Blogger Widgets

Thứ tư, ngày 17 tháng tám năm 2011

CON VOI SẮP BIẾN THÀNH CÁI KIẾN



CON VOI SẮP BIẾN THÀNH CON KIẾN

Đối thoại giữa Nhân dân và GS Cù Trọng Xoay

Nhân Dân (ND)- Thưa GS, nghe tiếng GS cực kỳ uyên bác. Em xin hỏi GS một việc được không ạ?

GS Cù Trọng Xoay(GS)- Được được, xin mời, một điều chứ 10 điều cũng Ô-Kê!

ND- Cảm ơn GS! Theo GS thì nước mình có Phù thủy không ạ?

GS – Không , làm gì có. À , có có, có mấy anh làm ảo thuật trong rạp xiếc để mua vui . Ảo thuật với phù thủy thì cũng na ná nhau. Và hình như còn có ở trong chuyện cổ tích nữa, dọa trẻ con là chính ấy mà.

ND- GS nói thế nào, em thấy phù thủy đầy cả ra…

GS – Thế à? Sao GS lại không biết nhỉ? Ở đâu cơ?

ND – Ở ngoài đời ấy, lĩnh vực nào cũng có, thưa GS.

GS- Lạ nhỉ? Chả nhẽ mắt GS mờ rồi sao? Ví dụ cho GS một trường hợp xem nào?

ND – Một trường hợp thôi nhé, Đây, GS xem : ngày 3-6 các báo đồng loạt đưa tin : Kế toán Cục ĐA ôm 42 tỷ đồng bỏ trốn…

GS- Có có, GS có biết tin này. Đăng tin khởi tố vụ án. Nhưng sau đó tịt luôn chả thấy báo nào thông tin gì nữa, sao thế nhỉ?

ND- Phù thủy đấy. Phù thủy hóa phép đấy. GS sợ chưa?

GS- Ừ, kể cũng sợ. Cũng thấy ghê đấy…Phù thủy nào mà giỏi thế?

ND- Phù thủy bảo lúc này đang họp TƯ, rồi họp Quốc hội- phiên đầu tiên để phân ghế…

GS- À, hiểu rồi. Giữ ghế là điều quan trọng , thông cảm thông cảm…

ND- Nhân dân thông cảm rồi nhưng sau khi yên vị , giữ chắc được ghế rồi thì sao GS biết không?

GS – Thì sờ đến cái đám quản lý kém đánh mất tiền kia cho nó một trận chứ sao nữa!

ND- ( khóc) Được thế đã phúc GS ơi, đằng này phù thủy lại quay ra dỗ dành, nựng nịu các vị ấy rằng” Thương lắm, thương lắm, cứ tiếp tục làm việc đi…cố lên, không sao đâu!” Thế có nghĩa rằng thụt két 42 tỷ chẳng là cái đinh gì, ngành đấy khổ chứ chúng mày việc gì phải khổ, phải lo.Đã có bố mày đây rồi, sợ gì nào!Con ơi, cứ tiếp tục thụt két nữa nhé, nhân dân nó có ghét, nó có khinh, con có nhục một tí thì cố mà nhịn thế chả hơn đi tù à?

GS- Khiếp thật đấy, GS Cù Trọng Xoay đây mang tiếng xoay được đủ ngón mà cũng xin vái cả nón…

ND- Chưa hết đâu GS ạ. Ngày 11-8, mới hôm nay đây này, họ còn tổ chức họp báo nữa cơ, nhưng mà vị chủ của ngôi nhà bị thụt két đó không xuất hiện, đẩy vị phó chủ trì. Vị phó này cách đây 1 tháng còn mất ăn mất ngủ tinh thần bạc nhược mặt mày xám ngoét, nay bỗng nhiên cao giọng “ Cục điện ảnh thụt két chỉ có 35 tỷ thôi nhé- không phải 42 , chúng tôi bị lừa thôi” he he..nghe sướng chưa GS?

GS- Kinh! Kể cũng muối mặt đấy nhỉ. Chắc đằng sau có phù thủy kễnh yểm trợ rồi.

ND- Chắc thế. Làm sao bây giờ hở GS? Chả nhẽ Nhân dân là người thắt lưng buộc bụng, ki cóp tiền để đóng thuế cho các vị đó cai quản- các vị ấy quản không ra gì giờ lại chính nhân dân phải hứng chịu chuyện này à?

GS- Làm gì có chuyện đó. Thử sang hỏi bên Công An xem?

ND-( thở dài) Ối giời ơi…hỏi rồi, họ bảo còn đang trong giai đoạn điều tra…cam đoan với GS, xuồng đang từ từ chìm và VOI đang biến thành KIẾN rồi GS ạ. Hu hu…

GS-( Lắc đầu) Thế thì ta cũng chịu. Bệnh nan y quá…chỉ có TRỜI may ra mới cứu được. Thôi, chịu khó đi hỏi TRỜI vậy!

Tác giả : Vì Dân

Thư của ông Nguyễn Hàn:

Kính gửi ông.......
Thưa ông,

Ngày 3/6/11 các báo CAND, Tiền phong... đã đưa tin Cục Cảnh sát điều tra Bộ CA ra lệnh truy nã tên kế toán viên Phạm Thanh Hải đã bỏ trốn sau khi làm thất thoát 42 tỷ đồng của Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa - TT - DL) trong suốt 3 năm từ năm 2009.

Với tư cách Cục trưởng, chủ tài khoản của Cục, ông Lại Văn Sinh , nếu khg phát hiện là đồng lõa với tên Hải, thì ít ra ông Sinh cũng phạm tội "thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". (Ngày 3/8 vừa rồi, ông Phùng Hiền, nguyên Tổng biên tập báo "Người cao tuổi", vì để cấp dưới làm thất thoát 380 triệu - chưa bằng 1 phần trăm ông Sinh ! - đã bị khởi tố vì tội "thiếu trách nhiêm gây hậu quả nghiêm trọng ).

Vậy mà Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh vẫn ưu ái giữ nguyên chức cho ông Sinh, lại rót thêm cho Cục 5 tỷ đồng để tổ chức Liên hoan Phim QG và giao cho ông Sinh làm Trưởng ban Tổ chức. Thật là bất chấp dư luận và công lý ! Chẳng lẽ 42 tỷ đồng tiền thuế của dân bị ông Sinh làm thất thoát là vỏ hến cả sao !

Kính đề nghị ông cho điều tra và trước mắt đề nghị có ý kiến để ông Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh tạm đình chỉ chức Cục trưởng của ông Sinh để phục vụ công tác điều tra.

Trân trọng,

Nguyên Hàn, một cán bộ Hãng Phim truyện VN, số 4 Thụy Khuê, Q. Tây Hồ, Hà Nội.
Hà Nội, ngày 10/8/11

-->đọc tiếp...

SỐNG THẬT - NGHĨ VỀ LỚP NGƯỜI CÓ NHIỀU TRONG XÃ HỘI

Gia đình tác giả. Ảnh: Lê Dũng
Sống thật - Nghĩ về lớp người có nhiều trong xã hội

Vinh Anh
                                                                            
Thời nào cũng vậy, lớp người đó lúc nào cũng nhiều, cũng đông đảo. Đông đảo nhưng không làm được nổi chuyện gì to tát. Mặc dù, trong đó cũng rất nhiều người thuộc thành phần có học và luôn tự hào lại hay vỗ ngực với danh nghĩa “trí thức” của mình, dẫu rằng trong đó có những cái danh tự phong, cái danh mua được hay là cái danh nhờ sống lâu mà có.

Đa số người được sinh ra, cha mẹ họ và sau này là bản thân họ luôn mong muốn được sống cuộc đời bình lặng, êm đềm, hòa vào đám đông. Thậm chí còn có người luôn muốn bị nhòe, bị chìm đi trong đám đông, nghĩa là muốn thuộc về lớp người có nhiều trong xã hội. Và thực vậy, ông giời không cho cái đa số đó bất cứ một cái gì mà người đời gọi là “tài” để được phô lộ ra trước bàn dân thiên hạ. Có lúc cũng lẩn thẩn tự hỏi, vậy thì mình cũng phải cố là cái gì trong số đông nhiều người đó? Hoặc đôi khi cũng “kiên cường” cố gắng vươn lên thoát ra khỏi đám đông chỉ quen thừa hành đó, bởi vì đôi chỗ gặp phải cái “nhiễu sự” mà người đời gọi là “bức xúc”. Nghĩa là cảm thấy cũng trạnh lòng trước một sự bất công. Rồi tự hỏi mình, nếu thế mình liệu còn có thuộc cái số đông không làm nên trò trống gì đó không?

Lại một điều nữa, có lẽ cái điều này cũng vốn sẵn có ở cái lớp người có nhiều trong xã hội. Cái điều thường có khởi điểm từ khi mà tuổi đời đã qua bên dốc, khi mà con người luôn chỉ biết những điều hay về mình, còn điều dở thường là ít và đôi khi họ không hề nghĩ tới. Nếu tập hợp những điều hay của họ, thì sẽ thấy họ là tập hợp của những điều tốt vốn có ở trên đời, luôn cho rằng mình hiểu đời, hiểu hơn cái người đang đối thoại với mình và ít khi hoặc là không bao giờ cho rằng mình lại sai. Điều đó càng dễ xảy ra với những người đã từng có một vị trí, một loại vai vế tầm tầm nào đó trong xã hội. Đó là “cái lý” luôn cho mình đúng, mình biết và mình hiểu. Cái lý của thói quen ra lệnh và quen thấy người phục tùng. Lớp này cũng đông đấy. Mà nếu thoát ra khỏi được cái lớp đó, họ tất sẽ trở thành người có khả năng khác người, sẽ thuộc về số ít.

Bản tính con người vốn có những điều hay, điều dở như thế!

Với những người có ít nhiều suy nghĩ và cảm nhận cái đẹp của cuộc sống theo cái nghĩa nguyên thủy của cái đẹp-cái đẹp là sự tinh khôi-khi cuộc đời đã ở bên kia dốc, người ta hay níu kéo. Níu kéo để vớt vát lấy một điều gì đó của cuộc đời. Đó là cái lẽ thường tình. Càng sống càng cảm thấy cuộc đời quá ngắn ngủi và quý giá nhưng con người mình mới chỉ làm được rất ít, rất nhỏ nhoi cho cuộc sống. Rồi sẽ một lúc nào đó, con người ta ân hận. Ân hận vì nhiều lẽ và có thể cái lẽ đầu tiên mà ta nghĩ đến là ta đã sống một cuộc sống không thật với mình.

Con người ta vẫn luôn có sự dằn vặt như vậy. Đó là sự dằn vặt đáng quý, đáng trân trọng. Dẫu rằng khi biết cuộc đời chẳng còn là mấy, thì đã là quá muộn. Muộn nhưng vẫn quý vì biết đâu đấy, nỗi niềm dằn vặt đó sẽ nhen nhóm thức tỉnh được đôi người ở cái đám người đông đảo trong xã hội kia.

Con người vì nhiều lẽ luôn phải sống một cuộc sống không thật với mình lắm. Bình thường ta không hay nghĩ đến. Cũng có thể nói ta lười nhác xen lẫn sợ hãi khi nghĩ đến nó. Đó là một số không đông trong cái gọi là đám đông có nhiều trong xã hội. Cũng có một số người ngượng ngùng, xấu hổ khi nghĩ đến nó. Nhưng thực ra, họ đang ngại đối diện với chính mình, bởi vượt qua được mình, đời đã nói rồi, là vượt được một cửa ải khó khăn nhất. Đó là những con người tự cho mình thuộc loại có “trí thức” và còn biết tự trọng. Chỉ một số không lớn trong cái số “trí thức” bên trên đã kể, có được cái ý nghĩ đó. Ở một góc nào đó, với lòng vị tha vốn có của con người, đời vẫn có thể thông cảm và tha thứ.

Bàn về cái sự không dám sống thật với mình là cả một đề tài lớn và tôi nghĩ, trong bất kỳ một xã hội nào, vẫn luôn tồn tại một lớp người không dám sống thật với mình. Tùy sự cởi mở của xã hội đó, lớp người sống không thật với mình đó sẽ nhiều hoặc ít. Trong xã hội ta, tôi nghĩ, số người sống không thật thuộc loại nhiều. Cũng đồng nghĩa với sự ít cởi mở của xã hội. Đó là điều đáng buồn!

Từ cái sự buồn vì không dám sống thật với mình bởi nhiều lẽ, lâu dần, dẫn đến một hệ lụy khác đáng buồn hơn là thái độ vô cảm trong cuộc sống. Nghĩa là con người trở nên nhỏ nhen, ích kỷ, chỉ bo bo bám lấy cái lợi cho cuộc sống của cá nhân mình.

Tôi luôn tự hỏi, có phải cuộc sống hiện nay của chúng ta có quá nhiều sự hời hợt và có quá ít sự đồng cảm. Dẫu rằng qua mỗi đợt thiên tai tàn phá hay một cá nhân nào đó gặp phải bất hạnh trong cuộc đời, ta vẫn thấy có những phong trào, những lời kêu gọi hô hào, những tấm lòng chân thật thể hiện cái tình đồng bào: “lá lành đùm lá rách”. Những điều đó vẫn đều đều hàng năm thường xuyên diễn ra và cái ngày “tình thương” cũng vẫn cứ đều đều lặp lại. Sự lặp lại gây cho người ta một cảm giác nhạt nhẽo. Sự vô cảm sẽ dần dần xâm lấn.

Có nhàm quá không khi tình thương không xuất phát từ sự rung động của con tim và khối óc dẫn đến suy nghĩ về một sự thôi thúc tự giác. Tôi muốn nói đến những ngày lễ kỷ niệm, những cuộc gặp gỡ thể hiện cái sự nổi nênh, bề mặt của phong trào luôn đầy rãy trên truyền hình trực tiếp. Nó được phô diễn bằng sự ồn ào nhưng lại cảm thấy ngày càng ít cái sự sẻ chia. Rất nhiều cuộc biểu dương, vinh danh mang tính hình thức lẫn trong đó có cả sự háo danh.

Từ đó tôi lại liên hệ đến sự giả dối của con người thời nay. Hàng ngày chúng ta gặp quá nhiều sự giả dối: Báo đài đưa tin không thật, nặng về tô vẽ theo một chiều có chủ định trước, những lời hứa hẹn không được thực hiện, những công trình mang dấu ấn đất nước như những dấu hỏi đập vào mắt nhân gian, những đồng tiền mồ hôi nước mắt của người lao động bị tiêu xài vô lối, những cánh đồng bờ xôi ruộng mật biến thành những sân gôn phục vụ cho một số người… Tất cả những điều đó đều liên quan đến sự giả dối của một số người có quyền chức. Sự giả dối đã đến với trường học, nơi đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước mà ta chưa có biện pháp ngăn chặn. Vâng, tôi không muốn nghĩ đến một bức tranh u ám, cũng không hề muốn mang nghĩa cảnh tỉnh, tôi nói những điều đó ra chỉ là để chứng minh sự giả dối đang ở quanh chúng ta, bao bọc chúng ta bằng một sức mạnh vô hình.

Con người cứ như vậy tất dần trở thành lạnh lùng vô cảm trước những sự việc xảy ra trong đời sống. Sự quan tâm đến nhau trở thành hàng xa xỉ. Thói ích kỷ, thói quen xấu được hình thành và được tiếp nhận nhanh chóng đến kỳ lạ. Điều chưa xa ta từng học “sống vì mọi người” được coi như một nguyên tắc sống bỗng dưng trở thành xa lạ. Vậy là chỉ trong một thời gian ngắn mở cửa, cái xã hội mà con người đang mơ ước tiến tới sự hoàn thiện và nhân văn đó tiêu tan nhanh chóng. Sự thỏa mãn cho cá nhân, cho gia đình, cho một nhóm người được coi là “sự thay đổi tất yếu theo thời đại”. Thời đại “cái tôi” vị kỷ lên ngôi.

Nhưng ít người đặt lại vấn đề, vì sao trong xã hội, trong cuộc sống lại có con số đông không sống thật đó. Cùng với những biến đổi của thời cuộc, tôi cho rằng đó là hậu quả được tích tụ của lối tư duy mang nặng tính bao cấp đã ăn sâu vào trong nếp nghĩ và đến nay vẫn chưa được cởi bỏ, chưa có điều kiện cho sự cởi bỏ. Từ cái lười suy nghĩ (bởi bị bao cấp) đến nỗi sợ hãi vô hình mà lại rất hữu hình, nếp sống an phận thủ thường, đèn nhà ai nhà nấy rạng lấn át, đó là tiền đề của sự vô cảm…và thêm nữa, sâu hơn, sự hiểu biết về các quyền làm người còn rất hạn chế, nếu không muốn nói là thiếu hiểu biết. Đó chính là bao cấp trong tư duy, con người chỉ đi nói lại những điều mà có người đã nói.

Nói về sự “suy nghĩ”, có thể hiểu là cái điều mà đa phần nó vẫn còn nằm ở trong đầu mỗi con người. (Đương nhiên là cũng có nhiều suy nghĩ (tư duy) được thể hiện ra ngoài bằng những công việc cụ thể). Nó là một sự riêng rất thiêng liêng của mỗi cá nhân. Bởi sự suy nghĩ trong xã hội ta đến nay vẫn là một lối suy nghĩ mang nặng sự bao cấp cho nên lòng yêu nước, một tình cảm rất thiêng liêng của mỗi con người trước các sự kiện đang diễn ra ngày hôm nay vẫn mang tính bao cấp là một điển hình. Tôi nghĩ về sự phản biện cần phải có để đẩy mạnh sự phát triển của xã hội và lại ngậm ngùi, ngay trong tư duy cũng bị bao cấp thì tìm đâu ra, hi vọng sao có  được sự phản biện để thúc đẩy xã hội tiến lên.

Là một công dân Việt, hơn nữa lại là Đảng viên-những người luôn phải đi tiên phong (con số là ba triệu), có bao giờ chúng ta tự đặt lại một câu hỏi: Phải làm gì trước những hành động gây hấn của Trung Quốc. Tôi đã có một câu trả lời, đã có Đảng và Nhà Nước lo! Đó có phải là sự bao cấp trong tư duy? Nhưng tôi biết đó là câu trả lời chưa thật với những người có suy nghĩ. Vậy còn chờ gì nữa, chúng ta hãy sống thật với mình đi!

                                                                                      Vinh Anh
                                                                                      13/6/2011

-->đọc tiếp...

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM: KHI TRÍ THỨC DẤN THÂN

Ảnh: Tư liệu

 

Cách mạng Tháng Tám: Khi trí thức dấn thân

Đoan Trang

Cho đến nay, nhiều tài liệu lịch sử đã khẳng định liên minh công - nông - trí là nền tảng sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Nhưng nói như vậy có lẽ chưa đủ để xác nhận vai trò to lớn của lực lượng trí thức Việt Nam, đại diện cho trí tuệ và tinh thần dân tộc của nhân dân trong các cuộc đấu tranh giành độc lập.

Khi tìm hiểu về “vai trò của trí thức trong Cách mạng Tháng Tám”, người viết bài này đã có dịp hỏi chuyện ông Nguyễn Trọng Xuất (tức Sáu Nhân) - nguyên Tổng Thư ký bộ phận biên tập “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến”, một cán bộ kỳ cựu, tham gia cách mạng từ thời 1945-1946. Căn nhà của ông ở số 51/10/14 Cao Thắng, Phường 3, Quận 3, TP HCM nay là di tích lịch sử cách mạng “Cơ sở Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ”.

Xuất thân là một nhà giáo (từng làm Bí thư chi bộ Giáo viên TX Mỹ Tho), ông Xuất có cảm tình đặc biệt đối với trí thức mà theo ông là lực lượng góp mặt nổi bật trong lịch sử Việt Nam giai đoạn tiền khởi nghĩa và Cách mạng Tháng Tám.

Ông cho rằng, trí thức trong xã hội Việt Nam thời kỳ ấy có một số đặc trưng. Thứ nhất, về kiến thức, thì đứng trên mặt bằng thời đó, học sinh - sinh viên đã là trí thức rồi. Thứ hai, trí thức Việt Nam có tình cảm dân tộc rất sâu sắc. Thứ ba, các trí thức đều có tinh thần dám dấn thân, “không trùm mền” (từ dùng của ông Xuất). Theo ông Xuất, thậm chí ngay cả số “trùm mền” cũng là “vì giữ tiết tháo, không muốn hợp tác với Pháp”; hoặc nếu có quan hệ với thực dân Pháp thì cũng vì mong muốn vận động Pháp cải thiện đời sống và mở rộng tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Sôi sục trí thức trẻ…

Trí thức trẻ của ngày trước là các học sinh - sinh viên. Họ chính là nòng cốt của Thanh niên Tiền phong (TNTP) – tổ chức chính trị mạnh nhất và là lực lượng chủ yếu tham gia giành chính quyền ở Nam Bộ trong Cách mạng Tháng Tám. Ông Xuất, năm ấy mới 13 tuổi, là thành viên của Thiếu niên Tiền phong, một bộ phận thuộc TNTP.

Ấy là vào năm 1945, sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Nhật “gợi ý” chính quyền thành lập một đoàn thể quy tụ thanh niên để xây dựng một lực lượng thân Nhật, chống Pháp. Thống đốc Minoda bèn đề nghị bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (tức Tư Đá, đảng viên cộng sản) đứng ra tổ chức đoàn thể này. Ông Phạm Ngọc Thạch báo cáo lại Xứ ủy Nam Kỳ (đứng đầu là ông Trần Văn Giàu), Xứ ủy quyết định thành lập TNTP, phát động phong trào Cứu quốc.

Vậy là TNTP ra đời. Ông Xuất kể lại: “Do có danh nghĩa công khai nên tổ chức lớn mạnh nhanh, khí thế lớn lắm; trong không tới 3 tháng đã thu hút 1,2 triệu thanh niên ở khắp Sài Gòn, Long An, Mỹ Tho, Tây Ninh, Đồng Nai. Phần lớn thành viên là tiểu tư sản học sinh - sinh viên, tức là trí thức. Trái với mục đích của Nhật Bản là xây dựng lực lượng thân Nhật chống Pháp, ủng hộ chủ thuyết Đại Đông Á, mục đích của TNTP đã luôn chỉ là ‘đem tài ra cứu nước nhà trong cơn nguy biến’. Điều đó làm nên khí thế yêu nước rất mãnh liệt của thời kỳ tiền khởi nghĩa”.

Có những gương mặt sinh viên rất nổi tiếng: Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Việt Nam, Võ Văn Khải, Mai Văn Bộ… Có các trí thức lớn: bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, nhà văn Thiếu Sơn, nhà nghiên cứu Lê Thọ Sơn, Thuần Phong, Huỳnh Xuân…

TNTP sôi nổi hoạt động: hội họp, mít tinh, cứu đói ở miền Bắc, cướp súng đạn của lính Pháp… Dần dần tổ chức mở rộng ra, có thêm TNTP Ban xí nghiệp (tức TNTP của công nhân), TNTP Phụ lão (tức Phụ lão Tiền phong), Thiếu niên TP, Phụ nữ TP.

Sau này nhớ lại, ông Nguyễn Trọng Xuất nhìn nhận: “TNTP là ngọn cờ mà người trí thức ở Nam Bộ giương lên. Quần chúng nhìn vào tổ chức, thấy có những trí thức như ông Phạm Ngọc Thạch, người ta mới tin tưởng. Trí thức là bộ phận tinh túy của dân tộc. Nói về trí thức thì đừng nên bị khuôn vào vấn đề giai cấp, mà hãy đánh giá họ cho thỏa đáng”.

Ở miền Bắc, trí thức trẻ cũng đã đóng vai trò lớn trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền. Một nhân chứng của thời đó, bà Lê Thi, con gái cố GS Dương Quảng Hàm, cho biết: “Lực lượng chính làm nên Cách mạng Tháng Tám ở thủ đô là tiểu tư sản học sinh - sinh viên. Không có lực lượng vũ trang vì khi đó quân của ông Võ Nguyên Giáp ở chiến khu chưa về kịp. Nhân dân Hà Nội đã tự đứng lên làm khởi nghĩa.

Khi tôi đi trong đoàn biểu tình, tôi thấy rất nhiều nữ sinh. Thời đó ở Hà Nội phụ nữ ăn mặc như vậy: Nữ sinh, con gái gia đình công chức luôn đóng bộ quần trắng, áo dài màu hoặc trắng. Tôi nhận thấy hôm đó rất đông các chị em quần trắng”.

Ảnh hưởng của các trí thức lớn

Ông Trần Văn Giàu đánh giá rằng trí thức Việt Nam, nhất là ở Sài Gòn - Gia Định, luôn đoàn kết với quần chúng nhân dân: “Trong hàng ngũ của TNTP, của Mặt trận Việt Minh… rất đông trí thức có học vị cao, chức cao, lương cao ở chế độ thực dân, ruộng vườn đồn điền cả ngàn mẫu, cả trăm mẫu, xe hơi, nhà lầu, thế mà họ vẫn tham gia cách mạng và kháng chiến, họ vẫn đi đến “mút mùa” với những trí thức bình thường, với nhân dân lao khổ”.

TS Hồ Hữu Nhựt, chủ biên cuốn Trí thức Sài Gòn - Gia Định 1945 - 1975, cũng nhận định: “Trí thức Tây học sớm truyền bá cả tư tưởng dân chủ tư sản và tư tưởng cộng sản chủ nghĩa vào Sài Gòn… Trong đấu tranh, trí thức có vai trò tập hợp, hiệu triệu quần chúng, họ đương đầu trực diện với kẻ thù”.

Và sức ảnh hưởng của trí thức thật to lớn. Trí thức đã sử dụng báo chí, văn nghệ để giáo dục lòng yêu nước, vận động đấu tranh giành độc lập. Những bài viết trên Đông Pháp thời báo của chủ bút Trần Huy Liệu, Thanh Niên của Huỳnh Văn Tiểng từng làm chấn động cả Sài Gòn.

Trước và trong Cách mạng Tháng Tám, những bài ca yêu nước của giới nhạc sĩ – trí thức Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi… như Gò Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Người xưa đâu tá, Lên đàng, Tiếng gọi thanh niên, Diệt phát xít… đã cổ vũ không ngừng cho khí thế người dân tiến lên giành chính quyền.

Sau Cách mạng Tháng Tám, khi thực dân Pháp trở lại, bản tuyên ngôn tập hợp hơn 200 chữ ký của trí thức ủng hộ Chính phủ kháng chiến chống Pháp đã ảnh hưởng cả tới công luận thế giới, thu hút sự chú ý và phản đối của công luận quốc tế với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương.

Nặng lòng với dân tộc

Trí thức Việt Nam đã đi theo cách mạng với tấm lòng và nhiệt huyết, thậm chí với cả một chút ngây thơ và nhát sợ khi mới bước vào cuộc chiến đấu. Ông Nguyễn Trọng Xuất cười kể lại: “Hồi đó, chúng tôi dũng khí thì có thừa đấy mà kinh nghiệm trận mạc, tổ chức đội ngũ chả có gì. Cướp được súng của Nhật, của Pháp, súng bự quá lại không biết cách tháo ra, cả chục người phải xúm lại khiêng một khẩu. Hồi đầu kháng chiến, nghe tiếng đạn đum đum cũng sợ. Đạn ngày đó, một viên bắn ra, lọt khỏi nòng nó nổ một lần, “cắc”, tới đích nó nổ lần thứ hai, “bòm”, nên gọi là đạn “cắc bòm” là vì vậy”.

Nhưng trí thức Việt Nam là thế, họ luôn gắn bó cùng đất nước trong một tinh thần dân tộc rất sâu nặng. Trọng nghĩa khinh tài, khí khái, dấn thân, đặc điểm đó nhiều ít ở mỗi người mỗi khác, nhưng cái chung của họ luôn là tình cảm đối với quốc gia và dân tộc. Chính điều này làm nên sĩ khí của họ. Trong lịch sử gần một thế kỷ chống Pháp, khởi đầu từ phong trào Cần vương của giới văn thân và sĩ phu yêu nước cho đến những nhóm chính trị đầu thế kỷ XX, trí thức luôn thể hiện tinh thần yêu nước của mình, dù ở những dạng khác nhau và theo những quan điểm khác nhau.

Tuy nhiên, cần phải nói là trong một thời gian dài, họ đã không có được một đường hướng đoàn kết và thống nhất, hoạt động của họ, lúc thì đi vào con đường bế tắc, lúc thì theo hướng trùm chăn "án binh bất động" chờ thời hoặc ngược lại, theo chủ trương bạo động mà chưa đặt trọng tâm vào vận động quần chúng nhân dân. Chỉ đến cuối năm 1944 và nhất là mùa xuân năm 1945, khi Mặt trận Việt Minh đưa ra những kêu gọi và đường hướng rõ ràng, cương quyết và mạch lạc cho cuộc cách mạng Việt Nam, thì giới trí thức mới thực sự đồng thanh dấn thân cho sự độc lập của dân tộc.

Tạm thời xếp lại một số bất đồng, đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết, sẵn sàng chiến đấu để giành và giữ độc lập cho đất nước dưới ngọn cờ của Việt Minh - ấy là một số nét cơ bản của đội ngũ trí thức tiêu biểu trong Cách mạng Tháng Tám, như lời tự thuật của nhà trí thức - nhà thơ Tú Mỡ:

Lên đường dẻo bước khoác ba lô
Mang theo ý chí người dân Việt
Thà chết không làm vong quốc nô. 
 Nguồn: Đoan Trang - Blog.
-->đọc tiếp...