TƯỞNG NHỚ BẠN HIỀN MAI XUÂN HẢI
Nguyễn Minh Thuyết
Thế là thêm một người bạn nữa ra đi. Giờ phút đau buồn này, không hiểu sao trong tâm tưởng tôi chỉ thấy hiện lên những hình ảnh đẹp nhất về anh - người bạn hiền Mai Xuân Hải.
Không có hình ảnh ốm đau. Không bình thở ô xy. Không bơm cháo bơm sữa. Chỉ có một Mai Xuân Hải tươi tắn, trẻ trung, dịu hiền, đôn hậu.
Anh hơn tôi 4 tuổi, lên Việt Bắc trước tôi 3 năm. Bạn bè cùng Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Việt Bắc trước đây thường gọi anh là Mai Hải để phân biệt với một anh Hải khác cùng tổ Trung văn (sau trở thành bộ môn Hán Nôm) là Thanh Hải. Năm 1976, tôi về Hà Nội học tiếng Nga chuẩn bị đi nghiên cứu sinh, còn anh chuyển về Hà Nội “hợp lý hoá gia đình”. Thân mẫu anh chỉ có mình anh. Phúc đức, những năm cuối đời Cụ được sống an bình bên con trai, con dâu và các cháu nội. Những năm ấy, ai đã đeo ba lô lên công tác Việt Bắc mà xin về quê được là may mắn lắm. Mai Hải là một trong những người may mắn như vậy. Không những thế, còn được về ngay Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một trung tâm nghiên cứu sang trọng.
Tính ra, tôi sinh hoạt cùng chi đoàn, ở cùng khoa với Mai Hải 7 năm, từ những ngày sơ tán ở Đức Lương, rồi tới Hái Hoa, Động Đạt, cuối cùng trở lại Mỏ Bạch, chỗ Trường có trụ sở nguy nga, bề thế bây giờ. Ngay từ những ngày đầu, tôi đã mến tính anh, một chàng trai Hà Thành tài hoa và nho nhã. Nói về sự nho nhã, có một kỷ niệm về những chàng trai Hà Nội chúng tôi trên “chiến khu” ngày ấy mà bây giờ nhớ lại tôi vẫn ngạc nhiên và buồn cười. Số là có lần, một anh trong chi uỷ – một người anh đôn hậu mà tôi rất mến – thành thật bảo tôi: “Cậu làm việc thì được, sống thì chan hoà. Anh em chi bộ không chê gì. Nhưng có người băn khoăn là cậu lịch sự quá, không biết có chân thật không.” Nhưng so với Mai Hải thì cái “lịch sự” của tôi ăn thua gì. Ở anh có cái lịch thiệp của một người xuất thân từ gia đình nề nếp, lại có cái lịch lãm của một trí thức và cái cốt cách nho nhã của một “ông đồ”. Anh cũng mấy lần được chi bộ nâng lên đặt xuống, nhưng hình như chưa kịp bén duyên.
Mai Hải có một sự ham học kỳ lạ. Anh tốt nghiệp Trung văn, tức là tiếng Hán hiện đại. Vốn Hán cổ và Nôm tự học là chính. Thế mà sau này anh trở thành một chuyên gia giỏi của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tác giả nhiều sách dịch và bài nghiên cứu. Ngoài Hán Nôm, anh còn ham đọc sách Phật, sách Lão và học thêm ngoại ngữ. Ngay những năm bom đạn đùng đoàng, anh hăm hở rủ tôi và mấy bạn cùng lứa tìm thầy học tiếng Anh, tiếng Pháp. Thầy tiếng Anh đầu tiên của chúng tôi là cụ Vy Quốc Bảo, thân phụ hoạ sĩ Vy Quốc Hiệp ở Đà Lạt. Còn thầy tiếng Pháp đầu tiên là thân phụ một sinh viên khoá 4 của Khoa. Bác là cán bộ kỹ thuật của Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, và cũng mở lớp dạy chúng tôi ở Nhà máy giấy luôn. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mấy bài học đầu tiên ấy với lòng biết ơn về sự khai mở của các thầy và sự khích lệ của người bạn đồng hương Mai Hải.
Nhưng kỷ niệm thú vị nhất của tôi về Mai Hải không phải là chuyện “phấn đấu”, học hành mà là một cái Tết trên núi rừng Đức Lương (Thái Nguyên). Hồi ấy không hiểu sao sát Tết, anh em về hết rồi mà mấy đứa trẻ trẻ như chúng tôi vẫn còn ở lại. Tôi đang ngồi làm việc thì Mai Hải sang, bảo: “Mày có biết thịt lợn không? Tao nuôi con lợn, bây giờ phải thịt mang về ăn Tết, mà bọn nó về hết rồi.” Qua mấy năm rèn luyện nơi sơ tấn, tôi cũng có biết cái món này nên nhận lời giúp anh. Hai anh em khiêng con lợn ra giữa đồng làm lông, rồi mổ. Chợt anh hỏi: “Mày có hay bị say xe không?”. Tôi đáp: “Có. Hay say, khổ lắm.” Anh nói tiếp: “Tao nghe nói uống tiết đọng trong lồng ngực con lợn mới mổ thì hết say xe. Mày dám uống không?” “Uống chứ.” Thế là hai cái bát sắt B52 to đùng được lấy ra, mỗi anh múc một múc rồi … uống. Chẳng hiểu có phải nhờ thế không mà sau Tết ấy, tôi đi xe khách liên miên không bị say xe.
Chuyện chia ngọt sẻ bùi với Mai Hải đã 40 năm rồi. Bây giờ anh đã thoát lên tiên. Còn tôi cũng đã xế chiều. Nhắc lại chỉ để nhớ tới anh, một người bạn được tất cả anh em chúng tôi quý mến.
Cầu chúc linh hồn người bạn hiền của tôi được siêu thoát cõi vĩnh hằng.
Thành kính phân ưu cùng chị Giang và các cháu.

