Blogger Widgets

Thứ tư, ngày 10 tháng tám năm 2011

TIN NÓNG: TRUNG QUỐC TẬP TRẬN SÁT BIÊN GIỚI NƯỚC TA

Trung Quốc tập trận gần biên giới Việt Nam

Cập nhật: 05:08 GMT - thứ tư, 10 tháng 8, 2011 

Trung Quốc nói đây chỉ là hoạt động thường niên


Bộ Quốc phòng Trung Quốc lên tiếng giải thích việc tập trận gần biên giới với Việt Nam chỉ là 'hoạt động thường niên'.

Giải phóng quân Trung Quốc vừa tổ chức tập trận ở Khu Tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây, dọc đường biên với một số tỉnh phía Bắc của Việt Nam.

Tuy thời điểm của hoạt động này không được thông báo rõ, nhưng nó cũng làm dấy lên đồn đoán trên các trang mạng của Trung Quốc về một sự "huy động lực lượng" quy mô lớn trong bối cảnh đang có căng thẳng Trung-Việt quanh vấn đề chủ quyền tại Biển Đông.

Phản ứng trước các tin đồn này, hôm thứ Ba 09/08 Bộ Quốc phòng Trung Quốc ra thông cáo nói cuộc tập trận do Quân khu Quảng Châu thực hiện mới rồi chỉ là hoạt động định kỳ thường niên và báo chí không nên đưa tin đồn quanh sự việc này.

Các kênh thông tin chính thống của Việt Nam chưa thấy có bình luận gì về cuộc tập trận.

Trong quá khứ Hà Nội đã một vài lần phản đối hoạt động tập trận của Trung Quốc tại các khu vực mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, như các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Biển Đông.

Ngược lại, Bắc Kinh cũng chỉ trích hoạt động tương tự của quân đội Việt Nam, nhất là các hoạt động có sự tham gia của một nước thứ ba.

'Trả giá đắt'


Trong khi đó, truyền thông Trung Quốc lại một lần nữa cảnh báo "một số nước" liên quan tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại Biển Đông.

Tờ Nhân dân Nhật Báo của Đảng Cộng sản nước này mới đây có bài nghiêm khắc chỉ trích việc quân đội Philippines xây cất cơ sở trên đảo Flat (tiếng Việt là đảo Bình Nguyên) tại quần đảo Trường Sa, mà Trung Quốc gọi là Nam Sa.

Bài trên Nhân dân Nhật báo gọi việc này là sự vi phạm chủ quyền của Trung Quốc và vi phạm Tuyên bố chung của các bên liên quan về Biển Đông (DOC).

Bắc Kinh nói đây là lãnh thổ truyền thống của mình.

Bài báo viết: "Giải quyết vấn đề chủ quyền Biển Đông là một quá trình lâu dài và phức tạp".
Theo đó, các bên cần gây dựng tin tưởng lẫn nhau để đặt nền tảng cho đàm phán song phương trong tương lai.

"Trung Quốc không phản đối việc thương lượng đưa ra các tiêu chuẩn ràng buộc khi nào có thể được nhưng cho rằng quan trọng nhất lúc này là hợp tác trên thực tiễn."

Nhân dân Nhật báo nhắc lại rằng Trung Quốc vẫn đề cao chủ trương "gác tranh chấp để cùng khai thác" nhưng các quốc gia liên quan cần hiểu rõ rằng điều này không có nghĩa "một số nước nào đó có thể xâm phạm lãnh thổ của Trung Quốc".

"Bất cứ quốc gia nào có sự nhìn nhận chiến lược sai lầm về chủ đề này chắc chắn sẽ phải trả giá đắt."

Nguồn: BBC Việt ngữ.



-->đọc tiếp...

BÁO CÔNG LUẬN PV NGUYỄN XUÂN DIỆN VỀ LỄ VU LAN

Nguyễn Xuân Diện thăm chùa Keo - Thái Bình

Phật giáo không chủ trương đốt vàng mã
Thứ Ba, 24/08/2010-9:57 AM

(CL)- Nhân lễ Vu lan rằm tháng 7 hay còn gọi là ngày rằm xá tội vong nhân PV đã có trao đổi cùng TS. Nguyễn Xuân Diện, Viện nghiên cứu Hán Nôm về ngày lễ này.

PV:
Xin TS có thể cho biết nguồn gốc của lễ Vu Lan?

TS Nguyễn Xuân Diện: Trước hết lễ Vu Lan có nguồn gốc từ Phật giáo, cụ thể là xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiều Liên đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ và sự tích lễ cúng cô hồn.

Còn Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước. Vu-lan là từ viết tắt của Vu-lan-bồn cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa là cách phiên âm Phạn- Hán từ danh từ ullambana- chỉ sự khổ đau kinh khủng khi sa đoạ địa ngục.

Phật giáo cho rằng tinh thần cốt lõi nhất trong ngày lễ Vu Lan dịp Rằm tháng Bảy là chữ "hiếu". Đối với đạo Phật, thực hành hiếu thảo cũng là con đường của mọi Phật tử. Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể gọi là một Phật tử chân chính được.

Sự tích lễ cúng cô hồn tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì vậy, ngày nay mới có câu: "Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân".

Trong một số nước Á Đông, ngày lễ này thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 âm lịch, để tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông bà tổ tiên và cũng để bố thí cho những linh hồn đói khát. Ở Nhật Bản ngày lễ này được tổ chức vào ngày 7 tháng 7 để tỏ những ước nguyện của mình, người ta viết ước nguyện rồi treo vào cây trúc với mong ước điều ước đó sẽ trở thành hiện thực.

PV: Lễ Vu Lan đối với người Việt có vai trò gì?

TS. Nguyễn Xuân Diện: Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và đã hòa quyện cùng tín ngưỡng dân gian để tạo thành Phật giáo Việt Nam.

Với người Việt, lễ Vu Lan đã trở thành một ngày lễ rất quan trọng. Trong các loại hình văn học nghệ thuật khác cũng nhắc tới ngày lễ này, như “Văn tế thập loại chúng sinh” của đại thi hào Nguyễn Du, trong hát xẩm có “Thập ân”,



hoặc bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy đã được chuyển thể thành hát văn với những câu thơ da diết:

Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa

ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương....



Nghi thức trong lễ Vu Lan có nhiều nhưng phổ biến nhất là việc các gia đình tự tổ chức các mâm cúng cho tới việc lập đàn Mông sơn thí thực- trai đàn, đàn lập lên để bố thí cho những vong hồn, các bà vãi kể hạnh, các gánh chèo diễn tích truyện Mục Kiều Liên cứu mẹ; hay lập lễ giải oan cắt kết. Lễ phóng sinh các loài như: chim, cá, rùa, cua, ốc...

PV: TS. có thể cho biết trải nghiệm của mình qua mỗi mùa Vu Lan?

TS. Nguyễn Xuân Diện: Trước đây, mỗi dịp Lễ Vu Lan tôi thấy người dân chỉ mua một ít tiền, vàng, một vài bộ quần áo tượng trưng để đốt cho ông bà, tổ tiên. Những năm gần đây, nhu cầu đốt vàng mã ngày càng tăng, trung bình mỗi nhà sắm mã cúng rằm khoảng 50.000đ/lễ, khá giả thì 200.000- 300.000đ/lễ. Còn đối với các "đại gia" thì số tiền dành cho vàng, mã vài ba tới vài chục triệu đồng là bình thường.

Người ta đổ xô đi mua đủ các thứ hàng mã: nhà lầu, xe hơi, tủ lạnh, máy giặt, ti-vi, điện thoại, tiền vàng, quần áo...Năm nay tôi còn thấy trong các mặt hàng gửi cho “người âm” còn có cả thẻ tín dụng, Iphone, vé máy bay và hộ chiếu và cả mũ bảo hiểm..

Việc tổ chức lễ Vu Lan đã trở nên ồn ào và phô trương hơn so với thời gian trước.

PV: Vậy Phật giáo có chủ trương đốt vàng mã?

TS. Nguyễn Xuân Diện: Theo tôi được biết, thì đạo Phật không chủ trương đốt vàng mã. Cụ thể trong tài liệu mà Hòa thượng Tố Liên (sinh năm 1903) đã viết: “Đức Phật Thích Ca không dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Ngày Rằm tháng bảy là ngày Mục Kiều Liên cứu bà Thanh Đề. Mục Kiều Liên tu chứng được 6 phép thần thông mắt trông thấy thân mẫu là bà Thanh Đề phải đày đoạ ở địa ngục mà ngài không sao cứu nổi mới cầu đến đức Phật. Đức Phật mới dạy rằng “dầu ông có thần thông đến đâu chăng nữa cũng không có thể cứu được tội, nghiệp của thân mẫu ông, phải nhờ đến công đức tu hành của chư tăng mới cứu được tội nghiệp cho thân mẫu của ông được. Ngày rằm tháng bảy sắp tới đây sẽ là ngày của chư phật hoan hỷ, ngày của chư tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dàng chư tăng. Các ngài sẽ cầu nguyện cho thân mẫu ông được giải thoát.” Chính ý nghĩa của ngày rằm tháng bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém. Chúng ta có ai thấy Phật dạy đốt vàng mã cúng gia tiên ngày rằm tháng bảy.

Người Việt xuất phát từ quan niệm truyền thống “trần sao âm vậy” cho rằng con người khi chết đi thì vẫn còn những nhu cầu như người sống, ban đầu người ta chôn theo những vật dụng sinh hoạt theo người chết, sau đó để giản tiện hơn người ta làm tiền vàng bằng giấy và mã. Việc đốt vàng mã khi đó mang yếu tố tâm linh, chi phí cho một lễ tiền vàng cũng không đáng kể, nhưng tới hôm nay việc đốt vàng mã đã có rất nhiều biến đổi dẫn đến sự tốn kém, cùng với nguy cơ về cháy nổ và ô nhiễm môi trường.

PV: Và việc đốt vàng mã có thực sự đem lại cho người đã khuất và người còn sống sự yên ổn?

TS. Nguyễn Xuân Diện: Con số thống kê chưa đầy đủ cách đây 7 năm (2003) của ngành văn hóa cho thấy: đã có hơn 40.000 tấn vàng mã được sử dụng trong một năm và riêng tại Hà Nội đã tiêu thụ trên 400 tỉ đồng cho việc đốt vàng mã. Rõ ràng, đây là một con số “biết nói”…

Được biết, trong ngày lễ Vu Lan năm 2009, một đại gia thầu cát xây dựng tại sông Hồng đã xác lập "kỷ lục" đốt vàng mã với việc bỏ ra hơn 400 triệu đồng thuê 6 người làm 1.000 người, ngựa giấy, đốt "tặng" Thổ công, Hà Bá mong các "ngài" phù hộ cho giá cát tăng...

Đốt các loại giấy này là một hành động gây ô nhiễm môi trường nói chung và vệ sinh môi trường tại cộng đồng nói riêng. Đặc biệt là đối với khu dân cư tập trung đông người thì tàn tro của vàng mã đã trở thành một vấn nạn.

Theo Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy- Công an Thành phố Hà Nội thì một trong những nguyên nhân của các vụ cháy là do người dân bất cẩn khi thắp hương và hóa vàng (14/43 vụ trong 3 tháng đầu năm 2009), sau các nguyên nhân về điện và sử dụng khí đốt hóa lỏng gas.

Chẳng biết “người âm” sẽ nghĩ gì khi cùng với một đống vàng mã đắt tiền là những lời khấn đặc mùi vật chất. Sự thiêng liêng của tâm linh, và đức tin trong mỗi người bỗng chốc trở nên ồn ào và khó hiểu.

Thay bằng việc đốt vàng mã một cách phô trương, mọi người hoàn toàn có thể làm rất nhiều việc có ý nghĩa thiết thực hơn như quan tâm tới cha mẹ, tới những bậc trưởng lão, tham gia thiện nguyện, nuôi dưỡng những người cô đơn khó khăn.

PV: Xin cảm ơn ông!
Nguồn: Công luận.

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

-->đọc tiếp...

HÒA THƯỢNG TỐ LIÊN: LỄ VU LAN KHÔNG ĐỐT VÀNG MÃ

Hòa thượng Tố Liên


Nguyên nhân tục đốt vàng mã
Hòa thượng Tố Liên


Tục chôn người chết nước Tàu về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan ván, lại cũng không khanh phần mộ chi cả. Đến đời vua Hoàng đế (2679trCN) cho rằng con cháu đối với ông bà cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận, mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất. Trải qua đời Hoàng đế đến đời Đường Ngu, cái tục lệ chôn cất người chết chỉ có thế thôi.

Nối Nhà Ngu là nhà Hạ (2205 tr CN) người tàu mới bắt đầu dùng đất sét nặn thành mâm bát dùng tre gỗ là nhạc khí như chuông khánh, đàn sáo… để đem theo người chết. Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quí khí, tức các đồ vật được đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ. Lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đó. Rồi đấy đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất phải có người hầu hạ người chết, người ta mới lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo người chết.

Đến đời nhà Ân (1765 tr CN) lại không dùng mâm bát đồ đất và nhạc khí bằng tre gỗ để chôn theo người chết nữa. Thay vào đó các đồ tế khí toàn dùng đồ thật chôn theo.

Đời nhà Chu (1122 trước CN) người Tàu đã bắt đầu văn minh: cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ. Giữa người chết với người chết đã được người sống phân ra giai cấp sang hẹn trong việc lễ nghi chôn cất. Do vậy t ừ vua đến quan lớn khi chết đi sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ Nhà Hạ, và đồ vật thật theo lệ nhà Ân để đem chôn theo. Còn hạng sĩ phu tới bình dân khi chết chỉ được chôn t heo độc một thứ đồ giả thôi. Nếu người hèn hạ nào mà dùng nghi lễ ngang với người sang tức khắc phải tội “Tiếm lễ’. Không chỉ thế, dã man,, độc ác nhất người ta còn bịa ra tục Tuẫn Táng. Tức khi vua quan chết từ vợ con đến bộ hạ của các vua quan lớn, đồ yêu quí khi còn sống sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi chết. Việc này ta được biết chép trong sách TẢ TRUYỆN rằng: “Đời vùa Văn Công thứ 6, Vua Tần Mục Công tên là Hiếu nhân chết, ba anh em họ Tứ -Xa là Yểm Tục, Trọng Hành, Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục công, vì khi Mục công còn sống yêu quí nhất ba anh em nhà họ. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ Xa là người hiền đức mới làm thơ ra Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn mỉa mai. Trong thơ đại ý nói “ba anh em họ Tứ-Xa đều là người hiền đức gấp trăm nghìn lần người khác, trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sốngđể đi theo với người tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mệnh cho ba người chết hiền đức ấy, chúng tôi cũng vui lòng chết thay.

Về sau người ta cũng biết rằng đem người sống chôn theo v ới người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người có “sô linh”, sau vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng người gỗ “Mộc ngẫu” như trước. sách Trang Tử chép rằng: “Vua Mục Vương nhà Chu (1001 tr CN) có người tên là yến sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết. Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền nổi lòng phẫn uất mà thống mạ rằng: “Kẻ nào sinh ta tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân”. Thầy mạnh tử cũng ác cảm với tục hình nhân thế mệnh mà nguyền một câu độc rằng “ Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Đến đời nhà Hán, giới trí thức Nho học cảm động với lời cự tuyệt thống thiết của ngài Khổng Mạnh trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ TUẪN TÁNG, không dùng người sống chôn theo với người chết nữa, nhưng lại làm ra nhà mồ để cho vợ con tôi tớ, người đã chết ra để ấp mộ. còn các đồ ăn mặc hành dùng của người chết kia khi còn sống dùng những thứ gì khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vẻ, người ta lại đục phỗng đá, voi ngựa bài trí chung quanh phần mộ.

Đến giai đoạn này ta bắt đầu thấy nguyên nhân của tục đốt vàng mã giấy. Đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy vỏ cây dó và giẻ rách, lưới rách đem chế ra giấy, vì đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc quần áo… đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách: “ Thông giám cương mục” có chép: vì vua Huyền Tôn, mê thuật quỉ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan thái thường bác sĩ để coi việc chế vàng mã dùng khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ là hàng Thuỷ tổ nghề vàng mã.

Đức Phật Thích Ca không dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Ngày Rằm tháng bảy là ngày Mục Kiều Liên cứu bà Thanh Đề. Mục Kiều Liên tu chứng được 6 phép thần thông mắt trông thấy thân mẫu là bà Thanh Đề phải đày đoạ ở địa ngục mà ngài không sao cứu nổi mới cầu đến đức Phật. Đức Phật mới dạy rằng “ dầu ông có thần tthông đến đâu chăng nữa cũng không có thể cứu được tội, nghiệp của thân mẫu ông, phải nhờ đến công đức tu hành của chư tăng mới cứu được tội nghiệp cho thân mẫu của ông được. ngày rằm tháng bảy sắp tới đây sẽ là ngày của chư phật hoan hỷ, ngày của chư tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dàng chư tăng. Các ngài sẽ cầu nguyện cho thân mẫu ông được giải thoát.” Chính ý nghĩa của ngày rằm tháng bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém. Chúng ta có ai thấy Phật dạy đốt vàng mã cúng gia tiên ngày rằm tháng bảy.

Nguyên nhân của việc đốt vàng mã vào ngày rằm tháng bảy là: Triều vua đạt Tôn nhà Đường (762) nhằm lúc Phật giáo cựu thịnh ở Trung Quốc, vị sư tên là Đạo Tăng, muốn cho dân chúng vì ngày rằm tháng bảy mà bồng bột theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của nhân dân vào tâu với vua Đạt Tôn rằng : Rằm tháng bảy là ngày của Diêm Vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.

Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo Tăng liền hạ chiếu cho thiên hạ. Thế nên nhân dân Trung Quốc được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày 15/7 để kính gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu lại bị chư tăng công kích bài trừ về việc đốt vàng mã vào ngày trọng lễ của Phật giáo làm cái lệ ngày 15/7 không còn chính nghĩa nữa. Phần lớn dân chúng trung hoa ngày đó hầu như tỉnh ngộ cũng nhau bỏ tục đốt vàng mã là cho các nhà chuyên sinh sống về nghề làm vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ người đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã. Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề làm vàng mã. Một người giả cách ốm mấy hôm rồi chết, tin được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn nước uống. Đương khi mọi người họ mạc làng xóm đến viếng thăm đông đúc, Vương Luân với một lũ người đích thân đem trăm thứ đồ mã có cả hình nhân thế mệnh. Sau đó bày đàn cúng các quan thiên phủ địa phủ và nhân phủ. Khi mọi người đang xuýt xoa khấn khứa bỗng trăm nghìn mắt như một, hai năm rõ mười thấy cỗ quan tài rung động lên. Bấy giờ Vương Luân đứng bên đó mở nắp ván quan, để kẻ giả chết kia lò dò ngồi dậy, giả vờ lù đù trông trước trông sau rồi bước ra với điệu bộ như người chết sống lại, rồi thuật rõ chuyện với công chúng rằng: “Các thần thánh trong Tam phủ, tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi với tiền bạc đồ mã nên mới tha cho ba hồn bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế” Hiển nhiên trăm nghìn mắt thấy tai nghe, nên công chúng đều nhận thấy là hình nhân có thể thế mạng được thực và trong Tam Phủ, Tứ PHủ cùng ăn đồ lễ vàng mã tằng phúc giảm tội và miền cho sống thêm. Từ đấy các nghề vàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì rằng không những linh hồn các gia tiên dùng vàng mã mà cả Thiên địa quỷ thần trong Tam Tứ Phủ cũng phải tiêu dùng vàng mã nữa và cố nhiên là vàng mã phải đắt hàng. Người Tàu nắm quyền đô hộ VN 1000 năm cho nên phong tục của người Tàu như thế nào, ta cũng dập khuôn đúng như vậy, bất luận hay dở phải trái.

Hoà thượng Tố Liên
(Nxb Đuốc Tuệ1952) - Trang Thanh Hiền đánh máy.

Tiểu sử Hòa Thượng Tố Liên
Hòa thượng thế danh là Nguyễn Thanh Lai, sinh năm Quý Mão (1903) tại làng Quỳnh Lôi, tổng Kim Liên, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông cũ, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, xuất thân trong một gia đình nho giáo, thân phụ là Nguyễn Văn Định và thân mẫu là Nguyễn Thị Đào.
Ngài xuất gia năm 13 tuổi tại chùa Hương Tích, là đệ tử của Đại sư Thanh Tích (1881-1964). Ngài tính cương trực, chuộng hoạt động, mặc dù được chọn làm Trưởng pháp tử, song quyết tâm ra đi du phương sam học nơi các đạo tràng danh tiếng như chốn tổ Tế Xuyên, Bằng Sở, Vĩnh Nghiêm… Ngài đã từng du học, trụ trì chùa Côn Sơn, Thanh Mai (Hải Dương).

Năm 1935, sau phong trào chấn hưng Phật giáo toàn quốc, sẵn có giới đức trang nghiêm và trí tuệ minh mẫn, Ngài được Hội Việt Nam Phật giáo Bắc kỳ cung thỉnh ra chùa Quán Sứ Hà Nội để chung lo Phật sự.

Ngoài việc phụng sự chung cho đại cuộc Phật giáo, Ngài đã đóng góp rất nhiều cho Phật học đường Quán Sứ như giảng dạy, chủ sám và giới sư các Đại giới đàn, cùng đóng góp tích cực cho những hoạt động về văn hóa và xã hội của Phật giáo miền Bắc.

Sau một thời gian dưỡng bệnh tại Côn Sơn, đến năm 1945 Cách mạng tháng 8 thành công, Hòa thượng lại trở về Quán Sứ. Vận dụng khả năng tri thức và trí tuệ vốn có để ứng dụng Phật sự trong hoàn cảnh mới của đất nước. Ý thức trách nhiệm trước sứ mệnh lịch sử dân tộc và đạo pháp, Ngài khắc phục mọi trở ngại, đề cao chủ trương: Thống nhất Phật giáo, đoàn kết Tăng già. Và cuối cùng nguyện vọng ấy đã đạt được qua việc thành lập Hội Tăng ni Chỉnh lý Bắc phần, tiền thân của Giáo hội Tăng già Bắc Việt do Ngài làm Chủ tịch, đồng thời giữ chức Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam. Lúc ấy Ngài mới 47 tuổi (năm 1950).

Tháng 5 năm 1950, Ngài đại diện cho Phật giáo Việt Nam đi dự Hội nghị thành lập Hội Phật giáo Liên hữu thế giới tại Srilanca và đưa Phật giáo Việt Nam tham gia với tư cách sáng lập viên của Hội này, đồng thời được Đại hội suy cử làm Đệ nhất Phó Hội trưởng cùng đại diện Ban chấp hành Hội Liên hữu Phật giáo thế giới, chi bộ tại Việt Nam.

Năm 1951, Ngài là một trong những sáng lập viên Tổng hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức thống nhất Phật giáo toàn quốc, gồm cả Tăng già và cư sỹ thuộc Bắc, Trung, Nam để phù hợp với đà tiến chung của Phật giáo thế giới.

Tháng 9 năm 1952, Ngài đi dự Đại hội Phật giáo thế giới tại Nhật, nhằm tăng cường Phật sự trên cơ sở Phật giáo thế giới như phổ biến giáo lý đức Phật trong các tổ chức giáo dục thuộc mỗi quốc gia, từ tiểu học đến đại học, thực hiện các công tác nhân đạo, từ thiện, xã hội, thành lập Đoàn Thanh niên Phật tử thế giới.

Sau khi về nước, Ngài tích cực đi vận động khắp nơi ở miền Trung và miền Nam, gặp gỡ, thảo luận, đàm đạo với các vị lãnh đạo Phật giáo 3 miền, thành lập Giáo hội Tăng già toàn quốc và ngài được cử làm Tổng thư ký.

Về xã hội: Suốt khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1954, Ngài là vị trụ trì chùa Quán Sứ Hà Nội, một trung tâm của Phật giáo miền Bắc. Ngài đã thành lập các tổ chức cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến tranh và các cô nhi viện Quán Sứ, Tế Sinh.

Về văn hóa: Ngài có công cho khắc in rất nhiều bản và phổ biến trong toàn quốc bộ “Việt Nam Phật điển Tùng San”, mong tác phẩm này được lưu truyền hậu thế và không còn bị mai một. Ngài còn là chủ nhiệm và chủ bút tờ nguyệt san “Phương tiện”, hậu thân của báo “Đuốc tuệ”. Ngài chuyên viết các bài giảng phổ thông về Phật học để báo “Đuốc tuệ” ấn hành.

Về tác phẩm: Hòa thượng còn để lại những sáng tác:
- Tấm gương quy y;
- Sự lý lễ tụng;
- Ký sự Phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi Ấn Độ và Tích Lan (Srilanca);
- Tịnh Độ sám nguyện - dịch và chú giải.

Về giáo dục: Ngài có công thành lập trường Tiểu học Khuông Việt tại chùa Quán Sứ; trường Trung học Vạn Hạnh tại chùa Hàm Long Hà Nội. Và đặc biệt Ngài để tâm rất nhiều đến việc đào tạo Tăng tài bằng cách gửi các Tăng sỹ Việt Nam đi du học ở nước ngoài, nhằm phát triển kiến thức, trao đổi văn hóa, tăng cường hữu nghị và đào tạo Như Lai sứ giả giữa các quốc gia Phật giáo trên quy mô quốc tế.

Năm 1954, đất nước lại bị chiến tranh chia cắt, Hòa thượng tiếp tục bồi đắp và duy trì các cơ sở Phật giáo đã được xây dựng từ trước.

Đến năm 1958, Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam ra đời, kế thừa sự nghiệp của Hòa thượng ở giai đoạn mới. Hòa thượng là một thành viên sáng lập và được suy cử vào Ban Trị sự Trung ương Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam. Sau đó vì bệnh duyên và tuổi ngày một cao, Ngài phải nghỉ dưỡng bệnh và tĩnh tu ở chùa Quán Sứ, Quỳnh Trân và một số nơi tại miền Bắc.

Tháng 3 năm 1977, Ngài chống thiền trượng đi gặp và đàm đạo cùng chư Tăng tại chùa Quán Sứ để tạ từ. Thế rồi chiều ngày 13 tháng 2 năm Đinh Tỵ (tức ngày 01/04/1977), Ngài đã viên tịch tại chùa Quán Sứ, trụ thế 75 năm và hoằng pháp độ sinh 45 năm. Bảo tháp của Ngài tọa lạc tại chùa Sùng Phúc, thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, bảo hiệu là Chân Không Tháp.Sự nghiệp và đạo hạnh của Hòa thượng đã đi vào lịch sử Phật giáo Việt Nam, với công lao cao cả trong cuộc chấn hưng Phật giáo n][cs nhà và đưa đạo Phật Việt Nam góp mặt với Phật giáo thế giới. Hòa thượng là tấm gương soi sáng cho các thế hệ Tăng Ni, Phật tử cống hiến trọn đời cho Đạo pháp - Dân tộc.


Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

-->đọc tiếp...

TỔ CHỨC DÀN NHẠC TRONG NGHI LỄ CẦU SIÊU

Lễ cầu siêu tại Chùa Ngọc Trục, Hà Đông. Ảnh: Ng. Xuân Diện

TỔ CHỨC DÀN NHẠC TRONG NGHI LỄ CẦU SIÊU

Nguyễn Đình Lâm (Viện Âm nhạc)

Lễ cầu siêu là nghi lễ Phật giáo, gắn liền với không gian thiêng của ngôi chùa. Âm nhạc và các khoa cúng - bước lễ có quan hệ hữu cơ với nhau, quy định nhau trong suốt quá trình hành lễ. Bởi, một mặt, âm nhạc trong nghi lễ này không chỉ được nhìn nhận trong tổng thể của môi trường và không gian diễn xướng, mà còn cần được soi xét, bóc tách từng bộ phận trong đó để đi sâu tìm hiểu, làm rõ vị trí và chức năng của các thành viên, trong đó có vai trò của từng nhóm nhạc cụ gắn với các thành tố cụ thể. Nói cách khác, mỗi bước lễ, mỗi một tổ chức âm nhạc, trong đó có những cặp nhạc cụ được sử dụng, trình tấu theo những nguyên tắc và sự gắn kết nhất định theo từng nghi lễ. Mặt khác, việc nghiên cứu tổ chức dàn nhạc còn làm rõ sự khác nhau trong biên chế ở mỗi ngôi chùa, mỗi đội cúng1 và trong mỗi địa điểm và khu vực khác nhau; trong đó, bên cạnh những nhạc cụ được biên chế cố định, bắt buộc còn có những nhạc cụ được bổ sung theo phong cách riêng của mỗi đội cúng và địa điểm cụ thể. Quan trọng hơn, nghiên cưu, tìm hiểu vấn đề này còn góp phần làm sáng tỏ cơ cấu tổ chức nhạc cụ và vai trò của chúng đối với nghi lễ cũng như diện mạo chung của âm nhạc nói chung, dàn nhạc nói riêng trong quan hệ với toàn bộ nghi lễ.
Những vấn đề chung nhất về quan hệ giữa âm nhạc với các bước lễ đã được chúng tôi tổng hợp bước đầu và trình bầy một cách khái quát trong phần nghiên cứu trước đây. Bài viết này sẽ tiếp tục tìm hiểu chi tiết các khía cạnh khác trong nghi lễ, trong đó tập trung nghiên cứu tổ chức biên chế dàn nhạc và quan hệ của nó với các bước lễ nói chung, từng hình thức âm nhạc nói riêng. 

1. Biên chế

Trong cuốn Lịch sử âm nhạc Việt Nam, phần bàn về âm nhạc Phật giáo, tác giả Lê Mạnh Thát có đề cập tới một tổ chức 9 nhạc cụ, gồm Phách, Hồ cầm, Sáo, Kìm, Hoàng Sênh, Tỳ bà, ống Tiêu, Nguyệt và trống Cơm2. Những nhạc cụ này được biết tới qua tư liệu khảo cổ là hình ảnh trạm khắc trên bệ đá chùa Vạn Phúc (Từ Sơn - Bắc Ninh ngày nay), được tác giả trình bày và tổng hợp theo mô tả ghi chép trong thư tịch cổ, nhưng còn chưa rõ được mục đích sử dụng và vai trò của nó. Theo cuốn Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam của Giáo sư Trần Văn Khê, vấn đề nhạc khí sử dụng trong Phật giáo cũng đã được ông giới thiệu. Trong đó, ông đã chia các nhạc cụ ra làm hai loại: Nhạc khí tôn giáo gồm, Mõ, Tích trượng, Chuông (có bốn loại là Gia trì, Báo chúng, Hồng chung, Bát nhã), Tang (còn gọi là Đẩu, hay Thanh la), Trống (có hai loại trống Đạo và trống Bát nhã) và nhạc khí ngoài tôn giáo gồm kèn Bầu, kờn nhị, Trống, Mõ, Sáo, trống Bản3. Đây là phần giới thiệu có chú thích cơ bản về nhạc cụ trong lễ Phật giáo ở khu vực miền Trung và miền Nam. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cũng như các hình thức âm nhạc tín ngưỡng dân gian khác ở Việt Nam, âm nhạc Phật giáo nói chung cũng thể hiện tính chất đặc trưng qua các vùng miền và tông phái khác nhau. Cho tới thời điểm này, phần âm nhạc Phật giáo nói chung, âm nhạc trong nghi lễ cầu siêu nói riêng, trong đó việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức và biên chế dàn nhạc trong nghi lễ này tại khu vực đồng bằng châu thổ Sông Hồng, trong đó có khu vực Hà Nội chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu. Do đó, phần nghiên cứu này, chúng tôi sẽ dựa trên cơ sở tư liệu điền dã trực tiếp tại các chùa và các đàn cầu siêu ở khu vực Hà Nội để tiến hành tìm hiểu nghiên cứu.

Dựa vào tiêu chí phân loại họ nhạc cụ của Giáo sư Tiến sĩ Tô Ngọc Thanh4, ở đây, chúng ta có thể phân chia các nhạc cụ ra các họ, gồm: màng rung có trống Cái, trống con có hai loại là trống bản và trống dẫn (có khi thay bằng trống Mảnh, hoặc trống Cơm); họ tự thân vang có Chuông, Não bạt, Thanh la, Mõ, Tiu - cảnh; họ dây có đàn Nhị, đàn Nguyệt; họ hơi có kèn Sô na, còn gọi là kèn Bóp hay kèn Già nam, gồm các loại: kèn Tiểu, kèn Trung (còn gọi là kèn Pha). Nhạc cụ trong nghi lễ gọi chung là “Pháp bảo”, được điều khiển bởi Pháp chủ - thường là trụ trì ngồi chùa, nơi tổ chức đàn cầu siêu, hoặc là vị sư có vị chí chính trong nghi lễ - sử dụng với tư cách như là phương tiện kết nối giữa người hành lễ với thần linh, đức Phật.

Để dễ dàng tìm hiểu cơ cấu tổ chức của dàn nhạc nói chung, các nhạc cụ nói riêng, chúng ta có thể chia âm nhạc trong lễ thành hai thành phần là thanh nhạc và các nhịp trống. Thanh nhạc gồm các câu Tán, Tụng, Than, Thỉnh; ngoài ra còn có các câu “đọc” như câu Kệ ( phần mở đầu trong tụng kinh và tán mỗi loại canh; đọc theo cặp mỗi câu bảy chữ), đọc câu Thiết dĩ (thường đọc ở phần mở đầu của một số khoa cúng), và đọc câu Phát hoả (ba đường phát hỏa là thiên hoả, địa hoả và tam nội chân hoả - dùng khi dâng sớ). Trống có các nhịp trống Phát lôi, trống Thượng đường, trống Dẫn lục cúng và trống Xai (ít dùng). Trong hai thành phần chính để cấu thành âm nhạc trong lễ, hầu hết các nhạc cụ có chức năng cụ thể, không chỉ thực hiện việc hỗ trợ, làm tăng hiệu quả âm thanh mà còn tham gia điều khiển các nghi thức trong quá trình lễ.

Tại khu vực Hà Nội, các nhạc cụ được biên chế trong nghi lễ theo hai nhóm là các nhạc cụ bắt buộc và các nhạc cụ được biên chế bổ sung, tức không bắt buộc. Sự khác nhau này chỉ xảy ra ở các nhạc cụ bổ sung, giữa các đội cúng, các địa điểm và vùng khác nhau, trong đó có các ngôi chùa thường xuyên tổ chức lễ cầu siêu ở khu vực Hà Nội; còn các nhạc cụ biên chế cố định được thống nhất trong các đội cúng. Theo đó, các nhạc cụ được biên chế cố định gồm Chuông, Mõ, Thanh la, Não bạt, Tiu - cảnh và hai loại trống là trống Cái và trống Bản. Các nhạc cụ này đôi khi được biên chế theo nhóm, theo khoa cúng, nhưng phần nhiều được sử dụng như một dàn nhạc và hoà tấu trong các không gian hành lễ. Các nhạc cụ bổ sung chủ yếu thuộc về họ dây và hơi, gồm Kèn, Nhị và đàn Nguyệt, có đội cúng thêm cả trống Cơm, trống Dẫn. Tại một số nơi như huyện Gia Lâm, quận Long Biên, cụ thể là ở các chùa Đồng Lim - Gia Lâm, chùa Bồ Đề - Long Biên, các lễ cầu siêu lớn thường có sự tham gia của Kèn, Nhị và đàn Nguyệt. Khu vực Hà Đông thì thường ít thấy sử dụng các nhạc cụ bổ sung, hoặc nếu có là do mời một số thầy cúng ở những khu vực khác tới. Tuy nhiên, không phải tất cả các nghi lễ được tổ chức tại các ngôi chùa này, những nhạc cụ biên chế bổ sung đều như vậy, mà còn tuỳ thuộc vào các đội cúng được mời tới giúp nhà chùa hành lễ. Theo thầy cúng Bùi Văn Nam, một đại diện ở khu vực Hà Đông, thì việc tổ chức các nhạc cụ bổ sung trong các nghi lễ cầu siêu phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng của đội cúng đó, cũng như “thị hiếu” của những người đứng ra hành lễ, trong đó có các sư tăng, thầy cúng. Song, tính ổn định tuơng đối của nó vẫn được bảo lưu trong biên chế và sử dụng các nhạc cụ trong nghi lễ giữa các địa điểm trên địa bàn và thường phố biến theo cách sắp xếp riêng, có thể tổng hợp trong so sánh dưới đây. 

Bảng so sánh biên chế các nhạc cụ được sử dụng phổ biến giữa ba điểm

Họ
nhạc cụ
BIÊN CHẾ NHẠC CỤ GIỮA CÁC ĐIỂM
Ghi chú
Chùa Đống Lim
(Gia Lâm)
Chùa Kiến Hạ
(Hà Đông)
Chùa Pháp Vân
(Thanh Trì)
Tự thân vang
- Mõ
- Chuông nhỏ
- Tiu - cảnh
- Thanh la
- Não bạt
- Mõ
- Chuông nhỏ
- Tiu - cảnh
- Thanh la
- Não bạt
- Mõ
- Chuông nhỏ
- Tiu - cảnh
- Thanh la
- Não bạt
Sử dụng thống nhất, cố định
Màng rung
- Trống cái
- Trống bản
- Trống dẫn
- Trống cái
- Trống bản
-
- Trống cái
- Trống bản
- Trống cơm
Trống cơm sử dụng không thường xuyên
Hơi
- Kèn tiểu (la)
- Kèn pha (pha)
-
-
- Kèn tiểu (la)
-

Dây
- Đàn nguyệt
-
- Đàn nguyệt
-
-
-

Hiện nay, các đội cúng ở các địa điểm trên, các nghi lễ cầu siêu không chỉ có những đội cũng sở tại hoạt động nghề nghiệp, mà còn xuất hiện một số đội cúng hoặc có sự tham gia của một số thầy cúng tới từ tỉnh khác, địa phương khác. Và ngược lại, do xu thế phát triển chung của đời sống văn hóa tâm linh, sự phối kết hợp trong tổ chức nghi lễ ở các địa phương khác nhau, các đội cúng của khu vực Hà Nội nói chung cũng đã tham gia lễ cầu siêu tại nhiều tỉnh thành khác. Trường hợp này thường xảy ra trong các đàn lễ lớn kéo dài nhiều ngày mà số lượng những người hành lễ mà các thầy cúng không đủ, hoặc có thể do vào đúng ngày lễ một trong số thành viên ấy có lý do đặc biệt mà không tham gia được. Trường hợp khác, do nghi lễ được tổ chức với quy mô lớn tại một không gian rộng, nên để tạo không khí trang nghiêm và hoành tráng hơn, những đội các chùa đứng ra tổ chức lễ đàn cầu siêu thường mời các thầy cúng ở các địa phương và đội cúng khác; và như vậy sẽ kéo theo sự thay đổi trong biên chế tại đội cúng đó. Do đó, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, vì trên thực tế, có những trường hợp các thầy cúng của đội này được mời sang cúng giúp cho đội kia, và như vậy sẽ có sự bổ sung biên chế cho các nhạc cụ khác nhau. Hiện nay, có trường hợp một nhà chùa, hoặc một thầy cúng đứng ra nhận “đăng cai” tổ chức một nghi lễ cho gia chủ nào đó, và họ có quyền mời đội cúng, hoặc cá nhân trong ở một địa phương điểm khác tới tham gia. Và như vậy, ranh giới phân chia theo phong cách đội cúng, hay vùng hoặc địa điểm bị xoá nhòa. Nói như vậy để thấy rằng, việc tổ chức và biên chế dàn nhạc trong nghi lễ cầu siêu, nhất là những nhạc cụ được bổ sung luôn ở trạng thái động, có thể được bổ sung và luân phiên biên chế giữa các đội trong quá trình tổ chức một đàn lễ cầu siêu, tại một địa điểm hay các nhóm khác nhau. Theo đó, tuỳ thuộc vào điều kiện hay thói quen sử dụng của nhà chùa, mỗi đội lễ có thể đưa ra quy định trong việc sử dụng các nhạc cụ trong nghi lễ này, cũng như có thể bổ sung biên chế, hoặc giảm bớt một số nhạc cụ, thậm chí cả bộ nhạc cụ trong tổ chức dàn nhạc cho phù hợp với điều kiện, quy mô và không gian của đàn lễ. Qua những chuyến điền dã ở ba địa điểm chính, tại các đàn cầu siều ở các ngôi chùa trên các quận/huyện, cho chúng tôi bước đầu đưa ra nhận xét rằng sự biên chế và phổ biến các nhạc cụ trên đây phụ thuộc vào hai yếu tố: Các nhạc cụ được biên chế chính, bắt buộc và vai trò, chức năng của chúng gắn với từng bước lễ va trong toàn bộ nghi lễ; các nhạc cụ bổ sung được sử dụng tương đối ổn định ở một số địa phương nhưng không cố đinh, kể cả về biên chế và sử dụng các nhạc cụ đó trong các nghi lễ cho đến việc sử dụng nó tại các địa điểm khác nhau. Cho nên, đi sâu vào tìm hiểu vai trò của từng nhạc cụ trong nghi lễ này để thấy rõ hơn tầm quan trọng của chúng gắn với từng bước lễ của nghi lễ cầu siêu. Như trên đã nói, do biên chế nhạc cụ bổ sung có khác nhau giữa các địa điểm, nên cơ cấu trong dàn nhạc lễ cũng có sự khác nhau.

2. Vai trò, chức năng

Nghiên cứu chức năng của mỗi nhóm, cặp nhạc cụ, sử dụng trong nghi lễ Phật giáo ở Việt Nam, trước hết chúng tôi đề cập tới hai nhạc cụ chuông. Đây là hai nhạc cụ đặc trưng, được biên chế thành cặp ở nhiều bước lễ. Chuông là nhạc cụ bằng kim loại đồng, thuộc chi gõ; vật kích âm là chiếc dùi gỗ, kích thước theo từng chiếc chuông lớn nhỏ khác nhau. Chuông có nhiều kích cỡ, theo đó, các chuông sử dụng trong các đàn cầu siêu chủ yếu có hai loại: loại nhỏ trung bình cao từ 8 - 10cm, chiều rộng của miệng bằng chiều cao, đáy bằng 1/4 miệng; chuông lớn có loại cao từ 18 - 20c, tỷ lệ chiều cao và chiều rộng giữa miệng và đáy tương tự với các loại chuông nhỏ. Âm thanh của chuông phụ thuộc vào tỷ lệ hợp kim khi chế tác, song theo tính chất vật lý và quy luật tự nhiên, chuông lớn cho âm thanh ngân vang và trầm, loại nhỏ cho hiệu quả âm thanh ngược lại. Trong nghi lễ cầu siêu, tuỳ thuộc và không gian hành lễ mà người ta sử dụng loại chuông lớn hay nhỏ. Chẳng hạn, khi thực hiện đàn lễ ở không gian rộng, người ta sử dụng loại chuông lớn để tạo âm thanh phù hợp và uy nghi hơn và ngược lại, ở không gian chật hẹp, người ta chỉ cần loại chuông nhỏ.

Đi cùng với chuông là mõ. Mõ thuộc chi gõ, kích âm bằng dùi gỗ; dùi có thể được bọc vải ở đầu khoặc không. Khác với loại “mõ làng” - chế tác bằng gốc tre già khô, mõ sử dụng trong nghi lễ Phật giáo được chế tác bằng cách từ một thớ gỗ mít lớn khoét rỗng giữa rồi để một khe giữa và hai lỗ hai bên làm điểm thoát hơi. Mõ cũng có kích thước không bằng nhau. Cũng giống như chuông, mõ lớn cho âm thanh trầm và sâu, loại nhỏ cho ra âm thanh ngắt gọi và thanh hơn. 

Chuông và mõ chủ yếu sử dụng trong nghi lễ tụng kinh, có quan hệ mật thiết với nhau và phụ thuộc vào nhau. Đôi khi chuông giữ vai trò chủ đạo và ngược lại. Mở đầu và kết thúc phần tụng kinh, bao giờ người ta cũng đánh ba hồi chuông. Kết thức ba hồi chuông mới bắt đầu tụng kinh. Trong khi tụng, mỗi câu kinh trùng với một tiếng mõ; và đương nhiên nhịp độ giữa các câu kinh và tiếng mõ tỷ lệ thuận và gắn kết với nhau. Mõ và chuông không chỉ được biên chế cố định trong tụng kinh và các lễ tụng kinh, mà còn được sử dụng trong các nghi lễ khác, như trong các câu thỉnh phật, đọc kệ, thiết dĩ... nhưng ở đây chủ yếu thấy vai trò của chuông. Cũng giống như trong tụng kinh, chuông ở các hình thức này cũng chỉ điểm với tư cách là đánh dấu câu, chỉ điểm vào những đoạn ngưng nghỉ của thầy cúng trong quá trình đọc. Đến mỗi đoạn kến thúc, thì chuông đổ nhẹ một dồn ngắn mà thôi. Mỗ và chuông còn được biên chế với nhiều hình thức khác âm nhạc khác, trong đó có hình thức tán canh. Tán canh ở các khoa cúng, mõ và chuông giữ vai trò “cầm trịch”, giữ nhịp và điều khiển nhịp độ. Người cầm trịch gọi là pháp chủ, sẽ ngồi đầu tiên trong cơ cấu biên chế các nhạc cụ trong tán canh.

Ngoài mõ và chuông, các nhạc cụ đặc trưng có vai trò quan trọng còn có trống, thanh la và não bạt. Trống ở đây là trống hai mặc da, có hai loại: một trống cái và một trống ban. Trống cái không có quy định về kích thước rõ ràng, nhưng thường thấy nhất là trống có chiều cao trung bình từ 80 - 90cm, đường kính khoảng 50cm. Trống ban cơ bản có kích thước khá thống nhất, chiều cao trung bình từ 10 - 12cm, đường kính khoảng 35cm. Thanh la và não bạt thường có kích thước về đường kính tương đương nhau, được chế tác bằng đồng. Thanh la kích âm bằng cách sử dụng dùi gỗ gõ vào tâm của mặt ngoài; não bạt có cấu tạo thành cặp tương xứng nhau, hai nún ở tâm điểm nên kích âm bằng cách dùng hai tay va đập hai mặt vào nhau.

Sự phối hợp của trống, thanh la, não bạt góp phần tạo nên nét đặc trưng riêng cho nghi lễ cầu siêu cũng như tạo không khí trang trọng và khí thế trong nghi lễ. Trong suốt quá trình hành lễ, ba nhạc cụ này được sử dụng liên tục với vai trò chính là chuyển đoạn để kết thúc các phần lễ. Theo đó, khi kết thúc mỗi khoa cúng, hoặc một phần lễ, thì các nhạc cụ này thường sử bốn nhịp trống là Pháp lôi, Dẫn lục cúng, Hiến thượng đường và trống Xai. Tên của nhịp gắn với trống cái nên các nhạc cụ đi cùng chỉ có chức năng hỗ trợ, làm cho nhịp trống hấp dẫn và phong phú hơn mà thôi. Cùng với bên cạnh tiu - cảnh, trống cái và não bạt có vai trò chính quan trọng, tạo không khí rộn ràng đặc trưng, thể hiện sự tôn nghiêm của toàn bộ không gian thiêng trong nghi lễ.

Sự phối hợp đông đủ nhất giữa trống và cái, não bạt và các nhạc cụ trong nghi lễ cầu siêu tập trung ở các phần tán canh. Đó là sự có mặt chủ chốt của tiu - cảnh, đàn nguyệt, kèn và nhị. Về cặp nhạc cụ tiu - cảnh, trước đây, trong phần giới thiệu về tán canh - một hình thức thanh nhạc đặc trưng trong nghi lễ cầu siêu, chúng tôi đã đề cập tới cặp nhạc cụ này. Đây là hai nhạc cụ gắn kết chặt chẽ với các hình thức tán canh và có mặt ở hầu hết trong các khoa cúng, bước lễ. Tiu và cảnh là hai nhạc cụ thuộc chi gõ, có những đặc điểm cấu tạo gần giống nhau, được chế tác bằng kim loại đồng thau. Tiu có hình dáng gần giống với chiếc bát ăn cơm, đường kính phổ biến khoảng 11 - 12cm (phần miệng), chiều cao khoảng 4cm. Cảnh thường có bán kính rộng hơn không đáng kể, khoảng 12 - 13cm (phần miệng), phần đáy khoảng 10cm, chiều cao phần đáy khoảng 1,5cm. Khi diễn tấu, hai nhạc cụ này được úp xuống, đặc cạnh nhau, tiu nằm bên tay trái, còn cảnh nằm bên tay phải của người sử dụng. Vật kích âm là một chiếc dùi làm bằng thanh tre mỏng, giữ lại phần mấu ở đầu. Dùi này có chiều dài khoảng 25cm. Cũng giống như chuông và mõ trong tụng kinh, trong khi tán canh, tiu được sử dụng điểm những âm hình tiết tấu chính, còn cảnh thường có vai trò giữ nhịp, điểm vào các trọng âm. Trong tán canh, vai trò của tiu - cảnh được ví như cỗ phách trong nghệ thuật ca trù. Tiết tấu của nhạc cụ này cũng khá phức tạp. Những người học tán canh, trước hết phải học thuộc các loại nhịp (các sư tăng và thầy cúng gọi là dịp). Các thầy cúng cho biết, canh thống nhất sử dụng một loại nhịp để đệm, nhưng trên cơ sở mô hình tiết tấu chủ đạo đó mà người ta có thể biến hoá hoặc phát triển chúng tạo ra sự phong phú và độc đáo riêng.

Những phân tích về vai trò của từng nhạc cụ trên đây cho thấy quan hệ gắn kết giữa âm nhạc, giữa các nhạc cụ trong nghi lễ là quan hệ hữu cơ, quy định và tác động qua lại lẫn nhau theo những nguyên tắc nhất định. Trong quá trình diễn xướng, mỗi nhạc cụ đều thể hiện được chức năng và vị trí riêng trong quan hệ chung khi tác hợp với một nhạc cụ hay nhóm nhạc cụ khác. Theo đó, có nhạc cụ khi này có vai trò hỗ trợ nhạc cụ kia, nhưng trong trường hợp khác lại có vai trò chủ đạo. Cứ như thế, chúng gắn kết, hỗ trợ và bổ sung cho nhau, kết hợp và gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình hành lễ, tạo ra một hiểu qua âm thanh với những đặc trưng độc đáo riêng gắn với từng bước lễ cụ thể.

Về các nhạc cụ bổ sung, việc sử dụng kèn và hai nhạc cụ dây là nhị và đàn nguyệt là phổ biến hơn cả. Kèn thông thường người ta hay sử dụng lại kèn tiểu, còn gọi là kèn la, vì có cấu tạo âm thanh nốt thấp nhất ở âm la thuộc quãng tám thứ nhất. Kèn tiểu có âm thanh cao và âm sắc tươi vui hơn so với hai loại kèn còn lại, do đó, theo các thầy cúng, loại kèn này phù hợp với với các kho cúng Phật. Nhưng ngoài kèn tiểu, trong đàn này, có đội cúng còn sử dụng cả kèn trung, còn gọi là kèn pha. Kèn này cho ra âm thanh trầm hơn, mang màu sắc buồn hơn vì thế thường được sử dụng trong trong các khoa cúng độ âm, tiếp linh và triệu linh. Các đội cúng và đàn lễ sử dụng hai nhạc cụ này, khi sử dụng trong đàn lễ, có nhiều đoạn người ta biên chế kèn đi với trống, phối hợp với nhau trong những đoạn nối giữa các tiểu khoa cúng trong một khoa cúng cũng như một phần lễ. Chẳng hạn, sau khi thỉnh Phật, người ta sử dụng nhịp trống Hiến thượng đường kết hợp với diễn tấu kèn để nối sang một phần cúng khác. Hay khi bắt đầu vào phần cúng chạy đàn - phá ngục, thông thường người ta sử dụng nhịp trống Phát lôi hoặc trống xai phối hợp với kèn để mở đầu cho khoa cúng, tạo không khí rộn ràng và khí thế. Mặc dù chỉ là những nhạc cụ được bổ sung, nhưng kèn cùng với trống cái đã làm cho không gian của nghi lễ cầu siêu trang trọng, uy nghi hơn trong các khoa cúng Phật. Riêng về hai nhạc cụ Nhị và đàn Nguyệt, cũng giống như kèn, hai nhạc cụ này được biên chế bổ sung vào dàn nhạc với chức năng hoà tấu và đệm cho giai điệu một số hình thức thanh nhạc, như tán canh, hay trong các câu than cô hồn; riêng nhị đôi khi được đưa vào đệm cho giai điệu khi đọc câu thiết dĩ.

Các nhạc cụ trên đây hầu như có mặt trong tán canh - một hình thức thanh nhạc đặc trưng trong nghi lễ cầu siêu. Tuỳ từng nên tán canh có mặt trong hầu hết các bước lễ và khoa cúng (canh ai dùng trong cúng độ âm ở đàn lễ tiếp linh và triệu linh; các loại canh: giả tổ (lô hương, xạ nhiệt), chí tâm, phú, hoàng kim, thổng, hãm, giới đinh, dương chi, tả thủ, hồng tự (cửu hồng), đông babảo đỉnh (đàn thượng) dùng trong cúng phật). Cũng trong quá trình tán canh, gần như các nhạc cụ sử dụng trong nghi lễ cầu siêu đều có mặt. Chúng được sắp xếp theo một tổ chức chung, nhất định, theo nguyên tắc bên tả và bên hữu. 

Sơ đồ tổ chức vị trí của các nhạc cụ trong nghi lễ cầu siêu được sắp xếp phổ biến

Chuông- Mõ (pháp chủ)
Trống ban
Tiu- cảnh
Trống lớn
Thanh la
Não bạt
Kèn - Nhị - đàn Nguyệt

Đây là cách sắp xếp phổ biến trong nghi lễ cầu siêu, cơ bản cố định trong các khoa cúng, bước lễ trong suốt quá trình hành lễ. Theo sự sắp xếp này, có thể thấy rằng việc tổ chức này không căn cứ vào vị trí của âm thanh, mà phụ thuộc vào chức năng và vai trò của các nhạc cụ. Ở đây, Mõ và Chuông là hai nhạc cụ đứng vai trò điều khiển, “cầm trịch” trong hầu hết các khoa cúng, nên cơ bản được đặt ngay ở vị trí đầu, trước các nhạc cụ còn lại. Thông thường, biên chế và sử dụng nhạc cụ trong đàn lễ, thì mỗi người sẽ đảm nhiệm một nhạc cụ. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thiếu người, hay do nhiều nguyên nhân khác nhau, thì nhiều trường hợp một người có thể sử dụng hai nhạc cụ. Chẳng hạn như người sử dụng Kèn có thể sử dụng Nhị trong những phần tán canh, hoặc sử dụng đàn Nguyệt trong phần than cô hồ. Người sử dụng trống lớn có thể đồng thời sử dụng Thanh la, vì trong quá trình tán canh, trống cái thường chỉ có chức năng giữ nhịp, và đi theo nhịp một với số lượng tiết tấu ít mà không sử dụng kỹ thuật diễn tấu phức tạp nên có thể đặt thanh la ngay bên cạnh và sử dụng song song với trống cái, v.v...

* * *

Âm nhạc trong nghi lễ cầu siêu đã thể hiện được tính đặc trưng của riêng mình so với nhiều hình thức âm nhạc tín ngưỡng khác, như âm nhạc trong tế lễ - rước thành hoàng làng, hay các hình thức âm nhạc tang lễ ngoài dân gian..., thậm chí thể hiện được đời sống độc lập tương đối của mình trong tổng thể của nghi lễ Phật giáo Đây là kết quả của quá tình tích hợp và giao thoa giữa tín ngưỡng bản địa trên cơ sở chính là âm nhạc và tín ngưỡng Phật giáo - đã giúp cho lễ cầu siêu trở thành một hiện tượng văn hóa thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nhau. Nghiên cứu âm nhạc trong nghi lễ cầu siêu, trong đó việc nghiên cứu tổ chức các nhạc cụ trong suốt quá trình hành lễ góp phần từng bước làm sáng tỏ vấn đề về nguyên tắc sử dụng của từng nhạc cụ, từng nhóm nhạc cụ gắn liền với các bước lễ. Có thể nói, qua tám bước lễ ( gồm Tiếp linh, Pháp tấu, Cúng Phật, Triệu linh, Tụng kinh, Khai phương - phá ngục, Giải oan - cắt kết, Cúng cháo - cúng dàng) và các hình thức âm nhạc trong toàn bộ nghi lễ gồm tụng, tán, thỉnh, than - với một nghiên cứu bước đầu về tổ chức dàn nhạc và chức năng của chúng có cái nhìn tổng quan về việc sử dụng dàn nhạc trong lễ. Với một tổ chức, biên chế các nhạc cụ trong nghi lễ cầu siêu tuy không nhiều, cũng không phong phú, nhưng khi gắn với đặc điểm các bước lễ, không gian và gắn với các hình thức âm nhạc đặc trưng trong đó, các nhạc cụ trong nghi lễ cầu siêu đã làm nổi bật chức năng và vai trò của nó trong đàn lễ đặc biệt này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Xuân Tùng, Một số suy nghĩ về phân loại nhạc cụ, Tạp chí Âm nhạc, số 2, Hà Nội - 1983
2. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Âm nhạc Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh - 2001
3. Trần Văn Khê, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb. Trẻ,
Tp. Hồ Chí Minh – 2004
4. Tư liệu điền dã


1 Chúng tôi dùng khái niệm “Đội cúng” để chỉ những nhóm chuyên thực hiện các nghi lễ cầu siêu, trong đó bao gồm các sư - tăng và thầy cúng
2 Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, phần Đạo Cao và nền âm nhạc Tiên Sơn, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh - 2001, Tr. 292
3 Trần Văn Khê, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb. Trẻ - 2004, Tr.409
4 Theo Đỗ Xuân Tùng, Một số suy nghĩ về phân loại nhạc cụ, Tạp chí Âm nhạc số 2, Hà Nội - 1983

*Bài viết do tác giả Nguyễn Đình Lâm (Viện Âm nhạc) gửi riêng cho Nguyễn Xuân Diện Blog, và công bố lần đầu tại NXD-Blog năm 2010. Xin chân thành cảm ơn tác giả.
-->đọc tiếp...