, thử thách mình và học hỏi về kiến thức, lối sống, cách ứng xử, v.v.. Nơi đó sẽ giúp thêm việc khích lệ, tạo điều kiện chưa từng có cho mỗi cá nhân chỉ bằng phương tiện trên máy tính mà cũng có thể hy sinh chút ít thời gian, công sức để chia sẻ một cách nhanh chóng những hiểu biết, quan điểm của mình cùng mọi người trên khắp thế giới bằng những bài viết, ý kiến. Thêm nữa, nó cũng là nơi dung hòa “hai thế giới” thông tin của người Việt – gần đây được mệnh danh là “lề trái” và “lề phải”.

Từ ý tưởng đó và mục tiêu qua bản “Tuyên ngôn” nhằm nâng cao dân trí nên ngay từ ban đầu BS đã tự đặt cho trang blog nhỏ bé cái danh hiệu “Thông tấn xã Vỉa hè”.

Vào đời

4 năm qua, cũng có thêm kha khá kinh nghiệm để bàn chút về những biến đổi không ngờ trên thế giới mạng liên quan tới làng báo Việt Nam, sau vài bài viết như Mò mẫm làng báo chí, Nhặt báo, Xin được nhặt hạt sạn cho báo chí.

Phải nói ngay rằng việc quản chặt báo chí, theo lối không cần luật mà chủ yếu theo “lệ”, như nhiều năm nay có thể làm cho chính quyền “yên tâm” trước mắt, nhưng mặt trái cho chính họ là từ cán bộ, nhân viên, cho tới giới lãnh đạo đều rất thiếu kiến thức, thông tin chính xác đặng giúp nâng cao năng lực xử lý công việc, thậm chí còn bị đầu độc thông tin dẫn đến quyết định sai. Hậu quả đã được thể hiện quá rõ trên mọi mặt của đời sống xã hội.

Dân chúng thì luôn khát khao có được và được chia sẻ nhiều thông tin, tri thức. Người đọc tự kiếm tìm cho mình, người viết muốn được tự do viết, không bị tầng tầng lớp lớp kiểm duyệt làm mất đi hứng thú, thui chột tài năng.

Ban đầu, blog chỉ được coi như những trang “nhật ký cá nhân”. Nhưng rồi mọi sự đã thay đổi hàng ngày, khi mỗi bài viết ra, các blog có được thêm nhiều độc giả, nhất là những lời góp ý, bổ sung, khen chê công khai – thứ mà cả những tờ báo quốc doanh lớn nhất cũng không có được. Sức cọ sát với xã hội, mang hơi thở cuộc sống là không thể tả hết.

Tin tức đi, đến nhanh trong chớp mắt, việc kiếm tìm cũng vô cùng thuận lợi khi sức mạnh khủng khiếp của công nghệ Internet được tận dụng tối đa. Những con người nhiệt huyết, ham hiểu biết trên khắp thế giới gặp gỡ nhau, thân quen, động viên, chia sẻ chuyện buồn vui cũng thật dễ.

Ngày càng có nhiều những blog như một trang báo, tạp chí nhỏ. Báo quốc doanh, báo giấy đứng trước những thách thức lớn. Bị mất độc giả. Lối viết nặng tính tuyên truyền, áp đặt tư tưởng khuôn sáo cũ kỹ, ngược với giọng văn bình dị, chân thực của cư dân mạng. Cơ cấu xơ cứng, ù lì nhiều khi phải ngượng trước một loại hình truyền thông nhạy bén, linh hoạt không ngừng. Kể cả những nguyên tắc ứng xử văn minh trong hoạt động báo chí, với đồng nghiệp, với độc giả, cũng bị thách thức. Không những vậy, mà còn bị soi lưng, được đem ra so sánh với những đối thủ tí hon, không một xu bao cấp từ nhà nước. Tương lai cho báo chí tư nhân đang được hình thành.



Một bài dịch từ báo Trung Quốc như mặc nhiên công nhận cho hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam, một chương trình truyền hình tự nhiên “quên” dự báo thời tiết khu vực biển đảo Trường Sa-Hoàng Sa, một bài viết quảng bá vô ý thức cho du lịch Trung Quốc, hay chỉ là một cái tựa dở của bài báo nào đó, … và rất nhiều biểu hiện cần chấn chỉnh trên hệ thống truyền thông nhà nước đã được cư dân mạng phát hiện, nhắc nhở, cùng BS lên tiếng phê phán, đem lại những hiệu quả đến không ngờ.

Nhiều độc giả đã trở thành những “cây viết”, có khi chỉ là những ý kiến phản hồi, có người thì lập hẳn blog riêng cho mình. Rất nhiều nhà văn, nhà báo, trí thức, cựu quan chức say sưa viết, không còn bị bó buộc trong cái môi trường “quốc doanh” nữa. Chính trị không còn là chủ đề xa lạ, khô khan như những năm trước mà cư dân mạng thường ghét. Giờ ngược lại, nó là thứ có sức nóng hơn cả.

Thái độ quay lưng một cách cực đoan với báo chí quốc doanh của độc giả không còn như xưa. Họ có thể thề không bao giờ cầm tới tờ báo giấy quá tệ, nhưng vẫn chấp nhận ngó vào một bài viết được điểm từ chính trang mạng của báo đó. Họ cũng không còn khinh bỉ bỏ qua một bài báo tệ hại, mà giờ là sẵn sàng đọc kỹ, viết ra hàng trăm lời bình nghiêm khắc, sắc sảo. Nhiều phản hồi của độc giả xứng đáng như một bài báo nhỏ. Nhiều tin, bài hay được độc giả phát hiện, loan báo để cùng nhau thưởng thức, cùng tìm đến mục tiêu có được một trang báo thực sự của NHÂN DÂN chứ không phải chỉ là thứ mượn danh hão.

Những công chức, đảng viên “kiên định lập trường”, tưởng như cả đời chỉ mụ mị với tờ “báo đảng”, nay cũng đã tìm được cách bù đắp thông tin đa chiều phong phú cho riêng mình. Những người căm ghét phương tiện truyền thông nhà nước bao năm, nay cũng đã quen lối đọc mới. Cả hai phía đang cùng có chung một nơi chia sẻ thông tin mà họ cho rằng không “cực đoan”, một chiều. Ở đó không chỉ như cái quán ăn tự chọn, một phiên chợ quê, nhà ga thông tin trung tâm mọi người thỏa sức kiếm tìm, trao đổi, … mà còn như một đài quan sát để từ đó có thể nhìn thấy toàn cảnh báo chí trong, ngoài nước, trong nhà nước và ngoài xã hội.

Các nhà báo, tòa báo cũng đã nhận ra nhiều áp lực phải tìm cách thay đổi trong cái khuôn khổ chật hẹp. Mở blog riêng, chấp nhận đăng bài không theo ý “trên” nhưng trúng ý dân để rồi có thể bị “nhắc nhở”, phải sửa lại nội dung, ngưng đăng tiếp, gỡ bài xuống, v.v.. cũng là những cách xoay xở nhất định. Trong khi đó thì vài “cây viết” hiếm hoi trên làng báo quốc doanh tập tọng nhảy vào lĩnh vực chính luận với lối chụp mũ, chửi đổng, vu vạ, nói lấy được truyền thống đã phải chịu ê chề trước búa rìu dư luận chưa từng có cho kẻ quen thói “múa gậy vườn hoang”.

Đổi đời

Có thể từ những hiện tượng trên sẽ giúp cho chính quyền phải nghĩ nhiều hơn tới hoạt động thông tin truyền thông, không thể cứ co thủ mãi.

Không thể thuyết phục nổi khi có bao nhiêu hiện tượng thu hút dư luận trong, ngoài nước ghê gớm, từ trên mạng cho tới ngoài đời, thậm chí những hiện tượng mà lẽ ra nhà nước phải phát động chiến dịch tuyên truyền rất mạnh, vậy mà báo chí quốc doanh thì lạnh tanh, hoặc may ra chỉ vài dòng tin ngắn ngủi đến thảm hại.
.
Không thể phỉnh được những người am hiểu, ví như với cùng một bài viết thì trên báo quốc doanh Hà Nội Mới chỉ có được một phản hồi ủng hộ, trong khi nó được đăng lại trên trang Ba Sàm này thì đã đạt kỷ lục với hơn 600 ý kiến độc giả mà gần như 100% là phê phán nghiêm khắc.

Không thể chấp nhận được khi hầu như không có cây viết chính luận nào công khai, sắc sảo, có diễn đàn, để bảo vệ những quan điểm của đảng, nhà nước, tranh luận trực diện với cả trăm cây viết “ngoài quốc doanh”, ngàn vạn độc giả luôn được quyền tự do lên tiếng trên các mạng xã hội đang chiếm thế áp đảo tuyệt đối.
Khó cho chính quyền khi có những thông tin cần cho dân chúng biết, nhưng vì “đối ngoại” hay lý do “tế nhị” nào đó mà hệ thống báo chí quốc doanh không tiện đăng, trong khi báo tư nhân không có. Lại phải lặng lẽ cậy nhờ báo, blog “ngoài luồng”?

Không thể không nói là khôi hài khi ngày càng nhiều quan chức, đại biểu dân cử phải dùng thông tin “phi chính thống” để bàn định chuyện đại sự quốc gia, để bổ túc cho kiến thức nghèo nàn, méo mó của mình.

Không thể … nói hết những nghịch lý, mà đỉnh cao của nó mới đây chính là 11 cuộc biểu tình yêu nước thành công ngoài sức tưởng tượng với đóng góp rất lớn của cư dân mạng, trái ngược hoàn toàn với không khí im lìm gần như tuyệt đối của bộ máy tuyên truyền nhà nước khổng lồ; để rồi khi mở miệng nói càn thì liền phải đối mặt với một vụ kiện chưa từng có. Le lói những mầm non cho một xã hội dân sự đích thực.

Và cuối cùng là không thể chứng minh nổi tính chính danh nếu như môi trường thông tin, tri thức trong dân chúng thì cứ tiến tới với không khí hừng hực theo đà phát triển công nghệ và xã hội cởi mở, mà truyền thông nhà nước thì cứ mãi lùi sâu vào hang tối.

Những bộ mặt quá tương phản đó sẽ ngày càng rõ hơn trên cái sân khấu chung này–Thông tấn xã Vỉa hè.
________________________

CHÚC MỪNG SINH NHẬT ANH BA SÀM




-->đọc tiếp...